Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn, bản trọn vẹn

Lượt đọc: 165 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17

❊ ❊ ❊

Chừng một phút sau, có tiếng vọng ra từ cửa sổ, dù người nói chẳng thèm ló đầu ra, ông ta bảo: "Thôi đi các chú! Ai đấy?"

Tôi đáp: "Cháu đây ạ."

"Cháu là ai?"

"George Jackson, thưa ông."

"Chú muốn gì?"

"Cháu không muốn gì cả, thưa ông. Cháu chỉ muốn đi ngang qua đây thôi, nhưng lũ chó không cho cháu qua."

"Giờ này đêm hôm mà chú lảng vảng quanh đây làm gì—hả?"

"Cháu không có lảng vảng đâu ạ, cháu bị rơi khỏi tàu thủy mà."

"Ồ, thế à? Ai đó thắp đèn lên xem nào. Chú nói tên chú là gì ấy nhỉ?"

"George Jackson, thưa ông. Cháu chỉ là một thằng bé thôi."

"Nghe này, nếu chú nói thật thì không phải sợ đâu—chẳng ai làm hại chú đâu. Nhưng đừng có nhúc nhích; cứ đứng nguyên ở đó. Đánh thức Bob và Tom dậy, lấy súng ra đây. George Jackson, có ai đi cùng chú không?"

"Không ạ, không có ai cả."

Tôi nghe thấy tiếng người lục đục trong nhà, rồi thấy ánh đèn. Người đàn ông quát lên:

"Dẹp cái đèn đi, Betsy, bà già ngốc này—không có tí đầu óc nào à? Đặt nó xuống sàn sau cửa trước ấy. Bob, nếu con và Tom đã sẵn sàng thì vào vị trí đi."

"Sẵn sàng rồi ạ."

"Giờ thì, George Jackson, chú có biết nhà Shepherdson không?"

"Không ạ; cháu chưa từng nghe thấy tên họ bao giờ."

"Ừ, có thể là vậy, mà cũng có thể không. Nào, sẵn sàng cả chưa. Bước tới đây, George Jackson. Và nhớ này, đừng có vội—đi thật chậm thôi. Nếu có ai đi cùng chú thì bảo hắn lùi lại—nếu hắn ló mặt ra là bị bắn đấy. Đi đi. Đi chậm thôi; tự đẩy cửa vào—vừa đủ để lách người vào thôi, nghe rõ chưa?"

Tôi không vội; dù muốn thì cũng chẳng vội nổi. Tôi bước từng bước một, chậm rãi, chẳng có lấy một tiếng động, chỉ có điều tôi cứ ngỡ mình nghe thấy cả tiếng tim đập. Lũ chó cũng im re như người, nhưng chúng theo sau tôi một đoạn ngắn. Khi tới ba bậc thềm gỗ, tôi nghe thấy tiếng họ mở khóa, tháo chốt và dỡ then cài. Tôi đặt tay lên cánh cửa, đẩy nhẹ một chút rồi lại thêm chút nữa cho đến khi có tiếng bảo: "Được rồi, thế thôi—thò đầu vào đi." Tôi làm theo, nhưng tôi cứ ngỡ họ sẽ lấy đầu tôi thật.

Cây nến đặt dưới sàn, và tất cả bọn họ đang nhìn tôi, tôi cũng nhìn họ, chừng một phần tư phút: Ba gã đàn ông to con chĩa súng vào tôi, làm tôi giật thót mình, thề đấy; người già nhất, tóc hoa râm, khoảng sáu mươi tuổi, hai người kia chừng ba mươi hoặc hơn—tất cả đều trông bảnh bao, tuấn tú—và một bà cụ tóc bạc phúc hậu nhất trần đời, phía sau bà là hai cô gái trẻ mà tôi không nhìn rõ lắm. Ông cụ bảo:

"Được rồi; tôi nghĩ thế là ổn. Vào đi."

Ngay khi tôi vào trong, ông cụ khóa cửa, cài then và chốt lại, rồi bảo đám thanh niên mang súng vào trong, họ cùng đi vào một phòng khách lớn với tấm thảm trải sàn còn mới, rồi tụ lại ở một góc khuất tầm nhìn từ cửa sổ trước—bên hông nhà không có cửa sổ nào cả. Họ cầm nến, nhìn tôi kỹ càng, rồi tất cả đều nói: "Chà, nó không phải người nhà Shepherdson—không, chẳng có nét nào của Shepherdson cả." Sau đó ông cụ bảo ông hy vọng tôi không phiền nếu bị khám người xem có mang vũ khí không, vì ông không có ý xấu gì đâu—chỉ để chắc chắn thôi. Thế là ông không lục túi tôi, mà chỉ sờ bên ngoài, rồi bảo thế là ổn. Ông bảo tôi cứ tự nhiên như ở nhà, và kể hết mọi chuyện về bản thân; nhưng bà cụ nói:

"Ối giời, lạy chúa, Saul này, thằng bé tội nghiệp ướt như chuột lột thế kia; ông không nghĩ là nó đang đói sao?"

"Bà nói đúng đấy, Rachel—tôi quên mất."

Thế là bà cụ bảo:

"Betsy" (đây là một người đàn bà da đen), "cô chạy đi lấy gì cho thằng bé ăn nhanh lên, tội nghiệp quá; và một trong hai đứa con gái đi gọi Buck dậy bảo nó—à, nó kìa. Buck, đưa cậu bé khách này đi, thay bộ đồ ướt ra rồi lấy đồ của con cho nó mặc nhé."

Buck trông trạc tuổi tôi—mười ba, mười bốn gì đó, tuy nó cao lớn hơn tôi một chút. Nó chỉ mặc độc một cái áo sơ mi, đầu tóc thì bù xù. Nó bước vào, ngáp dài, một tay dụi mắt, tay kia kéo lê khẩu súng. Nó hỏi:

"Không có đứa nhà Shepherdson nào lảng vảng quanh đây à?"

Họ bảo không, chỉ là báo động giả thôi.

"Chà," nó nói, "nếu có đứa nào ở đây, con cá là con đã hạ được một đứa rồi."

Mọi người đều cười, rồi Bob nói:

"Buck này, chúng nó có thể đã lột da đầu tất cả chúng ta rồi ấy chứ, vì chú mày chậm chạp quá."

"Thì có ai đuổi theo con đâu, mà chẳng công bằng tí nào, lúc nào con cũng bị cấm cản; con chẳng bao giờ có cơ hội thể hiện cả."

"Đừng bận tâm, Buck con trai," ông cụ bảo, "con sẽ có đủ cơ hội thể hiện thôi, cứ từ từ. Đi đi, làm theo lời mẹ bảo đi."

Khi lên tới phòng nó ở tầng trên, nó đưa tôi cái áo sơ mi thô, chiếc áo khoác ngắn và cái quần của nó, tôi thay vào. Trong lúc thay, nó hỏi tôi tên gì, nhưng trước khi tôi kịp trả lời, nó đã bắt đầu kể về con chim giẻ cùi và con thỏ con nó bắt được trong rừng ngày hôm trước, rồi nó hỏi tôi lúc nến tắt thì Moses đang ở đâu. Tôi bảo không biết; tôi chưa nghe chuyện đó bao giờ.

"Thử đoán xem," nó bảo.

"Làm sao mà đoán được," tôi bảo, "khi mà tôi còn chưa nghe chuyện đó bao giờ?"

"Nhưng cậu có thể đoán mà, đúng không? Dễ ợt ấy mà."

"Nến nào cơ?" tôi hỏi.

"Thì, nến nào cũng được," nó đáp.

"Tôi không biết ông ấy ở đâu cả," tôi nói; "ông ấy ở đâu?"

"Thì, ông ấy ở trong bóng tối! Đó là nơi ông ấy ở!"

"Chà, nếu cậu biết ông ấy ở đâu, sao còn hỏi tôi làm gì?"

"Ơ hay, đó là câu đố mà, cậu không hiểu à? Này, cậu định ở đây bao lâu? Cậu phải ở lại đây luôn đi. Chúng ta có thể chơi đùa thỏa thích—giờ họ chẳng bắt đi học nữa. Cậu có nuôi con chó nào không? Tôi có một con—nó chịu xuống sông tha những miếng gỗ cậu ném xuống cho đấy. Cậu có thích chải chuốt vào ngày Chủ Nhật hay mấy thứ nhảm nhí đó không? Tôi thì cá là không, nhưng mẹ tôi cứ bắt tôi làm thế. Khỉ thật cái đống quần này! Tôi nghĩ mình nên mặc nó vào, nhưng tôi thà không mặc thì hơn, nóng quá. Cậu sẵn sàng chưa? Được rồi. Đi thôi, anh bạn già."

Bánh ngô lạnh, thịt bò muối lạnh, bơ và bơ sữa—đó là những gì họ cho tôi ăn dưới đó, và tôi chưa từng thấy món nào ngon hơn thế. Buck và mẹ nó cùng cả nhà đều hút tẩu gỗ, ngoại trừ người đàn bà da đen đã đi đâu mất, và hai cô con gái. Họ vừa hút thuốc vừa trò chuyện, còn tôi thì vừa ăn vừa nói chuyện. Hai cô gái trẻ đắp chăn quanh người, tóc xõa xuống lưng. Họ hỏi tôi đủ thứ, tôi kể cho họ nghe chuyện bố tôi, tôi và cả gia đình sống ở một trang trại nhỏ tận cuối vùng Arkansaw, chị gái Mary Ann của tôi bỏ nhà đi lấy chồng rồi biệt tăm luôn, Bill đi tìm họ cũng chẳng thấy quay về, còn Tom và Mort thì qua đời, cuối cùng chỉ còn lại tôi và bố, ông ấy cũng tiều tụy đi vì bao nhiêu chuyện rắc rối; nên khi ông mất, tôi lấy những gì còn sót lại, vì trang trại đó đâu phải của chúng tôi, rồi tôi xuôi theo dòng sông, đi vé boong, rồi bị rơi xuống nước; và thế là tôi đến được đây. Họ bảo tôi có thể ở lại đây bao lâu tùy thích. Sau đó trời gần sáng, mọi người đi ngủ, tôi ngủ cùng Buck, và khi thức dậy vào buổi sáng, ôi chết tiệt, tôi đã quên béng mất tên mình là gì. Thế là tôi nằm đó chừng một tiếng cố nhớ lại, rồi khi Buck thức dậy, tôi bảo:

"Buck, cậu có biết đánh vần không?"

"Có chứ," nó đáp.

"Tôi cá là cậu không đánh vần được tên tôi đâu," tôi nói.

"Cá bao nhiêu tôi cũng chơi," nó nói.

"Được thôi," tôi bảo, "làm đi."

"G-e-o-r-g-e J-a-x-o-n—đấy, xong rồi nhé," nó nói.

"Chà," tôi nói, "cậu làm được thật, tôi cứ tưởng cậu không làm được chứ. Tên tôi đâu phải là dễ đánh vần—đánh cái vèo không cần suy nghĩ đâu."

Tôi ghi nhớ kỹ, kín đáo thôi, vì lỡ ai đó bảo tôi đánh vần tiếp thì tôi phải thành thục để đọc vanh vách như đã quen rồi.

Gia đình này rất tử tế, và căn nhà cũng tuyệt vời nữa. Tôi chưa từng thấy căn nhà nào ở nông thôn lại đẹp và phong cách đến thế. Cửa trước không dùng chốt sắt, cũng chẳng phải chốt gỗ buộc dây da nai, mà là tay nắm cửa bằng đồng xoay được, y hệt mấy căn nhà trên phố. Trong phòng khách chẳng có giường, cũng chẳng có dấu vết gì của giường; nhưng nhiều phòng khách ở phố lại kê giường trong đó. Có cái lò sưởi lớn với đáy lót gạch, những viên gạch luôn được giữ sạch sẽ và đỏ au bằng cách dội nước và cọ bằng một viên gạch khác; đôi khi họ còn quét lên đó lớp nước sơn màu đỏ mà họ gọi là nâu Tây Ban Nha, giống hệt người ta làm trên phố. Họ có cặp kiềng lò sưởi bằng đồng lớn đủ đỡ cả khúc gỗ lớn. Trên bệ lò sưởi ở giữa có một cái đồng hồ, mặt dưới của tấm kính phía trước vẽ hình một thị trấn, giữa hình là khoảng tròn cho mặt trời, và bạn có thể thấy con lắc đung đưa phía sau. Nghe tiếng đồng hồ tích tắc thật dễ chịu; và thỉnh thoảng, khi mấy tay bán hàng rong ghé qua cọ rửa và chỉnh sửa cho nó, nó lại bắt đầu điểm chuông đến một trăm năm mươi cái mới chịu nghỉ. Họ có trả bao nhiêu tiền cũng không bán cái đồng hồ đó.

À, còn có một con vẹt to tướng kỳ dị ở mỗi bên cái đồng hồ, làm bằng thứ gì đó giống như phấn, và được sơn phết sặc sỡ. Bên cạnh một con vẹt là con mèo làm bằng gốm, và con chó bằng gốm bên cạnh con kia; khi bạn ấn xuống, chúng kêu "chít chít" nhưng không mở miệng, cũng chẳng thay đổi biểu cảm hay tỏ ra quan tâm gì cả. Chúng kêu thông qua cái lỗ dưới bụng. Có hai cái quạt làm từ cánh gà tây rừng lớn xòe ra sau mấy món đồ đó. Trên chiếc bàn giữa phòng là một cái giỏ gốm xinh xắn đựng táo, cam, đào, nho chất đống, trông còn đỏ hơn, vàng hơn và đẹp hơn cả đồ thật, nhưng chúng không phải đồ thật vì bạn có thể thấy những chỗ bị sứt mẻ để lộ ra lớp phấn trắng hay chất liệu gì đó bên dưới.

Chiếc bàn này phủ một tấm khăn làm bằng vải dầu tuyệt đẹp, vẽ hình đại bàng tung cánh màu đỏ và xanh, xung quanh là đường viền được vẽ tỉ mỉ. Họ bảo nó được mang từ Philadelphia về. Cũng có vài cuốn sách, được xếp ngăn nắp hoàn hảo trên mỗi góc bàn. Một cuốn là Kinh Thánh gia đình to đùng đầy hình ảnh. Một cuốn là "Pilgrim’s Progress" (Cuộc hành trình của người hành hương), kể về một người đàn ông bỏ gia đình, nhưng không nói lý do tại sao. Thỉnh thoảng tôi cũng đọc trong đó. Những câu chuyện rất thú vị, nhưng khó hiểu. Một cuốn khác là "Friendship’s Offering" (Món quà tình bạn), đầy những bài văn thơ đẹp đẽ; nhưng tôi không đọc thơ. Một cuốn khác nữa là bài diễn văn của Henry Clay, và cuốn "Dr. Gunn’s Family Medicine" (Y học gia đình của Bác sĩ Gunn), cuốn sách chỉ cho bạn tất cả những việc cần làm nếu có người ốm hoặc qua đời. Còn có một cuốn thánh ca, và nhiều sách khác nữa. Và có những chiếc ghế đáy đan dây tuyệt đẹp, hoàn hảo, chắc chắn—không bị trũng xuống ở giữa và hỏng hóc như cái giỏ cũ.

Họ treo tranh trên tường—chủ yếu là tranh Washington và Lafayette, tranh các trận chiến, tranh nàng Highland Mary, và một bức gọi là "Ký kết Tuyên ngôn". Có mấy bức gọi là tranh sáp màu, do một trong những cô con gái đã mất tự tay vẽ khi mới mười lăm tuổi. Chúng khác hẳn bất kỳ bức tranh nào tôi từng thấy trước đây—thường đen hơn mức bình thường. Một bức vẽ người phụ nữ mặc váy đen bó sát, thắt eo cao ngay dưới nách, phần giữa ống tay áo phồng lên như cái bắp cải, đội chiếc mũ rộng vành màu đen che khuất mặt cùng tấm mạng đen, đôi mắt cá chân trắng mảnh khảnh vắt chéo nhau được quấn bằng dải băng đen, đi đôi giày nhỏ xíu màu đen, nhọn hoắt như cái đục, và cô ấy đang tựa người đầy suy tư lên tấm bia mộ bằng khuỷu tay phải, dưới gốc cây liễu rủ, tay kia buông thõng bên sườn cầm khăn tay trắng và cái túi xách, bên dưới bức tranh ghi dòng chữ: "Liệu tôi sẽ không bao giờ được gặp lại người nữa sao, Than ôi". Một bức khác vẽ một quý cô trẻ với mái tóc chải ngược lên đỉnh đầu, buộc lại phía trước một chiếc lược như tựa lưng ghế, đang khóc vào chiếc khăn tay, tay kia cầm con chim chết nằm ngửa với đôi chân chổng lên trời, và bên dưới bức tranh ghi: "Ta sẽ không bao giờ được nghe tiếng hót ngọt ngào của nàng nữa, Than ôi". Có một bức vẽ quý cô trẻ ở bên cửa sổ nhìn lên mặt trăng, nước mắt lăn dài trên má; trên tay cầm một lá thư mở với sáp niêm phong màu đen hiện rõ ở một mép, cô đang ép chặt chiếc mề đay có dây chuyền vào miệng, bên dưới bức tranh ghi: "Và nàng đã đi rồi sao, vâng, nàng đã đi thật rồi, Than ôi". Tôi nghĩ đây đều là những bức tranh đẹp, nhưng tôi không hiểu sao mình không thích chúng, vì mỗi khi tôi thấy buồn một chút là chúng lại làm tôi nổi da gà. Mọi người đều tiếc thương vì cô gái đã mất, vì cô ấy còn dự định vẽ thêm rất nhiều tranh nữa, và nhìn vào những gì cô ấy đã làm, người ta có thể thấy họ đã mất mát những gì. Nhưng tôi lại nghĩ với tính cách của cô ấy, chắc cô ấy đang có khoảng thời gian vui vẻ hơn ở nghĩa địa. Cô ấy đang làm dở bức tranh được cho là vĩ đại nhất của mình thì đổ bệnh, và ngày nào đêm nào cô ấy cũng cầu nguyện được sống để hoàn thành nó, nhưng cô ấy chưa bao giờ có cơ hội. Đó là bức tranh vẽ một phụ nữ trẻ mặc áo dài trắng, đứng trên lan can cây cầu chuẩn bị nhảy xuống, tóc xõa tung sau lưng, đang ngước nhìn mặt trăng, nước mắt tuôn rơi trên mặt, hai cánh tay khoanh trước ngực, hai cánh tay khác dang rộng ra phía trước, và hai cánh tay nữa vươn lên phía mặt trăng—ý tưởng là để xem cặp tay nào trông đẹp nhất, rồi xóa hết những cánh tay còn lại; nhưng như tôi đã nói, cô ấy mất trước khi quyết định được, và bây giờ họ giữ bức tranh đó phía trên đầu giường trong phòng cô, mỗi dịp sinh nhật cô, họ lại treo hoa lên đó. Những ngày khác nó được che bằng tấm màn nhỏ. Người phụ nữ trong tranh có khuôn mặt khá xinh xắn, ngọt ngào, nhưng có quá nhiều cánh tay làm cô ấy trông như con nhện, theo tôi thấy là vậy.

Cô gái trẻ này khi còn sống có giữ một cuốn sổ lưu bút, thường cắt dán các bài cáo phó, tin tai nạn và các trường hợp chịu đựng bệnh tật trong tờ "Presbyterian Observer" vào đó, rồi tự mình viết thơ bên dưới. Thơ rất hay. Đây là bài cô ấy viết về một cậu bé tên Stephen Dowling Bots bị ngã xuống giếng và chết đuối:

BÀI THƠ TƯỞNG NIỆM STEPHEN DOWLING BOTS, ĐÃ QUYÊN SINH

Stephen trẻ tuổi có ốm đau,

Và Stephen có lìa đời?

Lòng người buồn đau đáu,

Lệ người có rơi?

Không; số phận của chàng trai trẻ

Stephen Dowling Bots đâu phải thế;

Tuy lòng người buồn đau đáu,

Chẳng phải vì bệnh tật ghé thăm.

Không phải ho gà làm khổ tấm thân,

Cũng chẳng phải sởi mọc đầy nốt mẩn;

Chẳng phải vì mấy thứ đó làm lu mờ

Cái tên thiêng liêng của Stephen Dowling Bots.

Mối tình chê bai chẳng gây sầu khổ

Cho mái tóc xoăn tít kia,

Cũng chẳng phải đau dạ dày quật ngã

Chàng Stephen Dowling Bots.

Ồ không. Hãy lắng nghe với đôi mắt đẫm lệ,

Khi tôi kể lại số phận của người.

Linh hồn chàng bay khỏi thế giới lạnh lẽo này

Vì rơi xuống một cái giếng sâu.

Họ vớt chàng lên và tát nước ra;

Than ôi, đã quá muộn rồi;

Linh hồn chàng đã đi đến nơi chốn xa

Vui chơi cùng đấng cao cả tuyệt vời.

Nếu Emmeline Grangerford có thể làm thơ như thế trước khi mười bốn tuổi, thì không ai biết sau này cô ấy còn làm nên trò trống gì nữa. Buck bảo cô ấy có thể tuôn ra thơ như nước chảy. Cô ấy chẳng bao giờ phải dừng lại suy nghĩ. Nó bảo cô ấy cứ viết đại một dòng, nếu không tìm được vần thì cứ gạch đi rồi viết dòng khác, rồi cứ thế tiếp tục. Cô ấy không kén chọn; cô ấy có thể viết về bất cứ thứ gì bạn đưa cho, miễn là nó buồn thảm. Mỗi khi có người đàn ông, người đàn bà hay đứa trẻ nào chết, cô ấy đều có mặt với bài "cống phẩm" trước khi xác người đó kịp lạnh. Cô gọi chúng là cống phẩm. Hàng xóm bảo thứ tự là bác sĩ trước, rồi đến Emmeline, sau cùng mới là người mai táng—người mai táng chưa bao giờ đến trước Emmeline ngoại trừ một lần, vì khi đó cô ấy bí từ vần cho cái tên người chết, là Whistler. Từ đó cô ấy không bao giờ còn như trước nữa; cô ấy không than vãn gì, nhưng cứ héo hon dần rồi không sống được bao lâu. Tội nghiệp, đã nhiều lần tôi tự ép mình đi lên căn phòng nhỏ từng là của cô ấy, lấy cuốn sổ lưu bút cũ kỹ tội nghiệp kia ra đọc khi mấy bức tranh của cô ấy làm tôi bực mình và tôi trở nên ghét cô ấy một chút. Tôi yêu quý cả gia đình này, kể cả những người đã khuất, và sẽ không để chuyện gì xen vào giữa chúng tôi. Emmeline tội nghiệp từng làm thơ về tất cả những người đã mất khi cô ấy còn sống, và thật chẳng công bằng khi giờ đây chẳng có ai làm thơ về cô ấy cả; nên tôi đã thử vắt óc nghĩ vài vần thơ, nhưng chẳng làm sao cho ra hồn. Họ giữ căn phòng của Emmeline ngăn nắp, xinh xắn, mọi đồ đạc vẫn để nguyên vị trí cô ấy thích khi còn sống, và không ai ngủ trong đó cả. Bà cụ tự mình chăm sóc căn phòng, dù có đầy người làm da đen, bà thường ngồi khâu vá trong đó và đọc Kinh Thánh là chủ yếu.

Chà, như tôi đã nói về phòng khách, ở cửa sổ có những tấm rèm tuyệt đẹp: màu trắng, vẽ hình lâu đài với dây leo phủ kín tường, và gia súc đang đi xuống uống nước. Cũng có một cái đàn piano cũ kỹ, tôi đồ là bên trong có mấy cái chậu thiếc, và chẳng có gì tuyệt vời hơn khi nghe các cô gái trẻ hát bài "The Last Link is Broken" (Mắt xích cuối cùng đã vỡ) và chơi bài "The Battle of Prague" (Trận chiến Prague) trên đó. Tường tất cả các phòng đều được trát vữa, hầu hết đều trải thảm trên sàn, và toàn bộ căn nhà đều được quét vôi trắng bên ngoài.

Đó là một căn nhà đôi, và khoảng không gian mở rộng lớn ở giữa được lợp mái và lát sàn, đôi khi bàn ăn được bày ở đó vào giữa ngày, và đó là một nơi mát mẻ, dễ chịu. Không gì có thể tốt hơn. Và đồ ăn thì ngon tuyệt, lại còn nhiều như núi nữa!

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.