Những cú sốc thể xác từ buổi gặp đầu tiên với Giáo sư Challenger và những chấn động tinh thần từ cuộc gặp thứ hai đã khiến tôi trở thành một nhà báo có phần rệu rã khi quay lại Enmore Park một lần nữa. Trong cái đầu nhức buốt của mình, tôi cứ đinh ninh một điều rằng câu chuyện của người đàn ông này hoàn toàn có thật, rằng nó mang tầm vóc vô cùng to lớn, và rằng nó sẽ trở thành một nguồn tin tức giật gân chưa từng có cho tờ Gazette ngay khi tôi có quyền sử dụng nó. Một chiếc xe taxi đang đợi ở cuối con đường, thế là tôi lao ngay lên xe và chạy về tòa soạn. McArdle vẫn ở vị trí quen thuộc của ông ấy.
"Chà," ông kêu lên với vẻ đầy kỳ vọng, "câu chuyện này kéo dài đến đâu rồi? Tôi đang nghĩ, chàng trai trẻ ạ, cậu vừa mới trải qua một trận chiến đấy. Đừng có nói với tôi là hắn hành hung cậu nhé."
"Chúng tôi có chút bất đồng lúc đầu thôi."
"Đúng là một tay gân guốc! Cậu đã làm gì nào?"
"À, ông ấy đã điềm đạm hơn và chúng tôi đã trò chuyện. Nhưng tôi chẳng khai thác được gì từ ông ấy cả — không có gì để đăng báo hết."
“Tôi không chắc về điều đó đâu. Cậu nhận được một con mắt thâm quầng từ hắn kìa, và điều đó thì hoàn toàn có thể đăng báo được. Chúng ta không thể để cái chế độ khủng bố này hoành hành mãi được, anh Malone ạ. Chúng ta phải dạy cho gã đó một bài học nhớ đời. Ngày mai tôi sẽ viết một bài xã luận đanh thép để bóc mẽ hắn ta. Cậu cứ đưa tài liệu cho tôi, tôi cam đoan sẽ đóng mác bêu riếu tên này cho đến muôn đời. Giáo sư Munchausen — cái tít lồng này nghe thế nào? Sir John Mandeville tái sinh — Cagliostro — tất cả những kẻ bịp bợm và gã côn đồ trong lịch sử. Tôi sẽ lật tẩy bản chất lừa đảo của hắn.”
"Tôi không khuyên ông làm thế đâu, thưa sếp."
"Tại sao lại không?"
"Bởi vì ông ấy hoàn toàn không phải kẻ lừa đảo."
"Cái gì!" McArdle gầm lên. "Ý cậu không phải là cậu thực sự tin vào mớ lý thuyết nhảm nhí của hắn ta về voi ma mút, voi răng mấu và những con quái vật biển khổng lồ đấy chứ?"
"Ừm, chuyện đó thì tôi không rõ. Tôi không nghĩ ông ấy tuyên bố những điều như thế. Nhưng tôi thực sự tin rằng ông ấy đã nắm giữ được một điều gì đó hoàn toàn mới mẻ."
"Thế thì vì Chúa, anh bạn, hãy viết thành bài đi chứ!"
"Tôi rất muốn, nhưng tất cả những gì tôi biết đều được ông ấy trao truyền trong sự bảo mật và với điều kiện tôi không được tiết lộ." Tôi tóm tắt câu chuyện của vị Giáo sư trong vài câu ngắn gọn. "Sự tình là thế đấy."
McArdle lộ rõ vẻ hoài nghi sâu sắc.
"Thôi được, anh Malone," cuối cùng ông nói, "về buổi hội thảo khoa học tối nay; dù sao thì ở đó cũng không có sự bảo mật nào cả. Tôi đoán sẽ chẳng tờ báo nào muốn đưa tin về nó đâu, vì các bài thuyết trình của Waldron đã được đăng tải tá lả rồi, và chẳng ai biết rằng Challenger sẽ phát biểu cả. Biết đâu chúng ta sẽ vớ được một tin độc quyền nếu gặp may. Dù thế nào thì cậu cũng sẽ có mặt ở đó, vậy nên hãy viết cho chúng ta một bài tường thuật khá đầy đủ nhé. Tôi sẽ chừa sẵn chỗ cho đến nửa đêm."
Ngày hôm đó của tôi bận rộn túi bụi, và tôi ăn tối sớm tại Câu lạc bộ Savage cùng Tarp Henry, người mà tôi đã kể lại đôi chút về những cuộc phiêu lưu của mình. Anh lắng nghe với một nụ cười hoài nghi trên khuôn mặt hốc hác, rồi cười phá lên khi nghe tin vị Giáo sư đã thuyết phục được tôi.
"Anh bạn thân mến, mọi thứ ngoài đời thực không diễn ra theo cách đó đâu. Người ta không thể tình cờ vớ được những phát hiện động trời rồi lại để mất tang chứng được. Hãy để việc đó cho các nhà tiểu thuyết đi. Gã đó nhiều mưu mẹo y hệt như cái chuồng khỉ ở sở thú vậy. Toàn là chuyện nhảm nhí."
"Nhưng còn nhà thơ người Mỹ thì sao?"
"Hắn chưa từng tồn tại."
"Tôi đã tận mắt thấy cuốn sổ phác thảo của ông ấy."
"Đó là sổ phác thảo của Challenger."
"Anh nghĩ chính tay ông ấy vẽ con vật đó à?"
"Tất nhiên rồi. Còn ai vào đây nữa?"
"Ồ, thế còn những bức ảnh thì sao?"
"Chẳng có gì trong những bức ảnh đó cả. Chính miệng cậu thừa nhận là cậu chỉ nhìn thấy một con chim cơ mà."
"Một con thằn lằn có cánh pterodactyl."
"Đó là những gì HẮN nói. Hắn đã nhồi nhét con pterodactyl đó vào đầu cậu đấy."
"Thế còn những khúc xương thì sao?"
"Cái thứ nhất lấy từ nồi súp bò Ireland. Cái thứ hai được ngụy tạo cho ra vẻ tình cờ. Nếu cậu là kẻ khôn ngoan và thông thạo nghề nghiệp, cậu có thể làm giả một khúc xương dễ như làm giả một bức ảnh vậy."
Tôi bắt đầu cảm thấy bất an. Có lẽ, suy cho cùng, tôi đã quá vội vã trong việc xuôi theo ông ta. Rồi chợt một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi.
"Anh có muốn đi dự buổi hội thảo tối nay không?" tôi hỏi.
Tarp Henry đăm chiêu suy nghĩ.
"Gã Challenger tốt bụng đó vốn chẳng phải là một nhân vật được lòng người," anh nói. "Rất nhiều kẻ có món nợ ân oàn cần thanh toán với lão. Tôi dám cá lão là người bị căm ghét nhất ở London này đấy. Nếu đám sinh viên y khoa kéo đến thì thể nào cũng có một trận quậy phá tưng bừng cho mà xem. Tôi không muốn dấn thân vào một cái sòng vật lộn đâu."
"Ít ra anh cũng nên công bằng với ông ấy bằng cách lắng nghe ông ấy tự trình bày vụ việc của mình chứ."
"Ừ, có lẽ thế thì mới phải phép. Được rồi. Tối nay tôi sẽ đi cùng cậu."
Khi chúng tôi đến hội trường, khung cảnh đông đúc nhộn nhịp hơn nhiều so với dự kiến của tôi. Một hàng xe điện brougham lần lượt trút xuống những vị giáo sư râu tóc bạc phơ, trong khi dòng người đi bộ khiêm tốn hơn đang chen chúc qua khung cửa vòm cho thấy khán giả tham dự không chỉ có giới trí thức mà còn rất đông đảo quần chúng. Quả nhiên, ngay khi chúng tôi vừa tìm được chỗ ngồi, bầu không khí náo nhiệt, thậm chí có phần tinh nghịch của tuổi trẻ đã tràn ngập ở khu vực ban công và những hàng ghế phía sau. Nhìn ra phía sau, tôi có thể thấy những dãy khuôn mặt quen thuộc mang đúng kiểu sinh viên y khoa. Rõ ràng là các bệnh viện lớn đều đã cử lực lượng đến góp vui. Thái độ của khán giả lúc này thì vui vẻ nhưng đầy tính phá phách. Những đoạn trích của các bài hát thị hành được cất lên thành đồng ca với một sự nhiệt tình báo hiệu một màn dạo đầu kỳ lạ cho một bài thuyết trình khoa học, và đã có sẵn xu hướng trêu chọc cá nhân, hứa hẹn một buổi tối vui vẻ cho những ai chứng kiến, dù nó có thể gây ra đôi chút ngượng ngùng cho những nạn nhân của các trò đùa oái oăm này.
Chẳng hạn như khi lão Tiến sĩ Meldrum với chiếc mũ nồi vành quăn quen thuộc xuất hiện trên bục giảng, cả hội trường đồng thanh cất lên câu hỏi: "Anh KIẾM ĐÂU ra cái ngói lợp nhà đó vậy?", khiến ông ta phải vội vã tháo nó xuống và len lén giấu tiệt dưới gầm ghế. Lúc vị Giáo sư mắc bệnh gút Wadley khập khiễng bước về chỗ ngồi, những câu hỏi thăm ân cần từ mọi ngóc ngách trong hội trường vang lên về tình trạng chính xác của ngón chân tội nghiệp ông ấy, khiến ông ta ngượng chín cả mặt. Tuy nhiên, màn chào hỏi náo nhiệt nhất chính là sự xuất hiện của người quen mới của tôi, Giáo sư Challenger, khi ông bước xuống để nhận chỗ ngồi ở tận cùng hàng ghế đầu tiên của bục giảng. Một tiếng gầm chào đón vang dội bùng lên ngay khi bộ râu đen của ông vừa nhô ra khỏi góc khuất, khiến tôi bắt đầu nghi ngờ Tarp Henry đã đoán đúng, rằng đám đông này tụ tập ở đây không chỉ vì bài thuyết trình, mà bởi vì họ nghe ngóng được tin đồn rằng vị Giáo sư nổi tiếng sẽ tham gia vào sự kiện này.
Có những tiếng cười đồng cảm vang lên khi ông bước vào giữa những hàng ghế đầu của các khán giả ăn vận lịch sự, tựa hồ như màn biểu thị của đám sinh viên trong trường hợp này lại rất được lòng họ. Lời chào hỏi đó quả thực là một tràng âm thanh kinh hoàng, tiếng gầm rú của chuồng thú ăn thịt khi bóng dáng người giữ thú đang mang xô thức ăn xuất hiện đằng xa. Có một chút gì đó khiếm nhã trong đó, thế nhưng nhìn chung nó đọng lại trong tôi như một tiếng hét náo loạn thuần túy, sự đón chào ồn ào dành cho một kẻ mang lại tiếng cười và sự tò mò cho họ, hơn là sự ghét bỏ hay khinh miệt. Challenger mỉm cười với vẻ khinh bỉ đầy mệt mỏi và bao dung, hệt như cách một người tử tế đón nhận tiếng sủa nhặng xị của một bầy chó con vậy. Ông chầm chậm ngồi xuống, ưỡn ngực, vuốt ve bộ râu của mình, rồi nheo đôi mắt trĩu nặng với cái nhìn kiêu kỳ hướng về hội trường đông nghịt trước mặt. Tiếng ồn ào lúc ông mới bước chân vào chưa kịp lắng xuống thì Giáo sư Ronald Murray, chủ tịch hội đồng, và ông Waldron, diễn giả chính, đã lách qua đám đông để lên phía trước, và buổi lễ bắt đầu.
Giáo sư Murray chắc chắn sẽ thông cảm cho tôi nếu tôi nói rằng ông mắc phải căn bệnh chung của hầu hết người Anh là nói chẳng ai nghe rõ. Tại sao quái lại có những kẻ có điều chi đáng giá để nói lại không chịu bỏ ra một chút công sức nhỏ nhoi để học cách làm sao cho người ta nghe được rõ ràng, đó thực sự là một trong những bí ẩn kỳ lạ của đời sống hiện đại. Phương pháp của họ cũng hợp lý chẳng kém gì việc cố gắng rót một dòng nước quý từ nguồn vào bể chứa thông qua một đường ống cách nhiệt, thứ mà lẽ ra chỉ cần tốn chút xíu cố gắng là có thể mở thông được. Giáo sư Murray lầm bầm vài câu sâu sắc hướng vào chiếc cà vạt trắng của mình và bình nước trên bàn, kèm theo một câu châm biếm đầy hài hước nhắm vào chiếc chân nến bằng bạc ở bên phải ông. Rồi ông ngồi xuống, và ông Waldron, vị diễn giả đại chúng nổi tiếng, bước lên giữa tiếng vỗ tay rào rào của khán giả. Ông là một người đàn ông khắc khổ, gầy guộc, với chất giọng chói tai và tác phong xộc xệch, nhưng ông có ưu điểm là biết cách tiếp thu tư tưởng của người khác và truyền đạt lại theo một cách dễ hiểu, thậm chí vô cùng thú vị đối với công chúng phổ thông, kèm theo một tài năng thiên bẩm là biết cách gây cười ngay cả với những đối tượng khó đỡ nhất, khiến cho sự chuyển dịch của các điểm phân hoặc sự hình thành của một loài động vật có xương sống trở thành một quá trình vô cùng hài hước qua cách giảng giải của ông.
Đó là một cái nhìn bao quát về sự tạo hóa dưới lăng kính khoa học mà ông đã trải rộng trước mắt chúng tôi bằng thứ ngôn ngữ luôn rành mạch và đôi khi vô cùng sinh động. Ông kể cho chúng tôi nghe về địa cầu, một khối khí bùng cháy khổng lồ đang rực sáng giữa bầu trời. Rồi ông vẽ ra bức tranh về quá trình đông đặc, nguội lạnh, sự co rút tạo nên những ngọn núi, hơi nước ngưng tụ thành đại dương, và sự chuẩn bị chậm rãi cho sân khấu nơi vở kịch không thể giải thích của sự sống sẽ diễn ra. Về nguồn gốc của chính sự sống, ông tỏ ra kín đáo một cách mơ hồ. Rằng mầm mống của nó khó lòng sống sót qua trận lửa luyện ban đầu, đó là điều, theo ông, khá chắc chắn. Do đó, nó đã xuất hiện muộn hơn. Phải chăng nó tự cấu thành từ các nguyên tố vô cơ đang nguội dần của trái đất? Rất có thể. Phải chăng mầm sống của nó đã theo thiên thạch du ngoạn từ ngoài vũ trụ đến đây? Điều đó thật khó lòng tưởng tượng nổi. Nhìn chung, người khôn ngoan nhất là người ít mang tư tưởng giáo điều nhất về vấn đề này. Chúng ta không thể — hoặc ít nhất là cho đến nay chúng ta vẫn chưa thành công trong việc tạo ra sự sống hữu cơ trong phòng thí nghiệm từ các nguyên liệu vô cơ. Khoảng cách giữa cõi chết và sự sống là một thứ mà ngành hóa học của chúng ta cho đến nay vẫn chưa thể bắc cầu vượt qua. Nhưng có một thứ hóa học cao cấp và tinh tế hơn của Tự nhiên, vận hành bằng những sức mạnh vĩ đại qua những kỷ nguyên dài đằng đẵng, hoàn toàn có thể tạo ra những kết quả nằm ngoài tầm tay của chúng ta. Vấn đề đành phải bỏ ngỏ ở đó.
Điều này đưa vị diễn giả bước lên chiếc thang tiến hóa của loài động vật, bắt đầu từ những bậc thấp nhất là loài thân mềm và sinh vật biển yếu ớt, rồi leo dần từng nấc qua loài bò sát và cá, cho đến khi chúng ta chạm đến một con chuột túi, sinh vật sinh con ra còn sống, tổ tiên trực tiếp của tất cả các loài thú, và do đó, được cho là tổ tiên của mọi người có mặt trong hội trường này. ("Không, không," tiếng kêu phản đối từ một sinh viên hoài nghi ở hàng ghế cuối.) Nếu cậu thanh niên đeo cà vạt đỏ vừa thét lên "Không, không", và người mà ngầm hiểu là tự nhận mình nở ra từ một quả trứng, chịu ghé thăm ông sau buổi thuyết trình, ông sẽ rất vui mừng được chiêm ngưỡng một kỳ quan như thế. (Cật lực cười.) Thật kỳ lạ khi nghĩ rằng đỉnh cao của toàn bộ tiến trình vĩ đại kéo dài qua bao thời đại của Tự nhiên hóa ra lại là sự ra đời của cậu thanh niên đeo cà vạt đỏ đó. Nhưng liệu tiến trình ấy đã dừng lại chưa? Phải chăng cậu thanh niên này được xem là hình mẫu cuối cùng — là điểm khởi đầu và kết thúc của sự tiến hóa? Ông hy vọng mình không làm tổn thương tình cảm của cậu thanh niên đeo cà vạt đỏ khi ông quả quyết rằng, bất chấp những đức tính mà cậu ta có thể sở hữu trong đời sống riêng tư, thì những tiến trình vĩ đại bao la của vũ trụ vẫn chưa được biện minh một cách trọn vẹn nếu chúng chỉ kết thúc hoàn toàn bằng sự ra đời của cậu ta. Sự tiến hóa không phải là một lực lượng đã cạn kiệt, mà vẫn đang tiếp tục vận hành, và những thành tựu vĩ đại hơn nữa vẫn đang chờ đợi ở phía trước.
Sau khi đùa cợt rất duyên dáng với kẻ ngắt lời mình giữa tiếng cười rúc rích lan tỏa khắp hội trường, vị diễn giả quay trở lại với bức tranh về quá khứ, sự khô cạn của các đại dương, sự nhô lên của các bãi cát, sự sống lờ đờ, đặc quánh nằm rìa mép nước, những vụng nước chật chội chen chúc, xu hướng tìm nơi trú ẩn trên các bãi bùn của sinh vật biển, nguồn thức ăn dồi dào đang chờ đợi chúng, và hệ quả là sự phát triển khổng lồ về vóc dáng của chúng. "Do đó, thưa các quý ông quý bà," ông nói thêm, "những bầy thằn lằn rợn tóc gáy ấy vẫn còn làm chúng ta khiếp vía khi bắt gặp chúng trong tầng đá Wealden hoặc phiến đá Solenhofen, nhưng may mắn thay chúng đã tuyệt chủng từ lâu trước khi loài người xuất hiện lần đầu trên hành tinh này."
"Ý kiến!" một giọng nói vang lên từ bục giảng.
Ông Waldron là một người tuân thủ kỷ luật nghiêm ngặt với năng khiếu châm chọc cay độc, điều đã được thể hiện rõ qua màn đối đáp với cậu thanh niên đeo cà vạt đỏ, khiến cho việc ngắt lời ông trở thành một hành động vô cùng mạo hiểm. Nhưng lời xía vào này lại tỏ ra vô lý đến mức ông bối rối không biết phải đối phó ra sao. Kẻ ấy trông giống như một học giả Shakespeare đang đối đầu với một tín đồ cuồng tín của trường phái Bacon, hoặc một nhà thiên văn học bị tấn công bởi kẻ cuồng tín cho rằng trái đất phẳng. Ông khựng lại một lát, rồi cất cao giọng, chậm rãi nhắc lại từng từ: "Những loài đã tuyệt chủng trước sự xuất hiện của loài người."
"Ý kiến!" giọng nói ấy lại một lần nữa vang lên đầy kiêu hãnh.
Waldron kinh ngạc đảo mắt nhìn dọc theo hàng ghế của các giáo sư trên bục cho đến khi ánh mắt ông dừng lại ở hình bóng của Challenger, người đang ngả người ra sau ghế với đôi mắt nhắm nghiền và vẻ mặt đầy thú vị, hệt như đang mỉm cười trong giấc ngủ.
"Tôi hiểu rồi!" Waldron nói, nhún vai. "Đó là bạn tôi, Giáo sư Challenger," và giữa tiếng cười rộ lên của khán giả, ông tiếp tục bài thuyết trình của mình như thể đó là một lời giải thích cuối cùng và không cần phải nói thêm gì nữa.
Nhưng sự việc còn lâu mới khép lại. Bất cứ con đường nào vị diễn giả bước đi giữa chốn hoang dã của quá khứ dường như đều dẫn ông đến một lời khẳng định nào đó về đời sống đã tuyệt chủng hoặc tiền sử, thứ mà ngay lập tức lại khơi mào cho tiếng rống như bò mộng của vị Giáo sư. Khán giả bắt đầu đoán trước được điều đó và hò reo thích thú mỗi khi nó xảy ra. Những hàng ghế sinh viên chật ních hùa theo, và mỗi khi bộ râu của Challenger động đậy, trước khi bất kỳ âm thanh nào kịp phát ra, là một tràng thét "Ý kiến!" vang lên từ hàng trăm cổ họng, đi kèm với tiếng phản hồi chống chế "Trật tự!" và "Xấu hổ quá!" từ ngần ấy con người khác. Waldron, dù là một diễn giả từng trải và là một người mạnh mẽ, cũng bắt đầu cảm thấy lúng túng. Ông ngập ngừng, lắp bắp, lặp lại từ ngữ, vướng mắc trong một câu văn dài, và cuối cùng quay phắt lại với vẻ giận dữ nhắm vào nguyên nhân gây ra rắc rối cho ông.
"Thật là không thể chịu nổi!" ông kêu lên, trừng mắt nhìn qua bục giảng.
"Tôi buộc phải đề nghị ông, Giáo sư Challenger, chấm dứt những lời ngắt lời vô văn hóa và thiếu hiểu biết này."
Cả hội trường chìm vào tĩnh lặng, đám sinh viên cứng đờ vì phấn khích khi được chứng kiến cảnh các vị thần trên đỉnh Olympus đang cãi vã lẫn nhau. Challenger từ từ nhấc thân hình cồng kềnh của mình ra khỏi chiếc ghế.
"Đổi lại, tôi cũng phải đề nghị ông, anh Waldron," ông nói, "ngừng đưa ra những lời khẳng định không đúng sự thật theo đúng nghĩa đen của khoa học."
Những từ ngữ đó đã thổi bùng lên một cơn bão tố. "Xấu hổ! Xấu hổ!" "Cho ông ấy nói đi!" "Đuổi hắn xuống!" "Tống cổ lão khỏi bục giảng!" "Chơi đẹp nào!" thốt ra từ tiếng gầm chung đầy phấn khích hoặc căm phẫn. Viên chủ tịch đã đứng phắt dậy, vẫy cả hai tay và kêu be bét đầy kích động. "Giáo sư Challenger... quan điểm... cá nhân... để sau đi," là những cụm từ rời rạc nổi lên trên đám mây lầm bầm không tài nào nghe rõ của ông. Kẻ ngắt lời cúi đầu, mỉm cười, vuốt râu và thong thả ngồi thụp xuống ghế. Waldron, mặt đỏ gay phừng phừng và đầy vẻ chiến hiểm, tiếp tục bài phát biểu của mình. Thỉnh thoảng, khi đưa ra một khẳng định nào đó, ông lại ném một ánh mắt đầy nọc độc về phía đối thủ, kẻ có vẻ như đang ngủ say sưa với nụ cười mãn nguyện rộng mở trên môi.
Cuối cùng thì bài thuyết trình cũng đi đến hồi kết — tôi có khuynh hướng nghĩ rằng nó đã kết thúc sớm hơn dự kiến, vì phần kết luận bị rút ngắn và đứt quãng. Mạch lập luận đã bị phá hỏng một cách thô bạo, và khán giả thì bồn chồn ngóng đợi. Waldron ngồi xuống, và sau một tiếng hắng giọng của vị chủ tịch, Giáo sư Challenger đứng dậy tiến ra mép bục giảng. Vì lợi ích của tờ báo, tôi đã ghi lại bài phát biểu của ông ấy một cách nguyên văn.
"Thưa các quý ông và quý bà," ông mở đầu, giữa tiếng ngắt lời liên hồi từ phía cuối phòng. "Tôi xin lỗi — Thưa các quý ông, quý bà và các cháu thiếu nhi — tôi xin lỗi, tôi đã vô tình bỏ sót một bộ phận đáng kể của khán giả này" (tiếng ồn ào vang lên, trong khi vị Giáo sư đứng đó với một tay giơ lên và cái đầu khổng lồ gật gật đầy thông cảm, hệt như đang ban phước lành của giáo hoàng cho đám đông), "Tôi đã được chọn để đề xuất một lời cảm ơn gửi đến anh Waldron vì bài phát biểu vô cùng sinh động và giàu trí tưởng tượng mà chúng ta vừa thưởng thức. Có những điểm trong đó mà tôi không đồng tình, và đó là nghĩa vụ của tôi khi phải chỉ ra chúng ngay khi chúng xuất hiện, nhưng dẫu sao đi nữa, anh Waldron cũng đã hoàn thành rất tốt mục đích của mình, mục đích đó là đưa ra một bản tường thuật đơn giản và thú vị về những gì anh ấy quan niệm là lịch sử của hành tinh chúng ta. Các bài thuyết trình phổ thông là những thứ dễ nghe nhất, nhưng anh Waldron" (tại đây ông cười rạng rỡ và chớp mắt nhìn về phía diễn giả) "sẽ tha lỗi cho tôi khi tôi nói rằng chúng tất yếu vừa hời hợt vừa sai lệch, vì chúng phải được hạ chuẩn xuống mức độ hiểu biết của một đám đông dốt nát." (Tiếng hoan hô mỉa mai.) "Các nhà thuyết trình phổ thông về bản chất là những kẻ ăn bám." (Cử chỉ phản đối giận dữ từ anh Waldron.) "Họ khai thác vì danh vọng hoặc tiền tài công sức đã được thực hiện bởi những người anh em nghèo khó và vô danh của họ. Một sự thật nhỏ nhất được tìm thấy trong phòng thí nghiệm, một viên gạch được xây đắp vào ngôi đền khoa học, có trọng lượng vượt xa bất kỳ bài diễn giải ăn lại nào giúp qua quýt một giờ nhàn rỗi mà chẳng để lại nổi một kết quả hữu ích nào đằng sau. Tôi đưa ra suy ngẫm hiển nhiên này, không phải vì bất kỳ mong muốn dìm hàng anh Waldron nào cụ thể, mà để các vị không đánh mất ý thức về tỷ lệ và nhầm lẫn người hầu cận với vị đại tư tế." (Tại điểm này, anh Waldron thì thầm gì đó với vị chủ tịch, người đã nửa đứng dậy và nói điều gì đó đầy nghiêm khắc với bình nước của ông ta.) "Nhưng thế là đủ rồi!" (Tiếng vỗ tay hoan hô vang dội và kéo dài.) "Hãy để tôi chuyển sang một chủ đề có sức hút rộng lớn hơn."
"Đâu là điểm cụ thể mà tôi, với tư cách là một nhà nghiên cứu độc lập, đã thách thức tính chính xác của diễn giả chúng ta? Đó chính là sự trường tồn của một số loại hình sự sống động vật trên trái đất. Tôi không nói về chủ đề này với tư cách là một kẻ nghiệp dư, hay, tôi xin nói thêm, với tư cách là một diễn giả phổ thông, mà tôi nói với tư cách là một người mà lương tâm khoa học buộc phải bám sát các sự thật, khi tôi khẳng định rằng anh Waldron đã sai lầm lớn khi cho rằng vì bản thân chưa từng tận mắt nhìn thấy một loài động vật tiền sử nào gọi là như thế, nên những sinh vật này không còn tồn tại nữa. Quả thực chúng chính là, như anh ta đã nói, những vị tổ tiên của chúng ta, nhưng chúng lại là, nếu tôi được phép dùng từ này, những vị tổ tiên đương đại của chúng ta, những kẻ vẫn có thể được tìm thấy cùng với tất cả các đặc điểm gớm ghiếc và đáng sợ của chúng nếu người ta có đủ năng lượng và sự gan dạ để tìm kiếm hang ổ của chúng. Những sinh vật từng được cho là thuộc kỷ Jura, những con quái vật sẽ truy sát và nuốt chửng cả những loài thú lớn nhất và hung dữ nhất của chúng ta, vẫn đang tồn tại." (Tiếng hét "Nhảm nhí!", "Chứng minh đi!", "Sao ÔNG biết?", "Ý kiến!") "Sao tôi lại biết, các vị hỏi tôi thế à? Tôi biết vì tôi đã đến thăm hang ổ bí mật của chúng. Tôi biết vì tôi đã tận mắt nhìn thấy một vài con trong số chúng." (Tiếng vỗ tay, tiếng náo loạn, và một giọng hét: "Quân nói dối!") "Tôi là kẻ nói dối ư?" (Tiếng đồng thanh tán thành một cách náo nhiệt và hearty.) "Có phải tôi vừa nghe thấy ai đó nói tôi là kẻ nói dối không? Liệu người vừa gọi tôi là kẻ nói dối có làm ơn đứng lên để tôi được diện kiến không?" (Một giọng nói: "Hắn đây rồi, thưa ngài!", và một nhân vật nhỏ bé vô hại đeo kính, đang giãy giụa kịch liệt, bị nhấc bổng lên giữa một đám sinh viên.) "Anh có dám gọi tôi là kẻ nói dối không?" ("Không, thưa ngài, không!" kẻ bị buộc tội hét lên, và biến mất tăm như một con lật đật.) "Nếu có bất kỳ ai trong hội trường này dám hoài nghi sự thật thà của tôi, tôi sẽ rất hân hạnh được trao đổi vài lời với hắn sau buổi thuyết trình." ("Đồ nói dối!") "Ai vừa nói thế?" (Lại là nhân vật vô hại nọ đang vùng vẫy tuyệt vọng, được nhấc bổng lên không trung.) "Nếu tôi bước xuống giữa các vị..." (Đàn đồng thanh: "Xuống đi tình yêu ơi, xuống đi!", làm gián đoạn buổi lễ trong vài khoảnh khắc, trong khi vị chủ tịch đứng dậy và vẫy cả hai tay, trông như đang điều khiển một dàn hợp xướng. Vị Giáo sư với khuôn mặt đỏ bừng, lỗ mũi phập phồng và bộ râu dựng ngược, lúc này đang chìm đắm trong cơn cuồng nộ Berserk chính hiệu.) "Mỗi nhà thám hiểm vĩ đại đều vấp phải sự hoài nghi tương tự — thứ nhãn mác chắc như đinh đóng cột của một thế hệ ngu ngốc. Khi những sự thật vĩ đại được bày ra trước mắt các vị, các vị lại không có trực giác, không có trí tưởng tượng để giúp mình thấu hiểu chúng. Các vị chỉ biết ném bùn vào những con người đã đánh đổi cả mạng sống để khai phá những chân trời mới cho khoa học. Các vị bức hại các nhà tiên tri! Galileo! Darwin, và tôi..." (Tiếng vỗ tay kéo dài và ngắt quãng hoàn toàn.)
Tất cả những điều này được rút ra từ những ghi chú vội vã của tôi tại thời điểm đó, thứ vốn chẳng thể hiện được bao nhiêu sự hỗn loạn tuyệt đối mà hội trường lúc này đã rơi vào. Tiếng la ó dữ dội đến mức một số quý bà đã vội vã rút lui từ trước. Những bậc trưởng thượng trang nghiêm và kính trọng dường như cũng nhiễm phải bầu không khí đang bao trùm chẳng kém gì đám sinh viên, và tôi thấy những kẻ râu tóc bạc phơ đang đứng dậy giơ nắm đấm đe dọa vị Giáo sư ngoan cố. Toàn bộ đại khán giả sôi sục và sủi bọt hệt như một nồi nước đang sôi. Vị Giáo sư bước lên một bước và giơ cả hai tay lên. Có một cái gì đó quá to lớn, đầy cuốn hút và nam tính ở con người này khiến cho tiếng ồn ào và hò hét dần dịu xuống trước cử chỉ uy quyền và ánh mắt sắc bén của ông. Ông dường như có một thông điệp rõ ràng cần truyền đạt. Họ nín thở lắng nghe.
"Tôi sẽ không giữ chân các vị nữa," ông nói. "Không đáng đâu. Sự thật vẫn là sự thật, và tiếng ồn của một đám thanh niên ngu ngốc — và, tôi e rằng phải nói thêm là, của những bậc trưởng thượng ngu ngốc không kém của họ — chẳng thể lay chuyển được vấn đề này. Tôi tuyên bố rằng mình đã khai phá một lĩnh vực khoa học mới. Các vị tranh cãi điều đó." (Tiếng hoan hô.) "Vậy thì tôi đưa các vị vào thử thách. Các vị có đồng ý cử một hoặc nhiều đại diện trong số các vị ra ngoài làm sứ giả để kiểm chứng tuyên bố của tôi nhân danh các vị không?"
Ông Summerlee, vị Giáo sư kỳ cựu ngành Giải phẫu So sánh, đứng dậy giữa đám đông khán giả, một người đàn ông cao, gầy, cay nghiệt với vẻ mặt khô héo như một nhà thần học. Ông ta muốn hỏi Giáo sư Challenger xem những kết quả mà ông vừa ám chỉ trong bài phát biểu có phải thu được trong chuyến hành trình đến thượng nguồn sông Amazon thực hiện cách đây hai năm của ông hay không.
Giáo sư Challenger trả lời rằng đúng là như vậy.
Ông Summerlee muốn biết tại sao Giáo sư Challenger lại tuyên bố đã thực hiện được những phát hiện tại các vùng đất đó trong khi chúng đã bị bỏ sót bởi Wallace, Bates và những nhà thám hiểm tiền bối khác có uy tín khoa học lâu năm.
Giáo sư Challenger đáp rằng ông Summerlee có vẻ đang nhầm lẫn sông Amazon với sông Thames; rằng thực tế đó là một con sông lớn hơn một chút; rằng ông Summerlee có lẽ sẽ thấy thú vị khi biết rằng cùng với sông Orinoco có thông lưu với nó, khoảng năm mươi nghìn dặm vuông lãnh thổ đã được mở ra, và trong một không gian vô tận như thế, việc một người tìm thấy thứ mà người khác bỏ sót không phải là điều bất khả thi.
Ông Summerlee tuyên bố với một nụ cười cay đắng rằng ông hoàn toàn đánh giá cao sự khác biệt giữa sông Thames và sông Amazon, nằm ở chỗ mọi khẳng định về con sông trước có thể được kiểm chứng, trong khi con sông sau thì không. Ông sẽ rất biết ơn nếu Giáo sư Challenger cung cấp tọa độ vĩ độ và kinh độ của vùng đất nơi các loài động vật tiền sử đang ẩn náu.
Giáo sư Challenger đáp rằng ông bảo lưu thông tin đó vì những lý do chính đáng của riêng mình, nhưng sẽ sẵn sàng cung cấp nó với các biện pháp phòng ngừa thích hợp cho một ủy ban được lựa chọn từ khán giả. Liệu ông Summerlee có sẵn sàng tham gia vào một ủy ban như vậy và tự mình kiểm chứng câu chuyện đó hay không?
Ông Summerlee: "Vâng, tôi sẽ đi." (Tiếng hoan hô vang dội.)
Giáo sư Challenger: "Vậy thì tôi đảm bảo sẽ trao vào tay ông những tài liệu giúp ông tìm được đường đi. Tuy nhiên, vì ông Summerlee đi để kiểm chứng tuyên bố của tôi, nên tôi thiết nghĩ mình cần phải có một hoặc vài người đi cùng để kiểm chứng lại những gì ông ấy làm, điều đó mới là công bằng. Tôi không giấu giếm các vị rằng sẽ có những khó khăn và hiểm nguy. Ông Summerlee sẽ cần một đồng nghiệp trẻ tuổi hơn. Tôi xin phép được kêu gọi các tình nguyện viên chứ?"
Đó là cách mà bước ngoặt vĩ đại trong cuộc đời một con người bất ngờ ập đến. Khi bước chân vào hội trường đó, liệu tôi có thể tưởng tượng nổi rằng mình sắp sửa cam kết tham gia vào một cuộc phiêu lưu hoang dã hơn bất cứ điều gì từng xuất hiện trong những giấc mơ của tôi không? Nhưng còn Gladys — chẳng phải đó chính là cơ hội mà cô ấy từng nhắc đến sao? Gladys chắc chắn sẽ bảo tôi hãy lên đường. Tôi đã chồm dậy khỏi chỗ ngồi. Tôi đang cất lời, dẫu chẳng chuẩn bị trước một từ nào. Tarp Henry, người bạn đồng hành của tôi, đang kéo vạt áo tôi và tôi nghe thấy tiếng anh thì thầm: "Ngồi xuống đi, Malone! Đừng có tự biến mình thành thằng hề trước công chúng." Cùng lúc đó, tôi nhận ra một người đàn ông cao, gầy, mái tóc màu gừng sẫm đang ngồi cách vài hàng ghế phía trước cũng đã đứng dậy. Anh ta trừng mắt nhìn tôi với đôi mắt giận dữ sắc lạnh, nhưng tôi nhất quyết không lùi bước.
"Tôi sẽ đi, thưa ngài chủ tịch!" tôi cứ lặp đi lặp lại mãi câu nói ấy.
"Tên! Tên là gì!" khán giả đồng thanh gào lên.
"Tên tôi là Edward Dunn Malone. Tôi là phóng viên của tờ Daily Gazette. Tôi tuyên bố mình là một nhân chứng hoàn toàn vô tư khách quan."
"Còn TÊN anh là gì, thưa ngài?" chủ tịch hỏi đối thủ cao kều của tôi.
"Tôi là Lãnh chúa John Roxton. Tôi đã từng ngược dòng Amazon, tôi nắm rõ mọi địa hình nơi đó, và sở hữu những phẩm chất đặc biệt cho cuộc điều tra này."
"Danh tiếng của Lãnh chúa John Roxton với tư cách là một vận động viên thể thao và nhà thám hiểm tất nhiên đã nổi tiếng toàn cầu," vị chủ tịch phát biểu; "đồng thời, chắc chắn cũng sẽ rất tốt nếu có một thành viên của giới Báo chí tham gia vào một chuyến thám hiểm như thế này."
"Vậy thì tôi đề xuất," Giáo sư Challenger nói, "cả hai vị này đều được bầu chọn, với tư cách là đại diện của buổi hội thảo này, để đồng hành cùng Giáo sư Summerlee trong hành trình lên đường điều tra và báo cáo về tính xác thực trong các tuyên bố của tôi."
Và thế là, giữa những tiếng hò reo vang dội, số phận của chúng tôi đã được định đoạt, và tôi thấy mình bị cuốn đi trong dòng người đang cuồn cuộn đổ về phía cửa, với tâm trí hoàn toàn ngỡ ngàng trước dự án vĩ đại mới tinh vừa bất thình lình xuất hiện trước mắt. Khi bước ra khỏi hội trường, tôi thoáng thấy một đám đông sinh viên đang cười đùa ầm ĩ lao xuống vỉa hè, cùng một cánh tay đang vung vẩy chiếc ô nặng nề, nhô lênụp xuống giữa bọn họ. Sau đó, giữa muôn vàn tiếng la ó lẫn hoan hô, chiếc xe điện brougham của Giáo sư Challenger lướt đi từ lề đường, và tôi thấy mình đang bước đi dưới ánh đèn bạc lấp lánh của phố Regent, tràn ngập những suy nghĩ về Gladys và sự tò mò về tương lai của chính mình.
Bỗng có ai đó chạm vào khuỷu tay tôi. Tôi quay lại, và bắt gặp đôi mắt đầy hài hước và sắc bén của người đàn ông cao gầy vừa tình nguyện làm bạn đồng hành với tôi trong chuyến hành trình kỳ lạ này.
"Anh Malone phải không nhỉ," hắn nói. "Chúng ta sẽ là bạn đồng hành — đúng chứ? Phòng của tôi ở ngay bên kia đường, tại khu Albany. Có lẽ anh sẽ nhượng ơn cho tôi xin nửa tiếng đồng hồ nhé, vì có một hoặc hai chuyện tôi đang cực kỳ muốn trao đổi với anh đấy."