Ngọn nến cháy leo lét trong góc một chuồng ngựa nằm trên một sườn đồi nước Ý, in cái bóng rung rinh của nó lên bức tường và lên những thanh xà tối đen. Những ngăn chuồng trống không. Một toán lính Anh ngồi trên đống rơm chơi bài. Khói thuốc tỏa ra phía trên chỗ họ ngồi. Ai đó đang chơi một khúc thánh ca bằng kèn ác-mô-ni-ca. Ngoài kia là mặt đất bị tuyết phủ và bầu trời đêm lấp lánh ánh sao. Những cột băng lớn, nhọn trên mái nhà kho đang chực đổ xuống mảnh sân phía dưới trong tiếng vỡ giòn như kính vỡ. Không kể đến tiếng đạn pháo thỉnh thoảng vọng đến từ xa xa, tất cả chìm trong im lặng. Những người lính không ngừng cảnh giác. Phía trên họ là tu viện Monte Cassino, tu viện lâu đời nhất ở Christendom. Đó là đêm Giáng sinh năm 1943.
Một viên trung sĩ bước vào nói với viên hạ sĩ đang nằm trong cái máng chất đầy rơm. Viên hạ sĩ làu bàu, ngồi dậy, chửi thề, rồi đi sang gian kế bên. Khúc thánh ca ngừng bặt, tiếng cười tắt lịm.
“Đi trinh sát,” anh nói ngắn gọn. “Tôi cần hai người.”
“Chẳng phải trung sĩ biết đêm nay là đêm Giáng sinh sao?”
“Chiến tranh không biết có đêm Giáng Sinh. Chiến tranh tham lam lắm.”
Những đầu que diêm thò ra từ nắm tay của viên trung sĩ.
“Hai người nào rút được hai que diêm ngắn nhất sẽ phải đi.”
“Đúng 22 giờ xuất phát, 21 giờ ghi tên và nhận lệnh. Không có gì mới; vẫn đi theo mạn cầu, đi dọc bờ sông, hướng lên phía con lạch, đi xuyên qua rừng, đi quanh đồi Polski, sau đó lên đồi Hangman, đi qua bãi đất trống đến trang trại nhà Lofty (người ta nói rằng lũ sói đã lôi thi thể của Lofty ra ngoài trang trại và cắn xé nhừ tử), sau đó đi qua khu đất trống vào rừng, cầu cho không bị ai nhìn thấy, rồi đi qua khu công sự, sang đường tại Góc Cháy và trở về nơi đóng quân. Nhưng trước khi chúng ta xuất phát,” anh ta nói thêm trong khi nhét chiếc mũ len vào túi quần, “người Mỹ sẽ tấn công đồi 730. Tôi sẽ không bàn cãi về phần của mình ở đồi 730. Trên đó là một nghĩa địa”.
“Đến Rome trước Giáng sinh!” người lính vừa xếp các quân bài vừa làu bàu. “Tướng của chúng ta chắc hóa điên rồi. Dấn thân vào cái vùng nhiều núi non như thế này chẳng hợp lý tí nào! Không biết liệu những tờ áp phích đó có còn trên bức tường bên ngoài ga Charing Cross hay không. Đến với nước Ý đầy ánh nắng!”.
Viên hạ sĩ lại nằm vật xuống đám rơm, tiếp tục nhìn đăm đăm lên những thanh xà. Anh chẳng buồn lo nghĩ về chiến tranh nữa. Anh gần như đã đến giai đoạn tuyệt vọng, đến ngay cả sự sống còn của chính mình anh cũng chẳng thiết quan tâm nữa. Anh đã từng chiến đấu ở Bắc Phi. Anh đã từng chiến đấu ở Salerno. Anh đã đi qua những vườn cam, chanh, qua những rừng cây, những rừng thông u ám, và những cây sồi lớn. Anh đã đặt chân lên những ngọn núi hiểm trở, đã vượt qua hết hẻm núi này đến hẻm núi khác, có lúc có những con la trợ giúp, có lúc phải đi men theo những đường mòn nơi la không thể đi qua được và những khi ấy những người lính trở thành những con vật thồ. Luôn luôn tiến về phía trước, xuyên qua sương, đi dưới mưa, với chút thức ăn đạm bạc và cái lạnh thấu xương. Anh đã từng chiến đấu để dành lại cây cầu ở Scafati, nơi Richard bị bắn chết. Chính vào thời điểm ấy trong anh có gì đó đổ vỡ. Họ đã hành quân đến bờ biển này, chiến đấu trên bờ vai xanh của núi Vesuvius. Tại trạm quan sát trên sườn núi họ ngồi dựa lưng vào những cây dẻ non dõi mắt lên bầu trời bao la, nhìn ra biển, nhìn lên núi, lòng hoài nghi.
Khi tiến vào Naples, họ không còn có những phút nghỉ ngơi, họ dồn đuổi quân Đức đến Volturno. Trong màn mưa xối xả, họ cố vượt sông ở Capua, để rồi bị đẩy bật trở lại. Trong khi đó người Mỹ qua sông bằng máy bay. Sau đó họ phải vượt qua hết quả đồi này đến quả đồi khác - qua những ngôi làng với những nếp nhà nhỏ quét vôi trắng nằm chon von trên sườn núi như những tổ chim én - cho đến khi họ đến được bờ sông Garigliano. Khi họ đặt chân đến một ngôi làng nhỏ mang tên một vị thánh, một đám phụ nữ mặc váy đen ra gặp họ, chắp tay cầu xin họ hãy đi khỏi đó, nói rằng ngôi làng có thể sẽ được tha miễn. Nó đã không được tha. Nó là một ngôi làng khá lạ, nằm chênh vênh bên khe núi. Chuyện xảy ra đúng như những gì họ nghĩ. Khi lính Đức dội trái phá hạng nặng xuống đầu nó, ngôi làng bị xóa sổ, trẻ con, người già, tất tật mọi thứ, đều bị hất xuống khe. Sau khi cái chuỗi đổ nát ấy rơi xuống khe những người lính buồn bã thả những bó hoa rừng mà những người phụ nữ đã tặng cho họ xuống đó.
Gian bên lại rộ lên tiếng cười. Người lính thổi kèn ác-mô-ni-ca đang đánh vật với bài Vua Wenceslas tốt bụng. Ai đó đá cánh cửa, nói oang oang: “Tiệc Giáng sinh kết thúc”. Có tiếng nhặt đồ hộp, vũ khí, và mũ sắt.
Một viên thượng sĩ vác khẩu tiểu liên chạy xuống các bậc dẫn vào một hầm ngầm nằm sâu dưới đất gần tu viện Cassino. Anh vén tấm rèm dầy che kín lối vào gian hầm chật chội, mù mịt khói, được chiếu sáng bằng ánh đèn yếu ớt.
“Chú ý! Đội trinh sát đêm nay gồm những người sau đây…”. Anh đọc lên chín cái tên.
“Dĩ nhiên!”
Một số lời phản ứng gần như chẳng lọt tai ai.
Chưa đầy hai phút sau, viên thượng sĩ kéo rèm trở về vị trí cũ và bước ra con đường đầy tuyết. Trong chốc lát, anh ta đứng nhìn lên tu viện rồi nhìn lên bầu trời đầy sao. Anh hít không khí lạnh và lắng nghe. Đâu đó quanh cái nhà thờ bị đánh bom có tiếng ai đó đang hát khúc thánh ca Đêm tĩnh lặng.
“Các cậu, hãy coi chừng dây thép gai. Mật khẩu là Hòa bình trên trái đất, và vì Chúa hãy trở về bình an. Chúc các cậu may mắn.”
Một lính gác người Anh đứng cạnh bức tường tuyết phủ nhìn đội trinh sát đi qua sân rồi bị bóng đêm nuốt chửng. Người lính gác dậm gót. Ai đó đã nói rằng, đây là mùa đông tồi tệ nhất trong kí ức của những người còn sống.
Chín người đàn ông di chuyển trong bóng tối, im lặng, đơn độc, tựa như một con thuyền nhỏ trên sóng dữ. Họ đi qua một cái cổng dẫn ra một con đường bẩn thỉu, đi theo hàng qua một qua dãy lều trát bùn dẫn tới những khu trồng rau bị bỏ hoang. Sau đó họ tới một đồng cỏ rộng. Cảm giác lo lắng bồn chồn ban đầu đã trôi qua. Sự căng thẳng thắt ngực họ đã dịu đi và không còn những giọt mồ hôi chảy dọc sống lưng. Nếu may mắn, họ sẽ không phải chịu điều gì tồi tệ hơn một đêm mất ngủ.
Con đường mòn dốc dần ra sông. Thường thì trên đường này có nhiều sỏi, những viên sỏi chuồi chuội trên mặt đường tạo ra tiếng động dưới gót giầy - ngay cả khi bạn đi tất bọc giầy để hạn chế tiếng động cũng chẳng ăn thua. Giờ tấm chăn tuyết đã làm cho mặt đất im tiếng. Âm thanh duy nhất có thể nghe thấy là tuyết lạo xạo phát ra trong khi những người đàn ông nối gót nhau đi xuống con dốc thoai thoải dẫn ra sông. Trời khá tối và có vẻ đã ấm lên một chút. Đội trinh sát rẽ phải khi họ nhìn thấy bóng cây liễu hiện ra trước mặt. Có tiếng kêu quang quác từ phía bờ sông vọng lên. Con gì đó nhảy xuống mặt nước phát ra tiếng kêu đánh tõm.
Trong hai tháng trở lại đây, viên hạ sĩ đã đi tuần quanh khu vực này hơn chục lần. Thường thì anh đi theo sau viên trung sĩ, nhưng đêm nay anh tự xoay xở lấy, phải đi đầu. Với con sông ở bên trái anh cảm thấy yên tâm hơn, đỡ lo bị mất phương hướng. Có hôm từ một bốt gác, anh đã theo dõi một con diệc đứng ở chỗ nước cạn quanh khu vực này. Trước đó không lâu, một quả đạn pháo phát nổ khiến những con chim dế và chim te te bay sạch khỏi đồng cỏ. Hai ngày trước, anh quan sát bờ sông suốt nhiều giờ liền qua ống nhòm mà không hề phát hiện thấy bóng dáng của bất kì con chim nào.
Viên hạ sĩ đi chậm lại cho đến khi anh biết chắc tất cả những người khác đều đang bám sát mình. Không nói một lời, anh đi theo hướng ngược với hướng chảy của dòng sông. Những người khác lẳng lặng đi theo. Phía trên kia, bên tay phải, chếch về hướng đồi 730, một trận đánh lớn đang diễn ra. Những chỏm đồi in bóng trên nền trời qua ánh sáng từ những quả đạn pháo phát nổ. Một hỏa pháo màu đỏ vọt lên rồi rơi xuống, tạo ra một chùm lửa sáng chói trên sườn đồi. Một chùm ánh sáng lớn rơi xuống khu chiến địa, biến đêm thành ngày. Ánh sáng chói mắt được phản chiếu qua những đám mây lơ lửng trên đỉnh núi. Cái âm thanh khó chịu được gọi là tiếng mổ của chim gõ kiến vọng tới từ sườn núi chính là tiếng súng máy hạng nặng của quân Đức. Cái âm thanh chết người đó; một tiếng gõ mỏ vang lên là những thân người đổ xuống như những khúc gỗ, cánh tay, cẳng chân văng ra khắp nơi. Cái thứ âm thanh đó làm bạn sợ tất thảy các loại máy móc. Khẩu súng máy hạng nhẹ mà người lính số 8, người đi cuối hàng, mang theo chỉ là thứ đồ chơi trẻ con so với cái thứ vũ khí hạng nặng kia.
Ở phía trước có gì đó chuyển động khiến viên hạ sĩ tập trung cao độ, căng mắt nhìn vào bóng tối. Con gì đó đang di chuyển nhanh trên mặt tuyết. Đội trinh sát tiếp tục đi.
Đi đến đầu con lạch chạy xuyên qua đồng cỏ tới tận chân đồi, chín người đàn ông dừng lại một lát kiểm tra súng ống. Vài phút sau, họ đã đang cúi lom khom nghe ngóng. Không có âm thanh nào ngoài tiếng giao chiến ở đồi 730 và vài tiếng đạn nổ lác đác bên kia sông. Những người đàn ông mặt ghé sát mặt vào nhau nói thầm. Họ đang thay nhau uống từng ngụm rượu từ cái chai thót cổ mà viên hạ sĩ mang theo thì một chiếc máy bay bay qua phía trên đầu họ. Chiếc máy bay này có thể sẽ thả gì đó xuống sườn đồi, ai mà biết được. Thả gì thì thả, miễn là đừng có thả xuống một quả pháo sáng kèm theo đó là cả một thùng bom.
Người số 2 không quan tâm chiếc máy bay ấy là bạn hay là thù.
Mặt và hai bàn tay anh tê cóng vì lạnh. Anh nguyền rủa tuyết, anh nguyền rủa chiến tranh, và anh nguyền rủa mùa đông, đặc biệt là cái mùa đông đầy mưa, lạnh, bùn, tuyết và chết chóc này. Monte Camino là nơi đầu tiên anh thực sự phải nếm mùi của cuộc chiến với bùn, mưa và lính Đức. Trong mười ngày liền, trên những con dốc của Camino, anh và các đồng đội đã chiến đấu chống lại cả ba kẻ thù này, và đã bị cả ba đánh bại. Mệt đến độ phát khóc, họ bị lôi ra khỏi hàng và bị ném xuống một đồng cỏ ngập nước trong âm thanh của súng đạn. Họ được lệnh nghỉ lấy sức. Khi họ trở lại vị trí chiến đấu, Monte Camino vẫn chưa thất thủ. Đường vào đó vẫn bị chặn. Trời mưa to đến nỗi tướng chỉ huy quân đội phải ra lệnh mở một chiến dịch Raincoat (chiến dịch Áo mưa) tiếp theo. Mưa không bị đánh lừa, bùn không bị đánh lừa, quân Đức cũng không. Anh và các đồng đội suýt bỏ mạng trên một đỉnh đồi có tên là La Bandita. Họ chiến đấu suốt ngày để xác định quả đồi đó thuộc về ai. Thế rồi mưa xối xả cuốn trôi cả trận chiến. Cả đêm anh đứng co ro bên một người đồng đội trong một hốc cây. Sáng hôm sau mưa tạnh, nhưng trước thời điểm đó bọn họ đã ướt như chuột lột và tất cả những gì họ có thể làm là gom người bị thương và chôn người chết. Chính từ địa điểm đó, vào tháng Mười Một, lần đầu tiên họ tận mắt nhìn thấy “Đồi tu viện.” Kể từ đó họ cứ nhìn cái mốc ấy và chiến đấu để giành lấy nó. Monte Cassino là một cánh cửa chặn đường dẫn vào thung lũng Liri, đồi Alban, và con đường đến Rome. Người Đức quyết đóng chặt cánh cửa đó.
Đội trinh sát đi theo con lạch xuyên lên đồi. Thêm vài chiếc máy bay bay thấp lượn qua đầu họ hướng về phía đồi 730. Tiếp đó là những tiếng nổ rợn người của bom sát thương chúng thả xuống. Trong bóng tối, chúng tựa như những chiếc xe tải đổ đá. Trước khi súng cao xạ nhả đạn, tiếng máy bay gần như đã không còn nghe thấy được nữa.
Ở cuối hàng, người số 8 đang cầm một chân của khẩu súng máy ba chân kéo nó trên tuyết, tạo ra một vệt ngoằn ngoèo tựa như một con rắn bò theo sau anh. Người số 8 lắng nghe những tiếng nổ từ xa vọng lại. Anh bám sát người số 7. Khi có thể, anh bước đúng vào dấu chân của người số 7 in trên tuyết. Đi theo cách đó dễ hơn. Anh nhìn cái đầu cúi gục phía trước anh. Anh không biết có chuyện gì xảy ra với cái đầu của người số 7. Nhưng chuyện gì xảy ra với cái đầu của người khác thì quan trọng gì chứ? Anh đi theo bản năng của mình. Chính vì những người nghĩ quá nhiều mà họ lâm vào cảnh này. Những người chỉ ngồi và nghĩ, nghĩ và nghĩ giống như những con chim chỉ mải rỉa lông và rỉa lông, chẳng bao giờ chịu sử dụng những cái lông của chúng, hoặc ấp trứng. Người số 8 chỉ muốn được no bụng, được an toàn, được về nhà, và bằng mọi giá tránh những kẻ suy nghĩ. Cái giá của suy nghĩ là gì khi mà nó ném bạn lên cái sườn đồi chết chóc này, đúng vào đêm Giáng sinh, xa nhà, với nỗi sợ chết đè nặng trong lòng?
Đội trinh sát di chuyển về phía trước một cách khó khan - chín người đàn ông lạc trong thế giới nhỏ bé của riêng họ. Họ đi theo con lạch cho đến khi nó chạy vào rừng. Họ tránh những đoạn đường giao nhau, băng qua những con đường nhỏ nằm dưới những bóng cây, băng qua thật nhanh. Từ bìa rừng họ leo lên đồi Polski. Một người lính Ba Lan bị cho là rối loạn tâm trí đã ở trong một hang thú trên ngọn đồi này trong một hay hai tuần gì đó, xả súng vào bất cứ ai đi ngang qua. Polski đã đánh lừa cả hai bên. Lẽ ra người lính đó không nên ở trên ấy, và thằng hề đã không phân biệt giữa bạn và thù. Hết đạn, anh ta quay về tiểu đoàn, đi qua một bãi mìn giữa đêm tối đen như mực vừa đi vừa hát đúng như một thằng phát rồ. Người Ba Lan tống cổ anh ta đến một nơi nào đó mà không hề làm xước một mẩu da của anh ta. Chơi trò Polski là một cụm từ được những người lính sử dụng để chỉ bất cứ ai cố tránh cái chết bằng cách diễn trò dở người.
Sau đồi Polski, họ leo lên đồi Hangman. Leo lên quả đồi này gian nan hơn và thỉnh thoảng họ phải dừng lại để thở. Họ vừa lên tới đỉnh đồi thì trời nổi bão tuyết. Bão tuyết bắt đầu một cách từ từ. Chẳng có gì hơn ngoài những bông tuyết đập vào mắt. Rồi một loạt hỏa pháo rót xuống Monte Cassino, soi rõ tu viện in bóng trên nền trời mênh mang tuyết.
Người số 7 không còn biết đến cả bão tuyết. Tâm trí anh bị bức thư gửi qua đường hàng không mà giờ đây đang nằm trong túi anh choán hết. Đó là bức thư vợ anh gửi, kể rằng cô đã phản bội anh và giờ đang mang thai. Lúc sáng, khi anh nhận được thư vợ, tuyết đang rơi nhẹ. Anh và mấy người đồng đội đứng vây quanh người quân bưu cười đùa vui vẻ. Khi anh đọc những dòng thư đầu tiên anh không hiểu nổi vợ anh muốn nói gì, và anh phải đọc lại thư từ đầu. Dần dần anh hiểu ra sự thật. Có một đứa trẻ sắp chào đời, con của vợ anh, đứa con đầu lòng, nhưng không phải con anh.
Anh đứng dựa lưng vào bức vách chuồng ngựa hồi lâu, tay cầm lá thư, đọc, rồi lại đọc. Những hạt tuyết tan trên mặt giấy, làm nhòe mực. Nhưng có những chỗ trên bức thư tuyết không chạm tới mực cũng đã nhòe. Mực nhòe vì những giọt nước mắt của vợ anh. Anh nghĩ anh sẽ phát điên mất nếu không tâm sự được với ai và thế là anh đem chuyện đó kể cho một người đồng đội. Người đó nhìn anh hồi lâu, rồi nói: “Này, Bernie, vợ cậu đâu phải người duy nhất ở nước Anh đang mang bầu.”
Đã là ba giờ sáng ngày Giáng sinh. Trên đồi 730, giao tranh vẫn đang diễn ra ác liệt. Bão tuyết đang hoành hành. Từ nửa đêm tới giờ, bão tuyết đã mạnh lên. Giờ đây tuyết rơi thành những cơn dày che khuất tầm nhìn. Đội trinh sát dừng lại gần trang trại Lofty. Họ đứng túm tụm lại với nhau bên một bức tường. Viên hạ sĩ nhìn chăm chú về phía trang trại, dụi mắt cho khỏi vướng tuyết. Anh ta lo lắng. Anh ta và các đồng đội có nên vào trang trại Lofty và ở lại đó đợi cho tới khi trời tối trở lại không? Hay họ nên ẩn nấp ở đây bên bức tường này? Hay anh ta nên dựa vào la bàn dốc sức trở về? Tất cả những gì họ phải làm là quay lưng lại với những tiếng ầm ĩ từ đồi 730 và đi thẳng về phía trước. Họ chắc chắn sẽ tới chỗ con sông. Anh ta biết cách đi tắt. Càng nghĩ nhiều viên hạ sĩ càng tin rằng anh có thể dẫn đội mình trở về, cho dù có bão tuyết hay tuyết dầy trên đường. Tiểu đoàn đã biết được tình thế khó khăn của đội trinh sát và họ sẽ giúp anh qua máy bộ đàm. Trở ngại duy nhất có thể xảy đến qua việc dùng hệ thống cấp cứu là quân Đức cũng sẽ biết tất cả thông tin họ truyền đi. Quân Đức đôi khi lần theo dấu vết bí mật lần đến chỗ bạn, nhằm lúc bạn đang tự mãn và sơ hở, hạ gục bạn. Như thế rất nguy hiểm. Nhưng ngồi ở đây cũng đầy hiểm nguy. Vả lại hôm nay là ngày Giáng sinh.
Những người lính nấp sau bức tường thầm thì với nhau. Viên hạ sĩ đang trong tư thế cúi lom khom bỗng đứng bật dậy.
“Được rồi,” anh nói khẽ, “về nào. Chúng ta phải bám sát nhau mà di chuyển.”
Trong chiếc chai thót cổ chỉ còn một giọt rượu rum cuối cùng. Viên hạ sĩ uống giọt rượu ấy. Sau đó anh rời khỏi chỗ nấp sau bức tường và những người khác nối gót nhau đi theo anh. Gió mang theo tuyết tựa như con sóng lớn ào tới chỗ đội trinh sát. Gió tràn lên họ, khiến bụi tuyết bay thành luồng giữa hai chân họ trong khi họ bước đi. Gió giật quần áo họ, xô đẩy họ một cách thô bạo, cuốn và xoáy điên cuồng quanh họ như con quay làm họ không còn nhìn thấy gì nữa.
Lính Đức nhìn thấy viên hạ sĩ trước tiên. Chúng xả súng, đạn bay sạt qua đầu viên hạ sĩ. Hai giây sau chỉ huy của cả hai bên đều nằm trên tuyết, chết tại chỗ. Nỗi kinh hoàng bao trùm cả hai bên: những tiếng súng lẫn tiếng kêu gào vang lên. Sáu hay bẩy thân người đổ xuống cùng một lúc. Vài tên lính Đức tìm đường rút vào nơi trú ẩn trong rừng còn bốn người lính Anh thì bò lồm cồm trên tuyết tìm đến bức tường nơi họ vừa rời đi trong cảm giác sợ chết. Tuyết mau chóng phủ lên những vết chân và những vệt máu. Những dấu chân sâu in rải rác trên sườn đồi. Những mảng tuyết bị máu nhuộm đỏ. Một vệt máu kéo dài đến tận bìa rừng. Một người đàn ông gần như đã cố gắng tới được nơi ẩn nấp sau những cái cây, chỉ để gục xuống tuyết sâu ở đó. Người đó cố ngẩng lên rồi lại gục xuống, như thể nỗ lực của anh ta hoàn toàn vô ích.
Đâu đó trong rừng một người bị thương đang kêu cứu, gió hú dìm tiếng kêu gào của anh ta đi. Một tiếng nổ khô khốc dội tới những ngọn đồi qua tuyết. Quân trang bị bỏ lại nằm rải rác khắp nơi. Tuyết vẫn rơi từng cụm lớn. Những cành cây bị đè xuống gần mặt đất hơn.
Rạng sáng ngày Giáng sinh năm 1943. Bão tuyết đã đi qua. Mặt trời đang lên cao dần khiến những cây tuyết tùng hắt những cái bóng dài xuống phía trước chúng. Trên đồi Hangman, một con thỏ đang bới tuyết cố chạm tới lớp đất bên dưới. Tấm chăn tuyết trắng toát lấp lánh phủ lên mặt đất. Chỉ có những quả dâu tây đỏ vẫn còn đó, nổi bật trên nền tuyết trắng. Từ trong rừng những tiếng kêu của người bị thương vọng ra, yếu ớt và đứt quãng. Trong thế giới của người Cơ Đốc, người ta đang mừng ngày Chúa ra đời. Phía chân trời, trong nhà nguyện của tu viện Monte Cassino chợp chờn ánh nến và đầy người tị nạn, một vị linh mục già mặc lễ phục bước tới bàn thờ, dang rộng hai cánh tay, nói lời mừng Giáng sinh đầu tiên.