Nhất Cái Hồng Vệ Binh Đích Tự Bạch

Nhất Cái Hồng Vệ Binh Đích Tự Bạch

Lượt đọc: 36 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Khu nhà tập thể của chúng tôi có tổng cộng bảy hộ. Nhà chú Lư là "dân gốc". Nhà tôi cùng năm nhà còn lại đều chuyển từ khắp nơi tới đây chưa được bao lâu do diện giải tỏa. Trước tết Dương lịch năm 1966, tất cả tụ họp đông đủ trong khoảng sân ấy. Dịp tết Nguyên đán, mọi người đi chúc tết lẫn nhau, nền tảng của mối quan hệ hòa thuận, thân thiện được đặt định từ đó. Năm ấy tôi mười bảy tuổi, đang học lớp chín.

Chú Lư là "viện trưởng", với lòng nhiệt tình thành kính của một "dân gốc", chú không từ nan gánh vác trách nhiệm quản lý cả khu tập thể: mười giờ tối cài then cổng lớn, sáu giờ sáng mở cổng; phân chia tương đối công bằng diện tích cơi nới "chái cửa" và lán than cho từng nhà; đuổi lũ trẻ nghịch ngợm chạy vào sân nô đùa; tra xét những kẻ lạ mặt có hành tung đáng ngờ xuất hiện trong sân; hễ cúp điện đột ngột là nghiêm túc đi tìm hiểu nguyên nhân; không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội nào để tạo dựng uy tín.

Chú ba mươi bảy tuổi, lớn hơn tuổi tôi hiện tại đúng một tuổi. Nhưng trong mắt tôi, chú là bậc trưởng bối. Chú từng tham gia kháng chiến chống Mỹ viện Triều, lập một chiến công nhỏ. Phục viên về làm cảnh sát trên tàu hỏa, chú từng có một thời đắc ý. Bản tính vốn bướng như lừa, hở ra là tự coi mình là công thần bảo vệ tổ quốc, vì dăm ba chuyện lông gà vỏ tỏi mà liên tục chọc giận lãnh đạo, rốt cuộc chỉ vì một lần "quan hệ nam nữ" thuận tình thuận ý mà bị khai trừ công chức. Không phục, chú bèn nghiên cứu luật pháp, rồi khiếu nại. Chú cho rằng chiếu theo điều luật, lúc bị "bắt gian" là lúc chú và người phụ nữ kia sắp "vào cuộc" chứ chưa kịp "vào cuộc", chưa thể coi là có "hành vi thông dâm" trên thực tế. Cơ quan cấp trên bác bỏ: Khai trừ công chức không dựa vào luật pháp mà dựa vào đạo đức. Chưa kịp "vào cuộc" là còn may cho chú. Nếu đã "vào cuộc" rồi thì chẳng những bị khai trừ công chức mà còn phải chịu tội trước pháp luật. Người phụ nữ ấy là cấp trên trực tiếp của chú — vợ trẻ của một vị lão cục trưởng. Chú bôn ba khắp nơi, phân bua khắp chốn, mong nhận được sự cảm thông. Làm ầm ĩ suốt hai năm trời mà án vẫn không lật lại được. Muôn phần bất đắc dĩ, chú đành kế thừa cái nghề của cha mình là Lư Lão Ma Tử, bắt đầu đẩy chiếc xe cút kít, gõ trống nhỏ đi thu mua đồng nát. Theo cách nói của chính chú, mưa bom bão đạn chú đều xông qua cả, thế mà lại ngã nhào vào lòng một người đàn bà rồi không gượng dậy nổi! "Mẹ kiếp, chẳng qua chỉ là một cái ôm thôi mà! Chẳng qua chỉ là một người đàn bà thôi mà!" Chú thường kể với người khác về cái "vụ phong lưu" tốn công gấp đôi mà chỉ thành một nửa vô cùng bi đát này của mình. Vì "chỉ là một cái ôm", "chỉ là một người đàn bà", chú thấy ấm ức tột cùng. Trong nỗi ấm ức lộ rõ vẻ quá đỗi thiệt thòi. "Mẹ kiếp, là ả mồi chài tôi trước chứ! Ả là cục trưởng phu nhân, ả không mồi chài trước thì tôi dám léng phéng với ả chắc? Mẹ kiếp, chuyện vỡ lở ra thì ả lại khóc lóc sụt sùi, cắn ngược lại tôi một phát. Giờ thì người ta còn lên chức trưởng phòng rồi kia kìa!" Chú nghiến răng nghiến lợi căm thù người đàn bà đã làm bại hoại danh dự, chôn vùi tiền đồ của mình. Thế nhưng sau mỗi lần rủa sả, chú lại buông một câu: "Mẹ kiếp, ả ta có cái ngón lẳng lơ ghê gớm thật, chỉ cần liếc mắt đưa tình một cái là đàn ông thằng nào thằng nấy bủn rủn cả nửa người!" Rõ ràng là vẫn còn chút vương vấn tình xưa.

Cũng may thím Lư vô cùng độ lượng với chú, trước sau như một giữ thái độ đáng khen là "vô vi mà trị", tuyệt đối không oán hận. Chú cũng rút ra từ bài học đau đớn này một kinh nghiệm đầy sáng suốt: "Hoa nhà tuy không thơm bằng hoa dại, nhưng dẫu sao cũng là của mình, muốn hái lúc nào thì hái! Hái hoa dại nguy hiểm quá, quá nguy hiểm."

Cái nghề "đồng nát đổi tiền" tuy thuộc hàng "hạ cửu lưu", nhưng thu nhập lại khả quan hơn làm một viên cảnh sát áp tải tàu hỏa. Trong nhà ngoài sân, suốt ba trăm sáu mươi mấy ngày một năm, đâu đâu cũng là những đống ve chai phế liệu, thím Lư chưa từng chê chướng mắt.

“Kệ nó làm nghề gì, tiêu tiền tiện tay là được chứ gì! Nhà tôi thích ngày nào lĩnh lương thì ngày đó lĩnh, chẳng phải thị trưởng mỗi tháng cũng chỉ được lĩnh lương một lần thôi sao?” Thím Lư đối với cuộc sống cũng giữ thái độ lạc quan theo lối "vô vi mà trị".

Hôm nào chú Lư kiếm được nhiều tiền, thím liền trổ hết tài nghệ của một nữ tướng nhà bếp xuất sắc, bày ra bảy đĩa tám bát, cả nhà đánh một bữa no nê ngon lành. Gặp phải những ngày chú Lư lên cơn lười không chịu ra ngoài kiếm tiền, thím lại nấu một nồi to cháo hạt cao lương hoặc cháo bột ngô, húp từ sáng tới tối. Đàn bà trong viện đều bảo, người lớn trẻ con nhà họ Lư chẳng bao giờ để cái dạ dày phải chịu thiệt. Duy chỉ có mẹ tôi là không đồng tình với lối sống mùng một ăn no chết, mùng năm nhịn đói meo này, song bà chưa từng lên tiếng bình phẩm.

Kể từ sau cú ngã tình cảm, chú Lư chẳng còn tơ tưởng chút lãng mạn nào với "hoa dại" nữa. Chú biến thành một người chồng một lòng một dạ. Giá trị thặng dư ngoài việc thu mua phế liệu đều dồn hết vào hai chữ rượu và cờ. Ôm lấy chai rượu, dẫu chỉ có vài cọng dưa muối, hai cân rượu "Lão Bạch Can" cũng không quật ngã được chú, chú tự xưng đó là công phu "Thái Cực Rượu". Một khi say khướt, chú sẽ ôm chiếc máy thu thanh bán dẫn nằm vật ra đầu giường gạch nghe kinh kịch. Đó là biểu hiện của lúc say bảy phần. Khi say tám chín phần thì đập đồ ném đạc. Đến lúc say mười phần thì thật rùng rợn, chú cầm dao phay hoặc rìu sắt, đứng trên nóc nhà vừa nhảy nhót vừa chửi đổng ra đường, dọa liều mạng với Trương Tam, thề không đội trời chung với Lý Tứ. Trương Tam hoặc Lý Tứ đại để sẽ vì chuyện gì đó mà tới xin lỗi chú. Người sống ở con phố này đều là hạng vợ con đùm đề, ai rỗi hơi đi liều mạng, đi thề không đội trời chung với chú chứ? "Đại ca, đừng giận! Em nói lúc say rượu đấy, anh em mình mà! Anh là đại ca của em! Em làm sao mà liều mạng với anh được chứ!..." Chú thấy êm xuôi là dừng ngay. Biết dừng đúng lúc chứng tỏ cái say mười phần kia cũng chẳng phải không có phần giả vờ. Trước khi các nhà chuyển đến khu tập thể này, chú đã có hai biệt danh. Một cái gọi trước mặt, một cái gọi sau lưng. Trước mặt người ta gọi chú là "Lư Nhị gia", hàm ý kính sợ; sau lưng nhắc tới chú thì đều gọi là "Lư Nhị Lừa". Sau khi chúng tôi chuyển đến, chú toan tính chỉ công khai biệt danh thứ nhất với chúng tôi và giấu nhẹm biệt danh thứ hai. Nhưng sự đời chẳng theo ý người, chú đành phải tai trái nghe lời muốn nghe, tai phải nghe lời không muốn nghe.

Ban đầu mẹ tôi rất sợ chú, từng dặn dò chúng tôi: "Tuyệt đối đừng trêu vào chú ấy nhé. Chọc giận chú ấy, chú ấy xách dao phay rìu sắt xông vào nhà liều mạng thì bố các con ở tận nơi xa, mẹ chống đỡ nổi hay các con chống đỡ nổi?" Tâm lý sợ hãi của mẹ ảnh hưởng đến chúng tôi. Hễ nhìn thấy chú, chúng tôi đều vội vàng cúi đầu tránh xa ba bước.

Có một bận chú lại uống say mười phần, trời tuyết lớn, chú cởi trần trùng trục, nhảy từ nóc nhà chú sang nóc nhà tôi, vừa nhảy vừa chửi bới thậm tệ một kẻ nào đó, tay vung chiếc xẻng sắt loang loáng ngang dọc. Chú giẫm sập cả một mảng mái nhà tôi. Mẹ và mấy đứa chúng tôi sợ đến mức trốn tiệt trong nhà không dám thò mặt ra ngoài. Về sau, mẹ tôi sang nhà chú, dùng mấy câu danh ngôn đối nhân xử thế để lựa lời khuyên giải chú.

Chú cảm động, bảo với mẹ tôi: "Chị dâu à, khó lắm thay! Tôi là một thằng thu mua đồng nát, lại là kẻ từng phạm sai lầm bị đuổi việc, thân phận thấp hèn hơn người ta ba phần, nếu không mượn rượu vờ làm lừa làm hổ thì sợ bị người ta bắt nạt mất!" Hôm sau chú còn mua hai hộp đồ hộp mang sang nhà tôi để "lấy lại tinh thần" cho mẹ.

Mẹ lại bảo với chúng tôi: "Thực ra các con cũng chẳng cần phải sợ chú ấy. Bụng dạ chú ấy không xấu, chỉ có cái tính bướng như lừa, phải vuốt xuôi theo chiều lông. Cứ vuốt xuôi theo chiều lông thì chú ấy vẫn là người biết điều."

Có lẽ vì mẹ tôi nắm vững phương pháp khoa học khi chung sống với chú, từ đó về sau chú rất tôn trọng mẹ, mở miệng ra là một tiếng "chị dâu", hai tiếng "chị dâu". Điều đó khiến chúng tôi dần cảm thấy gần gũi với chú hơn.

Chú đánh cờ tướng quả thực rất giỏi. Trước khi bị khai trừ công chức, chú từng giành chức vô địch giải cờ tướng công nhân viên chức toàn tỉnh. Đó là vinh dự chói lọi nhất mà chú từng đạt được. Chập tối, khi bày bàn cờ gỗ hoàng dương cùng những quân cờ gỗ tử đàn (phần thưởng giải quán quân) dưới chân cột điện đầu phố, dáng vẻ ngạo nghễ của chú chẳng khác nào Napoléon. Bày mưu tính kế, quyết thắng ngoài ngàn dặm. Cầm quân nặng tựa núi, hạ cờ chẳng tiếc nuối. Chú xứng danh là đàn chủ lề đường, kỳ vương góc phố. Bách chiến bách thắng không phải do chú tự thổi phồng, mà là sự thật được mọi người công nhận.

Người đầu tiên kết giao với chú Lư là chú Khương. Chú Khương là công nhân của một xưởng đóng sổ sách nhỏ thuộc diện tập thể lớn chỉ có chừng ba trăm người, đồng thời là bạn cờ mới của chú Lư. Vì có vinh hạnh được đứng vào hàng ngũ bạn cờ của chú Lư, chú Khương lấy làm tự hào lắm. Hai người từ bạn cờ thành bạn bè, thúc đẩy mối quan hệ giữa hai gia đình trở nên vô cùng thân thiết.

Hàng xóm bên trái nhà chú Khương là nhà chú Trương. Chú Trương là "đồng chí phụ trách" không có cấp bậc cán bộ chính thức của mấy cửa hàng nhỏ thuộc một khu trong quận, được coi là người có chút quyền hành trong khu tập thể chúng tôi. Các nhà còn lại mỗi khi không mua được những thứ như bao diêm, bóng đèn, xà phòng, nước tương, muối kiềm làm bánh, thể nào cũng phải đi "cửa sau" nhờ chú. Chú rất vui lòng mở những chiếc "cửa sau" nho nhỏ ấy cho hàng xóm láng giềng.

Hàng xóm bên phải nhà chú Khương là nhà chú Tôn. Chú Tôn là quản đốc phân xưởng đồ gỗ của Nhà máy Đồ gỗ Long Giang độc nhất vô nhị ở thành phố Cáp Nhĩ Tân thuở ấy — cấp chính khoa. So với chú Trương, trong mắt láng giềng, thân phận chú Tôn đương nhiên lại khác biệt. Chú là người có tướng mạo quan trường, trán rộng đầy đặn, cằm vuông vức. Chú ít nói. Dù ở trong sân hay ngoài phố, nếu bạn không chủ động chào chú thì chú tuyệt đối không mở miệng trước. Đàn ông đàn bà hàng xóm đều cho rằng chú làm bộ làm tịch của một vị trưởng phòng. Thực ra bản tính của chú vốn là như vậy.

Sát vách nhà chú Tôn là nhà chú Đậu. Chú Đậu là thợ tiện của một xưởng sửa chữa cơ khí cấp phường. Xưởng đó còn nhỏ hơn xưởng đóng sổ sách của chú Khương, chỉ có hơn tám mươi người. Chú Đậu thân thiết với chú Mã ở xéo cửa đối diện, cả hai đều có sẵn chút tế bào âm nhạc. Chú Đậu có một cây kèn trumpet, chú Mã có một cây kèn clarinet. Buổi tối hai người thường hòa tấu, đều là những nhân vật được lũ trẻ trong sân sùng bái.

Trừ bố tôi ra, chú Mã là người đàn ông lớn tuổi nhất trong sân. Năm ấy chú năm mươi. Nghe nói từng học "Quốc Cao", lại là kế toán của công ty than, nên chú trở thành hình tượng đại diện cho giới trí thức trong khu tập thể chúng tôi. Chú cũng khó tránh khỏi thói quen hay tự coi mình là trí thức. Chú có bốn cô con gái, một cậu con trai. Cậu con trai trạc tuổi tôi, cũng đang học lớp chín.

Nhà chúng tôi là hộ có cuộc sống khó khăn nhất trong khu, nhận được nhiều sự giúp đỡ từ bà con lối xóm. Mang tấm lòng biết ơn, mẹ tôi đối đãi với nhà nào cũng vô cùng cung kính, nhún nhường. Bố tôi tuy công tác ở tận Tứ Xuyên xa xôi, nhưng trong nhà treo đầy những bằng khen của ông, thể hiện nếp nhà chuộng danh dự của gia đình chúng tôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.