Mạch Buồn

Lượt đọc: 133 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12

❊ ❊ ❊

Máy tàu đã ngừng hoạt động. Chúng tôi đang ở đâu thế này? Chúng tôi nằm ngổn ngang, kín khắp sàn của một tàu đổ bộ. Bốn bề yên tĩnh. Đã hai tháng rồi, hết đêm lại ngày, hết mưa lại nắng, cả khi trời có mây lẫn lúc trời quang đãng, chúng tôi chẳng phút nào thoát khỏi những tiếng ồn chết người. Suốt đêm những động cơ tàu cứ nện thình thịch thình thịch. Giờ chúng im cả rồi. Sự im lặng nhói buốt. Thế giới của chúng tôi là một thế giới đau đớn, chao đảo, choáng váng. Sự im lặng này làm chúng tôi bứt rứt, buồn bực. Nước vỗ nhẹ vào thành tàu. Trên boong ai đó đang gọi to. Một sợi dây xích đập vào thành tàu. Âm thanh đó dội lại qua cả con tàu, qua cái hộp sắt khổng lồ. Chúng tôi bắt đầu cựa quậy, châm thuốc, buộc lại giây giày, đeo ba lô. Chúng tôi đã sẵn sàng.

Con tàu từ từ cập bến. Những con mòng biển bay vòng tròn phía trên đầu chúng tôi, cất lên những tiếng kêu the thé. Người trên bến đang vẫy tay. Không lẽ họ biết chúng tôi. Chúng tôi xa người thân đã bốn năm rồi. Ngọn núi lửa già Vesuvius vẫn đang bốc khói. Và kia đảo Capri nhô lên trên màn sương. Cứ như thể chúng tôi đang trở về nhà vậy. Ôi, âm thanh này mới tuyệt làm sao. Người ta đang thổi kèn ống, “Trở về nhà, các chàng trai ơi, hãy trở về nhà.” Bài hát này được tấu lên sau trận Culloden để tập hợp tàn quân. Ôi, chúng tôi đã trở về “nhà” cơ đấy. Có lẽ trở về cái gọi là “nhà” duy nhất mà từ nay về sau chúng tôi biết. Nó là một bến cảng nhỏ. Chúng tôi không nhìn thấy gì nhiều. Một màn sương mỏng phủ trên bến, trên những ngọn đồi xanh phía xa xa. Sương phủ lên những thung lũng trong một buổi sáng mùa đông sao mà êm dịu thế. Thật tiếc là Joe “Ăn Sống Nuốt Tươi” không còn nữa. Ông ấy thích ngắm sương như thế này lắm. Một quả đạn lạc đã làm ông ấy ngã gục trong khi ông ấy đang đi xuống hàng quân. Họ bọc ông ấy lại. Họ sẽ chôn ông ấy cùng với những người khác. Joe chỉ biết có chiến đấu và chết. Ông ấy có rượu whisky bên mình cho tới phút cuối. Hôm nay ông ấy sẽ được chôn trên chiến địa và một cây kèn ống sẽ vang lên khúc nhạc rút quân.

Những người phụ nữ đang bắt tay chúng tôi là những ai thế nhỉ? Tất cả bọn họ đều từ nhà tới đây đưa trà cho chúng tôi ư? Ôi, trà sao mà ngon thế. Đã bốn năm rồi chúng tôi mới lại được thưởng thức trà ngon như thế này. Chúng tôi đang ngồi ở Clyde đợi đi tắm và một cô gái xinh đẹp tới chỗ bọn tôi nói: “Có ai muốn một tách trà ngon không nào? Chỉ một xu thôi, các anh lính ạ”. Rồi cô nói tiếp: “Chúng tôi sẽ giữ những đồng xu ấy cho những người vợ góa của các anh và cho cả con các anh nữa, các anh lính ạ, nếu mai này các anh không trở về”. Ôi, những đồng xu được phân phát lâu dài còn đây là trà miễn phí.

Chúng tôi bước vào những nhà tắm ở Castellammare. Chúng tôi đứng trần truồng như khi chúng tôi được mẹ sinh ra. Chỉ những chiếc phù hiệu hình đĩa đeo quanh cổ chúng tôi là nhắc chúng tôi nhớ về chiến tranh. Người chúng tôi đầy rận và chúng tôi phải lột sạch những gì mặc trên người ra. Người ta bảo chúng tôi hãy kỳ và cứ tiếp tục kỳ thật lực. Tắm nước nóng mới dễ chịu quá. Giờ chúng tôi được phịt nước thơm; chúng tôi được cắt tóc; chúng tôi có quần áo mới, chúng tôi được chọn quần áo, chứ không phải quần áo được quẳng cho từng người, chúng tôi cảm thấy mình như vừa tái sinh. Chúng tôi ra khỏi nhà tắm và đến ngồi tại những chiếc bàn dài kê trên rìa bến cảng, người ta mang thức ăn tới cho chúng tôi. Những người phụ nữ Anh và phụ nữ Ý phục vụ chúng tôi. Lại là khẩu phần ăn gấp đôi. Chúng tôi gọi đó là “bổng lộc của chiến tranh”. Những chiếc ghế băng dưới mông chúng tôi sao cứng thế. Ngồi trên những chiếc ghế này cứ có cảm giác lạ lạ thế nào ấy.

Chúng tôi đi đều bước trên đường từ Castellammare tới Sorrento. Không khí tràn đầy sự hứa hẹn của mùa xuân. Những con ong bay xôn xao. Đây, bồn hoa bên cửa sổ nhà ai rực lên màu sắc tươi rói của hoa nghệ tây. Những bông hoa vi-ô-lét khoe sắc bên cạnh cửa ra vào của một ngôi nhà tranh. Chúng tôi vừa trở về từ một mảnh đất chỉ có chết chóc. Ở đây tất cả đều sống. Một cô gái áp mặt lên cửa sổ, mỉm cười và vẫy tay. Ở đây không có hầm hào, không có dây thép gai, không có mìn, không có bom, không có đại bác, không có bùn, không có tiếng gào thét và tiếng khóc của những con người bị bom đạn xé rách da thịt, làm gãy nát thân thể. Ở đây cây cối đứng theo cái cách tự nhiên của chúng, những nụ chồi bụ bẫm sắp sửa nhú ra với sức sống căng tràn. Những cây cam, những cây chanh, những cây óc chó, những vườn nho. Những con chim cất tiếng hót tự do không hề sợ sệt. Chúng tôi đường hoàng bước đi. Chúng tôi bước đi như những người đàn ông. Chúng tôi bắt đầu dứt khỏi những nỗi sợ hãi. Niềm vui choáng ngợp chúng tôi bây giờ cũng lớn như nỗi sầu khổ mới chỉ vài giờ trước đã xâm chiếm chúng tôi. Chúng tôi bước đi một cách thoải mái. Chúng tôi là những người tự do. Không kỷ luật. Không mệnh lệnh. Chúng tôi muốn đội mũ và đeo súng theo cách nào thì tùy. Chẳng phải chúng tôi đã sống sót trở về đó sao?

Những cây kèn ống đang dẫn đường cho tiểu đoàn đi đầu. Thỉnh thoảng một điệu nhạc từ sườn núi vọng tới tai chúng tôi. Ai đó đang thổi kèn ác-mô-ni-ca và chúng tôi bước đi theo điệu nhạc đó - bốn mươi năm trước cho chúng tôi đã hành quân trong giai điệu đó. Kia, bầy trẻ đang chơi đùa - trẻ con-chơi đùa, gọi nhau, cười; tự do, say sưa, vô tư. Vài câu hát của một người phụ nữ bên suối. Một ông già ngồi ngất ngưởng trên lưng một con lừa. Chiếc áo choàng không tay ôm quanh vai ông. Ông khoác chiếc áo choàng đó như cách đàn bà vẫn mặc, cài nút ở sau lưng. Chúng tôi cất tiếng gọi ông già. Ông mỉm cười và chúc phước cho chúng tôi. Một người đàn ông dong một con lợn đi. Những con gà mái vừa nhảy tán loạn vừa kêu quang quác. Một con lợn sống, những con gà mái sống. Nếu vài giờ trước chúng tôi nhìn thấy những con vật sống này, chúng tôi sẽ vồ chúng mang đi. Chúng tôi đi qua một ngôi nhà nhỏ hình lập phương có mái hình chiếc bát úp.

Con đường cứ cao dần cao dần so với biển Tyrrhenia. Vầng mặt trời rạng rỡ của giữa buổi sáng đã xua tan sương mù. Ở dưới kia, gần như thể ngay dưới chân chúng tôi, là đảo Capri nằm giữa biển mênh mông mang màu xanh cô-ban.

“Capri, Capri,” chúng tôi reo lên. Chúng tôi cố phát âm cái tên đó cho giống người dân bản địa, không phải chỉ là một cái tên mà là một lời hứa đầy yêu thương. Hai tháng trước, vào một buổi chiều tối khi mặt trời bắt đầu chìm xuống giữa những cánh tay giơ cao của cái hòn đảo Capri này, chúng tôi đã thề sẽ trở về. Chúng tôi đã cầu xin số phận cho chúng tôi lại được nhìn thấy Capri. Ôi, hòn đảo nằm dưới ánh mặt trời đẹp như muôn thuở, làm hiệu với chúng tôi, chờ đợi, nói với chúng tôi rằng chúng tôi đã an toàn, đã sống, và rằng chúng tôi đã trở về. Và đây là bông hoa đầu tiên của chúng tôi. Một cậu lính chạy đi ngắt bông hoa và bỏ nó vào trong mũ của cậu ấy. Chúng tôi dừng lại trước cổng một trường học.

Chúng tôi tạm trú trong một phòng học lớn của trường học. Đó là căn phòng đẹp nhất trên đời. Nó tĩnh mịch. Nó an toàn. Mái của nó cho phép ánh trăng và sao soi tới chỗ chúng tôi nhưng lại ngăn được mưa. Những bức tường của nó bảo vệ chúng tôi khỏi gió lạnh. Căn phòng chỉ làm vọng tiếng bước chân và giọng nói của chúng tôi, không có bất cứ tiếng ồn nào khác. Chúng tôi chỉ biết có nó; và bên ngoài căn phòng, xa xa bên ngoài mũi đất kia là biển lung linh trong nắng tươi, là đảo Capri, và bầu trời. Chúng tôi không thuộc về ai nữa. Chúng tôi được yên. Những lá quân kỳ đã được cuộn lại. Những cái trống được xếp chồng lên nhau, đã im tiếng. Số phận đã đưa chúng tôi ra khỏi cái vạc sục sôi của chiến tranh. Số phận đã đưa chúng tôi trở về.

Chúng tôi viết thư, ăn, uống, ngủ, tắm gội, và chơi bài. Chúng tôi đi dạo dọc bờ biển ném những viên cuội xuống biển. Chúng tôi bắt chước tiếng kêu của những con mòng biển, trèo lên những quả đồi, ngả lưng trên Đất Mẹ nghỉ ngơi. Đất thật ấm áp. Đất dâng trào niềm hứa hẹn về một cuộc sống mới. Đất không bị chiến tranh cướp phá. Trên cái góc này của nước Ý lưỡi cầy là tối thượng.

Hai lần một tuần, những chiếc xe tải tự do chạy tới Naples. Những chiếc xe chở đầy người. Các chàng ngật ngưỡng đi trên con đường nhỏ ven biển trong cơn say. Chúng tôi để mặc bụi phủ lên người. Phần lớn các chàng lính cứ lang thang không mục đích trên các đường phố. Chẳng có gì để mua. Chẳng có gì để làm. Rồi họ lại trở về với đống chăn và đống quân trang trên sàn phòng học. “Những gã điên” đi thẳng tới các nhà thổ và các quán rượu. Khuya họ mới lần về với sự hộ tống của ai đó trong tình trạng sứt đầu mẻ trán. Không thể ngừng đánh nhau ngay được. Tất cả chúng tôi đều quá căng thẳng. Chúng tôi uống với quyết tâm uống cho kỳ say mới thôi. Uống say, chúng tôi đánh nhau. Máu và mảnh cốc vỡ tung tóe khắp nơi. Trong trạng thái say ngơ ngơ, chúng tôi ngủ ngay tại chỗ chúng tôi ngã xuống.

Chúng tôi bồn chồn. Chúng tôi ra ngoài tìm gái. Chúng tôi biết những rủi ro của việc đó. Bác sĩ nói rằng, chúng tôi đang thò của quý chúng tôi vào cái chỗ mà ông ấy sẽ không đưa cái gót giày bẩn của ông ấy vào. Ông ấy lo ngại. Ông ấy nói rằng, số lính chết vì bệnh hoa liễu còn nhiều hơn số lính chết vì đạn. Nhưng một người cổ lỗ sĩ đã nói: “Anh bạn ạ, anh muốn thứ nào hơn, bệnh hoa liễu, hay một mảnh bom cắm vào mông?”

Cha tuyên úy nói rằng thèm khát đàn bà là tội lỗi. Mới tuần trước thôi, người ta còn mong muốn chúng tôi giết người thì đã sao.

Chúng tôi còn trẻ. Chúng tôi đã sống cận kề cái chết. Chúng tôi sợ chết. Chúng tôi chộp lấy cuộc sống. Chúng tôi đứng bên ngoài một nhà thổ ở Naples cố lấy can đảm để bước vào trong đó. Mấy cô nàng xinh tươi bước ra. Chúng tôi được khuyến khích. Chúng tôi đi vào và nhìn những gì diễn ra trong đó. Tay chúng tôi cầm mũ và tiền. Chúng tôi đưa ra những câu hỏi khiến các cô gái bối rối. Họ không hiểu. Họ nhìn chúng tôi bằng ánh mắt e thẹn. Chúng tôi đã phạm phải một sai lầm. Mẹ bề trên xuất hiện. Bà ấy là người Đức. Bà ấy rất già. Bà ấy không rầy la chúng tôi. Bà ấy chậm rãi dẫn chúng tôi ra đường. Bà ấy cầm tay chúng tôi áp lên lớp áo choàng trắng được hồ bột cứng nơi có treo cây thánh giá. Bà ấy nói bằng tiếng Ý: “Các con của ta, nhân danh Chúa Cứu thế, hãy về nhà đi”.

Chúng tôi ước gì mình có thể về nhà.

Những nhà thổ loại tốt khá đắt và chúng tôi cứ xông thẳng vào. Với lại chúng tôi gần như nhẵn túi. Nhưng người Ý nồng ấm lắm, mà mùa xuân thì đang về. Chúng tôi đang ở Via Benvenuto. Chúng tôi có một túi cam to. Đã đến lúc chúng tôi bắt xe tải về nơi tạm trú. Chúng tôi đánh rơi cam. Cam rơi tung tóe khắp nơi. Một bà mẹ và cô con gái của bà ấy giúp chúng tôi nhặt cam. Những nụ cười. Những tiếng khúc khích. Những tiếng cười không nén nổi. Chúng tôi lại đánh rơi cam tiếp.

“Tội nghiệp,” bà mẹ nói, giọng đầy hiền từ.

Bình minh lên. Bốn cái lưng tựa vào bức tường quét vôi trắng. Hạt và vỏ cam rải rác khắp sàn. Chuyến xe vội vàng trở lại bờ biển làm xóc nảy cả những túi bơ thực vật và thịt lợn xông khói. Chúng tôi đã để lại phía sau, để lại ở Naples từng xu chúng tôi có. Tuy nhiên không tiền nào có thể đền đáp được lòng trắc ẩn lớn lao dành cho người cùng chung số phận mà hai người phụ nữ Ý đã bộc lộ trước chúng tôi. Lòng nhân hậu ở trong xương tủy họ; chúng tôi chỉ biết sợ chết.

* * *

Đại tá Cyril OPrattfall thuộc Ban Giáo dục Quân sự đang giảng về bốn cái họa lớn, bao gồm chiến tranh, bệnh tật, thất nghiệp, và dốt nát. Khi ông ấy nói về cái họa lớn sau cùng - dốt nát - một cậu lính người béo tròn buồn cười đến nỗi ngã khỏi ghế ngồi.

Việc đó chẳng hề làm giảm nhiệt tình của đại tá Prattfall. Ông ấy lấy khăn mù xoa lau khuôn mặt điểm những mụn cứt ruồi và đôi kính mắt, đứng ngay ngắn trên đôi chân nhỏ, và trở lại với nhiệm vụ công kích của mình. “Dốt nát,” ông ấy nhấn mạnh, “là gốc rễ của mọi vấn đề chúng ta gặp phải”. Ông ấy lật đi lật lại từ “dốt nát” trong miệng, liếm láp nó, nhấm nháp nó, như thể một người sành ăn nếm một món ăn ngon hay một thứ rượu ngon. Khi ông ấy cầm cặp kính giơ lên ngang miệng, cái lưỡi nhỏ của ông ấy hết lần này đến lần khác thè ra như thể nó phải làm nhiệm vụ lau mắt kính. Theo như ông ấy nói, chiến tranh chỉ là một cuộc đụng độ nhỏ vì những vấn đề đặt ra đối với nước Anh khi hòa bình tới. Với thắng lợi trước quân phát xít và chủ nghĩa phát xít, cuộc chiến thực sự chống lại bệnh tật, nạn thất nghiệp, dốt nát sẽ bắt đầu. Ông ấy hối thúc chúng tôi chuẩn bị để đấu tranh với những cái họa lớn này, đặc biệt là cái họa dốt nát.

“Dốt nát, dốt nát, dốt nát,” ông ấy ngâm nga như thể ông ấy đang làm lễ rửa tội. Đối với những ai đang lắng nghe thì ông Prattfall hẳn là đã đấu tranh với cái họa dốt nát trong suốt phần đời đã qua và sẽ còn đấu tranh cho đến hơi thở cuối cùng. “Dốt nát,” ông ấy khăng khăng, “đã gây ra chiến tranh, cũng như đã gây ra mọi tai họa; dốt nát sẽ làm cho chiến tranh kéo dài mãi mãi”.

Vẫn không hãm bớt dòng ngôn từ, ông ấy nhìn chằm chằm vào đám thính giả bằng con mắt cáo buộc cho đến khi họ bắt đầu ngọ nguậy trên ghế một cách khó chịu. Ông ấy hỏi: “Nước Nga ở đâu?” Chúng tôi chẳng những không thể nói nước đồng minh hàng đầu của mình thuộc châu Âu nằm ở đâu, mà còn rất lơ mơ về vị trí của cái nước được coi là kẻ thù hàng đầu của mình ở châu Âu. Một cậu người miền Bắc nước Anh nói với ông ấy: “Nước Đức ở phía trên cái giày ống”. Có lẽ nó ở phía trên cẳng chân Ý. Một cậu lính khác nói rằng nước Đức nằm trên nước Pháp. Trong khi các cậu lính phá lên cười, thì chắc hẳn cảm giác khiếp hãi đang bóp nghẹt tim ông Prattfall.

Điều nằm ngoài tầm nắm bắt của ông Prattfall không phải là khả năng nói. Cả đời ông có làm gì đâu, chỉ nói và nói. Chưa bao giờ ông chịu lùi bước trước một từ nào. Ông có thể nói mà không cần sách vở, không cần ngắt giọng, không cần thở, không cần nghỉ ngơi, không cần ăn, không cần uống, không cần ý nghĩa, không cần cân nhắc, không cần kết thúc. Cái nằm ngoài tầm nắm bắt của ông là khả năng suy nghĩ. Giống như một con sóc tích trữ những quả hạch cho mùa đông, ông ấy tích trữ trong óc một lượng lớn kiến thức. Ít ra thì con sóc cũng biết ăn những quả hạch và biết tiêu hóa chúng. Nhưng ông Prattfall thì không. Kiến thức đối với ông ấy không phải là thứ mà từ đó sự khôn ngoan phát triển lên. Kiến thức là thứ gì đó bạn chất đống trong đầu để đốt hàng loạt mỗi khi con quỷ dốt nát thò mặt ra. Không tranh luận hay đỡ gạt, không thỏa hiệp, không nghi ngờ, không đánh giá lại, chỉ là chuỗi ngôn từ bất tận cho đến khi dốt nát hoặc bị diệt hoặc phải chuồn.

Tuy nhiên những con người mà ông ấy đang nói cho nghe như thể điếc trước mọi lời của ông ấy. Những gì thuộc về chiến tranh và bệnh tật thì chúng tôi đã thấy quá nhiều rồi, đặc biệt về bệnh tật mà chiến tranh gây ra cho những người dân vô tội của xứ sở này. Về dốt nát ư? Chúng tôi biết những thiếu hụt của mình. Đó là lý do tại sao hầu hết chúng tôi vẫn im lặng. Chẳng lẽ, trong bất kể trường hợp nào, các vấn đề đều sẽ được giải quyết nhờ hàng tràng lời lẽ hay những bài tiểu luận ngắn mà ông Prattfall đã phân phát cho những người lính với lòng nhiệt tình của một người truyền đạo Cơ Đốc thời kì sơ khai? Khi ông ấy bước dọc khu trú quân, ông ấy ôm một bó các bài tiểu luận hệt như Xavier mang cây thánh giá.

“Vấn đề sản xuất,” ông Prattfat biện luận, “đã được giải quyết. Vấn đề đặt ra đối với chúng ta là tạo lập một hệ thống phân phối thích hợp. Các anh liệu có hiểu rằng việc áp dụng một cách thích hợp các nguyên lý khoa học trong nền kinh tế hiện đại, cũng như việc ứng dụng các nguyên lý khoa học đối với toàn bộ quá trình sống…” Giọng ông ấy cứ tiếp tục dồn đẩy từ ngữ, dồn chúng qua các cửa sổ, qua các cánh đồng, dồn ra vịnh, và dồn lên trời.

Nhìn con ong ngoài cửa sổ kia mà xem. Nó bận rộn với việc của mình, có việc phải hoàn thành. Những khóm cây ngoài kia đang bắt đầu đơm chồi nảy lộc. Nhìn biển ngoài kia lăn tăn gợn sóng mà xem. Hãy hình dung những con tàu nhỏ xíu ngoài khơi kia phải đưa những đội lính, những đoàn quân tăng viện ra tiền tuyến. Không biết đó có phải là nơi chúng tôi sắp phải tới hay không? Chúng tôi không ưa cái kiểu phục hồi sức khỏe một cách cấp tập mà người ta khiến chúng tôi phải theo này chút nào. Một lũ “con của Chúa” từ nước Anh đã nhập bọn với chúng tôi. Hi vọng rằng vì họ chúng tôi sẽ không phải quay trở lại Anzio. Có lẽ chúng tôi sẽ không phải quay lại Cassino nữa. Ở đó chẳng có gì nhiều để mà lựa chọn đâu. Ai mà biết được, chúng tôi có thể được hưởng may mắn lắm chứ. Rất có thể ở Anh người ta đang cần những người lính sạch sẽ. Ôi, chết tiệt thật. Lo lắng thì ích gì chứ. Có tin chẳng lành từ quê nhà. Không thể không lo lắng được. Không biết khả năng sống sót qua chiến tranh của những người ở nhà có cao hơn của chúng tôi không? Chiều nay chúng tôi lại phải lên đồi mới được, nằm giữa những bụi dương xỉ mà ngủ. Ngủ cho quên hết tất cả. Khi bạn đang ngủ trên một đỉnh đồi thì không ai có thể sờ tới bạn được. Và khi bạn thức dậy bạn có thể ngắm những đám mây. Những đám mây không gợn chút lo lắng về chiến tranh. Luôn luôn có những đám mây. Chúng phiêu du trên bầu trời. Chúng trôi đi thật nhàn nhã. Chúng để mặc gió đưa chúng đi đâu thì đưa. Chúa ơi, chúng tôi ngủ giữa những bụi thạch nam bao nhiêu lần rồi nhỉ? Mây vẫn là mây, cho dù bạn ngắm chúng từ Scotland hay từ Italia. Chúng tạo ra những điều tốt đẹp hơn những gì chúng tôi đã tạo ra ở đây. Phải trở lại Capri. Không biết đêm qua quân Đức làm cái trò gì ở Naples nhỉ? Tiếng máy bay gầm gào cố tránh pháo phòng không vọng từ dưới vịnh tới những ô cửa sổ phòng học này. Thật dễ chịu khi được ở đây, tự bảo mình: ngủ tiếp đi, quân địch không săn đuổi mình đâu mà lo. Chúa ơi, ông Prattfall vẫn đang nói kìa! Nếu về nhà có nghĩa là chiếm đóng thiên đường trên mặt đất của ông Pratfall nơi mà mỗi người sẽ đối xử với mọi người bằng lí lẽ, thì hầu hết chúng tôi thích ở lại đây hơn. Ông ấy là người lạ lùng, là Prattfall. Nhựa sống chắc hẳn đã chảy khỏi người ông ấy từ khi ông ấy còn trẻ và chẳng bao giờ quay trở lại nữa. Sao một con người lại có thể phức tạp và cằn cỗi đến thế nhỉ. Ông Prattfall biết tất cả, trừ máu và thịt.

Ông Prattfall biến rồi. Không thể chịu nổi nữa. Những người lính thẳng thừng bộc lộ sự thấp kém của họ. Họ xô đẩy ông ấy, đập vỡ kính của ông ấy, ngáp trước mặt ông ấy, ngáy khò khò trước mặt ông ấy, quẳng tài liệu của ông ấy ra ngoài cửa sổ, và cuối cùng làm cho ông ấy phải đương đầu với lũ bọ chét. Những người lính và những con bọ chét kết hợp lại, và thế là xong. Dù ông Prattfall ngủ ở chỗ nào, lũ bọ chét cũng hỏi thăm ông ấy trước tiên. Chỗ của ông ấy lúc nào cũng nhung nhúc bọ chét. Họ bỏ những con bọ chét vào quần áo của ông ấy. Hàng ngày cả một bộ sưu tập bọ chét được đưa vào làm nhiệm vụ, một số cậu lính cứ hào phóng tặng bọ chét cho ông ấy, để đảm bảo không lúc nào ông ấy thiếu bọ chét. Những con bọ chét mến ông ấy lắm. Ông ấy ngồi đâu đứng đâu cũng phải luôn tay vỗ đầu gối, vỗ sườn, vỗ mông. Đối với một người đàn ông văn minh lịch sự chuyện đó quả là khó chịu. Nhưng họ đã thành công - ông ấy biến rồi. Chẳng biết ông ấy biến đi đâu. Có người nói ông ấy đã nhảy xuống vịnh.

Giờ chúng tôi bị bỏ lại với bốn cái họa lớn, thật đáng đời lũ chúng tôi!

“Binh nhì Herbert Cudderslip số hiệu 2345809 báo cáo,” viên thượng sĩ dong tôi đi gầm lên.

Ôi, thật hỗn xược, tôi nghĩ. Tôi đã lang thang trên miền nam nước Ý này suốt năm ngày trời giống như một nhà sư với một mảnh chăn khoác vai, một cái ca, một cái thìa, tự hỏi chuyện quái quỷ gì đang xảy ra với mình thế này, và giờ cái thằng cha này nói rằng tôi phải “báo cáo.” Điều duy nhất tôi phải báo cáo là năm ngày trước tiểu đoàn bảo tôi phải báo cáo lên Lữ đoàn. Lữ đoàn không biết phải làm gì với tôi. Họ bảo tôi báo cáo lên quân đoàn. Quân đoàn không biết phải làm gì với tôi. Họ bảo tôi báo cáo lên Tập đoàn quân. Tập đoàn quân không biết phải làm gì với tôi. Họ bảo tôi báo cáo lên Cụm tập đoàn quân. Cụm tập đoàn quân không biết phải làm gì với tôi. Nhưng họ phải mau nghĩ cho ra họ sẽ làm gì với tôi nếu không tôi sẽ nhảy lên một con tàu cũ về thẳng nước Anh vui vẻ. Vậy là giờ tôi đang đứng trước mặt vị tướng quân đầu tiên tôi gặp trong bốn năm làm lính.

“Cậu là binh nhì Cudderslip,” vị tướng nói, “người đã nhập ngũ tại Chelmsford ở Anh cách đây bốn năm?”

“Chính tôi,” tôi nói.

Tướng quân hớn hở. “Cudderslip, cậu có nhớ đã viết một bức thư tới một hãng sản xuất radio ở Anh gợi ý về phương pháp cải tiến một trong những loại máy phát tín hiệu của họ không?”

Ồ, tôi lặng người đi vì kinh ngạc. Chuyện đó bỗng hiện về trong óc tôi. Bốn năm trước tôi đã viết thư đến một hãng sản xuất radio kiến nghị về một vấn đề đơn giản. Đó là chuyện riêng của tôi vì vậy tôi biết rõ tôi đang nói về việc gì. Tôi không nhận được hồi âm. Cái máy phát tín hiệu của chúng tôi vẫn cứ trục trặc. Mỗi lần chuẩn bị ra chiến trường chúng tôi lại phải tự sửa nó. Sau một hai năm tôi hiểu ra rằng làm như thế chỉ vô ích. Ôi, vì chuyện này mà tôi được yết kiến một vị tướng quân tại một lâu đài cơ đấy.

“Này, Cudderslip,” vị tướng quân nói với tôi trong khi bắt đầu lật giở một tập hồ sơ dày cộp. “Cậu đã viết một bức thư và gửi nó đi từ Chelmsford vào đầu năm 1940.”

“Đúng thế,” tôi đáp.

“Sau đó cậu đến Croydon.”

“Vâng.”

“Sau đó đến Inveraray, Scot-len.”

“Vâng.”

“Sau đó đến Greenock để xuống tàu thủy.”

“Vâng.”

“Trên đường đi cậu biến mất,” vị tướng quân nói, ngẩng lên nhìn tôi.

“Đúng thế. Tôi phải dừng lại ở Cape Town. Tàu bị thủng.”

“Sau đó khi chúng tôi viết thư tới Cairo, cậu lại đang ở Tobruk. Chúng tôi viết thư tới Tobruk cậu lại đang ở Cairo. Chúng tôi lại viết thư tới Cairo nhưng cậu đã rời khỏi đó. Cudderslip, cậu đã đi đâu?”

“Tới Hy Lạp và đến đảo Crete,” tôi đáp.

“Thế kia đấy. Lẽ ra chúng tôi phải biết cậu đang ở đâu, Cudderslip ạ. Khi chúng tôi nhận được tin báo cậu đang ở Cyprus, thì cậu đã lại trở về Cairo rồi. Chúng tôi cứ nghĩ thế nào chúng tôi cũng sẽ tóm được cậu ở Cairo nhưng cậu lại lẩn mất và chúng tôi đã phải đuổi theo cậu xuyên Bắc Phi, hết ra lại vào các bệnh viện, qua Pantelleria, Sicily, đến tận cùng cái nước Ý này, cậu Cudderslip ạ,” vị tướng quân nói, gấp tập hồ sơ lại, “nhân viên của tôi đã lần theo cậu trong bốn năm trời. Chúng tôi đã phải ra lệnh điều cậu tới một phòng tuyến trên bờ biển nơi quân Đức không chịu đầu hàng để cậu không thể rời đi chỗ khác, để đảm bảo chúng tôi sẽ tóm được cậu. Nếu các cậu mà vượt qua phòng tuyến địch đến được Rome thì…!”

Các khả năng về những gì có thể đã xảy ra nếu chúng tôi đến được Rome và tiến được xa hơn thế khiến cho ông tướng già ấy im lặng độ một hai phút.

“Cudderslip,” vị tướng đó cuối cùng nói với tôi vẻ thân thiện. “Bốn năm trước tôi được chỉ thị xử lý trường hợp của cậu theo luật quân sự. Tôi đọc công văn của WO để cậu rõ: ‘Vì tội phớt lờ kênh liên lạc quân sự và sử dụng thư từ chưa qua kiểm duyệt để bàn về thiết bị quân sự theo cách không có lợi cho kỷ luật quân đội.’ Từ khi tôi nhận được công văn này,” vị tướng tiếp tục nói, “hồ sơ về Cudderslip cứ khiến tôi phải liên lạc với WO liên tục. Tôi đã đi đến kết luận rằng, hồ sơ về Cuddership sẽ còn ám ảnh tôi suốt phần đời còn lại. Giờ thì tôi có thể ghi rõ vào hồ sơ này Cudderslip đã bị bắt và có thể trả hồ sơ về cho WO được rồi. Một vị ở WO sẽ được về nhà với vợ trong tâm trạng phấn khởi đến nỗi khiến bà vợ phải ngạc nhiên đấy.” Nói rồi vị tướng chìa tay ra bắt tay tôi. “Cudderslip ạ,” ông ta nói, “cậu không biết tôi vui mừng đến mức nào khi cậu đã cố gắng không để mình bị giết. Thế là hồ sơ về Cudderslip coi như đã khép lại. Hãy trở về đơn vị của cậu đi, cậu lính ạ. Nếu một sĩ quan mà được phép uống với một binh nhìn thì tôi nhất định sẽ mời cậu một ly. Chúc may mắn, Cudderslip.”

“Ồ, cảm ơn ngài,” tôi nói và chào vị tướng quân. Bước ra tới cửa bỗng nhiên tôi quyết định hỏi ông ấy về cái kiến nghị cải tiến loại máy phát tín hiệu mà tôi đã gửi lên hãng sản xuất radio bốn năm về trước. Vậy nên tôi quay vào và nói, “Xin lỗi, tướng quân, chuyện gì đã xảy ra với bức thư của tôi?”

“Chao ôi, Cudderslip,” vị tướng quân nói giọng hăng hái, “hồ sơ này không xét tới kiến nghị của cậu. Hồ sơ này đơn giản ghi rằng ‘Bắt ngay tên ngốc này và trừng trị đích đáng vì tội nói ra điều không được phép nói.’ Đi đi, Cudderslip! Đi đi!”

Chúng tôi sắp quay trở lại cái nơi trước đây chúng tôi đã đổ bộ lên. Chúng tôi biết tin này đã vài ngày nay. Chúng tôi cảm thấy khổ sở. Tới nơi nào chúng tôi đã từng tới cũng được miễn là không phải nơi đó. Lữ đoàn trưởng nghĩ đến cuối cùng chúng tôi nên có một buổi liên hoan văn nghệ. Chúng tôi biến cái phòng học lớn đó thành sân khấu và cố gắng tổ chức thành công buổi văn nghệ. Hơi thống thiết. Không thể nào thực hiện nó một cách tốt đẹp được. Chúng tôi đã cố gắng hết sức. Bữa tối ổn cả. Khoai tây nướng. Những giẻ xương sườn to. Người làm bếp không nói đó là xương sườn con gì nhưng món đó ăn cũng được. Nhiều rượu. Ai đó thậm chí còn chịu khó cắm những lá cờ đuôi nheo. Chúng tôi không có quả bóng bay nào. Vậy nên chúng tôi nhuộm những bao cao su và thổi chúng thật căng. Chúng tôi nhộn lên được một lúc. Đặc biệt là khi Sudge và Lofty, hai cậu lính hóa trang làm một con ngựa, ngã lộn nhào khỏi sân khấu. Không biết có cậu nào bị gãy chân không. Có lẽ họ cũng muốn gãy chân, Darkie và Bert cố sắm vai những diễn viên nhào lộn. Nhưng Darkie không thể thực hiện các động tác một cách khéo léo được. Thay vì bắt lấy Bert cậu ta lại bắt hụt và thế là Bert lộn trên khoảng không và rơi trúng người Lữ đoàn trưởng. Eric hát bài “Danny Boy” khiến tất cả chúng tôi đều cảm thấy tồi tệ hơn. Nếu chúng tôi không kịp thời ngăn cậu ta lại thì cậu ta đã hát bài “Biên giới phía nam”. Chúng tôi thế nào rồi cũng sẽ cùng hát cái đoạn “vì ngày mai không bao giờ đến” với lòng nhiệt tình khốn khổ khi biết rằng ngày mai chúng tôi sẽ lại phải trở lại chiến trường. Cyril, đội tóc giả, mặc áo nịt vú độn bằng những củ khoai tây, đóng giả đàn bà. Cyril là một liên lạc viên. Một anh chàng can đảm. Cậu ấy đã được thưởng huy chương quân công hẳn hoi. Mỗi khi những liên lạc viên khác chịu bó tay trước nhiệm vụ khó khăn, người ta lại cử Cyril đi. Cậu ấy luôn đến được nơi cần đến. Cậu ấy đã vớ được một hộp áo nịt vú từ một cửa hàng khi quân của chúng tôi dội đợt bom đầu tiên xuống Cassino. Đó là thứ duy nhất cậu ấy có thể tìm thấy. Cậu ấy đã mặc một chiếc cùng với bộ quân phục để gây cười. Giờ thì lúc nào ra trận cậu ấy cũng mặc một chiếc. Một loại bùa hộ mệnh. Đây là lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy những chiếc áo nịt vú trong lúc chúng tôi được nghỉ ngơi. Cậu ấy có mười bốn chiếc cả thảy. Hay đấy, Cyril, làm gì gây cười được thì làm. Buổi tối cứ thế trôi đi. Nó kết thúc bằng một giai điệu nghiêm trang được đại tá Hamilton chơi trên piano. Ông già “Hami” cúi người trên phím đàn, tập trung, lắng nghe, như thể ông ấy không thể tin nổi các nốt nhạc phát ra từ cây đàn là có thật. Ông ấy mê mải trong cái thế giới của riêng mình kiếm tìm một điều gì đó ông ấy rất cần. Những người lính ngồi im lặng, không hiểu, như thể họ đang theo dõi một tiết mục ở nhà thờ. Các sĩ quan cho mang thêm rượu vào. Họ rót rượu vào ca của chúng tôi, rót vì cái lần cuối này và chúng tôi uống vì trung đoàn: “Chúa phù hộ cho trung đoàn.” Rồi chúng tôi lại đứng dậy hát “Chúa phù hộ cho đức vua.” Tôi chưa bao giờ thấy nhiều đồng đội đổ gục xuống trong khi đang hát quốc ca như thế.

Vậy là bữa tiệc nhỏ đã kết thúc. Nhưng tiệc tùng kiểu gì vậy nếu không có lấy một bóng hồng? Rượu là thứ tốt nhất chúng tôi có được. Rượu giúp chúng tôi quên.

Sáng rồi. Chúng tôi đã ra khỏi cái phòng học đó và đang ở ngoài đường. Chúng tôi đang xếp hàng. Cả trung đoàn giờ đã lại sức. Mưa đang rơi xuống những tấm vải nhựa. Các ngọn đồi và biển mờ trong màn mưa. Chúng tôi không thể đợi mưa. Chúng tôi đội mũ sắt lên đầu. Vũ khí của chúng tôi được che bởi những tấm vải nhựa. Ngài đại tá vừa mới đi lên đầu hàng quân.

Mệnh lệnh được phát ra: “Tiểu đoàn sẽ hành quân theo ba hàng. Toàn tiểu đoàn, bên phải, quay. Bước đều, bước. Bước”.

Một nghìn người đàn ông đáp lại mệnh lệnh như thể họ sắp trở về nhà. Thay vì trở về nhà, một lần nữa chúng tôi lại đi vào cái mạng lưới chiến tranh. Chúng tôi lại lên đường. Giờ là lúc quay đầu lại nhìn căn phòng đẹp nhất trên đời kia lần cuối. Rồi nó cũng biến mất khỏi tầm mắt.

Chúng tôi đang đi xuống sườn núi. Trời vẫn mưa như trút. Nước mưa chảy từ mũ sắt của người đồng đội đi liền trước bạn, chảy xuống áo choàng không tay của cậu ta, chảy xuống đôi chân ướt đẫm, chui vào trong giày ống rồi tràn ra ngoài, chảy xuống đường, chảy khỏi mặt đường qua hàng nghìn khe rãnh, chảy tới các cống thoát nước, rồi từ cống thoát nước chảy xuống khỏi đồi, chảy ra biển. Vô số thứ đang bị cuốn từ trên đồi xuống, bị cuốn ra biển, không tài nào cưỡng nổi, không tài nào kìm lại được, giống như chúng tôi bị số phận cuốn đi vậy. Vài cậu lính huýt sáo. Hầu hết im lặng. Những cái trống và những chiếc kèn ống đã được che kín. Chúng tôi ra cảng Castellammare. Tàu đang đợi sẵn ở đó rồi, sẵn sàng khởi hành. Chúng tôi bước lên tàu trong tình trạng ướt như chuột lột và lạnh muốn run. Lần này không có trà nóng. Bến vắng. Như thế là tốt nhất.

Bình minh lên. Chúng tôi đang ở cách bờ không xa, đợi đổ bộ lên đất liền. Cảng đang bị bắn phá ác liệt. Những khẩu súng công thành gầm lên. Chốc chốc lại có một tòa nhà gần cảng bị trúng đạn pháo. Bỗng đâu còi báo động có máy bay ném bom rú lên và tàu của chúng tôi vội vã quay mũi, hướng ra ngoài khơi. Tất cả các tàu khác đều di chuyển. Sao cứ phải hoảng lên tìm cách thoát nhỉ? Máy bay ném bom đâu nào? Chỉ có độc một chiếc máy bay bay tít phía trên đồi Alban. Nó đang bốc cháy, phụt lửa ra đằng đuôi đấy thôi.

Một vật gì đó rơi từ thân máy bay xuống, xoáy trong không khí, bay về phía bến cảng. Cái vật lạ kia mà rơi trúng bọn mình thì sao nhỉ? Mọi con tàu và tất cả pháo phòng không trên bờ biển đều nhằm vật đó nhả đạn. Bầu trời đen sầm lại vì những quả đạn pháo phát nổ. Nhưng tại sao lại phải bắn một mảnh vỡ của một chiếc máy bay cháy như thế nhỉ?

Cái mảnh vỡ đó giờ bay vòng quanh như thể nó được một bàn tay điều khiển. Nó bay tới chỗ chiếc tàu chiến lớn nhất. Chiếc tàu lượn một đường rộng. Những khẩu súng trên tàu bắn đạn ra như mưa. Thật lạ, vật kia cứ đuổi theo nó, bay, xoáy, lượn. Con tàu lớn chuyển động tạo ra những lớp sóng to. Vật kia rơi trúng boong sau của nó. Một tiếng nổ xé màng nhĩ, mê mụ, kinh khủng không biết chừng nào mà tả phát ra từ phía chiếc tàu lớn. Một đám khói khổng lồ bốc lên trên bầu trời buổi sáng. Một cơn bão quét qua bến cảng. Những mảnh vỡ của con tàu bắn ra cả một vùng rộng lớn. Chiếc tàu chiến lớn mới rồi còn sừng sững ở đó giờ chỉ còn là một đám dầu loang, ùng ục sủi bọt.

“Khốn kiếp,” một cậu lính buột miệng nói, “chẳng còn sự khởi đầu nào tệ hơn thế.”

Trên bờ biển, đạn pháo đã im tiếng. Chiếc tàu chở chúng tôi vội vã quay mũi, hướng vào bến cảng.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.