Mạch Buồn

Lượt đọc: 133 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
13

❊ ❊ ❊

Một người lính vẫn mặc nguyên bộ quân phục ra trận, mang mũ sắt trên đầu ngồi tại một chiếc bàn nhỏ trong một căn hầm, cố giữ cho mình khỏi rơi vào cơn buồn ngủ. Trên bàn có hai quả lựu đạn, một tờ báo tiếng Anh, một chiếc đèn các-bua nhỏ, một máy điện thoại dã chiến. Xung quanh anh là các đồng đội nằm ngổn ngang trong giấc ngủ mê mệt. Một số người nằm ngay trên đất lạnh; những người khác nằm trên những tấm cánh cửa gỗ được lấy từ một trang trại gần đó. Vài người nằm ngửa với tấm chăn bẩn thỉu phủ trên đầu, ngáy khò khò. Hai cậu lính đã luồn xuống năm dưới gầm bàn để tránh bụi. Vũ khí được để ngay bên cạnh họ. Những chiếc hộp cát-tông đựng lương khô rỗng không bị vứt rải rác trên nền đất. Một giọng nói ma quái vang lên từ chiếc radio đòi những giọng khác “báo cáo”. Gió từ bên trên thốc xuống hầm khiến ngọn đèn run rẩy hắt bóng của nó lên những bức tường đất ẩm ướt.

Điện thoại reo. Anh lính đang nửa thức nửa ngủ giật mình choàng tỉnh. Đã một giờ sáng. Đại đội C lo lắng trước những âm thanh họ nghe thấy. Có tiếng kim loại va đập mạnh ở khu vực phía trước họ. Chuyện gì xảy ra thế nhỉ? Xe tăng chăng? Đại đội B có báo cáo gì không? Họ có gọi lại không? Người lính bước qua những đồng đội đang ngủ đi ra cửa hầm. Mệt mỏi, anh nhấc chân lên các bậc. Đêm không trăng, chỉ có vài vì sao le lói. Phải mất vài phút mắt anh mới quen với bóng tối. Rồi anh nhìn thấy bóng một người lính gác đang đứng tựa người vào một mé của đường hào. Trong một hay hai phút gì, đó những người lính đứng đó nhìn qua hàng rào dây thép gai. Ngoài tiếng đáp lại nhau của các khẩu pháo từ các vùng xung quanh vọng tới, và tiếng ầm ù của những chiếc máy bay bay đêm, tất cả đều im ắng. Những đội đi làm nhiệm vụ chôn cất người chết đã trở về, những người bị thương đã được đưa đi sơ tán. Ngoài kia, ngoài bãi chiến trường, màn đêm đã trùm lên mặt đất cháy trụi đầy thương tích.

Anh lính quay xuống hầm gọi cho đại đội B.

“Đại đội C đang lo lắng,” anh nói, “họ nghi xe tăng đang tiến sát chỗ họ. Tình hình ở chỗ các anh thế nào?”

“Yên tĩnh. Sao đại đội C lại cứ phải lo lắng vào lúc này chứ? Chúng tôi còn chưa đủ vất vả hay sao mà cái đám đông ấy đang đêm còn làm chúng tôi sởn gáy hả? Đây là lần đầu tiên trong nhiều ngày nhiều đêm chúng tôi không bị đạn pháo và bom quấy rầy liên miên thế mà đại đội C không để chúng tôi yên. Có lúc chúng tôi đến khốn với cả quân Đức lẫn đại đội C đấy. Nếu có gì không ổn, chúng tôi sẽ bắn pháo hiệu.”

“OK. Đại đội C đã cố bắn pháo hiệu, nhưng tôi chẳng nhìn thấy gì cả.”

“Này. Nếu ở đây mà yên ổn thì chúng tôi sẽ tự gọi cho đại đội C và bảo họ đi ngủ đi hoặc là cứ việc đi mà kiểm tra tình hình. Tôi cược mười ăn một rằng tiếng động kia chỉ là tiếng một tên lính Đức vô hại đang sửa giày của hắn! Nếu ở đây có gì không ổn chúng tôi sẽ liên lạc lại. OK?”

“OK. Chúc ngủ ngon. Đêm chẳng còn mấy đâu.”

“Chúc ngủ ngon.”

Đại đội B gác máy.

Anh lính gọi về tiểu đoàn. Có. Tiểu đoàn đã nghe. Một đội trinh sát đã được cử đi. Trước khi có tin của họ, không có gì để làm và không ai có thể làm gì ngoài theo dõi và chờ đợi. Quân tăng viện và đồ tiếp tế đang trên đường tới. Lữ đoàn nắm bắt được tình hình. Họ nói toàn khu tiền tuyến đều im ắng. Các khu vực tiếp tế đã bị bắn phá, cảng vừa bị ném bom, nhưng đó là cuộc chiến của ai đó khác, không phải của họ. Anh lính lại gọi cho đại đội C. Nhưng đại đội C vẫn thấy không ổn.

Cuối cùng anh lính đành đặt điện thoại xuống. Đã một rưỡi sáng. Anh còn phải trực một tiếng rưỡi nữa. Nhưng mắt anh cứ díp lại. Trong một hay hai phút gì đó nhu cầu ngủ thúc bách anh. Dần dần anh thoát ra khỏi những lo lắng về cuộc chiến, và chỉ bị lôi trở lại thực tại bởi một cái giật mình phát sinh từ cú điện thoại từ tiểu đoàn gọi xuống.

“Báo cáo. Tất nhiên, tôi vẫn thức. Tất cả đều ổn.” Anh lính cho phép mình rải cái nhìn xuống những người đồng đội đang ngủ. Họ tin tưởng anh như anh tin tưởng những người lính gác ở ngoài kia. Đây là sự đảm bảo an toàn duy nhất mà một người lính có được. Anh thuộc về nhóm người này. Anh không được làm họ thất vọng. Những người đàn ông rúc đầu vào sát mũi giày đầy bùn đất của anh dưới gầm bàn này giờ là một phần bản thân anh. Đối với anh họ là mẹ, là cha, là anh là chị, đặc biệt là mẹ. Anh cần dựa vào họ cũng như họ cần dựa anh. Anh không cho phép mình ngủ.

Anh lật trang báo, nhưng những hàng chữ cứ như thể đang trượt đi. Dù sao, tin tức trên tờ báo này cũng cũ rồi, và nó nói về một thế giới mà anh hầu như không biết. Nhìn những mẩu tin anh tự hỏi không biết anh đã từng ở cái thế giới mà tờ báo này nói đến hay chưa. Nó chẳng đả động gì đến đám lính đang nằm trong bùn đất, lấm lem từ đầu đến chân, những người lính với những giọt mồ hôi và nước mắt in thành vệt trên những khuôn mặt bẩn thỉu. Không một chữ nào trên tờ báo này đề cập đến cảnh những người lính này bì bõm trong đêm tối trên những cánh đồng ngập bùn không thấy đáy hay chạy dọc những con hào phủ băng với những mảnh đạn găm qua quần áo họ khiến họ sợ chết khiếp, không đề cập đến cảnh họ bị mưa, mưa đá và tuyết quất tới tấp cho tới khi người họ ướt sũng và lạnh cóng, không nói về lũ rận hành họ đến khốn; không nói về chứng hoại thư do dầm nước lâu ngày. Anh chỉ cần nhìn chính anh cũng đủ biết: đôi tay đang cầm tờ báo này đầy thương tích, các móng tay bị rách và xám xịt lại. Nhìn bộ quân phục anh mặc trên người thì biết, rách rưới, loang lổ vết bùn đất. Các bạn của anh trông cũng đủ tệ, nhưng cái mặt của chính anh trông ra sao? Một hôm anh đã lấy chiếc gương bỏ túi ra soi, và cái khuôn mặt anh thấy trong gương khiến anh phát sợ. Khuôn mặt đó là khuôn mặt của một ông già với những nếp nhăn hằn sâu, cái cằm lởm chởm râu ria và đôi mắt cho thấy sự căng thẳng cực độ. Làm sao đó lại là anh được chứ? Anh chỉ mới hai mươi ba tuổi thôi. Tuổi của anh cho biết anh mới hai mươi ba. Nhưng cơ thể anh giống như những người già, chẳng muốn gì khác chỉ muốn được yên thôi. Không thể nào những người đàn ông mang khuôn mặt phờ phạc hốc hác nằm quanh anh trong cái hầm lép nhép bùn đất này lại chính là những chàng thanh niên trẻ măng đã xuống tàu cùng anh tại Suez đi chiến đấu ở xa mạc miền tây. Những người đàn ông đang ở trong hầm này là những ông già. Họ không phải là những chàng thanh niên vui nhộn và láu lỉnh mà anh từng biết.

Anh nhìn Pete, cậu bạn đang nằm ngủ tại góc hầm trong tư thế gập người, hai tay ôm đầu. Bốn năm trước, Pete là một chàng trai rất nhộn. Còn nhớ khi họ tới Ai Cập, anh và Pete đã mua một tập ảnh “đen” từ một gã người Ả Rập trông không được đàng hoàng cho lắm đứng bên ngoài cửa sổ tàu hỏa gần chỗ họ ngồi. Những bức ảnh đó hóa ra là sáu bức ảnh chụp tháp Blackpool giống nhau y hệt! Và tất cả bọn họ phá lên cười trước vẻ lén lút của gã người Ả Rập và sự khờ khạo của chính mình. Họ cười dữ đến nỗi họ tưởng họ sẽ rơi khỏi tàu mất. Anh và Pete cũng như những người khác giờ đây không còn cười như thế nữa. Vào những ngày này thật không dễ dàng gì để biết được một người đàn ông đang khóc hay đang cười.

Anh kết luận rằng đám thanh niên vui tươi mà anh biết đó chưa hề tồn tại. Anh mơ đấy thôi. Họ chắc chắn không phải là những người đang nằm dưới đất quanh anh. Những người đang nằm trong bùn đất này là một loại người khác. Họ không thuộc về cái thế giới kia. Họ sẽ luôn sống trong bùn đất, rác rưởi và sự hóm hỉnh đã vội chuồn khỏi họ và đến chết họ vẫn thế mà thôi. Đó là số phận của họ.

Anh lính lại cúi xuống tờ báo, rồi anh quẳng nó ra đằng trước. Cuộc sống của anh ở đây.

Điện thoại reo, dứt anh khỏi những giấc mơ. Tiểu đoàn gọi. Không, không có gì. Đại đội C ra sao? Vẫn không có tin tức gì. Ồ, phải, đêm đang dần trôi.

Trong vài phút, anh nhìn tấm chăn che lối vào căn hầm bay tung lên rồi lại rủ xuống khi cơn gió đi qua hẳn. Nó chẳng bao giờ giữ nguyên một dáng. Trong tấm chăn đó anh nhìn thấy đủ mọi hình dáng. Lúc nó phồng lên nó làm anh nhớ đến chú Henry của anh. Trong cái thế giới anh đã từng sống - chú Henry đóng một vai trò quan trọng. Ông ấy đã nuôi nấng anh. Trong một đêm giá lạnh như thế này, cả gia đình anh thường ngồi quây quần bên đống lửa. Mọi người nói chuyện làng xóm, chuyện công việc, chuyện học hành. Rồi sau đó trước khi họ đi ngủ, thím Hetty bao giờ cũng mang cho mấy chú cháu trà nóng và bánh nướng nóng phết bơ. Sau đó lửa than sẽ được vun gọn lại. Trà và cốc được để sẵn đó cho ai giữa đêm muốn dậy uống đều tiện cả. Dù bạn có muốn uống trà đêm hay không, luôn có sẵn trà cho bạn. Trà vẫn cứ được để ngay cạnh giường bạn không kèm theo một lời nào hết. Nếu bạn ngủ một mạch, thì bạn có thể thức dậy vào một buổi sáng mùa đông với ba tách trà đã nguội.

Điện thoại lại réo. Vâng, anh lính vẫn thức. Đó là đại đội C gọi. Họ đã mất liên lạc với các vị trí tiền quân của mình. Không, tiếng động kia đã ngừng. Tất cả đều im ắng. Họ đã cử trinh sát đi thám thính. Vâng, họ đã gọi cho đại đội B và đã báo cáo về tiểu đoàn.

Anh lính kiểm tra lại các vị trí của đại đội anh qua máy liên lạc. Tất cả đều im ắng. Tất cả vẫn an toàn. Trong một nỗ lực giữ cho mình qua cơn buồn ngủ, anh châm một điếu thuốc hút. Nghĩ về chú Henry và thím Hetty cũng chẳng ích gì. Càng nghĩ nhiều về họ càng khiến anh cảm thấy tồi tệ hơn. Quê nhà quá xa xôi. Chỉ sống sót được mới có ý nghĩa. Nếu không sống sót được thì chẳng còn gì đáng nói. Điều duy nhất anh biết là đêm đến nhắm mắt ngủ và tự hỏi: “Mình sẽ được thấy bình minh chứ?” Trong cái tình trạng hỗn loạn này, có suy luận cũng chẳng ích gì. Đơn giản chẳng có lý gì ở đây hết. Họ không còn điều khiển chiến tranh nữa. Chiến tranh điều khiển họ. Sống sót và ngủ. Đó là tất cả những gì quan trọng hiện nay. Những ngày đầu khi mấy người đồng đội bị trúng đạn, lìa bỏ cuộc đời này, anh và các đồng đội khác đã hỏi cha tuyên úy rằng những người chết ấy đã đi đến cõi nào.

“Đi đâu ư?” Cha tuyên úy nói vẻ hoài nghi.

Sau đó, ông ấy trích dẫn đoạn kinh 1 cô-rinh-tô 2:9: “Ấy là sự mắt chưa thấy, tai chưa nghe, và lòng người chưa nghĩ đến, nhưng Đức Chúa Trời đã sắm sẵn điều ấy cho những người yêu mến Ngài.”

Ôi, họ không thể căn vặn gì. Ở đó Cha tuyên úy là bề trên. Tất cả những gì họ phải làm là tin. Từ đó trở đi, họ không quấy rầy cha tuyên úy nữa. Trong những ngày này ở Ý họ chẳng bao giờ nói đến việc bạn sẽ đi đến cõi nào khi bạn chết, chỉ nói đến việc không đi thôi. Sống! Đó là những gì bạn theo đuổi. Dù mọi chuyện có tồi tệ đến đâu, bạn vẫn muốn sống. Nếu như bạn chết ngỏm thì liệu việc nói về đấu tranh cho tự do phỏng có ích gì?

Chuông điện thoại reo. Đại đội B gọi. Họ đã mất liên lạc với các vị trí tiền quân. Đại đội C cũng chung số phận. Không thấy có trả lời qua kênh liên lạc radio khẩn cấp. Tốt hơn nên coi chừng! Anh lính bắt đầu dứt ra khỏi trạng thái mơ màng. Anh gọi cho tiểu đoàn. Đường dây không hoạt động. Chộp lấy radio cầm tay anh gọi tiểu đoàn.

“Chào Roger, Able báo cáo.”.

“Chào Able,” tiếng nói ở đầu dây kia trả lời, “Roger đây.”

Bỗng một tiếng hú khủng khiếp vang lên nhấn chìm mọi tiếng nói. Anh lính vội chuyển sang kênh liên lạc khẩn cấp. Đúng lúc đó tiểu đoàn phát lệnh báo động toàn diện bằng mật mã xuống và cái lệnh đó cũng bị chỉm nghỉm trong tiếng hú kinh hoàng.

Anh lính giờ hoàn toàn tỉnh táo. Nỗi sợ hãi bất ngờ choán hết tâm trí anh. Anh vội lôi chiếc còi trong túi áo ra và dùng hết sức bình sinh mà thổi. Anh chạy lên các bậc hầm, chạy xuống đường hào và lại tiếp tục thổi còi. Anh tiếp tục thổi còi báo động trong khi các đồng đội của anh đã dậy cả và đang loạng choạng bước ra khỏi hầm, với mũ sắt trên đầu, vũ khí trong tay, vừa bước đi vừa chửi thề. Chạy trở vào trong căn hầm giờ đã trống không anh lính kiểm tra lại điện thoại một lần nữa. Tất cả các đường dây đều không hoạt động. Anh chộp lấy hai quả lựu đạn và khẩu súng trường rồi chạy ra cửa hầm. Những người khác đang truyền tín hiệu báo động xuống cuối đường hào. Khi anh lính chạy lên các bậc anh nhìn thấy một quả rốc-két lượn trên bầu trời theo hình vòng cung. Đột nhiên nó phát nổ phía trên khu vực đóng chốt của lính Anh, tưới thứ ánh sáng đỏ rực xuống mặt đất. Trong một hoặc hai phút gì đó cái vầng lửa ở trên trời đứng yên, lung linh, lấp lánh, khiến cho những công sự và những điểm chốt ở bên dưới tắm trong thứ ánh sáng đỏ chói lòa. Thế rồi, như thể do dự, miễn cưỡng, vầng lửa đó bắt đầu hướng xuống mặt đất. Trong khi nó hướng xuống mặt đất, cả một vùng trời trên toàn khu tiền tuyến được thắp sáng bởi những ánh chớp nhoang nhoáng của hỏa pháo Đức. Một đợt bắn phá dữ dội bắt đầu.

Sở chỉ huy lực lượng quân Đồng minh đặt tại lâu đài Casetta. Ngài đại tướng đang ngồi một mình tại một chiếc bàn được phủ bằng một tấm vải thô. Ngài đưa tay dụi mắt rồi cầm bút lên. Trong giây lát sự chú ý của ngài lang thang từ trang giấy để trước mặt đến những bóng người và xe chuyển động ở bên ngoài.

Ý nghĩ của ngài đại tướng bị xâm chiếm bởi kết quả của các trận đánh diễn ra trên phòng tuyến ven biển kéo dài cả trăm dặm về phía bắc Anzio. Có lẽ đã đến lúc phát ra một mệnh lệnh đặc biệt nào đó trong nỗ lực tập hợp lại lực lượng quân Đồng minh. Ngài vừa mới trở về từ chuyến thị sát tiền tuyến và rõ ràng ngài không thích những gì ngài đã thấy. Thực tế, ở đó chỉ còn lại rất ít công sự. Ngài chưa bao giờ chứng kiến cảnh dội bom liên miên như thế từ phía quân Đức ở bất cứ nơi nào khác trên chiến trường Địa Trung Hải này. Chắc chắn việc sơ tán thành công không thể thực hiện được. Nếu phòng tuyến cuối cùng bị xuyên thủng hoặc, như nhiều sĩ quan có tư tưởng bi quan nghĩ, quân Đức sẽ luồn được về phía sau họ dựa vào việc sử dụng máy bay chở lính, các chiến lược tàn sát hoặc kết quả sẽ là quân Đồng minh phải nhượng bộ. Thất bại ở Anzio này sẽ trùm cái bóng u ám xuống toàn bộ nỗ lực của quân Đồng minh và có thể sẽ khiến người Nga rơi vào tình thế khó khăn hơn bao giờ hết. Phải giữ bằng được Anzio.

Lúc này viết tổng kết thì ích gì. Khi nào chiến tranh kết thúc sẽ có khối người làm cái việc đó. Thực tế là quân Đức đã phản ứng sớm hơn và với lực lượng mạnh hơn họ dự đoán nhiều. Và một khi quân Đồng minh đã để mất thế chủ động, thì họ chẳng bao giờ lấy lại được nữa. Tất nhiên, quân Đức cũng đã được lợi nhiều từ sự thiếu nỗ lực từ phía quân Đồng minh. Nhưng tất cả chuyện đó đã thành quá khứ rồi. Chẳng còn mẩu nào của nó còn dang dở cả. Giờ phải làm gì đây? Đó là vấn đề. Trong cuộc đời chinh chiến của ngài đại tướng câu hỏi đó luôn luôn là một vấn đề.

Khi đổ bộ lên Anzio, họ đã có một cơ hội lâu dài và nó đã không được tận dụng một cách thành công. Ôi, đó là vận mệnh của chiến tranh. Chiến tranh là “Hey diddle, diddle, the cat and the fiddle”, chỉ khác là chiến tranh gồm các sự kiện, chứ không phải là món ăn chuồn theo chiếc thìa. Giờ họ đang bị kẹt cứng, toàn bộ một trăm năm mươi nghìn người bọn họ, bị kẹt trong một cái hố ẩm ướt, lạnh giá, rộng bốn dặm, sâu vào đất liền năm dặm. Họ tiến không được - tin tức tình báo cho biết họ đang phải đối mặt với những lợi thế của địch - mà lùi cũng không xong. Đây đâu phải là một Gallipoli hay một Dunkirt khác. Bởi lẽ ở đây không có tàu thuyền. Ôi, họ sẽ phải trụ lại thôi. Rất nhiều điều phụ thuộc vào việc họ trụ lại đây. Nhưng liệu họ, tất cả từng ấy người, có thể trụ lại trong cái vùng chật hẹp bị đạn pháo địch chi phối, cái vùng chỉ cách sân bay địch có vài phút bay và luôn phải gánh chịu những đợt tấn công liên miên từ phía địch? Vị tướng quân nhìn xuống những hình hoa văn nhỏ in trên tấm vải trải bàn. Chỉ tương lai mới biết câu trả lời. Hiện tại ông phải làm tất cả những gì có thể trong phạm vi quyền lực của mình tránh cho quân đội một thảm họa. Những người lính chiến đấu ở đây là những người có kinh nghiệm và không phải loại lính dễ sợ hãi, nhưng một khi trong cái vùng nhỏ hẹp này xảy ra sự hoảng loạn, thì không gì có thể ngăn nổi nó. Nếu có lời nào đó có thể giúp được những người lính thì ông sẽ viết chúng ra ngay lập tức. Trên chiến trường này lính và tàu thì thiếu, lời thì thừa.

Vị tướng cầm bút lên và viết những chữ đầu tiên của cái Mệnh lệnh trong ngày: “Với cái thế quay lưng ra biển của chúng ta…”

* * *

Một buổi bình minh u ám. Bầu trời xám xịt, nặng trĩu mây. Chúng tôi đã rút lui và đang bị ghìm chân trên một cánh đồng. Chúng tôi và địch cách nhau một khe suối. Địch xem chừng khẩn trương lắm. Chúng đã đưa quân tăng cường đến bằng xe tải. Chúng đổ quân ngay trước mặt chúng tôi kìa. Chúng chạy qua cánh đồng, gào hét, như thể chúng đang tranh nhau chạy ra biển tắm vậy. Đâu đâu cũng thấy cái màu xám xanh của những bộ quân phục nhàu nhĩ. Chúng tôi rúc trong những hố bom, hai hoặc ba người một hố; vài cái hố đã bị ngập nước đến lưng chừng. Chúng tôi được lệnh phải bám trụ ở đây cho tới khi quân dự bị tới. Chúng tôi không được phép rút lui. Có đúng là quân Đức đã tràn qua một một số điểm chốt của chúng tôi và giờ đang ở phía sau các đường hỏa tiễn? Phải còn một chặng đường dài chúng mới vượt qua được chúng tôi. Chúng tôi đang bị kẹt ở tiền tuyến vì đạn pháo trong khi quân Đức mở những cuộc tấn công thọc sườn. Quân Đức chắc hẳn đã thâm nhập được vào các tuyến phòng ngự chính của chúng tôi rồi. Chỉ riêng ở đây chúng tôi đã nhìn thấy mười bốn chiếc xe tăng địch đi qua, trong đó có vài chiếc xe tăng Hổ. Nếu quân Đức tiến được vào rừng Padiglione, chúng tôi sẽ không bao giờ có thể đánh bật chúng ra khỏi đó được. Phía sau chúng tôi có những cuộc giao tranh lẻ tẻ. Tiếng súng lục của quân Đức không lẫn vào đâu được. Chúng tôi không thể ở lại đây - quá lộ. Một khi địch phát hiện ra chúng tôi ở đây chúng sẽ nghiền nát chúng tôi ngay. Vừa mới đây thôi chúng tôi được lệnh phải trụ lại bằng mọi giá, giờ chúng tôi lại được lệnh rút. Lại một lần nữa, rút lui là mệnh lệnh.

Nhưng rút đi đâu? Nếu chúng tôi chạy qua cánh đồng, chúng tôi sẽ bị hạ như trong trò chơi ky chín con. Chạy lên đường ư? Đường đầy xe và xác chết. Chỉ có mỗi một nơi để đi, ga xe lửa Carroceto. Chúng tôi đi dọc bờ mương, cúi gập người mà đi, kéo lê những thùng đạn theo. Nhiều khói quá. Cầu mong sao đừng đụng phải quân Đức. Như thế thì thật ngớ ngẩn. Đường đang bị bắn phá ác liệt nhưng chúng tôi vẫn phải chạy qua. Chớ có đứng lại trên đó. Hãy chạy như thể sự sống của bạn phụ thuộc vào việc ấy; đúng thế còn gì. Quân Đức đã chiếm được điểm then chốt trong nhà ga hay chưa? Phía bên kia nhà ga cũng đang bị bắn phá kìa. Vào đi, cẩn thận đấy. Không, ổn cả, trong này là quân ta.

Hỡi Cha nhân từ, xin hãy nghe tiếng bom nổ. Chưa bao giờ chúng tôi thấy nhiều máy bay Đức bay trên đầu chúng tôi như thế. Ôi, ít ra thì cũng có máy bay RAF và máy bay Mỹ ở trên kia chống chọi với chúng. Nhưng những trái bom rơi quá gần, làm sao mà không lo ngại cơ chứ. Một chiếc xe tăng Anh đang tiến đến trên con đường đắp đất cao kia. Nó sẽ dẹp bọn Đức. Ồ, anh bạn to lớn. Nhưng anh bạn ấy cũng có những khó khăn của riêng mình. Xe tăng không ưa súng đâu. Với họng súng khạc ra lửa và khói, chiếc xe tăng đang cố đi vòng qua một đống cỏ khô lớn. Nhưng nó trượt xuống, trượt xuống bùn. Ầm! quân Đức vãi đạn. Ầm! Quá xa. Ầm! Một điểm đen để nhằm bắn. Những anh chàng tội nghiệp. Chiếc xe tăng và đống cỏ khô cùng bốc cháy. Nếu chiếc xe tăng đó mà ở trong sân ga này thì chúng tôi lãnh đủ.

Này, anh bạn! Đừng có nghĩ đến bản thân mình nữa. Hãy làm theo lệnh và đi giúp đưa những người bị thương vào và hãy chuyển bất cứ hòm đạn nào anh có thể chạm tay tới. Dĩ nhiên, toàn bộ chỗ này chìm trong khói và đất cát rơi cùng những mảnh đạn pháo. Anh chờ cái gì chứ? Nhanh chân lên, quân Đức nhan nhản ra kia kìa.

Trời ơi, những gã đang chạy dọc con mương trong làn khói kia không phải là quân ta, là địch. Chúng vừa gào hét vừa bắn. Chúng tôi bỏ người bị thương xuống chạy tháo thân. Đành vậy chứ biết làm sao. Xin lỗi các anh em. Cầu cho các anh gặp may mắn. Chúng tôi chạy xuyên qua màn khói, chạy qua lửa đạn, chạy vào sân ga. Giờ đừng có mà đứng đó nói với chúng tôi anh dễ bị giết đến mức nào. Đào đất thật nhanh, đào nhanh hết mức vào. Đào nhanh hơn cả khả năng anh có thể đào. Đây là lần đầu tiên anh đào một công sự quay mặt ra biển. Thế có nghĩa là chúng ta đang bị bao vây. Cho dù có muốn chúng ta cũng không thể chạy xa được. Tin mới nhất từ Lữ đoàn cho biết một đợt phản công mạnh đang diễn ra. Họ sẽ vượt qua được. Ở đây chúng tôi có sáu mươi người và mười người bị thương. Một con số không nhỏ, và chúng tôi kiểm soát cả một ga xe lửa, trong đó có một đầu tàu lớn. Đầu máy xe lửa đó đứng ngay trước quầy vé (có hai chữ Quầy vé bằng tiếng Ý) với một phần mái nhà ga đè lên đầu nó. Trông đáng ngại thật. Không biết người lái tàu với bộ quần áo như rẻ rách đầy dầu mỡ biến đâu rồi nhỉ? Người Ý biết rõ mình đang làm gì khi cho xây dựng cái nhà ga này. Nó là một chỗ rất khá và quả thực nó đã bị nện ra trò nhưng nó vẫn là một trong những điểm vững nhất trên bình nguyên này. Nào, hãy tống đất cát vào đầy những bao tải này. Hãy đào đất đi. Giờ chỉ có hai việc các anh có thể làm: đánh nhau hoặc là đầu hàng. Đầu hàng thì đừng có bàn đến. Thế nên, các anh việc gì phải băn khoăn nào? Lúc này quân Đức không quấy rầy chúng tôi. Đội ở tuyến đường ray dưới kia đã ngừng giao chiến. Chúng tôi phải đưa những người bị thương vào trong lô cốt. Chúng tôi có thừa vũ khí còn nhà ga thì ngập nước. Lụt và đạn dược cùng góp phần. Chúng tôi có thể bám trụ ở đây một tháng. Đặc biệt là với hai khẩu súng chống tăng chúng tôi có. Trung úy của chúng tôi không cần phải nói với chúng tôi đây là một trận đấu cam go. Chỉ cần nghe là biết. Cứ y hệt như những con sóng lớn đang điên cuồng dâng lên dọc mặt trận. Và nhìn khói kìa.

Đã là giữa buổi sáng. Giao tranh giờ đã vượt khỏi chỗ chúng tôi và giờ chúng tôi bị kẹt lại ở đây một mình. Chúng tôi không có bất cứ liên lạc nào với các bộ phận khác của sư đoàn ngoài một đường radio sóng yếu. Trung úy của chúng tôi biết mình phải làm gì. Anh vẫn giữ được bình tĩnh. Không có anh có lẽ nỗi sợ bị đánh bại, bị tiêu diệt lúc ban đầu sẽ chi phối chúng tôi. Anh phân công nhiệm vụ cho chúng tôi. Chúng tôi đang bị chôn giữa một đống gạch vụn đã từng là nhà vệ sinh của nhà ga. Chỗ chúng tôi nhìn ra góc rẽ của đường ray. Chúng tôi vừa mới bắn gục tên lính Đức đầu tiên xuất hiện tại cái góc rẽ đó. Chúng tôi bấm một cái nút và thế là tên đó rơi đánh tõm, ngay tại chỗ. Cứ như thể hắn đang trong mơ vậy. Nếu khấu súng trường của hắn là một cái cần câu thì bạn có thể nói gã đó đang trốn học đi câu cá. Đồng đội của hắn ở phía sau ranh ma hơn. Chúng cố bắn tỉa chúng tôi vì vậy chúng tôi bắn mấy quả đạn súng cối ra và thế là chẳng bao giờ chúng tôi còn thấy chúng nữa. Gã đi câu cá kia nằm trên đường, nằm một mình, nằm chổng vó.

Giờ quân Đức trở nên xấc láo. Đã là giữa buổi chiều rồi và bọn chúng rõ ràng đã xác định sẽ đánh bật chúng tôi khỏi nhà ga trước khi trời tối. Từ phía bắc chúng rót đạn súng cối tới trong khi từ phía nam chúng thực hiện một đợt tấn công mạnh kèm theo. Phần còn lại của mái nhà ga đổ sụp, trong đó có cả một vị trí quan sát có người của chúng tôi. Những đồng đội của chúng tôi ở mé bên kia của nhà ga đang bị tấn công nói rằng quân Đức quá tự tin. Quá tự tin trong cái cách chúng muốn xơi chúng tôi giữa ban ngày. Người pháo thủ nói cậu ấy không muốn giết bọn chúng như thế đâu. Tất nhiên, bọn chúng đã bị đẩy lùi. Chúng tôi bị mất mất mười người và thêm hai người nữa bị thương. Xác lính Đức nằm ngổn ngang trên đường tàu. Cả một đống xác lính Đức nằm dưới chân cây cầu nhỏ bắc ngang tuyến đường ray.

Trời đã tối. Trung úy của chúng tôi đã thu quân về quanh công sự. Ngay khi mặt trời lặn quân Đức đưa một khẩu pháo tự hành xuống đường tàu và cái khẩu pháo chết tiệt đó xối đạn vào đống gạch vỡ. Giờ chúng tôi đã lùi lại cố thủ ở một điểm xa hơn chỗ đó. Ngoài cái công sự mọi bức tường đều đã sụp đổ. Từ cuối chiều súng cối địch đã vãi đạn về phía chúng tôi. Thậm chí trước khi trời tối người chúng tôi bị đất cát phủ khắp đến nỗi chúng tôi không thể nhận ra nhau nữa. Bạn chỉ có thể nhìn thấy lửa cháy ở các điểm khác nhau trong nhà ga qua một màn bụi đất. Khẩu pháo tự hành đó tạo ra ở đây một đống đổ nát bừa bộn đến khiếp. Những thanh xà gỗ to bị gãy vỡ thành muôn mảnh bắn ra xung quanh. Tình hình sẽ còn nguy hiểm cho tới khi chúng tôi tìm được cách khóa mõm khẩu pháo đó lại. Lần đầu tiên trong bốn năm, chúng tôi bị bắn bởi một khẩu pháo hạng nặng ở trong tầm bắn thẳng như thế. Thật đáng sợ. Đạn pháo bắn ra từ đó có tốc độ kinh khủng đến nỗi bạn nghĩ nó sẽ xẻ thế giới ra làm đôi. Chúng tôi không biết mình có diệt được khẩu pháo tự hành ấy hay không. Tối rồi, ơn Trời. Nhưng ít ra thì khẩu pháo kia không tóe lửa nữa. Bọn Đức đang sử dụng vài quả đạn pháo có ngòi nổ chậm, những quả đạn biến cả cái nhà ga thành đáy địa ngục. Bạn không thể biết được tiếp theo góc nào của nhà ga sẽ bị nổ tung. Chúng tôi gặp khó khăn trong việc tìm chỗ cho những người bị thương. Không thể đưa tất cả họ vào công sự được. Công sự là nơi để chiến đấu chứ không phải nơi để chết. Vài người nói quân Đức đã đẩy lùi quân của chúng tôi. Nhưng lữ đoàn lệnh cho chúng tôi phải bám trụ ở đây. Quân tiếp viện đang trên đường tới. Lực lượng không quân đã ra tay và đã oanh tạc quân Đức cả ngày nay. Lực lượng hải quân đã bắn những quả đạn pháo to nhất họ có. Những quả pháo đó chắc hẳn phải phá hủy cả một diện tích cỡ bằng một sân bóng đá. Sẽ thật đáng tiếc nếu chính các đồng đội của chúng tôi lại giết chết chúng tôi, nhưng xem chừng khả năng đó có thể xảy ra lắm chứ. Không thể trách họ được nếu họ bắn tan xác chúng tôi cùng tất cả những thứ khác trong đó có kẻ thù. Chỗ chúng tôi chỉ nhỏ như cái đinh gim trên bản đồ thôi. Giờ đang có một trận chiến ra trò đấy. Tiếng xe tăng di chuyển kêu lanh canh trong đêm nghe thật kì quái và chỉ trời mới biết những chiếc xe tăng ấy có rẽ vào nhà ga này và kết liễu bạn hay không. Chúng tôi có thể bị tấn công từ ba mặt. Cho tới giờ chúng tôi vẫn giữ quyền kiểm soát cây cầu nhỏ phía trên đường ray nhưng chúng tôi không thể giữ nó lâu hơn được nữa. Trung úy của chúng tôi không cho sử dụng đạn tùy tiện. Lệnh của anh ấy là bắn trả khi bạn bị bắn; chúng tôi phải giữ gìn những hòm đạn. Anh ấy nói chúng tôi sẽ có một đêm tồi tệ. Ai đó cố pha một ít trà đặc nóng và trà mang lại cho chúng tôi chút sinh khí mới. Trời rét căm căm. Thêm vào đó, trời lại đang lất phất mưa.

Trung úy của chúng tôi nói đúng. Giờ là nửa đêm. Giao tranh xảy ra phía nam nhà ga. Thay vì được quân tiếp viện đến giúp chúng tôi lại phải đi cứu họ. Chúng tôi không thể đứng yên mà nghe đồng đội mình bị giết được. Chúng tôi cố gắng đưa được đa số họ vào phía trong nhà ga. Quân Đức cố làm chúng tôi mất thăng bằng trong khi chúng tôi làm việc đó. Thứ làm chúng tôi sợ là súng phun lửa. Nghĩ đến cái đó chúng tôi chẳng còn bụng dạ nào mà chiến đấu nữa. Bom đạn đã đủ tệ lắm rồi, lửa còn tệ hơn. Chỉ ngửi mùi lửa thôi cũng đủ thấy tệ rồi. Lửa đang cháy trong nhà ga. Quân Đức muốn đánh bật chúng tôi khỏi nhà ga với sức mạnh gấp đôi. Giờ chúng tôi có ba mươi người, bao gồm cả những người vừa đến tăng viện. Để người bị thương ở đâu quả là một vấn đề hóc búa.

Chẳng bao lâu nữa sẽ đến bình minh. Suốt đêm, hi vọng của chúng tôi cứ nhen lên rồi lại xẹp đi, lóe sáng rồi lại tắt lụi. Quân Đức không lúc nào để chúng tôi yên. Nhưng hai bên còn phải chiến đấu dai dẳng đấy. Chúng tôi đã sử dụng một trong những khẩu súng chống tăng để quét quân Đức ra khỏi cuối nhà ga, nhưng dường như với đống gạch vỡ lù lù ở đó, nỗ lực của chúng tôi chẳng mang lại kết quả gì. Ngay khi khẩu pháo của chúng tôi ngừng nhả đạn, súng máy của quân Đức bắt đầu lạch cạch lên tiếng. Bạn không thể nhúc nhích được. Vậy nên trung sĩ của chúng tôi với khẩu súng tự động trên tay xông ra. Anh ấy không đòi hỏi ai xung phong hết. Nếu anh ấy có yêu cầu đi nữa anh ấy cũng chẳng có nổi một ai xông ra. Không ai muốn theo anh ấy ra ngoài đó. Thế nhưng chúng tôi cũng không thể để anh ấy một mình lao vào cuộc tìm kiếm vô vọng như thế. Trung sĩ của chúng tôi đâu phải là một anh chàng không ra gì. Chúng tôi dùng báng súng và lưỡi lê dọn dẹp cái nhà ga đó đi. Bằng cách nào đó trung sĩ của chúng tôi thoát chết nhưng vài người khác thì không. Chúng tôi không muốn có tù binh. Nhưng dù muốn hay không chúng tôi vẫn có hai tên. Làm sao bạn có thể giết một con người khi người đó cứ bám lấy giầy của bạn van xin bạn đừng giết hắn? Chúng tôi cho hai tên tù binh ở cùng với những người bị thương trong lô cốt.

Đường liên lạc bằng radio của chúng tôi ngừng hoạt động. Trước khi trời sáng, quân Đức đưa ra một thứ gì đó to cỡ bằng bộ trường kỷ trông giống như xe tăng khiến chúng tôi rùng mình. Thoạt đầu chúng tôi không biết cái quái gì đang tiến đến. Nó làm chúng tôi sởn gai ốc. Chúng tôi dùng súng máy bắn về phía phát ra tiếng động, nhưng dù nó là vật gì đi nữa, nó vẫn mặc nhiên di chuyển, di chuyển một cách từ từ. Nó là cái quái gì nhỉ? Không thể là một chiếc xe tăng. Nó không đủ nặng. Không có tiếng kêu của kim loại. Nhưng chúng tôi không thể nhìn rõ. Vậy nên chúng tôi đặt khẩu súng chống tăng vào vị trí và bắn ra một quả đạn. Cái vật chuyển động kia vẫn đang tiến về phía chúng tôi mặc cho đạn của chúng tôi rót xuống đường ray. Khẩu súng chống tăng bắn trúng vật đó. Một tia sáng lóe lên. Nếu có người nào bên trong cái vật đó, thì phát nổ đó chắc hẳn đã khiến người ấy bốc hơi. Tất cả chúng tôi cùng reo mừng. Nhưng chúng tôi vừa mới reo lên, thì tia sáng thứ hai lóe lên và khẩu súng chống tăng của chúng tôi và những thứ xung quanh nó bị bắn nổ tung thành muôn mảnh.

Chúng tôi đẩy lùi được đợt tấn công tiếp theo. Một trong hai chiếc xe tăng tiến vào sân ga đang bốc khói, coi như tiêu đời. Chiếc còn lại ban nãy bị sa xuống hố nhưng giờ đang cố bò lên, cố lê lết qua một đám gạch vỡ hệt như một con cua bằng kim loại trong khi một đồng đội của chúng tôi đang bám theo nó cố gài một quả lựu đạn vào tháp pháo của nó. Nhưng giờ chúng tôi đã mất cả hai khẩu súng chống tăng rồi và chúng tôi chỉ còn lại hai mươi người. Nếu quân cứu viện không tới thì chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ bị diệt hết. Chỉ cần một chiếc xe tăng quả quyết hay một khẩu pháo tự hành là đủ để xóa sổ bọn tôi. Thời điểm duy nhất tinh thần của chúng tôi phấn chấn lên là khi chúng tôi nhìn thấy các tác xạ viên trên chiếc máy bay trên bầu trời đầy mây u ám.

Hai tên tù binh Đức tỏ vẻ biết ơn khi chúng tôi cho chúng cơ hội chăm sóc những người bị thương. Vài người trong số chúng tôi thậm chí còn thấy có thiện cảm đối với hai tên lính Đức. Giờ người Đức và người Anh ở cùng một chỗ. Vài người bị thương nặng chắc chắn sẽ chết nếu không nhanh chóng được đưa đi khỏi đây. Hai tên tù binh Đức nói một đợt tấn công mạnh nhằm đẩy quân chúng tôi ra biển đã bắt đầu. Chúng tôi quá mệt và tuyệt vọng nên chẳng thiết bàn cãi về chuyện đó. Không một người nào ở đây không mang khuôn mặt trống hệt như ma và không một ai không có đôi tay run rẩy. Trong tình trạng đó bạn còn mong chúng tôi tranh cãi ai sẽ thắng trong cuộc chiến này ư? Một trong hai tên tù binh người nhuốm máu từ đầu đến chân. Chúng tôi chẳng lạ gì máu, nhưng chúng tôi chưa bao giờ nhìn thấy một người nào toàn thân bị nhuộm bằng máu cả. Thậm chí cả chiếc thắt lưng có cái khóa khắc mấy chữ GOTT MIT UNS cũng bị nhuộm bằng máu. Máu đã nhợt màu, nhưng vẫn là máu. Hắn kể với chúng tôi rằng, hắn và đồng đội đang ẩn dưới gầm cầu thì một quả đạn pháo lớn rơi xuống và người đồng đội đứng cạnh hắn đơn giản nổ tung và cả người hắn bị nhuộm bằng máu của người ấy. Hắn kể rằng, vừa mới phút trước hắn còn đang nói chuyện với người đồng đội ấy. Phút sau hắn đã phải gỡ những mảng thịt của người ấy khỏi quần áo hắn.

Một buổi sáng u ám nữa. Mặt trận chìm trong khói lửa và những khẩu súng máy của quân Đức phát ra những tiếng lách tách rất gần chỗ chúng tôi. Trọng pháo địch khiến tất cả chúng tôi phải rút vào lô cốt. Hầu hết đồng đội của chúng tôi giờ đang nằm ngoài kia, phơi thây giữa đống đổ nát. Vài người trong số họ nằm đó với khuôn mặt không còn sự sống hướng lên trời; một số người chẳng còn mặt. Dù còn mặt hay không, họ cũng chẳng thể trở về được nữa. Họ chết rồi. Chúng tôi kéo một người bị thương vào công sự trong ánh đèn le lói ma quái. Quá muộn. Chúng tôi lại phải đưa vội anh ta ra. Anh chàng tội nghiệp. Anh ta không còn phải chịu đựng chiến tranh nữa. Anh ta là một gã chuyên đào trộm xác chết. Luôn luôn có một người như thế. Túi áo anh ta đầy những thứ lặt vặt anh ta lấy được từ những xác chết. Đầy. Chắc hẳn nguy hiểm đã kề cổ anh ta cả chục lần rồi. Vài năm trước cũng đã có một gã giống như thế làm bạn ghê tởm, làm bạn sởn gai ốc. Giờ chúng tôi không cảm thấy như thế nữa. Anh ta chỉ là một kẻ tò mò. Chúng tôi không tức anh ta. Anh ta chết rồi, đúng thế còn gì? Anh ta không tạo ra tất cả những xác chết kia. Chính chúng tôi đã làm điều đó. Tại sao luôn có những gã đào mả lấy trộm xác chết nhỉ?

Vài người trong chúng tôi thích ở ngoài kia hơn ở trong này. Tiếng gầm của những khẩu súng máy đang rót đạn qua các vật chắn, tới những cửa sổ được chèn bằng những bao cát nghe inh tai nhức óc. Tiếng kêu gào của những người bị thương bị nén, bị giam hãm trong một không gian chật hẹp quả là khó mà chịu nổi. Nếu chúng tôi biết phải đầu hàng như thế nào thì chắc hẳn vì những người bị thương đang vật vã này vài người chúng tôi sẽ đầu hàng. Nơi này sặc mùi thuốc sát trùng và mùi côđít cùng mùi cơ thể. May cho chúng tôi, màn bụi đất và màn khói xanh vàng giúp chúng tôi khỏi phải nhìn thấy những đôi mắt đỏ sọng, thiêu đốt, dò hỏi của những người bị thương. Tất cả những gì chúng tôi có thể làm là cắm điếu thuốc vào miệng họ và châm lửa, và, khi chúng tôi có thời gian, chúng tôi cầm tay họ, hoặc đặt tay lên trán họ. Vài người bị thương cố nói với chúng tôi thật nhiều. Nhưng nói gì chứ? Lời lẽ giờ có ích gì chứ? Chúng tôi tìm mọi cách làm họ bình tĩnh. Nhưng họ cứ túm lấy quần áo chúng tôi, cứ bám lấy chúng tôi và kéo tai chúng tôi lại gần miệng họ. Những người khác, bị thương nặng hơn, hoặc nằm im lìm, cam chịu, cuộn người trong những chiếc áo khoác nhuốm máu, thanh thản, hoặc thở sâu, nặng nề - không biết gì đến xung quanh. Nhiều người trong số họ đã rời bỏ chúng tôi.

Chúng tôi sẽ bám trụ nơi đây cho đến hơi thở cuối cùng. Kẻ thù muốn chiếm nơi này sẽ phải trả giá đắt. Tuy nhiên, chúng tôi sợ một khẩu súng, chúng tôi sợ một khẩu súng phun lửa; có lẽ chúng tôi sợ chết. Dù gì thì chúng tôi cũng đã chịu đựng hết mức rồi. Chúng tôi chẳng thể sống được lâu. Bao lâu nữa chiến tranh mới kết thúc? Chí ít chúng tôi đã được thấy thêm một buổi bình minh nữa. Chúng tôi chỉ cần được thấy một đêm nữa thôi. Đòi hỏi thế đâu phải là quá đáng, đúng không? Mấy người đồng chí thân thiết của chúng tôi đã gửi lại những lời trăng trối: “… nếu cậu sống sót trở về.” Ấy là những lúc những người có con cái dường như có sức mạnh đặc biệt. Họ sẽ còn tiếp tục tồn tại, họ nói thế. Phần nào đó của họ sẽ không chết. Nhưng hầu hết bọn tôi ở trong cái công sự này đâu đã kịp có con. Khi chúng tôi chết, tất cả những gì là chúng tôi đều chết. Chúng tôi tuyệt giống.

Im ắng. Quân Đức thôi không bắn chúng tôi nữa. Bọn chúng đang bận bắn một nơi khác. Trung úy của chúng tôi đang quan sát tình hình bên ngoài. Anh ấy có vẻ phấn khởi. Gì thế này? Ơn Trời, không thể! Đúng rồi. Ở rìa phía nam của nhà ga đang có bắn nhau. Các cậu có nhìn thấy những chiếc xe tăng kia không? Xe của quân Anh đấy. Những người lính bộ binh kia là lính Anh. Trong số họ có cả những anh chàng “Mick” kìa. Chẳng phải hồi đêm chúng ta đã trêu nhau và gọi ầm lên “Hãy gửi những chàng Mick đến đây,” gửi những gã người Ai Len biết đánh nhau đến đây đó sao! Ôi, những gì còn lại của họ là đây. Không dễ gì đẩy lùi được những anh chàng này đâu nhé. Họ thích đánh nhau. Họ đang đến giúp chúng tôi. Ồ không, chúng tôi sẽ thức dậy và nhận ra mình vẫn bị kẹt trong cái lồng này đợi cái chết hoặc đợi bị bắt làm tù binh. Nhưng không phải vậy đâu chứ. Họ là lính Anh thật mà, họ ở ngoài kia kìa, đông lắm. Ai trong chúng tôi còn có thể chiến đấu đều đã chạy ra nhập bọn với họ rồi. Họ mở một hành lang dẫn ra mặt trận chính. Chúng tôi thoát rồi. Đâu phải chúng tôi thất bại hoàn toàn.

Bọn Đức nghĩ chúng đang làm gì chứ, nói về việc đẩy chúng ra biển ư? Chúng tôi sẽ đẩy bọn chúng ra thì có. Chúng tôi sẽ làm thế đấy. Ơn Chúa đã cho chúng tôi thêm một cơ hội nữa, hay như Cha tuyên úy sau những sự kiện như thế này vẫn thường nói: “Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa.”

* * *

Tại lâu đài Casetta, một sĩ quan tham mưu đang nghiên cứu một tấm bản đồ treo tường lớn mô tả tình hình chiến sự ở Anzio. Ông ấy khuấy ly trà một cách chậm rãi trong khi vẫn đang chăm chú nhìn lên tấm bản đồ.

“Các anh tính sai cả. May mà các anh không bị chộp. Chúng ta để mất Carroceto trong đêm. Tôi đã thức gần như cả đêm theo dõi tình hình.”

Một bàn tay đưa ra, gỡ một lá cờ đánh dấu vị trí của một lữ đoàn bộ binh Anh. Lá cờ được để ra một chỗ. Sau một hồi tranh luận, một lá cờ Đức được đặt nhích lên trước vị trí cũ của nó một chút. Lá cờ bị gỡ xuống tự nhiên rơi vào chỗ trà sánh ra và lát sau bị quẳng đi.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.