Lăng vọng viên giơ tay chỉ về phía trước.
"Phờ-rét-pháp!"
Thuyền trưởng ra lệnh điều chỉnh buồm, vòng qua mũi đất, chạy vào tầm nhìn của hải cảng Khải Hứa. Một thủy thủ cạnh mạn thuyền quay người nói với Bác Thụy Khắc, "Tối nay có chút thú vị đấy, ha, Kẻ Cuồng?"
Bác Thụy Khắc cười khổ. Ở phía sau, thuyền trưởng cất giọng lệnh, "Lên cột buồm, chuẩn bị thu buồm!" Các thủy thủ vui vẻ tuân lệnh. "Bánh lái trái hai." Thuyền trưởng hạ lệnh, Bác Thụy Khắc xoay vô lăng của thuyền buồm, đưa con thuyền hướng theo phương hướng được chỉ định. Kể từ khi họ gia nhập đoàn tàu của chiếc Hảo Hạnh, anh đã giành được sự tôn trọng dè sẻn từ các thủy thủ và thuyền trưởng. Một số công việc anh làm rất tốt, nhưng đồng thời những việc khác anh lại hoàn toàn mù tịt, dù cho anh học rất nhanh. Kiến thức thông thường về tàu thuyền, khả năng dự đoán hướng gió và thời tiết cùng kinh nghiệm chèo thuyền từ nhỏ đã giúp anh giành được vị trí người giữ bánh lái, vị trí mà trên con thuyền này thuyền trưởng chỉ cho phép ba người đứng.
Bác Thụy Khắc ngước nhìn lên, Tô Lực đang chạy nhảy trên một cột buồm, vượt qua những cánh buồm và dây cáp như một con khỉ. Cứ như thể sinh ra để dành cho nơi này, Tô Lực đã thích nghi với cuộc sống trên biển. Một tháng lênh đênh trên biển, sự rèn luyện không ngừng và những bữa ăn đạm bạc nhưng đầy đủ đã khiến cậu cao lớn và vức vả hơn, báo hiệu rằng có một ngày cậu sẽ trở thành một trang nam nhi.
Dù không gặp bất kỳ vấn đề gì, Bác Thụy Khắc vẫn che giấu thân phận của mình. Sau bài diễn văn lên tàu với thần kinh không bình thường của anh, anh bị các thủy thủ và thuyền trưởng gọi là "Kẻ Cuồng". Nếu anh tuyên bố mình là vương tử của vương quốc Ngải, anh chắc chắn sẽ chẳng có ai tin. Tô Lực thì chỉ được họ gọi là "cậu nhóc". Không ai ép họ phải khai ra lý do tại sao lại xuất hiện trên một chiếc thuyền nhỏ sắp chìm, tựa như họ đã ngầm biết việc đó sẽ mang lại rắc rối vậy.
Phía sau, thuyền trưởng lên tiếng, "Hoa tiêu của Phờ-rét-pháp sẽ đưa chúng ta vào bến cảng. Tên đáng ghét chết tiệt đó, nhưng tổng đốc hải cảng lại thích thế, nên chúng ta đành phải dừng tàu chờ đợi." Thuyền trưởng ra lệnh hạ buồm chuẩn bị thả neo. Một cặp cờ tam giác dài màu trắng và xanh lá cây được kéo lên, họ đang xin ý kiến hoa tiêu. "Đến lúc cậu phải rời khỏi chúng ta rồi, hoa tiêu sẽ đến đây sau một tiếng nữa, chúng ta sẽ tìm cách câu giờ, các cậu sẽ có cơ hội chèo thuyền ra bãi biển ven thành phố."
Bác Thụy Khắc trầm mặc không nói. Thuyền trưởng vừa đánh giá sắc mặt Bác Thụy Khắc vừa nói, "Cậu là một anh chàng tốt, nhưng khi mới lên tàu, cậu không thực sự là một thủy thủ." Ông nheo mắt lại, "Cậu nhìn nhận về tàu thuyền giống như một đại sư hàng hải, chứ không phải một thủy thủ; đến nhiệm vụ thủy thủ cơ bản nhất cậu cũng không biết làm." Vừa nói ông vừa quan sát xung quanh, xác định mọi người đều đang ở vị trí của mình. "Cứ như thể cậu dành toàn bộ thời gian ở boong sau, mà chưa từng bước vào khoang tàu hay leo lên cột buồm, vị thuyền trưởng thiếu niên của tôi." Sau đó ông hạ thấp giọng, "Hoặc là con trai của một kẻ có tiền đủ sức mua một con thuyền lớn." Bác Thụy Khắc khẽ xoay bánh lái để giảm tốc độ tàu, thuyền trưởng nói tiếp, "Trên tay cậu có vết chai, nhưng đó là vết chai của người cưỡi ngựa và chiến binh, chứ không phải của thủy thủ." Ông lại liếc nhìn xem có ai đang lười biếng hay không, "Ta không hỏi câu chuyện của cậu, Kẻ Cuồng. Nhưng ta biết con thuyền của cậu xuất phát từ Đức Bản. Các cậu không phải là đôi đầu tiên vội vã rời khỏi Đức Bản. Ta càng ngẫm nghĩ thì lại càng không muốn biết nguyên nhân. Ta không thể nói cậu đã trở thành một thủy thủ giỏi, Kẻ Cuồng, nhưng cậu đã cố gắng hết sức và làm việc chăm chỉ không một lời phàn nàn, không ai có thể đòi hỏi gì hơn nữa." Ông liếc nhìn cột buồm, thấy tất cả các cánh buồm đã được hạ xuống, liền ra lệnh thả neo. Vỗ mạnh một cái lên bánh lái mà Bác Thụy Khắc đang cầm, thuyền trưởng nói tiếp, "Thông thường, ta sẽ bắt cậu cùng những người khác khiêng hàng đến tận hoàng hôn, kiếm đủ tiền cước tàu của cậu, nhưng cậu khiến ta cảm thấy rắc rối đang bám theo sau lưng. Cho nên ta sẽ để cậu rời tàu mà không gây chú ý." Ông nhìn ngắm Bác Thụy Khắc từ trên xuống dưới, "Được rồi, xuống khoang tàu lấy đồ đạc của cậu đi. Ta biết cậu đã dùng bài bạc bịp để gom tiền của thủ hạ ta. May là ta chưa phát lương cho bọn chúng, cậu đã lấy được khuyên tai của chúng rồi, thì dừng tay ở đó đi."
Bác Thụy Khắc hành lễ nói, "Cảm ơn ngài, thuyền trưởng."
Anh quay người bước đến chỗ cầu thang, đi xuống boong chính, ngẩng đầu gọi Tô Lực đang ở trên cao, "Xuống lấy đồ của em đi!"
Cậu bé ăn mày nhỏ của Đức Bản trèo xuống thang thừng, hội ngộ với Bác Thụy Khắc ở cửa khoang tàu trên boong trước. Họ bước vào khoang thu dọn đồ đạc thuộc về mình. Ngoại trừ con dao cùn và thắt lưng, Bác Thụy Khắc còn thắng được một ít tiền nhỏ, hai bộ đồ thủy thủ, một chiếc quần và một bộ áo vừa vặn cho Tô Lực.
Khi họ quay lại boong tàu, các thủy thủ đang lười biếng đứng xung quanh, chờ đợi hoa tiêu của Phờ-rét-pháp. Khi họ tiến về phía thang thừng bên mạn tàu, rất nhiều người đã nói lời tạm biệt. Ở phía dưới, một chiếc xuồng nhỏ của thuyền trưởng đang đợi họ, hai thủy thủ sẽ đưa họ lên bờ.
"Kẻ Cuồng. Nhóc con!" Thuyền trưởng gọi với theo từ phía sau khi họ bắt đầu leo thang thừng. Cả hai dừng lại. Trên tay thuyền trưởng là một túi tiền nhỏ. "Đây là phí lộ trình. Ta không để ai tay trắng đến một thành phố Khải Hứa rồi phơi thây đầu đường xó chợ cả. Việc đó chẳng khác nào đẩy các cậu đi chết đuối cả."
Tô Lực nhận lấy túi tiền, "Thuyền trưởng thật là nhân hậu và hào phóng."
Chiếc xuồng nhỏ chèo về phía bờ biển, Bác Thụy Khắc nhận lấy túi tiền, ước lượng trọng lượng của nó. Đút nó vào trong áo khoác, đặt cùng với túi tiền lấy từ chỗ Tát Lạp Á. Thở sâu một hơi, anh tính toán bước đi tiếp theo. Đến thành phố của Khải Hứa, đương nhiên rồi, nhưng đi bằng cách nào, đó mới là vấn đề. Quyết định không chìm đắm trong vấn đề vướng víu này trước khi cập bờ, anh nói với Tô Lực, "Thuyền trưởng vừa nói không để một kẻ tay trắng đến thành phố Khải Hứa phơi thây đầu đường xó chợ là có ý gì?"
Trước khi cậu bé kịp mở miệng, một thủy thủ đã trả lời anh. "Tay trắng ở Khải Hứa chính là đi chịu chết, hỡi Kẻ Cuồng." Anh ta lắc đầu trước vẻ không hề để tâm của Bác Thụy Khắc. "Mạng sống ở Khải Hứa chẳng có giá trị gì. Dù cậu có là hoàng thân quốc thích của Khuê Cách, mà trong người không có nổi một đồng xu, họ cũng sẽ mặc kệ cậu chết ngoài đường, rồi bước qua người cậu để lo việc của mình, tiện thể còn nguyền rủa linh hồn cậu rơi xuống tầng địa ngục thứ bảy vì thi thể cậu cản trở đường đi của họ."
Tô Lực nói, "Đó là sự thật. Người Khải Hứa chính là lũ cầm thú."
Bác Thụy Khắc cười, "Chính em cũng là người Khải Hứa mà."
Tô Lực nhổ nước bọt. "Chúng ta người Đức Bản không phải là người Khải Hứa thực thụ, chúng ta chỉ là người sa mạc thôi." Cậu chỉ tay về phía thành phố đằng xa, "Những kẻ sống ở đó mới không phải người Khải Hứa. Chúng ta không được phép quên điều này. Ở trong thành phố đó, cậu mới tìm được những người Khải Hứa thực thụ. Đến lúc đó cậu sẽ thấy."
Kẻ nói nhiều tiếp lời, "Cậu nhóc nói đúng đấy, Kẻ Cuồng, những người Khải Hứa thực thụ là một đám người rất kỳ lạ. Xung quanh Biển Rồng hay bất kỳ nơi nào khác cũng không thể nhìn thấy cảnh tượng giống như ở Ôn Văn Đề Phổ. Cạo trọc đầu, không mặc quần áo, bọn họ cũng chẳng quan tâm nếu cậu xúc phạm phụ nữ của họ. Đó là sự thật!" Một thủy thủ khác lầm bầm vài câu, ra vẻ như anh ta có một câu chuyện đắc ý để chứng minh điều đó. Người lúc trước nói tiếp, "Bọn họ ngồi trên chiến xa của mình, và cho rằng bản thân cao quý hơn chúng ta. Bọn chúng thích tước mạng ai là tước mạng nấy." Khi họ đến gần đường bờ biển, hai thủy thủ bắt đầu chèo mạnh tay hơn, Bác Thụy Khắc cảm nhận được chiếc xuồng được sóng vỗ vào bờ nâng bổng lên. Thủy thủ đầu tiên tiếp tục câu chuyện của mình. "Nếu một kẻ trong bọn chúng giết chết cậu, tại sao thẩm phán lại thả hắn ta đi. Cho dù hắn cũng chỉ là một dân thường giống như cậu. Đó chính là quyền lợi của huyết thống thuần túy."
Đồng bọn của anh ta nói, "Điều này đủ chân thực rồi đấy. Hãy cẩn thận với những kẻ huyết thống thuần túy đó. Suy nghĩ của họ không giống chúng ta đâu. Cảm giác vinh dự cũng khác. Nếu cậu thách đấu ai đó, hắn có thể chấp nhận thách đấu hoặc không, chẳng cần phải cân nhắc việc từ chối sẽ làm tổn hại đến danh dự của mình. Nhưng nếu hắn cho rằng hắn căm hận cậu, hắn sẽ truy cùng diệt tận cậu, giống như một con dã thú thoát khỏi sự săn đuổi của cậu vậy."
Người đầu tiên bồi thêm một câu, "Và hắn sẽ đuổi theo cậu đến chân trời góc bể, đó cũng là sự thật."
Những con sóng lớn chộp lấy chiếc xuồng đẩy thẳng lên bãi cát. Bác Thụy Khắc và Tô Lực nhảy xuống vùng nước nông ngập đến mắt cá chân, giúp hai thủy thủ xoay mũi thuyền, sau đó thủy triều lại cuồn cuộn đổ ra biển lớn, họ đẩy mạnh chiếc xuồng một cái để các thủy thủ có đà vượt qua những con sóng vỗ bờ. Lội nước vào bờ, vị vương tử quay người nói với cậu nhóc, "Ta không ngờ mình lại đến Khải Hứa theo cách này, nhưng ít ra chúng ta vẫn còn sống" - anh lắc lắc túi tiền trong lớp áo khoác - "được ăn no uống say, lại còn trốn thoát được sự truy đuổi." Anh ngoái đầu nhìn lại con tàu lớn đang đậu ngoài khơi chờ hoa tiêu, biết rằng sớm muộn gì cũng có thủy thủ tiết lộ tin tức về việc cứu được một người lớn và một đứa trẻ ngoài khơi Đức Bản cho những kẻ đang dò la tung tích họ. Khi đó cuộc truy lùng sẽ lại tiếp diễn. Hít sâu một hơi, Bác Thụy Khắc nói, "Ít nhất lúc này không có ai truy đuổi chúng ta cả." Đùa cợt đấm nhẹ một cái vào lưng cậu nhóc, anh nói, "Chúng ta đi thôi, để xem trong thành phố Khải Hứa này một bàn ăn nóng hổi thịnh soạn sẽ có những gì."
Đối với ý kiến này, Tô Lực đã đưa ra sự khẳng định vô cùng mạnh mẽ.
Thành phố Đức Bản vốn đông đúc, bẩn thỉu và đổ nát, thì Phờ-rét-pháp lại mang một nét phong tình dị quốc — sự đông đúc, bẩn thỉu và đổ nát. Khi họ bước đi trên con đường dẫn đến trung tâm thành phố, Bác Thụy Khắc hoàn toàn hiểu được ý của thuyền trưởng. Chưa đầy hai mươi bước chân từ cổng thành dẫn ra biển, một tử thi đang phân hủy nằm ngay giữa ban ngày ban mặt. Ruồi nhặng bu kín những phần rách nát của cái xác, có lẽ trước khi trời sáng nó đã bị chó hoang cắn xé một trận. Mọi người vô cảm bước qua đó, phản ứng duy nhất đáng chú ý là họ chuyển hướng tầm nhìn của mình đi chỗ khác.
Bác Thụy Khắc nhìn xung quanh nói, "Cảnh vệ thành phố hoặc những người khác không làm gì sao?"
Tô Lực đảo mắt tìm kiếm khắp các hướng, tập trung xem có cơ hội nào kiếm được một hai đồng xu hay không. Đột ngột, cậu lên tiếng, "Nếu có thương nhân nào cảm thấy mùi hôi thối đó ảnh hưởng đến việc làm ăn của mình, ông ta sẽ trả tiền cho mấy đứa trẻ để chúng ném nó xuống biển. Bằng không nó sẽ cứ nằm đó cho đến khi không còn ở đó nữa." Xem ra Tô Lực cho rằng cuối cùng sẽ có vị quan chức biết phép thuật nào đó đến xử lý cái xác này.
Cách đó vài bước, một kẻ mặc áo choàng đang ngồi xổm phớt lờ những người qua lại. Dưới ánh mắt của Bác Thụy Khắc, hắn đứng dậy, hòa vào dòng người tấp nập, để lại một thứ tươi mới chứng minh rằng hắn vừa làm một hành động nguyên thủy chứ không phải đang thành kính cầu nguyện vị thần nào. "Hỡi các vị thần," Bác Thụy Khắc nói, "Thành phố này không có công trình công cộng nào sao?"
Tô Lực nhìn anh bằng ánh mắt kỳ lạ, "Công cộng? Em chưa từng nghe thấy bao giờ. Ai mà thèm xây dựng, dọn dẹp chúng chứ, và tại sao lại có người đi rước cái phiền toái đó vào người?"
Bác Thụy Khắc nói, "Thôi không nghĩ nữa. Chỉ là có một số chuyện rất khó để quen dần."
Khi họ bước vào dòng người từ bến cảng đổ về thành phố, Bác Thụy Khắc ngạc nhiên khi nhìn thấy đủ mọi dân tộc ở đây, nghe thấy những thứ tiếng tứ phương, nhìn thấy đủ kiểu trang phục thời trang. Nơi này chẳng giống bất cứ thứ gì anh từng thấy hay tưởng tượng trước đây. Những người phụ nữ mặc trang phục sa mạc đi lướt qua, che kín từ đầu đến chân trong những chiếc áo choàng màu xanh hoặc nâu, chỉ để lộ đôi mắt; cách đó vài bước, một nhóm thợ săn đến từ những đồng cỏ xanh tươi đang kiểm tra hàng hóa của họ, cơ thể trần trụi bôi dầu bóng loáng chỉ mặc đơn giản một chiếc quần đùi, nhưng họ lại kiêu hãnh đeo những chiếc vòng tay, vòng cổ bằng đồng cùng hoa tai và những thứ vũ khí tuyển chọn của họ. Dấu ấn kiêng kỵ của dân tộc được vẽ trên mặt, tín ngưỡng của đền miếu được thể hiện qua tà áo choàng đang mặc. Những người phụ nữ có làn da đen như cà phê đi ngang qua, quấn quanh người những bộ trang phục màu sắc rực rỡ từ nách đến đầu gối, đội chiếc mũ hình nón phù hợp với trang phục. Đứa trẻ trên lưng mở to đôi mắt tròn xoe, như thể đang cảnh giác điều gì. Một đám trẻ trên đường phố, đứa nào cũng có những đặc điểm ngoại hình dễ nhận dạng, đang dốc sức đuổi theo một chú chó nhỏ chạy trốn giữa hai chân dòng người. Bác Thụy Khắc cười nói, "Con chó này cứ như đang chạy trốn chết vậy."
Tô Lực nhún vai, "Nó đúng là đang trốn chạy đấy. Trẻ con trên con phố này đứa nào cũng đói."
Bác Thụy Khắc không thể tiếp nhận hết tất cả những điều này. Có quá nhiều thứ mới mẻ ở đây để anh lĩnh hội. Tầm mắt anh đưa tới đâu, hàng trăm người đang di chuyển tới đó, theo đủ mọi hướng, kẻ đi dạo, người cắm cổ chạy, tụ tập thành những đám đông xung quanh họ. Và điều cảm nhận rõ rệt hơn cả sự đông đúc và tiếng nói hỗn tạp chính là mùi vị. Mùi hôi cơ thể lâu ngày không tắm, nước hoa đắt tiền, phân người, mùi thức ăn, mùi gia vị ngoại quốc, mùi hôi của gia súc ngập tràn trong khoang mũi anh. Đường phố chật kín người, mỗi bước đi chỉ dịch chuyển được một chút xíu. Bác Thụy Khắc cảm nhận được sức nặng của hai chiếc túi tiền trong lớp áo khoác, đó là nơi cất giữ túi tiền an toàn nhất của anh. Mọi tên móc túi đều phải hạ thấp tay xuống mới có thể thọc vào trong áo sơ mi của Bác Thụy Khắc, chắc chắn bọn chúng sẽ không thích làm vậy đâu. Bác Thụy Khắc cảm thấy các giác quan của mình đang bị thách thức, anh cần được nghỉ ngơi.
Họ đi đến trước một quán rượu có mặt tiền để mở, vị vương tử gọi cậu nhóc vào trong cùng mình. Bên trong tương đối tối tăm, họ chỉ thấy hai người đang ngồi bên chiếc bàn ở góc tường thì thầm to nhỏ, ngoài ra quán hoàn toàn trống rỗng. Bác Thụy Khắc gọi một cốc bia đắng và gọi cho cậu nhóc một cốc bia nồng độ thấp. Anh trả tiền từ chiếc túi nhẹ hơn do thuyền trưởng đưa, hy vọng chiếc túi tiền khác giấu trong áo sơ mi sẽ không bị ai phát hiện. Hương vị bia ở mức bình thường, nhưng vẫn khiến Bác Thụy Khắc, người đã lâu không được uống rượu, cảm thấy vui vẻ.
"Tránh ra mau!" Một tiếng móng ngựa hỗn loạn kéo theo tiếng thét chói tai của một người phụ nữ, tiếp theo là tiếng roi da quất đét và những tiếng kinh hô khác. Bác Thụy Khắc và Tô Lực quay đầu nhìn xem náo loạn gì đang xảy ra ngoài đại lộ. Trước cửa quán rượu hiện ra một cảnh tượng chưa từng thấy. Hai con tuấn mã hí vang bị người đánh xe trên chiến xa phía sau kéo dừng lại.
Nguyên nhân dừng xe là vì giữa đường phố đang đứng một người đàn ông cao lớn. Hành khách ngồi sau người đánh xe la lên, "Đồ ngốc! Đồ đần! Cút mau!"
Người đàn ông giữa đường bước về phía xe ngựa, túm lấy dây cương của hai con ngựa. Hắn nghiến răng ken két, đẩy lùi hai con tuấn mã trở lại. Người đánh xe dùng roi da quất vào sau tai một con ngựa, lớn tiếng quát tháo. Nhưng hai con ngựa tuân theo mệnh lệnh lại từ chối tiến lên, trái lại còn lùi về phía sau. Chiếc chiến xa lùi lại trong những tiếng nguyền rủa và phản đối của người đánh xe, những hành khách trên xe sợ hãi đến ngây người. Người đánh xe lại vung roi da một lần nữa, lúc bấy giờ người đàn ông trước mặt ngựa mới cất tiếng, "Nếu ngươi dám vung roi thêm lần nữa, ngươi sẽ làm cái điều ngu ngốc cuối cùng trong cuộc đời đấy."
Bác Thụy Khắc đánh giá, "Tuyệt thật, rất muốn biết tại sao người bạn to con của chúng ta lại làm vậy."
"Người bạn to con" này nhìn bề ngoài giống như một tên lính đánh thuê, bên ngoài chiếc áo khoác và quần màu xanh lá khoác một bộ giáp da. Trên đầu đội một chiếc mũ giáp cũ kỹ, trên đó đầy những vết lõm do giao tranh để lại cần được tu sửa và mài giũa, sau lưng đeo một vỏ kiếm bằng da, nhìn kiểu dáng thì giống như một thanh kiếm một tay rưỡi (half-and-half) hoặc một thanh đại đao. Hai bên thắt lưng của hắn treo hai con dao găm dài.
Hành khách trên xe coi hành động của kẻ cản đường là sự sỉ nhục đối với bản thân. Trên người hắn chỉ mặc một chiếc váy ngắn màu trắng và một chiếc đai vũ trang kỳ lạ — hai dải da từ sau vai kéo dài giao nhau trước ngực thành hình chữ X. Một bên chiến xa dựng đứng vài cây lao giống như cột buồm, hắn có thể với tay lấy được bất cứ lúc nào. Ở đó cũng treo một chiếc cung. Hắn đỏ bừng mặt quát lớn, "Cút ngay, đồ đần!"
Tô Lực nhỏ giọng nói với Bác Thụy Khắc, "Người trên xe là một kẻ Khải Hứa huyết thống thuần túy. Hơn nữa còn là một thành viên của đội chiến xa hoàng gia. Cho nên hắn làm việc cho nữ vương. Kẻ chặn xe kia nếu không phải có lá gan vượt người thì chính là một tên ngốc chính hiệu."
Kẻ chặn xe chỉ lắc đầu, nuốt một ngụm nước bọt. Hắn ép những con ngựa tiếp tục lùi lại cho đến khi chiếc chiến xa lệch sang bên phải, đâm sầm vào một cửa hàng nhỏ của người bán đồ gốm sứ. Tên thương nhân la hét tháo chạy, nhưng người đàn ông đó chỉ khiến sinh kế của đối phương chịu thiệt hại một chút xíu. Hắn buông dây cương, cúi người nhặt thứ gì đó dưới đất, rồi bước sang một bên nói, "Ngươi có thể đi rồi."
Người đánh xe xuống xe dắt ngựa chuẩn bị lên đường, tên ngự uyên trên chiến xa giật lấy roi ngựa từ tay hắn. Như thể nhìn thấu ý đồ của đối phương, tên chiến binh xoay người để chiếc roi da quất vào băng bảo vệ tay trái của mình, quấn chặt lấy tay trái hắn. Hắn tung sức túm chặt lấy roi da, hét lớn một tiếng kéo ngã nhào tên chiến xa sang một bên mạn xe. Khi tên chiến xa vừa lấy lại thăng bằng, chiến binh rút ra một con dao găm dài cắt đứt chiếc roi da. Tên chiến xa lại ngã ngửa ra sau, suýt chút nữa ngã khỏi mạn xe bên kia. Tên chiến xa tức giận đứng dậy lần nữa, tên lính đánh thuê giáng một đòn mạnh vào bụng một con ngựa, dùng sức hô lớn, "Hích!" Trong lúc bất ngờ, người đánh xe miễn cưỡng xoay chuyển được hai con ngựa, hai con ngựa mất kiểm soát lao thẳng vào con đường chật kín thương nhân và khách hàng, chạy mất dạng.
Khi tên chiến xa chửi rủa chạy đi xa khuất theo tên lính đánh thuê to con, trên phố vang lên những tiếng cười rộ. Chiến binh nhìn theo chiếc chiến xa đã đi xa, quay người bước vào quán rượu, đứng bên cạnh Tô Lực.
Vừa nói hắn vừa lấy ra thứ mà hắn vừa nhặt được — một đồng xu đồng.
Bác Thụy Khắc lắc đầu nói, "Vì nhặt đồng xu này mà suýt chút nữa anh bị tông chết đấy."
Người đàn ông cởi mũ giáp, để lộ đỉnh đầu thưa tóc của một người đàn ông trung niên tầm bốn, năm mươi tuổi. "Cậu không có cơ hội chờ đợi đâu, bạn tôi," hắn vừa nói vừa ngắt quãng từng chữ, giọng điệu rất nặng nề, giống như trong miệng đang ngậm một miếng bông vậy, "Đây là 5 Lu-ni (luni), số tiền lớn nhất mà tôi nhìn thấy trong tháng này đấy."
Giọng điệu của hắn khiến Bác Thụy Khắc cảm thấy quen thuộc, anh hỏi, "Anh là người Ngải à?"
Người đàn ông lắc đầu đáp, "Lang-gô-xtơ (langost), một trấn nhỏ dưới chân núi Thạch Tĩnh Hải, tằng tổ phụ của tôi đến từ Đíp-thاون-tơn (deeptaunton), nhìn cậu chắc là đến từ Ngải nhỉ?"
Bác Thụy Khắc thản nhiên nhún vai, "Tôi đến từ Đức Bản, nhưng trước đó ở Ngải."
“Phờ-rét-pháp không phải thiên đường, nhưng nơi này tốt hơn cái hang chuột Đức Bản kia nhiều.” Người đàn ông chìa lòng bàn tay ra, “Cổ Đạt Bố, vệ sĩ thương đội Hàn Su-nhĩ, ông chủ đời trước làm việc ở thương nhân Quả Lâm, trước đó nữa thì phục vụ cho thương đội Y Sa Lai Na.”
Bác Thụy Khắc bắt tay với hắn, trên tay Cổ Đạt đầy những vết chai sần do quanh năm cầm kiếm và nắm dây cương để lại.
“Mọi người gọi tôi là Kẻ Cuồng,” anh nói xong liền cười, “Đây là Tô Lực.”
Tô Lực giống như gặp được đối thủ xứng tầm, trang trọng bắt tay với chiến binh.
“Kẻ Cuồng? Chắc hẳn đằng sau đó là một câu chuyện, hoặc là cha cậu không thích cậu cho lắm nhỉ?”
Bác Thụy Khắc cười. “Không, tôi đã làm vài chuyện điên rồ, cho nên mọi người mới gọi tôi như vậy.” Bác Thụy Khắc lắc đầu nói tiếp, “Anh là vệ sĩ thương đội? Vậy điều đó có giải thích được tại sao anh biết cách làm cho ngựa chiến xa di chuyển không.”
Người đàn ông mỉm cười, khóe môi chỉ hơi cong lên một chút, nhưng đôi mắt màu xanh lam lại đang nhảy múa vui vẻ. “Tên chiến xa và người đánh xe khiến tôi thấy buồn cười. Tôi biết một điều về loài ngựa, bọn chúng không thích có người đẩy vào mặt, chúng sẽ lùi lại. Khi một tên ngốc lắc dây cương vung roi ngựa thì cậu có thể làm thế, nhưng tôi sẽ không làm vậy khi trên lưng chúng có người mang giày đinh đâu.” Hắn khúc khích cười, “Cực kỳ ngốc nghếch phải không nào?”
Bác Thụy Khắc cười nói, “Đúng vậy, đương nhiên rồi.”
Cổ Đạt Bố uống cạn giọt bia cuối cùng trong cốc, “Được rồi, tốt nhất tôi nên quay về doanh trại thương đội thôi. Sáng nay, khi người phụ nữ thân thiết nhất cuối cùng cũng nhận ra tôi sẽ không cưới cô ấy và tìm một công việc ở lại thành phố này, cô ấy đã đuổi tôi khỏi nhà. Tôi không có chỗ dựa, cho nên cần phải tìm một công việc thôi. Phờ-rét-pháp khiến tôi cảm thấy thỏa mãn, tôi có một viễn cảnh tươi đẹp để làm việc đấy. Tạm biệt nhé, hai vị.”
Bác Thụy Khắc do dự một chút, nói, “Tôi mời anh một ly.”
Cổ Đạt cởi chiếc mũ giáp vừa đội lên, “Cậu thuyết phục được tôi rồi đấy, Kẻ Cuồng.”
Bác Thụy Khắc gọi một lượt rượu mới. Khi người phục vụ đặt bia xuống, Bác Thụy Khắc quay sang tên lính đánh thuê nói, “Tôi cần đi đến thành phố Khải Hứa, Cổ Đạt.”
Cổ Đạt quay người nhìn vị trí hiện tại của mình, “Được rồi, đi theo con đường này trước,” hắn nói, chỉ tay về một dãy phố, “cho đến khi cậu đến đỉnh phía nam của núi Quang Chùy — đó là một dãy núi lớn; cậu sẽ thấy chúng nằm bên phải cậu. Sau đó con đường sẽ rẽ trái đi vòng quanh núi, bên phải là sông Sa-ni chảy xuống từ dãy núi Thủ Hộ, cậu đi dọc theo dòng sông đến nơi cư tụ của những người sống ở Ôn Văn Đề Phổ, đó chính là thành phố của Khải Hứa. Cậu không lạc đường đâu. Nếu bây giờ xuất phát, sẽ phải đi mất sáu đến tám tuần đấy.”
“Cảm ơn,” Bác Thụy Khắc khô khan nói, “Ý tôi là tôi muốn gia nhập một thương đội để đưa tôi đến đó hơn.”
“À ha.” Cổ Đạt lẩm bẩm, gật đầu một cái.
“Nếu xung quanh tôi có người quen biết có thể giúp bảo lãnh thì hay biết mấy.”
“À ha,” Cổ Đạt nói, “Cho nên cậu muốn tôi dẫn cậu về doanh trại thương đội, rồi nói với một số thủ lĩnh thương đội tin tưởng tôi rằng cậu là bạn cũ ở quê nhà, một kiếm sĩ cao tay, và nhân tiện nhắc đến, tên là Kẻ Cuồng.”
Bác Thụy Khắc nhức đầu nhắm mắt lại. “Không hoàn toàn đúng.”
“Chú ý này, bạn tôi, tôi cảm ơn ly bia của cậu, nhưng điều đó không có nghĩa là cậu có thể mượn danh tiếng của tôi để tự tiến cử, việc đó sẽ mang lại cho tôi những tiếng tăm không mấy tốt đẹp đâu.”
Bác Thụy Khắc nói, “Đợi đã! Ai nói việc này sẽ bất lợi cho anh chứ. Tôi là một kiếm sĩ có năng lực.”
“Nhưng lại không có kiếm?”
Bác Thụy Khắc nhún vai, “Đây là một câu chuyện dài.”
“Lúc nào cũng vậy,” Cổ Đạt vớ lấy chiếc mũ giáp, đội lệch lên đầu, “Xin lỗi nhé.”
“Tôi sẽ trả tiền.”
Cổ Đạt cởi mũ giáp, đặt nó lên quầy bar. Hắn ra hiệu cho người phục vụ mang rượu lên. “Được rồi, vậy thì, hãy để tôi nghe xem nào. Danh tiếng chắc chắn là thứ đáng giá phải không? Gợi ý của cậu là gì?”
“Từ đây đi đến thành phố Khải Hứa anh kiếm được bao nhiêu?”
Cổ Đạt suy nghĩ, “Đây là một tuyến đường vô cùng tẻ nhạt, dọc đường có quân đội tuần tra, cho nên thương đội chỉ trả rất ít tiền thuê vệ sĩ. Thương đội lớn mười ơ-ghuy (écù), thương đội nhỏ năm ơ-ghuy. Đương nhiên là bao ăn. Có lẽ gặp thổ phỉ chặn đường giao chiến xong còn có tiền thưởng.”
Bác Thụy Khắc nhanh chóng tính toán trong đầu — anh cần quy đổi theo hệ thống tiền tệ của vương quốc — và hồi tưởng lại những đồng tiền trong túi của mình. “Tôi nói thế này, ba chúng ta vào một thương đội, tôi sẽ trả gấp đôi.”
“Để tôi sắp xếp lại: Chúng tôi cho cậu vào thương đội đến Khải Hứa, cậu sẽ trả tiền sau khi đến nơi.”
“Là thế đấy.”
“Không đời nào,” hắn nói, uống cạn ly bia, “Cái gì đảm bảo cậu sẽ không trốn mất trước khi trả tiền sau khi đến nơi chứ?”
Bác Thụy Khắc lộ ra vẻ mặt bị chọc giận, “Anh đang nghi ngờ lời nói của tôi à?”
“Nghi ngờ lời nói của cậu? Bạn tôi ạ, chúng ta vừa mới gặp nhau thôi đấy. Nếu cậu là tôi thì cậu sẽ nghĩ thế nào về lời đề nghị của một kẻ tên là ‘Kẻ Cuồng’.” Hắn ngầm ra hiệu liếc nhìn chiếc cốc bia rỗng của mình.
Bác Thụy Khắc gọi lượt rượu tiếp theo. “Được rồi, trước khi xuất phát tôi sẽ trả trước một nửa, khi đến nơi tôi sẽ trả hết.”
Cổ Đạt vẫn không thể bị thuyết phục, “Còn cậu nhóc này thì sao? Không ai nghĩ nó là vệ sĩ đâu.”
Bác Thụy Khắc quay người nhìn Tô Lực, cậu nhóc nốc ba ly bia vào bụng đã bắt đầu đứng không vững. “Nó đảm nhiệm được công việc. Chúng ta cho nó làm chân sai vặt dưới tay đầu bếp thương đội.”
Cổ Đạt gật đầu, ánh mắt có chút đờ đẫn, “Đầu bếp.”
“Nhưng cậu có biết kiếm thuật không?” Cổ Đạt nghiêm túc hỏi.
Bác Thụy Khắc vô cùng chắc chắn nói, “Còn giỏi hơn bất cứ kẻ nào anh từng thấy.”
Cổ Đạt nheo mắt lại. “Cậu khoác lác.”
Bác Thụy Khắc cười toe toét, “Tôi vẫn đang sống nhăn ra đấy thôi, không phải sao?”
Cổ Đạt trừng mắt nhìn Bác Thụy Khắc một lát, sau đó quay đầu cười lớn. “Ha, rất tốt.” Uống cạn sạch số bia còn lại, hắn rút ra hai con dao găm dài. Lật ngược một con dùng tay trái đưa cho Bác Thụy Khắc, “Để tôi xem cậu có tài cán gì nào, hỡi Kẻ Cuồng.”
Đột nhiên Bác Thụy Khắc xoay cổ tay gạt phăng một đường đâm hiểm hóc, miễn cưỡng né tránh được một đòn chí mạng. Anh không dừng lại, dùng tay trái tung toàn lực đánh vào đầu tên lính đánh thuê. Khi Cổ Đạt lắc đầu để lấy lại sự tỉnh táo, anh đã tung ra một nhát đâm. Tên lính đánh thuê né ra sau rồi ngã ngửa, lưng đập mạnh vào một chiếc bàn.
Người phục vụ la lên, “Hai người các ngươi! Đừng có phá quán của ta.”
Khi Cổ Đạt đi vòng qua cái bàn, Bác Thụy Khắc đánh giá đối thủ của mình. “Nếu anh chịu thua thì chúng ta có thể dừng lại bất cứ lúc nào.” Vị vương tử nói, dùng nửa bàn chân trước giữ thăng bằng, đôi vai gồng lên, mũi dao găm chĩa thẳng về phía Cổ Đạt.
Tên lính đánh thuê cười toe toét, phong cách của hắn từ trước đến nay vẫn luôn buồn cười như vậy, “Tôi chịu thua.”
Bác Thụy Khắc tung con dao găm lên, khi con dao xoay vòng rơi xuống, anh dùng ngón trỏ và ngón cái kẹp lấy lưỡi dao, đưa nó cho Cổ Đạt. Cổ Đạt nhận lấy dao găm. “Được rồi, tốt nhất chúng ta nên tìm một kẻ buôn vũ khí để trang bị cho cậu thôi. Cậu biết dùng vũ khí, nhưng nếu không có vũ khí thì khoản này coi như bỏ.”
Bác Thụy Khắc mở rộng áo khoác, lấy túi tiền ra, rút hai đồng xu đồng trả cho người phục vụ đang tức giận. “Tô Lực, chúng ta đi thôi—” anh quay đầu lại thì phát hiện cậu nhóc đã gục ngửa trên sàn nhà, ngáy o o.
Bác Thụy Khắc cười đi tới lay cậu nhóc đã say khướt không còn biết trời đất gì nữa. Lắc mạnh một hồi, anh nói, “Tô Lực, chúng ta phải đi rồi.”
Cố gắng mở mắt, cậu nhóc nói, “Chủ nhân, sao ngôi nhà lại quay vòng vòng thế này?”
Cổ Đạt vớ lấy mũ giáp, “Tôi đợi hai người ở bên ngoài nhé, Kẻ Cuồng. Cậu chăm sóc cậu nhóc đi.” Nói xong, tên lính đánh thuê bước ra khỏi phòng, đứng trước cửa một ngôi nhà bên cạnh đếm tiền của hắn, trong quán rượu truyền ra tiếng cậu nhóc nôn mửa lớn tiếng.
Ba tiếng sau, hai người lớn và một cậu nhóc sắc mặt tái nhợt bước ra khỏi cổng thành phía đông, đi vào doanh trại thương đội. Doanh trại là một bãi đất trống rất lớn có ba mặt được bao quanh bởi lều trại và nhà kho, cách cổng thành phía đông chưa đầy một phần tư dặm. Ước tính bảo thủ có khoảng ba trăm chiếc xe mui kín lớn nhỏ khác nhau đang đậu trên bãi cỏ này. Ngựa, bò và lạc đà đi lại tấp nập cuốn lên từng trận bụi mù.
Tô Lực giơ chiếc túi lớn mà cậu vác trên vai, bên trong đựng đủ loại đồ đạc mà Cổ Đạt chỉ định phải mua. Bác Thụy Khắc cũng nghe theo sự hướng dẫn của tên lính đánh thuê, nhưng giữ lại khả năng những vũ khí này cuối cùng sẽ thuộc về Cổ Đạt. Bác Thụy Khắc mặc một bộ giáp da cũ nhưng bền bỉ, có đồ bảo vệ cẳng chân và đai bảo vệ. Anh không tìm thấy mũ giáp nhẹ, thế nên anh tiện tay chọn một chiếc băng đô có dải ruy băng trang trí, có thể buộc gọn tóc ra sau ót và giúp mồ hôi trên mắt chảy ra. Chiếc khăn đầu này cũng giúp bảo vệ phần gáy của anh dưới cái nắng chói chang của Khải Hứa. Một thanh kiếm dài được treo ở bên mông trái, một con dao găm dài treo ở bên còn lại. Anh rất muốn trang bị một thanh kiếm mỏng (rapier), nhưng loại kiếm này ở Phờ-rét-pháp còn hiếm hơn nhiều so với Krông. Lần mua sắm trong ngày này đã ngốn sạch số tiền vốn đã eo hẹp của anh, anh tự nhắc nhở bản thân rằng sau khi đến thành phố Khải Hứa vẫn còn một đoạn đường rất dài phải đi.
Họ đi ngang qua chuồng nhốt ngựa, bước vào con đường chính được cấu thành từ rất nhiều chiếc xe mui kín sắp xếp ngay ngắn. Đi lang thang xung quanh họ có những kẻ được trang bị vũ trang tận răng, còn có những thương nhân đang tìm kiếm công cụ vận chuyển cho hàng hóa của chính mình.
Đi dọc theo đại lộ này, trên nóc mỗi chiếc xe mui kín đều có người gọi với ba người họ. “Đến Khơ-mi-ri đi! Ta cần người đến Khơ-mi-ri!” Kẻ tiếp theo hét lên, “Cổ Đạt, Ti-lai-mạn cần vệ sĩ!” Người thứ ba, “Giá cao nhất, Hàn Su-nhĩ ngày mai xuất phát!”
Đi được nửa đường, họ tìm được một thương đội chuẩn bị đi đến thành phố Khải Hứa. Thủ lĩnh thương đội đánh giá ba người rồi nói, “Ta biết ngươi, Cổ Đạt Bố. Ta sẽ thuê ngươi và bạn của ngươi, nhưng ta không muốn đứa trẻ này.”
Bác Thụy Khắc định mở miệng, nhưng Cổ Đạt nhanh hơn một bước nói, “Không có đầu bếp mang lại vận may của tôi thì tôi không đi đâu cả.”
Thủ lĩnh thương đội mập mạp cúi đầu đánh giá cậu nhóc, trên cái đầu trọc rịn ra từng hạt mồ hôi, “Một đầu bếp mang lại vận may?”
Cổ Đạt gật đầu, cứ như chuyện này là điều hiển nhiên mà hắn không muốn công khai cho công chúng biết vậy. “Đúng vậy.”
“Cái gì, chúa tể rận chấy, nó là đầu bếp mang lại vận may á?”
“Bảy năm trước, tôi vẫn là vệ sĩ của thương đội Thái Mát Nhược Đan, trên con đường từ Khuê Cách đến A Thuật Thả đã gặp phải sự tập kích của thổ phỉ. Một trận tập kích bất ngờ như chớp giật. Hầu như không có thời gian để cầu nguyện nữ thần tử thần.” Hắn làm một cử chỉ cầu may mắn, thủ lĩnh thương đội cũng làm theo, “Nhưng tôi đã sống sót nhờ vào đầu bếp mang lại vận may của mình. Không một ai khác sống sót sau thảm họa đó. Kể từ đó bên cạnh tôi không thể thiếu đầu bếp mang lại vận may được.”
“Đứa trẻ này trông chưa tới 12 tuổi, người anh em ăn nói mơ hồ này, chắc chắn nó đã làm đầu bếp trong thương đội suốt bảy năm rồi nhỉ.”
“Ồ, không phải nó đâu,” Cổ Đạt lắc đầu nói, cứ như đó là sự thật rành rành, “Đầu bếp khác cơ. Cậu biết không, lần đó tôi chạy trốn đến mức tuột cả quần, ngã nhào xuống một rãnh nước nhỏ mới thoát nạn. Tôi hoàn toàn không có cách nào chiến đấu tiếp, bọn chúng đơn giản là không tìm thấy tôi.”
“Đầu bếp đó sống sót thế nào?”
“Nó ngồi xổm ngay cách tôi vài bước chân.”
“Thế sau đó hắn thế nào rồi?” Thủ lĩnh thương đội hứng thú hỏi.
“Tôi đã mổ bụng tên khốn suýt chút nữa đầu độc chết tôi đó rồi.”
Thủ lĩnh thương đội không nhịn được cười lớn. Khi hắn dứt tiếng cười, Cổ Đạt nói, “Đứa trẻ này sẽ không gây rắc rối cho ông đâu. Nó có thể giúp nấu ăn khi cắm trại và ông không cần trả lương cho nó. Chỉ cần nó được ăn no là được.”
“Thành giao!” Thủ lĩnh nói, sau đó nhổ một bãi nước bọt vào lòng bàn tay, Cổ Đạt cũng làm vậy, thế là hai người bắt tay nhau. “Ta luôn có thể dựng một cái ổ tốt bên đống lửa trại. Chuyến hành trình này sẽ trôi qua rất nhanh thôi.” Hắn nói với Tô Lực, “Đi tìm đầu bếp của ta đi, nhóc con.” Hắn giơ tay chỉ vào chiếc xe nấu ăn nằm giữa mười mấy chiếc xe hàng, “Nói với ông ta rằng em là chân sai vặt mới của ông ấy.”
Tô Lực nhìn Bác Thụy Khắc, vị vương tử gật đầu ra hiệu cho cậu đi đi. Khi Tô Lực rời đi, thủ lĩnh nói, “Ta tên là Giả Nốt Xa Bác, người Khải Hứa. Sáng mai trời hửng sáng là chúng ta xuất phát.”
Cổ Đạt tháo chiếc gói vác trên vai xuống, “Tối nay chúng ta ngủ trong xe của ông.”
“Được rồi, bây giờ, ta phải đi đây, trước khi hoàng hôn ta còn phải gọi thêm bốn người nữa.”
Cổ Đạt và Bác Thụy Khắc bước vào khu vực này, tìm vài chỗ râm mát. Cổ Đạt cởi mũ giáp, dùng tay lau mồ hôi đầm đìa trên mặt. “Bây giờ phải nghỉ ngơi cho tốt, Kẻ Cuồng. Ngày mai sẽ là chuyến hành trình bi thảm đấy.”
“Bi thảm?” Bác Thụy Khắc hỏi.
“Đúng vậy, Kẻ Cuồng. Hôm nay chúng ta chỉ thấy nóng nực và cáu kỉnh thôi. Còn ngày mai chúng ta sẽ vừa khát vừa đói, vừa bẩn thỉu, mệt mỏi, nóng nực lại còn phiền muộn nữa.”
Bác Thụy Khắc khoanh tay trước ngực, cố gắng nghỉ ngơi. Từ nhỏ anh đã bắt đầu luyện tập phương pháp huấn luyện quân sự này, chỉ cần có cơ hội là có thể chợp mắt bất cứ lúc nào. Nhưng đại não anh lại đang quay cuồng tốc độ cao. Sự tiến triển của Ngải Lan Đức ở Khải Hứa thế nào rồi? Anh đoán em trai và những người khác bây giờ đã ở Khải Hứa rồi. Ngải Lan Đức có an toàn không? Bọn họ nghĩ Bác Thụy Khắc đã chết, hay cho rằng anh chỉ mất tích thôi?
Thở dài một hơi thật lớn, anh bình tâm lại. Rất nhanh sau đó, anh chìm vào giấc ngủ giữa những tiếng ồn ào bận rộn nhưng dễ đưa người vào giấc ngủ của doanh trại thương đội.