Trần Trụi Giữa Bầy Sói

Lượt đọc: 393 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần I - 1

❊ ❊ ❊

Normal 0 false false false EN-US X-NONE X-NONE /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-priority:99; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0in 5.4pt 0in 5.4pt; mso-para-margin-top:0in; mso-para-margin-right:0in; mso-para-margin-bottom:10.0pt; mso-para-margin-left:0in; line-height:115%; mso-pagination:widow-orphan; font-size:11.0pt; font-family:"Calibri","sans-serif"; mso-ascii-font-family:Calibri; mso-ascii-theme-font:minor-latin; mso-hansi-font-family:Calibri; mso-hansi-theme-font:minor-latin;}

Đám cây trên đỉnh đồi Ettecxbe, sũng nước, đứng thẳng tắp im lìm trong bầu không khí tịch mịch đang bao phủ quả đồi và ngăn cách nó với cảnh vật chung quanh. Mùa đông làm cho lá cây tàn tạ, rụng xuống, nằm mục trên mặt đất, ánh lên ươn ướt.

Ở đây, mùa xuân chỉ mới dâng lên, ngập ngừng.

Tấm bảng đặt giữa lùm cây kia, dường như còn đang đe dọa nó.

Khu Tổng Hành Dinh

TRẠI TẬP TRUNG BUKHÂNVAN

NGUY HIỂM!

TRÁNH XA!

Ai lảng vảng ở đây sẽ bị bắn ngay

Ở dưới là một chiếc sọ người với hai cái xương bất chéo vào nhau thay cho chữ ký.

Năm 1945, vào cuối buổi chiều tháng Ba, hôm ấy làn mưa phùn rả rích như còn bám chặt vào cả những chiếc áo khoác của năm chục tên SS[1] đang đứng trên cái sân xi măng có mái che nghiêng. Cái sân ấy gọi là ga Bukhânvan. Ga này nằm cuối con đường tắt đi từ thành phố Vaima lên đến đỉnh đồi. Trại ở liền ngay đây.

Trên khoảng đất rộng của cái sân kiểm soát của trại[2] nghiêng thoai thoải về phía bắc, tù nhân đã tập hợp, chờ phiên điểm danh buổi chiều. Từng khối, từng khối nối tiếp nhau, người Đức, người Nga, người Ba Lan, người Pháp, người Do Thái, người Hà Lan, người Áo, người Tiệp, người thuộc phái Thánh kinh[3] tù thường phạm... một đám đông nghịt những người tập hợp ở đấy, thành một hình vuông khổng lồ, ngay ngắn thẳng tắp.

Hôm nay, giữa đám tù nhân tập hợp đang có tiếng thì thào bí mật. Không biết ai đưa đến trại cái tin rằng quân Mỹ đã vượt qua sông Rainơ ở quãng Rêmagân...

- Cậu có nghe không? - Anh trùm khối Runki hỏi Hecbe Bôkhâu đứng bên cạnh ở hàng đầu khối 38. Bôkhâu gật đầu.

- Nghe đâu họ đã lập được một đầu cầu rồi!

Suyp đứng sau hai người ở hàng thứ hai, chêm vào tiếng thì thào:

- Rêmagân à? Thế thì còn xa lắm.

Không ai trả lời. Anh nheo mắt nhìn vào gáy Bôkhâu có vẻ tư lự. Trên gương mặt lúc nào cũng ngạc nhiên đến ngớ ngẩn của anh thợ điện Suyp trong trại với cái miệng tròn và đôi mắt lồi sau cặp kính tròn gọng đen, hiện rõ vẻ kích thích trước cái tin mới ấy. Các tù nhân khác trong khối cũng đang xì xào, cho đến khi Runki phải suỵt một cái họ mới thôi.

- Coi chừng đấy!

Bọn chỉ huy các khối, những tên SS cấp dưới đang từ đầu kia đi lại, rồi mỗi tên đứng vào chỗ đã định sẵn trước mỗi khối tập hợp dưới quyền chỉ huy của nó. Tiếng xì xào im bặt, và sự kích thích đã lẩn vào những bộ mặt lầm lì.

Rêmagân!

Thực ra, từ đó đến Tuyarinh vẫn còn xa lắm.

Dù sao, thế cũng còn khá đấy. Do kết quả của trận phản công mùa đông có tính chất quyết định của Hồng quân[4] lúc này đã vào Ba Lan và đang tiến về phía nước Đức, mặt trận phía Tây đã bắt đầu nhúc nhích.

Trên gương mặt các tù nhân, chẳng có gì biểu lộ rằng cái tin kia đã làm cho họ háo hức.

Họ đứng sắp hàng im lặng, mắt nhìn theo bọn chỉ huy[5] đang đi dọc theo các khối đếm tù nhân. Họ vẫn lầm lì như mọi ngày, ở cổng hai đầu kia, Krêmơ, trùm trại, đang trao danh sách tất cả những người trong trại cho tên chỉ huy điểm danh[6]. Sau đó, theo đúng quy tắc, anh trở về vị trí, đứng bên ngoài cái hình vuông khổng lồ ấy. Gương mặt anh cũng lầm lì như vậy, mặc dầu những ý nghĩ của anh cũng là những ý nghĩ của hàng vạn con người đang đứng sau lưng anh.

Những tên chỉ huy của mỗi khối đã nộp danh sách cho Rainơbôt, - tên chỉ huy điểm danh - từ lâu và đã đứng thành một hàng lộn xộn bên cổng. Như thế mà cũng phải mất một tiếng đồng hồ nữa mới điểm xong số tù nhân. Sau cùng, Rainơbôt bước đến máy phóng thanh:

- Chuẩn bị - Chú ý!

Cái hình vuông khổng lồ đông cứng lại.

- Bỏ mũ xuống!

Đều một loạt, các tù nhân giật những chiếc mũ cáu bẩn ra khỏi đầu. Kluttich, chỉ huy phó của trại đứng bên chiếc cổng sắt nghe Rainơbôt báo cáo.

Hắn uể oải giơ tay phải lên.

Mấy năm nay vẫn thế.

Trong khi đó, cái tin lúc nãy làm cho đầu óc Suyp rối bời không sao đứng yên được, anh nhếch mép thì thầm vào gáy Bôkhâu:

- Coi thằng cha đứng trên kia kìa, rồi nó sắp đầy cả quần...

Bôkhâu giấu nụ cười dưới làn da nhăn nhúm của bộ mặt im lìm.

Rainơbôt quay lại máy phóng thanh.

- Đội mũ lên!

Nghe soạt một tiếng, những chiếc mũ cáu bẩn lại nhảy vụt lên đầu bất cứ là đội như thế nào. Cái thì sụp xuống trước mặt, cái thì hất ra đằng sau, cái thì nằm lệch sang một bên, còn tù nhân thì trông như một bọn hề. Vì cái trò nghiêm chỉnh của nhà binh đã lố bịch đến mức trở thành hài hước nên Rainơbôt cũng đâm ra quen cái thói chõ mồm vào máy phóng thanh mà hét.

- Sửa lại!

Hàng vạn người xoay lại mũ cho ngay ngắn.

- Thôi!

Những bàn tay đập xuống bên hông nghe một tiếng “rập” rõ đều. Bây giờ những chiếc mũ đã nằm đâu vào đấy. Cái hình vuông đứng im phăng phắc.

Bọn SS cố ý không muốn biết gì về cuộc chiến tranh liên quan đến trại như thế nào. Ở đây, ngày này tiếp theo ngày khác dường như chẳng có chuyện gì quan trọng xảy ra. Nhưng bên dưới những công việc hàng ngày đang dỉễn ra đều đều như máy kia, một dòng nước ngầm đang chảy xiết. Cách đây vài hôm, Konbe và Graođen đã thất thủ trong trận chiến đấu anh dũng chống lại lực lượng địch mạnh hơn...

Hồng quân!

Sông Rainơ đã bị vượt qua ở quãng Rêmagân...

Quân đồng minh!

Gọng kìm đang siết chặt!

Rainơbôt ra một lệnh khác:

- Tù nhân nào phải đến phòng quần áo thì đến phòng quần áo. Thợ cạo ở các khối đi ngay ra chỗ tắm rửa!

Đối với trại, lệnh này chẳng có gì mới mẻ hết. Chẳng qua có một chuyến tù nữa tới, như vẫn thường xảy ra luôn mấy tháng nay. Các trại tập trung Ausơvit, Lublin bên phía Đông đã bị vét rỗng.

Trại Bukhânvan mặc dầu đã đông nghịt đến muốn vỡ, thế mà có bao nhiêu người đến nữa cũng đều phải tiếp nhận. Hầu như ngày nào cũng có người mới đến, số này mỗi ngày một tăng chẳng khác gì cột thủy ngân trong chiếc hàn thử biểu. Họ sẽ còn phải đi đâu nữa? Những căn nhà vội vàng được dựng lên trong một khu riêng trong trại để chứa những đám người mới đến. Hàng ngày người trong bọn họ bị dồn vào những chỗ trước kia là chuồng ngựa. Một hàng rào chăng hai làn dây thép gai bao quanh cái chuồng ngựa, và vì vậy, từ đó nó được gọi là “Trại nhỏ”.

Đó là một cái trại nằm ở trong trại này, cách biệt hẳn một nơi và sống theo những luật lệ riêng của nó. Những người từ tất cả các nước châu Âu bị dồn đến đây, không ai biết quê quán họ ở đâu, không ai đoán biết được những ý nghĩ của họ, và họ nói một thứ ngôn ngữ không ai hiểu. Những con người không tên không mặt mũi.

Một nửa số người từ các trại khác đến đây đã bỏ mình ở dọc đường, hoặc bị bọn lính SS canh gác bắn chết rồi bỏ xác dọc đường. Các bản danh sách tù nhân di chuyển không được kiểm tra lại nữa, các số hiệu tù nhân ở trong sổ đều lẫn lộn cả. số hiệu nào của người còn sống, số hiệu nào là của người đã chết? Ai biết được tên tuổi, lý lịch của đám người này?

- Đi!

Rainơbôt tắt máy phóng thanh. Cái khối vuông khổng lồ trở lại nhộn nhịp. Các trùm khối điều khiển và từng khối lần lượt quay mặt sang ngang. Đoàn người đông đảo tan dần, từ sân kiểm soát kéo nhau về các căn nhà trại. Đằng kia bọn chỉ huy khối đã biến mất sau cánh cổng.

Cùng lúc ấy, chuyến tàu chở hàng mang thứ hàng này tiến vào trong ga. Ngay trước khi tàu dừng hẳn, mấy tên SS vừa chạy dọc theo đoàn tàu vừa tháo các-bin khỏi vai. Chúng giật phứt những then cửa ra, đoạn đẩy cánh cửa toa sang một bên.

- Ra đi, đồ lợn toi! Ra, chỗ này! Ra đi!

Các tù nhân đang bị giam đứng trong những toa hôi hám, người này ép vào người kia, bỗng nhiên có dưỡng khí từ bên ngoài lùa vào làm họ choáng váng. Nghe tiếng gào thét của bọn SS, họ chen chúc nhau ra phía cửa, bổ nhào, lăn cả lên lưng nhau. Mấy tên SS còn lại dồn họ vào thành một đám nhốn nháo. Các toa tàu nhả “đồ hàng” của chúng ra chẳng khác những cái nhọt đang vỡ mủ.

Một trong những người cuối cùng nhảy ra khỏi toa tàu là anh Do Thái Ba Lan Zakariat Jankôpxki. Một tên SS cầm báng súng phang vào tay anh trong khi anh cố lôi theo chiếc va-li.

- Đồ lợn Do Thái này, tiên sư mày!

Nhưng Jankôpxki cũng túm được chiếc va-li mà tên SS kia đang vút tới.

- Mày giấu kim cương lậu thuế trong đó phải không, hả con lợn kia?

Jankôpxki kéo chiếc va-li theo, lủi vào đám đông để được mọi người che chở.

Bọn SS trèo lên toa, lấy báng súng xua những người còn sót lại trong đó ra. Những người đau ốm kiệt sức; bị chúng quăng xuống như người ta quăng những chiếc bị. Những người đã chết nằm lại trong những góc toa, suốt dọc đường, anh em phải khó nhọc lắm mới dành riêng được cho họ một chỗ trống. Một trong những xác chết còn trong tư thế nửa nằm nữa ngồi, cười nhăn nhở.

Hầu như khối[7] nào cũng có một tấm bản đồ dán lên tường hoặc để trên bàn anh trùm khối, trùm khối thường là một tù nhân bị giam giữ đã lâu, từ hồi các đạo quân phát-xít còn đang tiến qua Minxk, Smôlenxk, và Viaxma đến Matxcơva rồi sau đó qua Ôđetxa, Rôxtôp đến Xtalingrat.

Bọn chỉ huy các khối, những tên SS với những nắm tay lúc nào cũng ngứa ngáy chỉ muốn thoi vào một người nào đấy, đã làm ngơ cho họ tha hồ xem những bản đồ ấy, và thậm chí những khi đắc chí vì tiếng kèn thắng lợi đang vang lên inh ỏi, chúng còn huênh hoang gõ tay vào những thành phố Nga trên bản đồ, nói:

- Nào, Hồng quân chúng mày bây giờ ở đâu cả rồi? Những cái trò ấy đã hết từ lâu rồi.

Bây giờ thì chúng một mực phớt lạnh, chẳng nhìn ngó gì đến bản đồ ấy nữa. Chúng cũng lờ đi chẳng nhìn đến những đường nét anh em tù nhân đã kẻ vạch lên đó. Những đường bằng nét đậm, nét nhạt, bằng các màu xanh, đỏ và đen.

Vì đã bị hàng nghìn ngón tay sờ mó vào bản đồ không biết bao nhiêu lần, nên tên các chiến trường cũ đã trở thành những vết nhọ nhem trên tờ giấy báo mỏng: Gômen, Kiep, Kháckôp...

Nhưng còn ai chú ý đến những nơi ấy nữa kia chứ?

Nơi họ đang bàn tán hiện nay là ở Kuyxt’rin, Xtettin, Graođen. Đó là Đuyxenđôp với Côlônhơ kia.

Rồi ngay cả những tên ấy nữa, phần lớn bây giờ cũng đã đầy những vết tẩy xóa. Người ta đã viết lên, đã gạch gạch tẩy tẩy, rồi lại viết lên chỗ cũ, đến nỗi mặt giấy chẳng còn nơi nào để trống nữa.

Hàng nghìn hàng vạn ngón tay đã lần theo những mặt trận ấy, đã xóa gạch và cuối cùng đã tẩy hẳn nó đi. Nhất định chuyến này sắp kết thúc đến nơi!

Lúc này trong khi các khối vốn suốt ngày im lặng đã rộn lên những tiếng ồn ào của các tù nhân kéo đến. Họ đang xúm xít chung quanh bản đồ.

Ở khối 38, Suyp cố lách mình vào cái nhóm người đang nghiên, cứu bản đồ trên bàn Runki.

- Rêmagân, đây này, giữa Côblen và Bon.

- Từ Vaima đến đó còn bao xa? - Một người hỏi.

Suyp làm ra vẻ ngạc nhiên, nheo mắt lại, dáng tư lự:

- Nếu họ đến chỗ này gần...

Những ngón tay lại vạch con đường tiến quân đến gần:

- Này Aidơnắc, Langendanza, Gôta, Ecfuốc.

Đến đây ý nghĩ của Suyp chợt dừng lại: “Một khi họ đã tới Ecfuôc tức là họ đã ở Bukhânvan”.

Bao giờ chứ? Mấy ngày? Mấy tuần? Mấy tháng nữa?

- Khoan đã. Tình hình xem ra rất đen tối cho bọn mình. Các cậu tưởng bọn đầu sỏ kia sẽ để yên chúng mình lại đây cho quân Mỹ đấy hẳn? Trước khi đó, mỗi đứa trong chúng mình đã bị chúng nó cho gục cái đã.

- Này, đừng vội co vòi lại như thế, - Suyp bảo anh chàng hoài nghi kia.

Anh quản trị phòng gắt gỏng ngắt lời cả bọn:

- Các ngài có làm ơn đưa bát ăn đây cho tôi không nào?

Tiếng guốc lạch cạch, tiếng bát đĩa loảng xoảng.

Bọn SS đã tập hợp đám người thành hàng ngũ. Đoàn người đi về phía trại, chân bước lảo đảo, người lắc lư, hai bên là một bầy đã man đi áp tải.

Jankôpxki đã cố len được vào giữa một toán người đang đi. Nhờ vậy, anh tránh được những đòn của bọn SS đang đánh đập tứ phía. Trong đoàn người, chẳng còn ai nghĩ đến kẻ đi bên cạnh mình nữa. Mỗi người đều đang bận tâm lo lắng đến cảnh ngộ khổ cực của mình, đang nghĩ đến cái số phận đang chờ đợi mình kia không biết sẽ ra sao. Những người ốm và kiệt sức cũng cố mà lê đi, theo cái lối tự vệ đối với họ, nay đã trở thành thói quen như của loài thú vậy. Cứ như thế, đoàn người lảo đảo trên con đường đến trại và bước vào cổng.

Bàn tay Jankôpxki bị tê dại vì cú đánh ban nãy, nó lủng lẳng mắc ở cổ tay anh như một vật gì xa lạ và khó chịu. Nhưng vấn đề trông nom chiếc va-li còn to lớn hơn so với nỗi đau đớn kia. Điều chủ yếu là phải làm thế nào đưa được chiếc va-li qua cổng vào cái trại mới này một cách yên ổn rồi sau muốn ra sao thì ra.

Jankôpxki đưa mắt nhìn thật nhanh chung quanh. Kinh nghiệm của anh đã giúp anh lẻn qua chiếc cổng hẹp ngay giữa lúc xô đẩy nhau nhốn nháo, khéo đến nỗi anh không để cho bọn SS chú ý tới mà vẫn lách được vào trại chẳng bị cản trở gì.

Đem chiếc va-li vào đến đây quả là một câu chuyện thần kỳ. Jankôpxki rùng mình xua đuổi hết mọi ý nghĩ, dường như để cho câu chuyện thần kỳ kia khỏi biến mất. Anh chỉ tin tưởng say sưa vào một điều duy nhất - Thượng đế từ bi bác ái sẽ chẳng bao giờ để chiếc va-li kia lọt vào tay bọn SS.

Vào đến sân kiểm soát, đám người lại đứng thành hàng ngũ.

Jankôpxki phải gắng gượng hết sức mới bước được mấy bước thất tha thất thểu trong đoàn người lúc này đang được đưa vào trong trại. Không được lắc lư, không được lảo đảo, vì như vậy chúng sẽ để ý. Jankôpxki cảm thấy ù tai, trong mình nhói giật đến tận thái dương, nhưng anh cố chịu đựng và cảm thấy vững tâm khi nhìn ra thấy đoàn người đang được những anh em tù nhân cũ đưa vào trong trại.

Trên một khoảng trống giữa những căn nhà gạch cao, thợ cạo các khối đã ngồi sẵn trên ghế đẩu thành một hàng dài, khi đoàn người đi tới. Đến đây lại bắt đầu nhốn nháo. Muốn chấm dứt ngay tình trạng này không phải dễ dàng gì và một tên hạ sĩ phải hò hét nạt nộ, khi thì xua họ đến chỗ này, khi thì xua họ đến chỗ khác như xua gà.

Lúc đâu đấy đã yên ổn và tên hạ sĩ đã biến mất vào trong nhà tắm thì Jankôpxki kiệt sức gục xuống mặt sân lổn nhổn sỏi đá. Nỗi đau đớn như bị ai đâm chém ở bàn tay anh đã tê đi, biến thành ê ẩm. Jankốpxki ngồi đó một lúc khá lâu, đầu gục xuống, tới khi có người lay mạnh mới giật mình ngẩng lên. Một tù nhân khi nãy đi kèm đoàn người đang đứng trước mặt anh; anh ta thuộc đội tuần tra của trại. Anh ta nói bằng tiếng Ba Lan:

- Này cậu, đừng có ngủ đấy.

Jankôpxki ngập ngừng đứng dậy.

Hầu hết mọi người đều đã trần truồng. Những thân hình khốn nạn đứng run rẩy trước mặt anh em thợ cạo, dưới làn mưa phùn lạnh buốt họ đã phải cởi bỏ hết những quần áo rách nát của họ. Tất cả tóc trên đầu họ đều bị tông-đơ xén sạch.

Jankôpxki gắng lấy bàn tay còn khỏe mạnh cởi bỏ quần áo mỏng manh của mình với sự giúp đỡ của anh Ba Lan trong đội tuần tra.

Trong lúc ấy, có hai tù nhân cũ đi lượn quanh và lục lọi trong đám quần áo để kiểm soát lại, chỗ này nhặt lên một chiếc bị chỗ kia một mớ cuộn tròn. Jankôpxki hoảng hốt!

- Họ đang tìm tòi gì ở kia thế!

Người tuần tra của trại quay lại nhìn hai người rồi cười, có vẻ dễ đãi.

- Đấy là Hơfen và Pipich, những anh em của phòng đồ đạc.

Đoạn anh ta đưa tay trỏ vào chiếc va-li.

- Bất cứ cái gì của anh ở đây chẳng có ai cuỗm mất đâu. Anh bạn cứ yên trí, cứ đi cạo đầu đi đã.

Jankôpxki đi chân không, bước lảo đảo trên lớp sỏi đá nhọn đến chỗ người thợ cạo.

Trước cửa nhà tắm, tên hạ sĩ đang làm nhốn nháo, ầm ĩ hơn hồi nãy. Hắn đẩy những người mới đến vào một cái bể gỗ lớn. Mỗi luợt đến năm sáu người. Họ phải ngâm mình vào một thứ nước tẩy uế vì dùng lâu ngày đã thành thum thủm.

- Ngụp đầu xuống, đồ súc vật hôi thối!

Hắn hoa cái dùi-cui ở trên những cái đầu đã cạo trọc tếu và những cái đầu kia vội vàng thụp xuống biến mất dưới nước lầy nhầy.

- Thằng ấy lại say rượu rồi!

Pipich nhỏ bé chân khuỳnh khuỳnh trước kia làm thợ xếp chữ ở Đrexđen lẩm bẩm.

Hơfen không để ý đến câu nhận xét ấy, lấy chân đá khẽ vào chiếc va-li của Jankôpxki và nói:

- Thế mà họ còn cố tha được cái của này đi theo...

Pipich vừa cúi xuống chiếc va-li, nhưng Jankôpxki đã nhoài đến bến cạnh. Nỗi lo sợ hiện trên mặt anh. Anh ta nói với họ. Nhưng hai người kia không hiểu tiếng Ba Lan.

- Cậu là ai? - Hơfen hỏi - Tên là gì? Là gì?

Anh chàng Ba Lan hình như hiểu câu đó.

- Zakariat Jankôpxki ở Vacsava.[8]

- Có phải chiếc va-li này của anh không?

- Tak, tak[9]!

- Anh mang gì ở trong thế?

Jankôpxki vừa nói vừa ra hiệu, và đưa hai tay giữ lấy chiếc va-li.

Tên hạ sĩ từ trong nhà tắm xổ ra chửi bới đuổi những người đứng trước mặt hắn. Hơfen đẩy anh chàng Ba Lan trở lại trong hàng những người đã trần truồng để cho tên hạ sĩ khỏi chú ý. Nhưng Jankôpxki lại rơi đúng vào tay tên hạ sĩ, hắn nắm lấy tay anh ta và kéo xềnh xệch về phía nhà tắm. Thế là Jankôpxki phải bước vào cái bể gỗ, và sau đó lại bị đám người sợ hãi xô đẩy vào nhà tắm.

Nước ấm áp làm cho anh dễ chịu. Người Jankôpxki khi nãy lạnh cứng, bây giờ đứng dưới hương sen anh thấy khoái trá, tưởng như chẳng cần đòi hỏi gì nữa. Tình trạng căng thẳng sợ sệt đã bớt, dễ chịu hơn và da thịt anh ngốn ngấu hút cái hơi ấm áp vào người.

Pipich ngồi xuống, tò mò mở chiếc va-li.

Nhưng anh lập tức đậy ngay nắp lại và nhìn lên Hơfen sửng sốt.

- Có chuyện gì thế?

Pipich lại mở nắp va-li, nhưng chỉ hé một chút đủ để Hơfen cúi xuống nhìn được vào trong.

- Người à, đậy lại!

Hơfen sẽ rít lên một tiếng, vụt đứng thẳng, lo lắng nhìn quanh xem tên hạ sĩ ở đâu. Hắn đang ở trong nhà tắm.

- Chúng nó mà vớ được cái này... - Pipich lẩm bẩm. Hơfen giơ tay ra hiệu có vẻ sốt ruột.

- Đem nó đi! Giấu đi! Mau lên!

Pipich liếc nhìn về phía nhà tắm như một tên ăn cắp và khi đã chắc chắn là không bị để ý, anh xách chiếc va-li bước vội về ngôi nhà gạch và biến mất.

Trong nhà tắm, Lêônit Bôgoxki đang đi đi lại lại giữa các hương sen nhìn khắp lượt những người mới tới. Anh chỉ mặc một chiếc quần mỏng bằng vải thô, chân đi guốc[10]. Phần nửa người trên của cái thân hình lực sĩ của anh trơn láng những nước. Anh Kapô[11] người Nga phụ trách đội vòi tắm thích lánh mặt ở phía sau mỗi khi có những người mới đến; ở đây anh không bị tên hạ sĩ làm rầy rà; còn tên hạ sĩ thì khi đó cũng đang tìm thú vui của nó ở chỗ bể gỗ.

Được làn nước ấm phun vào mình, lần đầu tiên từ khi bước vào trại đến giờ, những con người nhớn nhác kia cảm thấy mình được nghỉ ngơi. Dường như nước tắm đã rũ sạch mọi điều lo lắng sợ hãi, tất cả những nỗi khủng khiếp, mà họ vừa thoát khỏi. Bôgoxki đã quen với sự biến đổi này, mỗi lần nó xảy ra. Anh còn trẻ, mới ba mươi lăm tuổi đầu. Anh là một sĩ quan không quân. Nhưng bọn phát-xít trong trại không biết điều đó. Đối với chúng, anh chỉ là một tù binh Nga, cũng như mọi tù binh khác, đã bị đưa từ một trại gần mặt trận về Bukhânvan. Bôgoxki làm mọi cách để giấu tên mình. Anh là một ủy viên của ủy ban quốc tế các Trại tập trung, gọi tắt là ILK[12] một Ủy ban hết sức bí mật trong trại. Ngoài một số ít những người sáng lập, ngay đến các tù nhân cũng chẳng ai biết là có ủy ban đó, chứ đừng nói đến bọn SS.

Bôgoxki lặng lẽ đi đi lại lại giữa các hương sen. Riêng nụ cười của anh cũng đủ làm cho người mới tới cảm thấy vững tâm một phần. Anh đứng trước mặt Jankôpxki, chú ý nhìn con người mảnh khảnh kia, đang nhắm mắt hưởng cái thú vị từ vòi nước âm ấm phun xuống. Bôgoxki tự nghĩ: không biết anh chàng kia đang mơ tưởng đến nơi nào và anh hỏi Jankôpxki bằng tiếng Ba Lan rất thạo:

- Cậu đi đường mất bao nhiêu ngày?

Bị lôi ra khỏi giấc mơ xa xăm lạ lùng, Jankôpxki mở choàng mắt hoảng hốt.

- Ba tuần, - anh mỉm cười trả lời. Mặc dầu kinh nghiệm đã cho anh biết im lặng là cách tốt nhất để tự giữ mình, nhất là khi đến một chỗ mới lạ, chung quanh chưa biết ra sao lại càng phải như vậy. Nhưng Jankôpxki chợt cảm thấy cần thiết phải nói ra cho người khác biết.

Anh đưa cặp mắt lo lắng nhìn quanh, và vội vã kể lại cuộc hành trình đi đến Bukhânvan. Anh thuật lại những chuyện khủng khiếp trong chuyến dời trại này. Hàng tuần lễ dài họ phải khập khiễng đi bộ trên đường xa, vừa mệt vừa đói, không được nghỉ mà cũng chẳng được dừng chân. Đêm đến, tất cả bị dồn ra những cánh đồng, và họ kiệt sức ngã quỵ xuống trên những thửa ruộng mới cày, bị đông cứng lại như đá dưới lớp tuyết, người nọ phải xiết chặt lấy người kia, che đỡ cho nhau, chống lại sương giá ban đêm ác nghiệt. Biết bao nhiêu người đến sáng hôm sau không thể ra trình diện để tiếp tục lên đường. Lúc đó, từng tốp SS áp tải tù nhân đi sục sạo các cánh đồng, bắn chết hẳn những người còn thoi thóp. Nông dân thấy các xác chết, liền chôn ngay tại chỗ. Biết bao nhiêu người đã gục xuống giữa đường! Bao nhiêu lần súng đã bắn xả vào họ! Và mỗi lần có tiếng súng nổ kết liễu đời một người nào thì cả đoàn lại bị thúc phải bước nhanh lên phía trước như chạy. Chạy đi, đồ lợn. Chạy lên! Chạy!

Khi Jankôpxki im bặt, vì chẳng còn gì nói nữa, Bôgoxki hỏi.

- Bao nhiêu người đi từ Ausơvit đến đây?

Jankôpxki đáp khẽ:

- Lúc đó có ba nghìn...

Trên mặt anh run run một nụ cười. Anh còn muốn nói nữa. Anh cảm thấy rất cần phải thổ lộ cho một người nào trong cái trại mới lạ này biết về điều bí mật của chiếc va-li của mình. Nhưng tên hạ sĩ đã cho tắt vòi tắm và đang đẩy một tốp khác vào nhà tắm.

Jankôpxki lảo đảo bước ra ngoài trời lạnh ẩm ướt.

Chiếc va-li đã biến mất!

Hơfen từ nãy đợi anh Ba Lan, vội vã đưa bàn tay lên che miệng Jankôpxki, và khẽ thì thào:

- Im đã! Đâu vào đấy cả rồi!

Jankôpxki hiểu rằng anh phải giữ bình tĩnh. Anh trố mắt nhìn người Đức ấy đang giục anh:

- Hãy cầm lấy những đồ bẩn này của anh, và đi đi!

Hơfen quàng những thứ ấy lên tay Jankôpxki, hấp tấp đẩy anh vào hàng những người vừa tắm rửa xong đang phải đi đến phòng đồ đạc đổi quần áo bẩn lấy đồ sạch.

Jankôpxki nói lại với người Đức. Hơfen không biết tiếng Ba Lan, nhưng anh cũng thấy được nỗi lo sợ trong giọng nói lắp bắp của Jankôpxki. Anh dịu dàng vỗ vào lưng Jankôpxki:

- Yên trí, yên trí, êm thấm cả. Bây giờ cậu cứ đi đi thôi, đi đi.

Bị xô vào tốp người, Jankôpxki phải đi đến phòng đổi quần áo.

- Không hề gì chứ? Không sao cả chứ?[13]

Hơfen ngoắt tay giục anh đi.

- Không hề gì, không sao cả.

❀ ❀ ❀

[1] Tên viết tắt của hai chữ Schutz - Staffel (xin đọc là Sulz Staphel: đội cảnh binh đặc biệt của Đức Quốc xã (N.D.).

[2] Một cái sân lớn, chung quanh đóng cọc giăng dây thép gai để lập hơp và kiểm số tù nhân trong trại (N.D).

[3] Bibelforscher: một phái của Cơ-đốc giáo, dùng Thánh kinh để chống lại tiến hóa luận

[4] Tên gọi quân đội Liên Xô.

[5] Những danh từ “chỉ huy” dùng cho một tên SS nào đó trong cuốn sách này đều dịch lừ chữ “führer” (xin đọc là fuyrơ, chỉ những tên trong quân đội Quốc xã Đức được giao nhiệm vụ cai quản việc gì, dù ở cương vị nhỏ nhất, xem them chú thích về chữ ( führer ) dưới.

[6] Rapportführer một chức vụ SS trong trại tập trung trông coi việc điểm danh và theo dõi các nhân viên.

[7] Khối có hai nghĩa: một căn nhà trong trại tập trung chứa một số tù nhất định, theo đơn vị dân tộc hay theo cách phân phối tù nhân, đồng thời cũng chỉ những tù nhân ở trong căn nhà đó.

[8] Zakariat: tên. Jankôpxki: họ, Vacsava: thủ đô Ba Lan.

[9] Tiếng Ba Lan: “Phải, phải”.

[10] Một loại guốc ở phương Tây thay cho giày, kín mũi, không có quai như guốc ở nước ta.

[11] Gốc ở tiếng Ý, có nghĩa là cai, đốc công v.v... Trong trại, người được chỉ định phụ trách một đội, một toán làm việc gì nhất định gọi là Kapô.

[12] Ở chữ Đức: Internationales Legcrkomúee (nghĩa như trên).

[13] Nguyên văn: “Nix Boses? Gar mix Boses?”. “Không xảy ra chuyện gì chứ? Chắc không có tai nạn gì chứ?”.

Người dịch: Hoàng Tố Vân, Xuân Oanh, Đánh máy: benth, Cát Cát, lemontree123 và 4DHN Kiểm tra chính tả: 4DHN Chế bản: Nhóm Tây Phong Lĩnh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.