Các hồ sơ về vụ thảm sát đẫm máu ở đảo Møn rất toàn diện. Quá trình số hóa kho dữ liệu ở Sở Cảnh sát Vordingborg tiến bộ đến nỗi Hess có thể đọc chúng trên một màn hình thay vì lật giở các báo cáo phủ đầy bụi bặm như những hồ sơ xung quanh anh, mặc dù thực ra anh thích như thế hơn. Khi anh sốt ruột nghe tiếng nhạc chờ trên điện thoại, đôi mắt anh quét qua những cái kệ, và anh chợt nhận ra biết bao nỗi đớn đau của con người đã được nhà nước lưu lại, nằm trong sự lãng quên ở những kho dữ liệu, danh sách và máy chủ trên khắp đất nước.
“Bạn đang xếp thứ - 7 - trong hàng đợi.”
Brink đã đi theo anh xuống tầng hầm và mở khóa kho lưu trữ dữ liệu, một căn phòng nhếch nhác, đơn sơ với một dãy kệ dài đựng những cái hộp và bìa kẹp hồ sơ. Ở đây không có cửa sổ, chỉ có những ngọn đèn tuýp dài kiểu cổ, loại mà Hess nhìn thấy lần cuối là ở trường, và căn phòng này nhắc anh nhớ rằng anh ghét các tầng hầm và những căn phòng dưới mặt đất biết chừng nào.
Theo lời Brink, số lượng tài liệu của vụ án này quá đồ sộ nên nó chính là một trong những vụ án đầu tiên được số hóa lúc họ bắt đầu quá trình ấy vài năm trước, họ đã muốn tiết kiệm không gian. Vì thế Hess phải đọc về vụ án trên cái máy tính cổ lỗ kêu ro ro ở trong góc phòng. Brink đã ngỏ ý giúp đỡ, gần như khăng khăng đòi ở lại, nhưng Hess muốn tập trung kiểm tra các tài liệu mà không bị làm phiền. Điện thoại của anh đã đổ chuông vài lần, trong đó có mấy cuộc gọi từ François, và anh đoán người đàn ông Pháp ấy đã nhận ra anh chưa hề đến Bucharest.
Hess biết anh cần tìm kiếm thứ gì trong đống tài liệu này, nhưng anh vẫn bị sa đà vào các chi tiết. Sự miêu tả của các sĩ quan cảnh sát về lần đầu tiên họ gặp hai đứa trẻ song sinh thật là khủng khiếp. Họ tìm thấy chúng đang ôm chặt nhau trong một góc của tầng hầm, cậu bé choàng hai cánh tay quanh người cô bé, còn cô bé thì có vẻ ngây ngẩn, như thể đang bị sốc. Cậu bé đã vùng vẫy khi bị tách ra khỏi cô bé lúc chúng được đưa ra xe cứu thương, và hành vi của cậu được so sánh với hành vi của “một con thú hoang”. Kết quả kiểm tra y tế của hai đứa trẻ đã xác nhận việc chúng bị lạm dụng và bạo hành, đúng với các bằng chứng dưới tầng hầm, nhưng dù có cố gắng thế nào, họ cũng không thể thẩm vấn hai anh em. Cậu bé hoàn toàn câm lặng. Cậu không chịu nói một lời. Em gái cậu, trái lại, trả lời không chút dè dặt, nhưng dường như cô bé không hiểu các câu hỏi. Bác sĩ tâm lý có mặt ở đó đã khẳng định rằng cô bé đang sống trong một kiểu thế giới song song - có lẽ là để cố gắng quên đi những gì cô bé đã trải qua. Một quan tòa đã miễn cho hai đứa trẻ không phải xuất hiện ở tòa án, và vào lúc đó, chúng đã được gửi đến những gia đình nhận nuôi dưỡng trẻ em ở những khu vực khác nhau trên đất nước. Các nhà chức trách đã quyết định tách cặp song sinh ra, hy vọng điều đó sẽ giúp chúng gạt bỏ được quá khứ và bắt đầu một cuộc đời mới. Hess nghĩ đó có vẻ không phải là một quyết định khôn ngoan cho lắm.
Điều đầu tiên anh ghi vào tập giấy nhớ bên cạnh máy tính là tên của cặp song sinh, Toke và Astrid Bering, cũng như mã số định danh của chúng, nhưng báo cáo không có thông tin chi tiết về hoàn cảnh xuất thân của chúng. Một bản báo cáo từ một nhân viên công tác xã hội viết rằng chúng bị bỏ rơi ở cầu thang của một bệnh viện phụ sản tại Aarhus vào năm 1979, lúc đó chúng không quá vài tuần tuổi, và đã được các nữ hộ sinh đặt tên. Sau đó, bản báo cáo viết thêm mà không đi sâu vào chi tiết - rằng cặp song sinh đã sống cùng các gia đình nhận nuôi dưỡng trẻ em khác nhau trước khi được chuyển đến Trang trại Hạt Dẻ trước khi vụ thảm sát đẫm máu xảy ra hai năm. Đó là tên trang trại của Ørum. Qua từng câu chữ, Hess càng lúc càng cảm thấy sáng tỏ hơn, rồi anh tra cứu mã số định danh của cặp song sinh trong hệ thống dữ liệu của cảnh sát để tìm hiểu xem hiện giờ họ đang sống ở đâu.
“Bạn đang xếp thứ - 3 - trong hàng đợi.”
Hệ thống dữ liệu mở rộng của cảnh sát, vốn tham khảo chéo các cơ sở dữ liệu khác nhau có thể có liên quan đến công việc của cảnh sát, cho ta biết một người nào đó đã từng sống ở đâu vào thời điểm nào. Mỗi mục bao gồm một danh sách liệt kê theo thứ tự thời gian các nơi cư trú của một người và ngày chuyển đi, chuyển đến, cũng như thông tin về việc liệu người đó đã từng kết hôn, ly dị, bị cáo buộc một tội danh nào đó, bị kết án, bị trục xuất hoặc theo một cách nào đó có liên quan đến những hoạt động mà cảnh sát quan tâm hay không.
Nhưng hóa ra một cuộc kiểm tra bình thường lại biến thành một bí ẩn mới.
Theo cơ sở dữ liệu, sau khi ở trong một trung tâm bảo trợ trẻ em cơ nhỡ một thời gian, Toke Bering, khi ấy mười hai tuổi, đã được đưa đến ở cùng một gia đình nhận nuôi dưỡng trẻ em tại Langeland. Sau đó là một gia đình ở Als, rồi ba gia đình nữa trước khi mất dấu ngay sau sinh nhật mười bảy tuổi. Không có địa chỉ hoặc sự kiện nào khác có liên quan đến mã số định danh của anh ta nữa.
Nếu Toke Bering chết thì cơ sở dữ liệu đã phải nói vậy, nhưng trong trường hợp này chỉ là hệ thống không còn cập nhật về anh ta nữa, vì thế Hess đã gọi điện cho cơ sở dữ liệu quốc gia để tìm kiếm một lời giải thích. Tuy nhiên, người phụ nữ nghe máy cũng chẳng biết được nhiều thông tin hơn Hess, và cô ta đoán rằng có lẽ Toke Bering đã rời khỏi đất nước này.
Anh đã nhân cơ hội hỏi về cô em gái, nhưng một lần nữa cô ta không thể cung cấp thêm thông tin gì ngoài những điều anh đã tìm thấy. Astrid Bering đã được gửi đến vài gia đình nhận nuôi dưỡng trẻ em khác nhau sau khi rời khỏi Trang trại Hạt Dẻ, nhưng các nhân viên công tác xã hội và các bác sĩ tâm lý trẻ em rõ ràng đã thay đổi kế hoạch của họ, bởi vì họ đã chuyển cô bé sang một số trại tâm thần dành cho thanh thiếu niên. Từ năm mười tám đến hai mươi bảy tuổi, địa chỉ của cô không được lưu lại, điều này có thể có nghĩa là cô đã ra nước ngoài, nhưng sau đó cô đã ở hết trại tâm thần này đến trại tâm thần khác. Cho đến chưa đầy một năm trước, khi ở tuổi ba mươi tám, cô đã biến mất không chút tăm tích. Hess đã liên lạc với địa chỉ gần đây nhất của cô, nhưng nơi đó đã có một quản lý mới, và ông ta không biết Astrid Bering có thể đã đi đâu sau khi được ra trại.
“Bạn đang xếp thứ - 2 - trong hàng đợi.”
Thế là Hess đã chọn một cách thật khó khăn: gọi điện đến tất cả các gia đình đã từng nuôi dưỡng cặp song sinh để tìm hiểu xem họ có nghe được tin gì từ một hoặc cả hai anh em trong những năm qua không và liệu họ có biết phải tìm cặp song sinh ở đâu không. Hess bắt đầu theo thứ tự thời gian, trước khi họ đến ở Trang trại Hạt Dẻ, nhưng hai cuộc gọi đầu chẳng có kết quả gì. Các cha mẹ nuôi dường như rất hợp tác, nhưng họ không hề liên lạc gì với cặp song sinh, vì thế giờ Hess chuyển sang gia đình thứ ba.
“Hội đồng Odsherred, Ban Gia đình, tôi có thể giúp gì cho anh?”
Số điện thoại cũ của gia đình Petersen ở Odsherred không còn liên lạc được, vì thế Hess phải gọi cho hội đồng địa phương. Anh tự giới thiệu mình là ai và giải thích rằng anh đang tìm kiếm Poul và Kirsten Petersen, cư dân ở số 35 đường Kirkevej tại Odsherred. Anh hy vọng họ có thể cung cấp cho anh ít thông tin về cặp song sinh đã từng được họ nuôi dưỡng vào năm 1987.
“Họ không thể làm thế, trừ phi anh có thể gọi điện trực tiếp đến Chúa trời. Theo thông tin trên màn hình máy tính của tôi, Poul và Kirsten Petersen đều đã qua đời. Người chồng mất bảy năm trước, còn người vợ thì hai năm sau đó.”
“Họ mất vì lý do gì?”
Anh hỏi theo thói quen, nhưng giọng nói mệt mỏi trên điện thoại cho anh biết rằng trên màn hình máy tính của cô ta không có thông tin đó. Vì cặp vợ chồng ấy lúc đó đã bảy mươi tư và bảy mươi chín tuổi, lại mất cách nhau vài năm, nên cái chết của họ không có gì đáng chú ý.
“Còn con cái của họ thì sao? Vào thời điểm đó, họ có người con nào sống ở đấy không?”
Hess hỏi thế vì có thể những người anh chị em hoặc anh chị em nuôi vẫn liên lạc với nhau, cho dù cha mẹ họ không còn nữa.
“Theo những gì tôi thấy thì không?”
“Được rồi, cảm ơn cô. Tạm biệt.”
“Ồ, khoan đã, anh đợi chút. Họ đã nhận nuôi dưỡng một đứa trẻ, và có vẻ như họ đã nhận [1] cô bé. Rosa Petersen.”
Hess đang định gác máy thì chợt nghe ra điều mà người ở đầu bên kia vừa nói. Đó có thể là sự trùng hợp, và bản năng bảo anh rằng có đến hàng nghìn người có cái tên đó. Nhưng mà…
“Cô có mã số định danh của Rosa Petersen không?”
Cô ta cung cấp cho anh mã số định danh đó, và anh đề nghị cô ta chờ máy trong lúc quay lại với cái máy tính. Một lát sau, anh kiểm tra cơ sở dữ liệu và phát hiện ra rằng Rosa Petersen đã kết hôn mười lăm năm trước, đổi theo họ của chồng, và không còn nghi ngờ gì nữa: Rosa Petersen chính là Rosa Hartung. Hess bồn chồn trên ghế.
“Tài liệu đó nói gì về khoảng thời gian cặp song sinh sống với gia đình Petersen?”
“Chẳng có gì cả. Tất cả những gì tôi thấy là gia đình Petersen đã nhận nuôi dưỡng họ trong khoảng ba tháng.”
“Tại sao lại không lâu hơn?”
“Không thấy nói đến. Và đã đến giờ về của tôi rồi.”
Khi nhân viên công tác xã hội phụ trách lưu trữ hồ sơ gác máy, Hess vẫn còn áp điện thoại bên tai. Cặp song sinh chỉ sống ở Odsherred với gia đình Petersen và con gái nuôi của họ, Rosa, trong ba tháng. Sau đó, cặp song sinh được gửi đến gia đình Ørum trên đảo Møn. Hess không biết gì hơn, nhưng anh chắc chắn đây chính là mối dây liên kết: gia đình Petersen, cậu bé dưới tầng hầm ở Trang trại Hạt Dẻ, những con búp bê người hạt dẻ bị bỏ lại bên xác các nạn nhân, các nạn nhân bị cắt đứt bàn chân, bàn tay để trông giống những con búp bê ấy - một gã sát nhân tự làm những con búp bê người hạt dẻ từ những bộ phận của cơ thể người.
Các ngón tay Hess run rẩy khi những hình ảnh ấy quay cuồng trong tâm trí anh, cố gắng ráp vào đúng vị trí. Ngay từ đầu, tất cả đều liên quan đến Rosa Hartung. Hết lần này đến lần khác, các dấu vân tay đều dẫn họ về phía cô, ngay cả khi anh không hiểu tại sao, nhưng đây chính là điều anh đang tìm kiếm. Sự sáng tỏ ấy thôi thúc anh đứng bật dậy, nhưng rồi mọi thứ lại tối sầm khi anh đột nhiên nghĩ đến chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Anh lập tức gọi điện cho Rosa Hartung. Tiếng nối máy được thay thế bởi hộp thư thoại của cô, và Hess gác máy. Anh đang định gọi lại lần nữa thì nhận được cuộc gọi từ một số lạ.
“Tôi là Brink đây. Xin lỗi nếu tôi làm phiền. Tôi đã đi hỏi thăm các nơi, nhưng không có ai thực sự biết chuyện gì đã xảy ra với cặp song sinh.”
“Không sao đâu, Brink, bây giờ tôi không có thời gian.”
Brink đã ngỏ ý giúp đỡ Hess bằng cách gọi điện cho các nơi trong cộng đồng và Hess đã đồng ý chỉ vì không muốn ông ta quấy rầy anh, vì thế anh cảm thấy bực tức khi ông ta gọi điện lại để báo cáo tình hình.
“Và trong hệ thống cũng có rất ít thông tin, đặc biệt là những thông tin liên quan đến cậu bé. Tôi vừa mới hỏi cô con gái út của chị gái tôi, con bé đã học cùng trường với cặp song sinh, nhưng nó đã không thể liên lạc được với họ khi lớp học của chúng tổ chức một cuộc họp mặt vài năm trước.”
“Brink, tôi đang vội đi!”
Hess gác máy, đứng bên cạnh máy tính với vẻ sốt ruột và gọi một cuộc điện thoại nữa cho Rosa Hartung nhưng cô vẫn không nghe máy. Anh để lại một tin nhắn và quyết định gọi điện cho chồng cô, nhưng rồi anh nhận được một tin nhắn. Ban đầu, anh nghĩ đó là tin nhắn trả lời của Rosa Hartung, nhưng hóa ra người gửi là Brink.
“Bức ảnh của lớp 5A chụp vào năm 1989. Không biết nó có hữu ích không. Cháu gái tôi nói cô em gái hẳn đã bị ốm vào ngày chụp ảnh, nhưng cậu anh thì đứng ở ngoài cùng bên trái.”
Hess lập tức bấm vào bức ảnh đính kèm và xem xét nó. Có chưa đến hai mươi học sinh trong bức ảnh lờ mờ, có lẽ vì đó là một ngôi trường ở nông thôn. Hàng đằng trước ngồi ghế, còn hàng đằng sau thì đứng.
Họ mặc quần áo có gam màu nhạt; vài cô bé uốn tóc và mặc áo có đệm vai, trong khi những cậu con trai thì đi giày Reebok và mặc áo nỉ Kappa hoặc Lacoste. Ở hàng đằng trước có một cô bé đeo đôi khuyên tai to tướng có làn da rám nắng, cầm một tấm biển nhỏ đề chữ “5A”, và hầu hết học sinh đều đang mỉm cười trước ống kính máy ảnh như thể ai đó, có lẽ là thợ chụp ảnh, vừa mới nói một điều tức cười.
Nhưng chính cậu bé đứng ở ngoài cùng bên trái mới là người thu hút sự chú ý. Cậu ta không cao so với tuổi. Thực ra, cậu ta không phát triển như những cậu bé khác, và quần áo của cậu ta rách rưới, lôi thôi lếch thếch. Nhưng đôi mắt của cậu ta thật sắc bén. Cậu ta đang nhìn thẳng vào máy ảnh với khuôn mặt không chút biểu cảm, như thể cậu ta là người duy nhất không nghe thấy lời pha trò.
Hess nhìn cậu bé chăm chú. Mái tóc, gò má, cái mũi, cái cằm, đôi môi. Tất cả những đặc điểm ấy đều thay đổi rất nhiều trong thời kỳ dậy thì. Hess vừa như nhận ra cậu ta mà cũng vừa như không nhận ra cậu ta; chỉ đến khi phóng to bức ảnh và che mặt cậu ta lại, chỉ để hở đôi mắt, anh mới nhận ra cậu ta là ai. Anh không thể tin vào mắt mình. Khi mọi sự đã sáng tỏ, ý nghĩ đầu tiên của anh là đã quá muộn để chống trả.
❀ ❀ ❀
[1] Các gia đình đăng ký nhận nuôi dưỡng trẻ em thường chỉ nhận nuôi dưỡng, chăm sóc các em trong một thời gian. Nếu có nhu cầu và yêu quý đứa trẻ thì họ mới làm thủ tục để xin đứa trẻ làm con nuôi thực sự.