Một cơn bão đang kéo đến, nhưng gió hãy còn lặng thinh, và giữa chốn rừng hoang Broceliande, trước một cội sồi già nua, to lớn và rỗng ruột đến mức trông như một ngọn tháp xây bằng đá phủ đầy tầm gửi, nàng Vivien ranh mãnh nằm dài dưới chân Merlin.
Bởi vì kẻ vẫn luôn ôm mối hận cay đắng với những sự khinh miệt từ Arthur và triều đình của ngài, tức Mark, vị Vua xứ Cornwall, vừa nghe được lời kể của một lữ khách giấu mặt—một tay hát rong thành Caerleon bị cơn bão lớn thổiạt vào nương náu tại Tintagil—rằng vì sự thuần khiết ngây thơ trần trụi, ngài Lancelot không tôn sùng một thiếu nữ chưa chồng nào, mà chính là vị Hoàng hậu cao quý, rằng hắn chiến đấu dưới danh nghĩa của bà, thề nguyện bởi bà—những lời thề tựa như thứ tình yêu mà các thiên sứ của Chúa từng kể lại trên chốn thiên cung: yêu thiết tha nhưng chẳng hề kết hôn, cũng chẳng gả chồng.
Hắn dứt lời, rồi—vì Vivien cất tiếng ngọt ngào (nàng ngồi cạnh bàn tiệc, ở vị trí gần Mark nhất):
“Thưa ngài, tấm gương tốt đẹp ấy có được noi theo trong triều đình của ngài Arthur chăng?”—hắn liền đáp lại một cách vô tư:
“Ừ, bởi một vài người—ừ, quả thật vậy—những thanh niên cho rằng một hiệp sĩ đồng trinh hoàn hảo thì việc tôn sùng người phụ nữ đã là vợ người khác với mọi hy vọng đạt được còn hơn là tôn sùng một thiếu nữ còn son trẻ. Họ đặt niềm kiêu hãnh của mình vào Lancelot và Hoàng hậu. Họ tha thiết khao khát một sự thuần khiết tuyệt đối vượt xa những giới hạn trong lời thề của họ, bởi Arthur đâu có bắt họ phải sống độc thân. Những trái tim can đảm và trong sáng! thế nhưng—xin Chúa dẫn đường cho họ—họ còn quá trẻ.”
Lúc ấy Mark giận đến mức suýt ném thẳng chén rượu vào mặt kẻ vừa nói, nhưng rồi lại kiềm chế được: hắn đứng dậy rời khỏi sảnh đường, và Vivien liền bước theo sau, đoạn hắn quay sang bảo nàng: “Kia là rắn rồng ẩn mình trong cỏ; và ta nghĩ rằng, hỡi Vivien, trừ phi ngươi sợ hãi bản lĩnh tu viện cùng chiếc mặt nạ ngụy trang thanh khiết của triều đình này, ngươi hoàn toàn có thể khuấy động chúng lên cho đến khi chúng cất nọc ra mà chích.”
Và Vivien mỉm cười khinh miệt đáp lại:
“Sợ ư? Vì lẽ ta lớn lên dưới triều đình của ngươi nên ta mang hơi hướm những ‘đức hạnh’ của ngươi sao? Sợ chúng ư? Không. Giống như Tình yêu, nếu là tình yêu hoàn hảo, sẽ xua tan mọi sợ hãi, thì Sự ghét bỏ, nếu là sự ghét bỏ hoàn hảo, cũng sẽ xua tan nỗi sợ. Cha ta đã tử trận chống lại Nhà vua, mẹ ta ngã xuống ngay trên thi hài Người giữa chiến trường rộng mở; bà đã sinh ra ta ở đó, bởi ta được sinh ra từ cõi chết, giữa chốn thây phơi và bị gieo rắc theo ngọn gió cuồng—rồi sau đó rơi vào tay ngươi! Để rồi sớm thấu hiểu được chân lý, cái thứ nhơ nhớp cũ kỹ nơi đáy giếng ẩn giấu Chân lý ấy. Những bài học thật ân huệ làm sao và biết bao châm ngôn nhơ nhớp của ngươi! ‘Hắn Arthur thuần khiết này đây! Bản thân Thiên nhiên vĩ đại qua thể xác do chính Ngài tạo nên đã phơi bày lời dối trá của hắn! Chẳng có sinh thể nào là thuần khiết cả, hỡi thiên thần nhỏ của ta; Kinh Thánh chẳng từng nói thế hay sao?’—Nếu ta là Arthur, ta đã uống máu ngươi rồi. Xin ngài ban phước cho, hỡi Nhà vua không tì vết! Một khi ta đã sục sạo khắp hang ổ của chúng, ta sẽ mang trả về trong tay ngài trái tim của toàn bộ Hội Hiệp sĩ này—Phải—để rồi định mệnh, mưu mẹo và sự ngu ngốc có lúc sẽ gom lại, may ra, được lấy một lọn tóc vàng trên râu của Arthur. Đối với ta, cái cằm chẻ xám xịt và cộc cằn của ngươi trông còn sạch sẽ chán—Thôi nào, ta vốn yêu ngươi trước tiên, chính điều đó đã làm mỏi mòn trí tuệ.”
Kẻ vô lại Mark cười lớn, còn Vivien lẻn vào Camelot, thuê một căn trọ nhỏ trong thành, rồi vào một ngày hội lớn khi Guinevere đang băng qua sảnh đường lớn, nàng liền ngã rạp xuống, quỳ lạy trước Hoàng hậu và cất tiếng khóc than.
“Sao ngươi lại quỳ ở đó? Ngươi đã gây ra tội ác gì? Đứng lên đi!” và thiếu nữ được lệnh liền đứng dậy, hai tay đan vào nhau, đôi mắt liếc xuống đầy e ấp, rồi vô cùng cung kính thưa rằng:
“Thần chẳng gây ra điều chi, chỉ phải chịu đựng quá nhiều, ôi một thiếu nữ mồ côi! Cha thần đã tử trận vì Nhà vua của người, mẹ thần ngã xuống trên thi hài người—giữa chiến trường rộng mở, nơi chốn hoang vu lạnh lẽo vọng tiếng gầm của biển khơi xứ Lyonnesse—Một kẻ khốn khổ tội nghiệp—chẳng một người thân!—và giờ đây lại bị Mark, vị Vua xứ Cornwall, truy đuổi chỉ vì chút nhan sắc cỏn con này của thần—nếu quả thần có được chút nhan sắc ấy—thần đành bay đến nương náu nơi người. Xin hãy cứu lấy, hãy cứu lấy thần—Người phụ nữ tuyệt vời nhất trong muôn vàn phụ nữ—vòng nguyệt quế sắc đẹp là của người, vương miện quyền lực thuộc về người, xin hãy ban cho thần giọt dầu xoa dịu của lòng trắc ẩn, ôi vị thiên thần hạ giới mang sắc trắng của Thiên Khiên, người hiền thê không tì vết của vị Vua không tì vết—Hãy giúp thần với, vì hắn đang bám theo đuổi! Xin hãy che chở cho thần! Ôi xin hãy rủ lòng cho thần được nương náu chốn ngây thơ giữa các thị nữ của người!”
Đến đây, đôi mắt chậm rãi dịu dàng của nàng, dẫu run rẩy vì sợ hãi nhưng vẫn chứa đựng niềm hy vọng khiêm nhường, ngước lên đăm đăm nhìn vào người đang lắng nghe mình; trong khi đó, Hoàng hậu đang đứng đó, rực rỡ như ánh nắng tháng Năm trên những tán lá tháng Năm trong sắc xanh và vàng, trên mũ cài chiếc lông chim màu xanh, liền cất lời đáp:
“Bình tĩnh nào, đứa trẻ! Giữa việc được ca ngợi quá đà và chê bai quá mức, ta chọn điều sau. Ngài Arthur cao quý của chúng ta—người mà các ngươi khó lòng mà ca ngợi cho quá đà—sẽ lắng nghe và thấu hiểu. Không đâu—chúng ta tin mọi điều tồi tệ về tên Mark của ngươi—thôi được, chúng ta sẽ thử thách ngươi thêm; nhưng giờ này chúng ta phải đi săn bằng chim ưng với ngài Lancelot. Ngài ấy vừa tặng ta một con chim ưng rất đẹp do chính tay ngài huấn luyện; chúng ta đi để thử tài nó. Ngươi hãy cứ ở lại đây trong lúc này.”
Bà bước đi, và Vivien lẩm bẩm phía sau: “Cứ đi đi! Ta cứ ở lại đây lúc này.” Rồi qua khung cửa vòm, liếc mắt nhìn xéo, lẩm bẩm ngắt quãng như kẻ đang mỏi mệt vì một giấc mơ ác độc, nàng nhìn thấy Hoàng hậu và Lancelot lên ngựa.
“Đó chính là Lancelot ư? Trông cũng được—ừ, nhưng có vẻ gầy gò: Lịch thiệp—xem như bù đắp cho sự gầy gò—đang nắm lấy tay bà ấy—cái liếc nhìn của hai kẻ đó, nếu không phải ở giữa phố, hẳn đã là một nụ hôn quấn quýt—tay lưu luyến trong tay biết bao! Cuối cùng cũng buông ra!—họ phi ngựa đi—để săn chim nước. Trò chơi vương giả hơn đang chờ ta. Đối với cái thứ dây tơ hồng siêu cảm giác và ái tình ấy mà tên dế xám xịt bên lò sưởi của chúng ta vừa lải nhải—chạm lanh với lửa—chỉ một cái liếc mắt là đủ—lũ nói dối! Ả chuột nhắt bé nhỏ kia ơi, kẻ đã đào cái lỗ của mình xuyên qua con đê vào ban đêm để thả đại dương vô tận tràn ngập những thành phố xa xôi trong lúc chúng đang khiêu vũ—hoặc mơ mộng—chúng chẳng hề mơ về ngươi—cũng chẳng mơ về ta—à không, nhưng mỗi người lại mơ về đối phương: hãy phi ngựa đi, hãy mơ cái giấc mơ phàm trần chưa từng là của ta—hãy phi ngựa, phi ngựa và mơ mộng cho đến khi các người tỉnh giấc—để đối mặt với ta! Hỡi triều đình chật hẹp và vị Vua vụng về, vĩnh biệt nhé! Bởi Lancelot sẽ rất tử tế với con chuột nhắt này, và vị Hoàng hậu thông thái của chúng ta, nếu biết rằng ta đã rõ sự thật, sẽ căm ghét, khinh miệt, sợ hãi—nhưng lại càng kính trọng ta hơn.”
Thế nhưng trong lúc họ cùng nhau phi ngựa dọc theo đồng bằng, câu chuyện của họ chỉ toàn về việc huấn luyện, các thuật ngữ chuyên môn, chế độ ăn và cách khâu mắt chim, dây cương, dải buộc và mồi nhử.
“Nó quá cao quý,” ngài nói, “để sà bắt chim ác là, và nó cũng không chịu sà xuống thấp: chẳng có chút đê tiện nào ở nó cả.”
Đến đây, khi Hoàng hậu cất lời hỏi như thể vô tình:
“Ngươi có biết người phụ nữ xa lạ đó không?”
“Cứ để mặc ả ta,” Lancelot nói, rồi tháo mũ trùm thả con chim ưng tuyệt vời bay vút lên tự do; nó vút bay lên cao; tiếng chuông trên chân nó vang lên lảnh lót, âm nọ tiếp âm kia; và họ ngẩng những gương mặt đầy háo hức lên, kinh ngạc trước sức mạnh, sự táo bạo và phong thái hiệp sĩ vương giả của loài chim đã vồ lấy con mồi và hạ sát nó. Hết lần này đến lần khác—họ cùng nhau phi ngựa, hệt như xưa kia—giữa chốn muôn hoa.
Nhưng Vivien, bị Hoàng hậu lãng quên phần nào, ngồi thêu thùa giữa đám thị nữ, vẫn lắng nghe, quan sát và thì thầm: nàng lẻn đi khắp triều đình yên bình và thì thầm: rồi hệt như khi Arthur ở đỉnh cao đã gieo men vào thế gian, thì Vivien ở chốn thấp hèn nhất, khi đặt chân đến vào một thời kỳ nghỉ ngơi vàng son, gieo rắc từng lời bóng gió độc địa từ tai người này sang tai người khác, trong khi toàn bộ dị giáo đều quy phục dưới chân Arthur, và chẳng có cuộc thám hiểm nào diễn ra, tất cả chỉ toàn là các trận đấu thương và vui chơi, nàng đã làm vẩn đục sảnh đường của ngài. Họ lắng nghe rồi cứ để mặc nàng muốn làm gì thì làm.
Sau đó, tựa như một kẻ thù đã bỏ lại độc dược trong dòng nước sinh tử rồi rút lui, Vivien ranh mãnh lén lút rời khỏi triều đình của Arthur.
Nàng căm ghét tất cả các hiệp sĩ, và trong tâm trí, nàng dường như nghe thấy những lời bàn tán hào phóng của họ mỗi khi tên nàng được nhắc đến. Có lần, khi Arthur đi dạo một mình, cảm thấy khó chịu vì một lời đồn đại do chính cô ta tung ra về sự suy đồi đã len lỏi vào hàng ngũ các hiệp sĩ của ngài, đã tình cờ gặp cô ta; Vivien, khi nhận được lời chào hỏi nhã nhặn, liền toan lợi dụng tâm trạng u ám của ngài bằng đôi mắt đầy vẻ sùng kính giả tạo, giọng nói run rẩy và sự ngưỡng mộ đầy bấn loạn, và cuối cùng là những lời bóng gió thâm trầm, ngọt ngào về một kẻ nào đó đánh giá cao ngài hơn cả những kẻ đáng lẽ phải tôn vinh ngài nhất; trước những lời ấy, Nhà vua chỉ nhìn nàng một cách trống rỗng rồi lướt qua: nhưng có kẻ đã chứng kiến và không giữ im lặng; câu chuyện Vivien dám cả gan mưu tính với vị Vua vô khuyết đã trở thành trò cười suốt cả một buổi chiều.
Và sau đó, nàng quyết tâm chinh phục con người nổi tiếng nhất trong suốt thời đại ấy, Merlin—kẻ thấu suốt phạm vi của mọi nghệ thuật, từng xây cho Nhà vua những bến cảng, tàu thuyền và sảnh đường, đồng thời cũng là một Thơ sĩ và am tường cả bầu trời đầy sao; người ta gọi ông là Phù thủy. Ban đầu, nàng tiếp cận ông bằng những câu chuyện phiếm nhẹ nhàng, tươi vui, những nụ cười rạng rỡ và những mũi nhôm mỉa mai ngấm ngầm chút độc dược, lúc liếc xéo chỗ này, lúc lướt qua chỗ khác; và khi chiều theo những tâm trạng dịu dàng hơn của ông, vị Tiên tri lại ngắm nhìn sự bướng bỉnh cùng trò chơi tinh nghịch của nàng, thậm chí ngay cả khi chúng có vẻ đáng ghét đi chăng nữa, và mỉm cười như những kẻ đang ngắm nhìn một chú mèo con; cứ thế, ông dần trở nên dung thứ cho những điều bản thân vốn nửa phần khinh miệt, còn nàng, nhận ra rằng mình chỉ bị khinh miệt có một nửa, bèn bắt đầu đan xen vào những trò chơi của mình bằng những cơn bùng phát nghiêm túc hơn, khi thì đỏ mặt lúc lại tái xanh, khi gặp nhau thường thở dài thật sâu, hoặc cứ im lìm đắm đuối nhìn ông với một vẻ tận tụy kiên định đến mức vị lão gia, dẫu còn nhiều hoài nghi, vẫn cảm nhận được sự nịnh hót ấy, và có những lúc tự gạt mình nuôi dưỡng niềm hy vọng về tình yêu trong tuổi già, suýt tin rằng nàng là thật lòng: vì thế nên đôi khi ông dao động; nhưng người phụ nữ kia cứ bám chặt lấy ông, kiên định với ý đồ của mình, và các mùa cứ thế trôi qua.
Rồi một nỗi u sầu sâu sắc bao trùm lấy Merlin; ông bước đi cùng những giấc mơ và bóng tối, và ông nhận ra một tai họa dường như lúc nào chực chờ sụp đổ, một cuộc chiến rền rỉ không nguôi trong làn sương mù, cuộc chiến vạn cổ của thể xác đang tàn tạ chống lại sự sống, cái chết hiển hiện trong mọi sự sống và sự dối trá ẩn giấu trong mọi ái tình, kẻ hèn mạt nhất lại có quyền năng chi phối kẻ cao cả nhất, và hoài bão lớn lao bị vùi dập bởi loài sâu bọ.
Thế là rời bỏ triều đình của Arthur, ông ra tới bờ biển; ở đó ông tìm thấy một chiếc thuyền nhỏ và bước lên; và Vivien đi theo sau, nhưng ông chẳng mảy may hay biết. Nàng cầm lái còn ông buông buồm; con thuyền lao đi với một cơn gió thợ bất chợt băng qua vùng biển sâu, và chạm đến bờ biển Brittany, họ bước lên bờ. Và rồi Vivien cứ bám theo Merlin suốt dọc đường, tận sâu vào chốn rừng hoang Broceliande.
Bởi Merlin từng kể cho nàng nghe về một câu phép thuật, rằng nếu ai dùng nó đểểm hóa bất kỳ ai bằng những bước đi đan xen và những cái vung tay, thì kẻ bịểm hóa ấy sẽ mãi mãi nằm gọn trong bốn bức tường của một ngọn tháp rỗng, từ đó không tài nào thoát ra được cho đến muôn đời; và chẳng ai có thể tìm thấy kẻ đó mãi mãi, bản thân kẻ ấy cũng chẳng thể nhìn thấy ai ngoài kẻ đã niệm chú đang đi tới đi lui, còn hắn thì nằm bất động như đã chết, lạc lõng khỏi sự sống, công dụng, tên tuổi và cả danh tiếng. Và Vivien luôn nung nấu ý định thi triển câu phép ấy lên Vị Phù thủy vĩ đại nhất Thời đại, bởi nàng tưởng tượng rằng vinh quang của mình sẽ lớn lao biết bao nếu tương xứng với sự vĩ đại của kẻ bị nàng khuất phục.
Nàng ngả dài toàn thân dưới đất và hôn lên đôi chân ông, như thể đang bày tỏ lòng tôn kính và tình yêu sâu sắc nhất. Một sợi dây vàng quấn quanh mái tóc nàng; một chiếc áo choàng bằng vải samite đắt giá, mặc cũng như không, ôm sát lấy thân hình uyển chuyển của nàng, mang màu sắc tựa như lớp vỏ lụa bóng của những búp liễu trong ánh nắng chập chờn tháng Ba gió lộng; và trong khi hôn đôi chân ấy, nàng cất tiếng kêu: “Xin hãy dẫm đạp lên em, đôi chân thân yêu mà em đã theo đuổi suốt dọc đường đời, và em sẽ tôn sùng ngài; xin hãy dẫm nát em xuống và em sẽ hôn ngài vì điều đó;” ông vẫn im lặng:
Một nỗi lo âu tăm tối cuồn cuộn trong tâm trí ông, tựa như vào một ngày u ám trong hang động ngoài đại dương, con sóng mù quáng khua khoắng khắp sảnh đường nước dài dằng dặc trong tĩnh lặng: vì thế, khi nàng ngẩng gương mặt đầy vẻ khẩn khoản bi thương lên, cất lời hỏi rằng, “Hỡi Merlin, ngài có yêu em không?” rồi lại, “Hỡi Merlin, ngài có yêu em không?” và thêm lần nữa, “Đại sư vĩ đại, ngài có yêu em không?” ông vẫn im lặng.
Và nàng Vivien uyển chuyển, bám lấy gót chân ông, oằn mình trườn tới, trượt lên đầu gối ông và ngồi dậy, vòng đôi bàn chân khuyết của mình lại phía sau mắt cá chân ông, quàng một tay ôm lấy cổ ông, bám chặt như loài rắn; và buông thõng bàn tay trái từ bờ vai lực lưỡng của ông xuống tựa một chiếc phác thảo, nàng dùng tay phải tạo thành chiếc lược ngọc để rẽ qua những lọn râu của một thời tuổi trẻ đã qua đi nay chỉ còn lại tro tàn: bấy giờ ông mới cất lời, mắt không nhìn nàng, “Những ai uyên thâm trong tình yêu thì yêu sâu sắc nhất, nói ít nhất,” và Vivien nhanh nhẩu đáp lại:
“Em từng thấy vị thần yêu tinh nhỏ bé không mắt một lần trong sảnh thảm thêu ở Camelot của Arthur: nhưng chẳng có mắt cũng chẳng có lưỡi—ôi đứa trẻ ngốc nghếch! Thế mà ngài lại khôn ngoan khi nói thế; hãy để em nghĩ rằng sự im lặng là khôn ngoan đi: vậy em sẽ im lặng, và không đòi một nụ hôn nào cả;” rồi nàng bỗng đổi giọng nói thêm ngay:
“Và kìa, em tự khoác lên mình sự khôn ngoan,” rồi kéo tấm áo choàng xù xì rộng lớn của bộ râu ông qua cổ, ngực cho đến đầu gối mình, và tự gọi mình là con ruồi mùa hè mạ vàng bị mắc kẹt trong cái mạng nhện của một lão nhện bạo chúa to lớn, kẻ định bụng sẽ nuốt chửng nàng giữa chốn rừng hoang ấy mà chẳng thốt lấy một lời. Vivien tự ví mình như thế, nhưng trông nàng lại giống một vì sao lơ thơ hiểm ác được che phủ trong lớp sương mù xám xịt hơn; khiến ông phải mỉm cười buồn bã:
“Trước một lời cầu xin nào, cho món quà kỳ lạ nào,” ông nói, “mà những trò tinh quái và ngớ ngẩn này của cô, hỡi Vivien, chỉ là màn dạo đầu? Dẫu sao cũng cảm ơn cô, vì chúng đã xua tan đi nỗi u sầu trong ta.”
Và Vivien mỉm cười xấc láo đáp:
“Sao cơ, hỡi Đại sư của em, ngài đã tìm lại được giọng nói của mình rồi ư? Em xin chào mừng người lạ. Cuối cùng thì cũng có lời cảm ơn! Ngay đến ngày hôm qua, ngài có thèm mở miệng đâu, ngoại trừ lúc uống nước: mà chúng ta nào có chén bát gì đâu; chính trong lòng bàn tay của một phu nhân như em đã hứng lấy dòng nước suối rỉ ra từng giọt từ khe đá, tạo thành một chiếc chén xinh xắn bằng cả hai tay rồi quỳ xuống dâng lên ngài: thế mà ngài uống xong rồi thôi, chẳng thèm ban cho em lấy một nửa lời; chẳng buồn cảm ơn lấy một tiếng, điều mà ngay cả một con dê cũng có thể làm được mà chẳng cần đến một chút tôn kính nào ngoài bộ râu. Và khi chúng ta dừng chân ở cái giếng nọ, và em mệt lả đến ngất đi, còn ngài thì gót chân vương đầy bụi hoa từ những thảm cỏ sâu thẳm mà chúng ta vừa vượt qua, ngài có biết rằng Vivien đã rửa chân cho ngài trước cả chân mình không? Thế mà chẳng có lấy một lời cảm ơn; và suốt dọc khu rừng hoang này, suốt cả buổi sáng nay khi em vuốt ve ngài: Xin một đặc ân, phải, có một đặc ân, cũng không hẳn là quá kỳ lạ—Làm sao mà em lại đối xử tệ với ngài chứ? Chắc chắn ngài rất khôn ngoan, nhưng sự im lặng kiểu ấy thì khôn ngoan hơn là tử tế.”
Và Merlin đan chặt tay mình vào tay nàng rồi nói:
“Ôi, có bao giờ cô nằm dài trên bờ biển, ngắm nhìn lớp bọt trắng cuộn tròn của con sóng đang chồm tới soi bóng trên lớp cát trơn trượt trước khi nó vỡ tan chưa? Chính con sóng ấy, nhưng chẳng mấy dễ chịu gì, chìm khuất trong tấm gương của một tâm trạng đầyềm báo, đã hiển hiện trong tâm trí ta suốt ba ngày nay, chực chờ sụp xuống. Rồi ta đứng dậy trốn chạy khỏi triều đình của Arthur để xua đi tâm trạng ấy. Cô đã đi theo ta mà không được mời gọi; và khi ta nhìn lại, thấy cô vẫn tiếp tục bám theo, tâm trí ta đã gom cô lại, đặt vào vị trí gần nhất trong làn sương mù tâm trí ấy: vì ta phải nói thật cho cô nghe chứ? Cô tựa như con sóng sắp sửa chồm lên người ta và quét sạch ta khỏi chỗ đứng của mình trên cõi đời này, khỏi công dụng, tên tuổi và danh tiếng của ta. Xin cô thứ lỗi, đứa trẻ ạ. Những trò chơi dễ thương của cô đã thắp sáng mọi thứ trở lại.
Và hãy nói ra đặc ân của cô đi, bởi ta nợ cô ba điều ân huệ: một vì sự nhầm lẫn đã đối xử tệ với cô trước đây, tiếp theo là để tạ ơn vì những điều có lẽ đến nay vẫn bị lơ là, cuối cùng là vì những trò nô đùa tao nhã này của cô; vì thế hãy cứ cất lời; và hãy nhận lấy đặc ân kỳ lạ mà không hẳn kỳ lạ này đi.”
Và Vivien mỉm cười đầy u sầu đáp:
“Ôi, nó không kỳ lạ bằng việc em phải kỳ kèo xin xỏ bấy lâu, cũng chẳng kỳ lạ bằng chính sự kỳ lạ của ngài, và càng không bằng một nửa tâm trạng u ám tăm tối ấy của ngài. Em vẫn luôn sợ rằng ngài không hoàn toàn thuộc về em; và kìa, chính ngài đã thừa nhận mình đã đối xử tệ với em. Người ta gọi ngài là nhà tiên tri: cứ cho là thế đi; nhưng không phải là kẻ có thể tự giải thích lấy mình. Hãy để Vivien làm kẻ giải thích cho ngài; nàng sẽ gọi cái tâm trạng dự báo kéo dài ba ngày trời ấy của ngài không phải là điềm báo gì cả, mà chính là cái tâm trạng nghi kỵ quen thuộc khiến ngài trông kém cao thượng hơn con người thật của mình, mỗi khi em cất lời xin đúng cái đặc ân này, điều mà giờ đây em lại xin lần nữa: vì ngài không thấy sao, tình yêu dấu ơi, rằng một tâm trạng như thế—cái tâm trạng từng làm u ám trí tưởng tượng của ngài khi thấy em bám theo sau—chắc chắn lại càng khiến em sợ hãi rằng ngài không thuộc về em, càng khiến em khao khát chứng minh ngài là của em hơn nữa, và càng khiến em mong mỏi học cho bằng được câu phép thuật về những bước đi đan xen và những cái vung tay ấy, như một minh chứng cho lòng tin. Hời Merlin, xin hãy dạy nó cho em. Câu phép được dạy như thế sẽ đưa cả hai chúng ta vào cõi an bình.
Bởi vì, hãy trao cho em chút ít quyền năng đối với vận mệnh của ngài, em, khi cảm thấy rằng ngài đã coi mình xứng đáng với lòng tin, sẽ được nghỉ ngơi và để ngài được nghỉ ngơi, khi biết chắc ngài thuộc về mình. Và vì thế, xin hãy vĩ đại như danh tiếng của ngài, chứ đừng quấn chặt lấy sự kín đáo ích kỷ ấy. Sao ngài trông cứng nhắc và cự tuyệt đến thế! Ôi, nếu ngài nghĩ đây là sự độc ác trong em, rằng em sẽ đem nó ra thử nghiệm lên ngài mà ngài không hay biết, điều đó làm em vô cùng phẫn nộ; nếu vậy thì tốt hơn hết là mối lương duyên của chúng ta nên chấm dứt vĩnh viễn: nhưng dù ngài nghĩ thế hay không, có Trời cao đang chứng giám, em nói với ngài hoàn toàn sự thật, trong sáng như máu của trẻ thơ, trắng ngần như sữa: ôi hỡi Merlin, xin nguyện cho mảnh đất cứng cỏi này, nếu có khi nào em, nếu cái tâm trí lang thang khờ dại này của em, dẫu chỉ là trong những mảnh rác rưởi lộn xộn của một giấc mơ, từng vướng phải một sự phản trắc mang tính phỏng đoán nào—nguyện cho mảnh đất cứng cỏi này nứt toác ra tận địa ngục Nadir sâu thẳm bên dưới, rồi khép lại, kẹp bẹp dí em xuống, nếu em là một kẻ phản bội như thế. Hãy ban đặc ân cho em, bằng không em khó lòng dâng hiến trọn vẹn con người mình cho ngài; và hãy đáp lại mong ước được nhắc đi nhắc lại nhiều lần của em, bằng chứng vĩ đại cho tình yêu của ngài: bởi em nghĩ rằng, dẫu có khôn ngoan đến đâu, ngài vẫn chưa thực sự hiểu rõ về em đâu.”
Và Merlin rút tay khỏi tay nàng rồi nói:
“Ta chưa bao giờ kém khôn ngoan hơn lúc này, dù có khôn ngoan đến đâu, hỡi Vivien tò mò thái quá ạ, mặc cho cô cứ mở miệng ra là nói về lòng tin, chính là lúc ta kể cho cô nghe về câu phép ấy từ đầu. Phải, nếu cô đã nhắc đến lòng tin thì ta nói thật thế này: ta đã đặt niềm tin quá mức khi kể cho cô điều đó, và khơi dậy cái bản tính đồi bại này trong con người cô—thứ từng hủy hoại nhân loại qua người phụ nữ ngay từ thuở ban đầu; bởi vì dẫu sự tò mò là tốt đối với trẻ em—những kẻ phải học hỏi về bản thân và toàn bộ thế giới—nhưng ở cô, một kẻ không còn là trẻ con, vì ta vẫn nhận thấy gương mặt cô đã được trau chuốt kỹ càng mỗi khi ta đọc lên từng nét chữ, ta gọi đó là—thôi được, ta sẽ không gọi nó là sự đồi bại đâu: nhưng vì cô đã tự ví mình là con ruồi mùa hè, ta thật ước gì có một tấm mạng nhện dành cho con muỗi ấy, cứ sà xuống, bị đánh văng ra, rồi bị đánh văng ra lại sà xuống, cho đến khi người ta phải đầu hàng vì kiệt sức: nhưng vì ta sẽ không nhượng bộ để trao cho cô quyền năng chi phối cuộc sống, công dụng, tên tuổi và danh tiếng của ta, tại sao cô không bao giờ chịu xin một đặc ân nào khác cơ chứ? Phải, thề có thánh giá của Chúa, ta đã đặt niềm tin vào cô quá nhiều rồi.”
Và Vivien, tựa như thiếu nữ có trái tim dịu dàng nhất từng chờ đợi lời hẹn ước bên chiếc cổng làng, cất lời đáp, khóe mắt ướ đẫm lệ:
“Không đâu, Đại sư ơi, xin đừng giận dữ với người thiếu nữ của mình; hãy vuốt ve nàng đi; hãy để nàng cảm thấy mình được tha thứ, kẻ vốn chẳng còn lòng dạ nào để đi xin một đặc ân khác. Em nghĩ ngài khó lòng mà biết được vần thơ dịu dàng ‘hãy tin em hoàn toàn hoặc đừng tin chút nào’ đâu.
Em từng nghe ngài Lancelot vĩ đại hát nó một lần, và nó sẽ thay em trả lời. Xin hãy lắng nghe đây.
‘Trong Tình yêu, nếu Tình yêu là Tình yêu, nếu Tình yêu thuộc về chúng ta,
Lòng chung thủy và sự phản bội chẳng bao giờ có thể là hai thế lực ngang bằng:
Sự phản bội dẫu ở điểm nào cũng là sự thiếu hụt lòng tin ở mọi điều.
Đó chính là vết nứt nhỏ trong cây đàn lu-lốt,
Để rồi chẳng mấy chốc sẽ làm cho âm nhạc câm lặng,
Và cứ thế lan rộng dần chậm rãi làm chìm vào tĩnh mịch.
Vết nứt nhỏ trong cây đàn lu-lốt của người tình,
Hay chút vết tích nhỏ nhặt trong trái cây cất trữ,
Cứ thế mục ruỗng bên trong rồi từ từ phân hủy tất cả.
Nó chẳng đáng để gìn giữ: hãy để nó trôi đi:
Nhưng có nên thế không? Hãy trả lời đi, người yêu hỡi, hãy trả lời là không.
Và đừng tin em chút nào hoặc hãy tin em hoàn toàn.’
Ôi Đại sư, ngài có yêu vần thơ dịu dàng của em không?”
Và Merlin nhìn nàng và suýt tin rằng nàng thật lòng, giọng nàng mới dịu dàng làm sao, khuôn mặt nàng mới xinh đẹp làm sao, đôi mắt nàng lấp lánh ngọt ngào sau những giọt lệ tựa như ánh nắng trên đồng cỏ sau cơn mưa:
Thế nhưng ông vẫn nửa phần phẫn nộ đáp lại:
“Hoàn toàn khác biệt là khúc ca mà ta từng nghe bên cội sồi khổng lồ này, được hát gần đúng nơi chúng ta đang ngồi đây: vì nơi này, khoảng mười hay mười hai người chúng ta từng tề tựu để săn đuổi một sinh vật vốn rất nổi tiếng thời bấy giờ giữa chốn rừng hoang này, con hươu đực mang cặp sừng vàng. Đó là thời điểm câu hỏi về việc thành lập một Bàn Tròn lần đầu tiên được đặt ra—nơi mà, vì tình yêu dành cho Chúa, cho nhân loại và cho những nghĩa cử cao đẹp, sẽ trở thành đóa hoa rực rỡ nhất trần gian. Và mỗi người đều khích lệ nhau làm những việc cao cả.
Và trong lúc chúng ta đang chờ đợi, một người, kẻ trẻ tuổi nhất trong số chúng ta—chúng ta chẳng thể bắt cậu ta im lặng được—bỗng phắt đứng dậy, cất lên một khúc ca đầy lửa cháy cho danh vọng, ngập tràn âm hưởng vang dội của tiếng kèn trống, rồi khép lại bằng một hồi kết cứng rắn và đanh thép như sắt va vào đá, khiến khi cậu ta dứt lời, tất cả chúng ta đều khao khát lao vút đi cùng nhau, và suýt chút nữa đã làm thế; nhưng con thú tuyệt đẹp, vì hoảng sợ trước tiếng ồn, bỗng chồm dậy ngay dưới chân chúng ta, và tựa như một bóng râm bằng bạc lướt đi qua vùng đất mờ sương; và suốt cả ngày dài, chúng ta phi ngựa qua vùng đất mờ sương ngược chiều gió thổi lồng lộng, khúc ca khải hoàn huy hoàng ấy cứ văng vẳng bên tai, và chúng ta đuổi theo những ánh sáng chớp nhoáng từ cặp sừng vàng của nó cho đến khi chúng biến mất bên chiếc giếng thần tiên—nơi nhạo báng cả sắt thép, hệt như các chiến binh của chúng ta từng làm—nơi trẻ con thường ném những chiếc đinh ghim và đinh sắt xuống rồi hét lên, ‘Hãy cười đi, chiếc giếng nhỏ nhé!’, nhưng nếu bạn chạm vào nó bằng một thanh gươm, nó sẽ kêu vo vo dữ dội quanh mũi kiếm; và chính tại đó, chúng ta đã mất dấu nó: đó là một khúc ca cao quý làm sao.
Nhưng hỡi Vivien, khi cô hát cho ta nghe vần thơ ngọt ngào ấy, ta cứ có cảm giác như thể cô đã biết rõ câu phép nguyền rủa này, đang thử nghiệm nó lên ta, còn ta thì nằm đó và cảm nhận chúng đang dần lụi tàn, cả tên tuổi lẫn danh tiếng.”
Và Vivien mỉm cười u sầu đáp:
“Ôi, tên tuổi của em đã lụi tàn vĩnh viễn rồi, và tất cả cũng chỉ vì đi theo ngài đến chốn rừng hoang này, bởi em thấy ngài buồn rầu nên muốn đến để an ủi ngài. Kìa xem, trái tim đàn ông mới tệ bạc làm sao! Họ chẳng bao giờ vươn lên cao được như người phụ nữ trong tâm trạng vị tha. Và nói về danh tiếng, mặc cho ngài có khinh miệt bài thơ của em, xin hãy nghe thêm một khổ nữa—lời của người phụ nữ trong đó:
‘Tên của tôi, từng là của tôi, nay là của ngài, càng trở nên gắn bó sâu sắc hơn với tôi,
Vì danh tiếng, giả sử danh tiếng có thể thuộc về tôi, thì danh tiếng ấy sẽ thuộc về ngài,
Và sự ô nhục, giả sử ô nhục có thể thuộc về ngài, thì sự ô nhục ấy sẽ thuộc về tôi.
Thế nên đừng tin tôi chút nào hoặc hãy tin tôi hoàn toàn.’
Nàng nói có hay không nào? Và vẫn còn nữa—vần thơ này tựa như chiếc vòng ngọc trai tuyệt đẹp của Hoàng hậu, bị đứt tung trong lúc khiêu vũ và những viên ngọc văng tứ tung; kẻ mất, kẻ trộm được, kẻ giữ lại làm bảo vật. Nhưng chẳng bao giờ hai viên ngọc trai chị em ấy lại cùng lăn xuống sợi tơ để hôn lên cổ trắng ngàn của bà một lần nữa—vần thơ này cũng vậy thôi: nó sống phân tán trong tay rất nhiều người, và mỗi tay hát rong lại ca tụng nó một kiểu khác nhau; thế nhưng vẫn có một dòng chân lý duy nhất, viên ngọc quý trong những viên ngọc:
‘Đàn ông mơ mộng về Danh vọng trong khi phụ nữ thức tỉnh vì tình yêu.’
Phải! Tình yêu, dẫu cho đó có là thứ tình yêu trần tục nhất đi nữa, vẫn tạc nên một khoảng khắc từ thực tại vững chắc, tận hưởng và sử dụng nó, chẳng màng đến phần còn lại; nhưng Danh vọng, cái thứ Danh vọng theo sau cái chết chẳng có nghĩa lý gì đối với chúng ta cả; và danh vọng khi còn sống là gì nếu không phải là một nửa nỗi tai tiếng, đan xen với bóng tối? Chính ngài cũng thừa hiểu rằng Sự đố kỵ gọi ngài là con của Quỷ dữ, và vì ngài có vẻ là Bậc thầy của mọi Nghệ thuật, chúng rất sẵn lòng biến ngài thành Bậc thầy của mọi thói hư tật xấu.”
Và Merlin đan chặt tay mình vào tay nàng rồi nói:
“Ta từng có lần đi tìm một loại cỏ phép thuật, và tìm thấy một chàng hầu cận trẻ tuổi ngồi một mình, tự đục đẽo cho mình một chiếc khiên hiệp sĩ bằng gỗ, rồi đang vẽ lên đó những huy hiệu tưởng tượng, nền xanh thẳm, một con chim đại bàng vàng đang bay lên, mặt trời ở góc trên bên phải; với dòng chữ ‘Ta theo đuổi danh vọng’. Và không nói gì, chỉ cúi người qua người cậu ta, ta cầm lấy cọ vẽ rồi bôi xóa con chim đi, và thay vào đó là hình ảnh một người làm vườn đang cấy ghép cành, kèm theo câu châm ngôn này: ‘Hãy chuộng công dụng hơn danh vọng’. Lẽ ra cô phải nhìn thấy cậu ta đỏ mặt tía tai lúc đó mới thú vị làm sao; nhưng sau này cậu ta đã trở thành một hiệp sĩ kiên cường. Ôi Vivien, đối với cô, ta nghĩ rằng cô nghĩ mình rất yêu ta; còn đối với ta, ta yêu cô đôi chút; hãy nghỉ ngơi đi: và Tình yêu nên có chút sự nghỉ ngơi và niềm vui trong chính nó, chứ đừng lúc nào cũng quá tò mò về một đặc ân, quá khao khát tìm kiếm một bằng chứng đi ngược lại với bản chất của kẻ mà cô nói là mình yêu: nhưng Danh vọng đối với nam nhân, vốn chỉ là phương tiện lớn lao hơn để phục vụ nhân loại, nên có rất ít sự nghỉ ngơi hay niềm vui cho riêng mình, mà phải hành động như một kẻ chư hầu phục vụ cho tình yêu lớn lao hơn—thứ tình yêu làm thu nhỏ lại thứ tình yêu vụn vặt giữa cá nhân với cá nhân. Chính công dụng đã mang lại cho ta danh vọng từ thuở ban đầu, và rồi danh vọng khi lớn dần lại mang lại cho ta nhiều công dụng hơn. Kìa, đó là đặc ân của ta đấy! Còn đặc ân nào khác nữa? Bởi người ta đã tìm cách chứng minh ta là kẻ đồi bại, chỉ vì ta hằng muốn ban cho họ một trí tuệ lớn lao hơn: và rồi Sự đố kỵ đã gọi ta là con của Quỷ dữ: con dã thú yếu đuối ốm đau tìm cách tự cứu mình bằng cách tấn công kẻ bề trên mình, để rồi hụt mất, tự quật móng vuốt vào mình và làm tổn thương chính trái tim nó.
Ngọt ngào thay những ngày tháng ta còn là một kẻ vô danh, nhưng khi tên tuổi ta được vinh danh, cơn bão đã giáng xuống ngọn núi và ta chẳng thèm bận tâm đến nó. Ta thừa biết rằng danh vọng vốn là một nửa tai tiếng, nhưng ta vẫn phải hoàn thành sứ mệnh của mình. Còn cái thứ danh vọng kia, ít nhất là đối với một kẻ không có con cái, một thứ mơ hồ, tiếng xì xào của những kẻ chưa chào đời quanh nấm mồ, ta chẳng màng tới nó: một vì sao mờ ảo đơn độc, là ngôi sao thứ hai trong hàng những ngôi sao trông giống như thanh gươm nằm dưới chiếc thắt lưng ba ngôi sao, chưa bao giờ ta ngước nhìn nó mà không mơ tưởng về một thứ phép thuật vĩ đại ẩn chứa trong ngôi sao đó có thể biến danh vọng thành hư vô. Thế nên, nếu ta sợ rằng, khi trao cho cô quyền năng chi phối ta thông qua câu phép này, cô có thể chơi trò lừa lọc ta một khi đã nắm quyền trong tay (dẫu bây giờ cô có nghĩ rằng mình yêu ta đến nhường nào đi chăng nữa—như những đứa con của các vị vua khi còn ở tuổi thiếu niên từng yêu mến bỗng trở thành bạo chúa khi lên nắm quyền), thì ta càng e sợ việc mất đi công dụng hơn là mất đi danh vọng; nếu cô—và không hẳn vì sự độc ác, mà do một phút bốc đồng hoang dại giận dữ nào đó, hoặc một tâm trạng tình cảm bị đẩy lên quá mức, có lẽ là để giữ chặt ta cho riêng mình—hoặc đơn giản là một cơn ghen tuông bộc phát của đàn bà—lại thử nghiệm câu phép này lên kẻ mà cô bảo rằng mình yêu.”
Và Vivien mỉm cười như đang nổi giận đáp:
“Em đã thề thốt rồi cơ mà? Ta không được tin tưởng ư? Tốt lắm! Thôi được, cứ giấu đi, cứ giấu kỹ vào; rồi em sẽ tìm ra cho bằng được; và một khi đã tìm ra, hãy cẩn thận với Vivien đấy. Là một phụ nữ mà không được tin tưởng, chắc chắn em có thể cảm sinh ra chút giận dữ bộc phát sinh ra từ sự hoài nghi của ngài; và cái biệt danh hay ho của ngài cũng thật chuẩn xác đấy chứ, bởi vì tình yêu nồng cháy này của em mà không nhận lại được một trái tim trọn vẹn thì rất đáng để mang cái tiếng là thái quá của ngài. Bị đối xử như em đây, điều khiến em ngạc nhiên mỗi ngày là sao mình vẫn có thể yêu nổi. Còn về sự ghen tuông của đàn bà, ôi sao lại không chứ? Ôi nhằm mục đích gì cơ chứ, nếu không phải vì sự ghen tuông, và để khiến em ghen tuông nếu em thực sự yêu, mà cái phép thuật đẹp đẽ này lại do chính tay ngài phát minh ra? Em thừa tin rằng ở khắp nơi trên thế giới này, ngài đang giam cầm một cô nàng tù nhân phúng phính nào đó ở đâu đây, bị nhốt trong bốn bức tường của một ngọn tháp rỗng mà chẳng thể nào trốn thoát được cho đến muôn đời.”
Bấy giờ vị Đại sư vĩ đại mới vui vẻ đáp lại nàng:
“Thuở trẻ ta từng yêu biết bao mối tình; lúc bấy giờ ta chẳng cần đến bất kỳ câu phép nào để giữ họ ở lại bên mình ngoài tuổi trẻ và tình yêu; và cái trái tim trọn vẹn của cô mà cô cứ lải nhải suốt ấy, giờ đây có thể đoan chắc rằng ta thuộc về cô rồi; thế nên hãy cứ sống không cần phép thuật đi. Đối với những kẻ đã tạo ra nó thuở ban đầu, cổ tay đã lìa khỏi bàn tay từng vung lên ấy, đôi chân đã rời khỏi mắt cá của những kẻ từng bước đi ấy từ bao đời trước: nhưng cô có muốn nghe truyền thuyết về nó như một món quà tạ ơn cho vần thơ của mình không?
“Có một vị vua sống ở miền Đông xa xôi nhất, ít tuổi hơn ta, nhưng lại già dặn hơn, bởi dòng máu của ta mang trong mình lời hứa hẹn về những mùa xuân xa xôi trong tương lai. Một tên hải tặc da ngăm đen đã thả neo tại cảng của hắn, kẻ từng cướp bóc qua hai mươi hòn đảo vô danh; và khi đi ngang qua một hòn đảo vào lúc bình minh ló dạng, hắn nhìn thấy hai thành phố trên hàng ngàn chiếc thuyền đang giao chiến ác liệt vì một người phụ nữ trên biển. Và luồn con thuyền màu đen của mình vào giữa trận chiến, hắn dễ dàng đánh tan thuyền của chúng và cướp nàng đi, dẫu phải hy sinh một nửa số thuộc hạ chết vì trúng tên; một thiếu nữ mượt mà, trắng ngần và kỳ diệu đến mức người ta bảo rằng có ánh sáng tỏa ra từ người nàng mỗi khi nàng chuyển động; và vì tên hải tặc nhất quyết không chịu trả nàng lại, Nhà vua đã đóng cọc hắn vì tội hải tặc; rồi sắc phong nàng làm Hoàng hậu: nhưng đôi mắt được nuôi dưỡng từ những hòn đảo ấy đã gây ra một cuộc chiến không mong muốn nhưng lại vô cùng đắc thắng nhắm vào tất cả các chàng trai trẻ, khiến họ ngã bệnh; các buổi họp hội đồng thưa thớt dần, quân đội cạn kiệt, bởi tựa như nam châm, nàng hút lấy cả những trái tim rỉ sét nhất của những chiến binh già dặn; và ngay cả loài thú vật cũng phải tôn sùng: những con lạc đà tự động quỳ xuống mà không cần sai bảo, và những loài mãnh thú vùng núi chuyên chở các vị vua trong những chiếc tháp trên lưng cũng cúi những cái đầu gối đen đúa để bày tỏ lòng kính trọng, với những chiếc vòng chân bằng vàng kêu lanh keng theo từng cử động để chuốc lấy nụ cười của nàng. Có gì là lạ đâu khi vì ghen tuông mà hắn đã phái những sứ giả đi loan truyền khắp một trăm vương quốc chư hầu dưới quyền để tìm cho ra một phù thủy có thể dạy cho Nhà vua một câu phép thuật, mà khi được thi triển lên Hoàng hậu, có thể giữ nàng hoàn toàn thuộc về riêng hắn: đối với kẻ đó, hắn hứa hẹn nhiều hơn bất kỳ vị vua nào từng ban tặng, một dãy núi đầy những mỏ vàng, một tỉnh thành với một trăm dặm bờ biển, một cung điện và một nàng công chúa, tất cả đều dành cho kẻ ấy: nhưng đối với tất cả những kẻ thử nghiệm mà thất bại, Nhà vua đều tuyên bố một bản án thảm khốc, nhằm mục đích giữ cho số lượng kẻ thử ít đi và ngăn chặn những kẻ mạo muội, hoặc giống như một vị vua, không thích bị đùa giỡn—đầu của chúng sẽ phải mục rữa trên các cổng thành. Và rất nhiều kẻ đã thử rồi thất bại, bởi bản chất quy rũ trong nàng đã lấn át cả phép thuật của chúng; và vô số cái đầu phù thủy đã bạc trắng trên những bức tường thành; và suốt bao tuần lễ, một bầy quạ xác thủa cứ bay lượn như một đám mây phủ trên những ngọn tháp cổng thành.”
Và Vivien xen ngang lời ông, nói:
“Em đang ngồi đây để thu lượm mật ngọt; thế nhưng, em nghĩ rằng, cái lưỡi của ngài vừa lỡ lời một chút rồi đấy: ngài tự hỏi bản thân xem. Người phụ nữ ấy chưa từng gây ra cuộc chiến không mong muốn bằng đôi mắt đẹp đẽ đó: nàng ta vốn tận hưởng niềm vui trong đó, và khiến người chồng tốt của mình phải ghen tuông một cách có cơ sở. Và thuở ấy chẳng có nổi một vị phu nhân hay tiểu thư nào tức giận vì mất người yêu hay sao? Tất cả bọn họ đều điềm đạm, ý em là, đều cao quý hệt như Hoàng hậu xinh đẹp sao? Chẳng có lấy một kẻ biết tung nọc độc vào đôi mắt nàng, hay lén bỏ chút bột độc chí mạng vào cốc nước của nàng, hay làm nàng xanh xao hơn với một đóa hồng tẩm độc ư? Chà, đó không phải là thời đại của chúng ta: nhưng họ có tìm được vị phù thủy nào không? Hãy nói cho em nghe, hắn có giống ngài không?”
Nàng dứt lời, siết chặt cánh tay uyển chuyển của mình quanh cổ ông, rồi ngả người ra sau, để đôi mắt thay mình lên tiếng, rực rỡ nhìn ông hệt như ánh mắt của một cô dâu nhìn vị phu quân mới của mình, người của riêng nàng, người đàn ông tuyệt vời nhất trên đời.
Ông vừa cười vừa đáp: “Không đâu, không giống ta chút nào. Cuối cùng thì đám người đi tìm phép thuật của hắn cũng tìm thấy—một gã đàn ông lùn xủm đầu hói, sống cô độc một mình giữa chốn hoang vu rộng lớn chỉ ăn cỏ; chỉ đọc đúng một cuốn sách, và cứ đọc mãi cho đến khi trở nên gầy mòn và tàn tạ vì suy nghĩ, gầy đến mức đôi mắt trông thật kỳ dị; trong khi lớp da bọc lấy bộ khung sườn và xương sống như giỏ đựng đồ. Và vì hắn luôn tập trung tâm trí vào một mục đích duy nhất, chưa từng chạm đến rượu mạnh hay nếm thịt, cũng không mang một ham muốn trần tục nào, nên đối với hắn, bức tường ngăn cách giữa những bóng ma và những con người bằng xương bằng thịt bỗng trở thành một tấm kính trong suốt, và hắn có thể nhìn thấu qua đó, nghe được giọng nói của họ thì thầm sau bức tường, và học được những bí mật nguyên thủy, quyền năng và thế lực của chúng; thường thì hắn kéo tấm màn khổng lồ của một đám mây đen kịt che khuất ánh mắt rực rỡ của mặt trời, rồi quất roi vào chân nó bằng những trận bão xiên chéo; hoặc giữa ngọ trưa sương mù và mưa xối xả, khi mặt hồ trắng xóa và rừng thông gầm thét, và ngọn núi chất đầy đá tảng chỉ là một cái bóng, hắn lại làm cho thế gian bừng sáng trở lại trong bình yên: chính là con người đó. Và thế là chúng dùng vũ lực lôi cổ hắn đến trước mặt Nhà vua.
Và rồi hắn dạy Nhà vua cách yểm bùa Hoàng hậu sao cho không ai có thể nhìn thấy nàng được nữa, bản thân nàng cũng chẳng thấy ai ngoài Nhà vua—kẻ đã yểm bùa—đang đi tới đi lui, còn nàng thì nằm bất động như đã chết, và mất hết mọi năng lực sống: nhưng khi Nhà vua ban thưởng cho hắn khu mỏ vàng, tỉnh thành với một trăm dặm bờ biển, cung điện và nàng công chúa, vị lão gia đó lại quay trở về chốn hoang vu cũ của mình, sống bằng cỏ, rồi biến mất, và cuốn sách của hắn đã được truyền xuống tay ta.”
Và Vivien mỉm cười xấc láo đáp:
“Ngài đang giữ cuốn sách: câu phép được viết trong đó: Tốt lắm: hãy nghe lời khuyên của em: hãy cho em biết nó ngay đi: vì dù ngài có cất giấu nó như một chiếc hộp giải đố giấu trong hộp, với mỗi chiếc hộp được khóa và bấm ổ khóa ba mươi lớp, và dồn tất cả những thứ đó xuống dưới một gò đất khổng lồ hệt như người ta đắp lên những thợ săn ngã xuống sau một trận chiến ác liệt trên ngọn đồi hoang vút tiếng gió đi chăng nữa, em vẫn sẽ tìm ra cách đột ngột để đào bới, nạy mở, tìm thấy và đọc được câu phép ấy: Vậy thì, nếu em có thử nghiệm nó, ai có thể trách cứ được em chứ?”
Và mỉm cười như cách một người thầy mỉm cười trước một kẻ không thuộc trường phái của mình, cũng chẳng thuộc trường phái nào ngoài ngôi trường nơi Sự ngu dốt mù quáng và trần trụi đưa ra những phán quyết ngông cuồng, không hổ thẹn, về mọi thứ suốt cả ngày dài, ông đáp lại nàng:
“Cô mà đọc được cuốn sách ư, hỡi Vivien xinh đẹp của ta! Ồ vâng, nó chỉ dài có hai mươi trang, nhưng mỗi trang đều có lề rất rộng, và mỗi lề đều bao bọc ở chính giữa một ô văn bản trông giống như một vết mực nhỏ, chữ viết không to hơn chân loài bọ chét; và mỗi ô văn bản là một câu phép kinh hoàng, được viết bằng một ngôn ngữ đã mai một từ lâu. Đã lâu đến mức từ đó đến nay những ngọn núi đã nhô lên cùng với những thành phố sừng sững trên sườn sủa của chúng—cô mà đòi đọc cuốn sách ấy ư! Và khắp các lề sách đều chi chít chữ viết nguệch ngoạc, gạch xóa và nhét đầy những chú thích, được cô đọng đến mức dày đặc nhất, vô cùng khó nhằn đối với cả tâm trí lẫn đôi mắt; nhưng những đêm dài không ngủ trong cuộc đời lâu dài của ta đã khiến nó trở nên dễ dàng đối với ta. Và chẳng ai đọc được phần văn bản ấy, ngay cả ta cũng không; và chẳng ai đọc được phần chú thích ngoại trừ chính ta; và chính trong phần chú thích đó ta đã tìm ra câu phép.
Ôi, kết quả của nó thì vô cùng đơn giản; một đứa trẻ cũng có thể dùng nó để hãm hại bất kỳ ai, và chẳng bao giờ có thể hóa giải được: đừng đòi hỏi nữa: bởi vì dẫu cô không đem nó ra thử nghiệm lên ta, mà giữ đúng lời thề đã thề, thì rất có thể cô sẽ đem nó ra thử nghiệm lên một ai đó trong Hội Bàn Tròn, và tất cả chỉ vì cô cứ mơ mộng rằng họ đang ngồi lê đôi mách về mình.”
Và Vivien cau mày giận dữ thực sự, nói:
“Lũ kẻ nói dối ăn no rửng mỡ ấy dám nói gì về em chứ? Bọn chúng rong ruổi khắp nơi để đòi lại công lý cho con người! Bọn chúng ngồi ăn thịt bằng dao, uống rượu bằng sừng! Bọn chúng bị ràng buộc bởi những lời thề thánh thiện về sự trinh bạch! Nếu em không phải là phụ nữ, em đã kể ra một câu chuyện cho ngài nghe rồi. Nhưng ngài là đàn ông, ngài hoàn toàn có thể hiểu được nỗi nhục nhã không thể giải bày vì quá mức hổ thẹn. Không một tên nào trong cả lũ súc sinh ấy được phép chạm vào người em: Lũ heo nái!”
Bấy giờ Merlin thản nhiên đáp lại lời nàng:
“Những gì cô thốt ra chỉ toàn là sự buộc tội mơ hồ và to lớn, ta nghĩ rằng nó xuất phát từ sự bực dọc và hoàn toàn không có bằng chứng. Nếu cô biết rõ, hãy đưa ra lời buộc tội mà cô biết để đối chất xem có đứng vững được không!”
Và Vivien cau mày giận dữ đáp:
“Ồ vâng, ngài nghĩ sao về ngài Valence, kẻ mà họ hàng đã để lại làm người trông coi vợ hắn cùng hai đứa con thơ, rồi đi đến những vùng đất xa xôi; đi vắng suốt một năm, và khi trở về lại phát hiện ra không phải hai mà là ba đứa? Đứa trẻ non nớt nằm đó, mới chỉ lọt lòng được một giờ tuổi! Người cha hạnh phúc ấy đã nói gì cơ chứ? Một đứa trẻ sinh thiếu tháng bảy tháng sẽ là món quà đúng sự thật hơn. Mười hai vầng trăng ngọt ngào ấy đã làm đảo lộn tư cách làm cha của hắn.”
Bấy giờ Merlin đáp: “Không đâu, ta biết câu chuyện đó. Ngài Valence kết hôn với một người phụ nữ xứ lạ: một lý do nào đó đã khiến hắn phải rời xa vợ mình: họ có một đứa con sống với bà ta; bà ta qua đời: người họ hàng của hắn trong chuyến đi lo việc riêng đã được Valence ủy thác đưa đứa trẻ về nhà. Hắn mang về chứ không phải tìm thấy nó ở đó: hãy tiếp nhận sự thật đi.”
“Ồ vâng,” Vivien nói, “một câu chuyện quá ư là sự thật. Thế ngài bảo sao về ngài Sagramore ngọt ngào, kẻ nhiệt thành ấy? ‘Hái hoa đúng mùa’, tục ngữ đã nói thế, ‘ta tin đó chẳng phải là tội phản quốc’. Hỡi Đại sư, chúng ta có nên gọi hắn là quá nhanh tay khi ngắt đóa hồng ngọt ngào của chính mình trước giờ giấc không?”
Và Merlin đáp: “Chính cô mới là kẻ quá nhanh nhẩu khi vớ lấy chiếc lông vũ nhơ nhớp rơi ra từ đôi cánh của con chim cướp bóc hèn hạ ấy—kẻ mà con mồi duy nhất chính là danh tiếng tốt đẹp của người khác: hắn chưa từng làm tổn hại gì đến người vợ của mình. Ta biết câu chuyện đó. Một cơn gió giận dữ đã thổi tắt ngọn đuốc của hắn giữa chốn cung điện phức tạp của Arthur với vô vàn căn phòng và hành lang chằng chịt: rồi hắn tìm thấy một cánh cửa, và trong bóng tối sờ soạng những hoa văn điêu khắc quấn quanh khiến nó trông giống như cửa phòng mình; và vì quá kiệt sức nên hắn đã lao lên giường và ngủ thiếp đi, một kẻ không tì vết nằm cạnh một thiếu nữ không tì vết; và cả hai đều ngủ say, chẳng hay biết gì về sự hiện diện của người kia; cho đến khi ánh bình minh rực rỡ xuyên qua ô cửa kính hoa hồng hoàng gia trong khung cửa sổ của Arthur chiếu rọi xuống một cách thanh khiết, đỏ bừng lên trên những gò má đang đỏ bừng của họ, và ngay lập tức hắn đứng dậy không nói một lời rồi rời khỏi nàng; nhưng khi câu chuyện bị thổi phồng khắp triều đình, thế giới thú vật với những tiếng hú hét đã ép buộc họ phải kết hôn, và thật tình cờ là họ đang hạnh phúc, bởi cả hai đều trong sáng.”
“Ồ vâng,” Vivien nói, “điều đó cũng dễ xảy ra thật đấy. Thế ngài nói sao về ngài Percivale thanh tao và sự dơ bẩn kinh khủng mà hắn đã gây ra, vị thanh niên thánh thiện, chú cừu non không tì vết của Chúa, hay chính là một con cừu đen trong bầy đàn của Thánh Satan. Sao nào, ngay trong khuôn viên của sân nhà thờ, giữa những tấm bia đồng khắc tên các hiệp sĩ đã khuất, và bên cạnh những dòng chữ Hic Jacets lạnh lẽo của người chết!”
Và Merlin thản nhiên đáp lại lời buộc tội của nàng:
“Percivale là một người điềm đạm và trong sáng; nhưng có một lần trong đời hắn đã bị men rượu mới làm cho choáng váng, rồi đi dạo để hít thở không khí mát mẻ trong sân nhà thờ; nơi một trong những nữ mục tử của Satan đã tóm lấy hắn và định đóng lên hắn dấu ấn của chủ nhân ả; và việc hắn sa ngã là điều không thể tin được; bởi vì, hãy nhìn vào khuôn mặt hắn kìa!—nhưng nếu hắn thực sự sa ngã, thì tội lỗi đã trở thành thói quen ngấm vào máu, chứ không phải cái khoảnh khắc tăm tối duy nhất mang lại sự hối hận, mới là thứ sau này đóng khung ấn định xem chúng ta thuộc về bầy đàn nào: bằng không thì vị vua thánh thiện—kẻ có những bài thánh ca được cất lên trong tu viện—còn tệ hại hơn tất cả. Nhưng sự bực dọc của cô đã sủi bọt ra hết chưa, hay vẫn còn nữa?”
Và Vivien cau mày giận dữ đáp:
“Ồ vâng; thế ngài nói sao về ngài Lancelot, người bạn kẻ thù hay kẻ trung thực? Mối quan hệ mờ ám đó với Hoàng hậu, ta hỏi ngài, là do trẻ con la ó hay được thì thầm nơi góc khuất? Ngài có biết điều đó không?”
Trước câu hỏi đó, ông buồn bã đáp: “Phải, ta biết chứ. Ngài Lancelot ban đầu đến với tư cách là sứ giả để rước bà về, và bà đã đứng trên thành lùy để dõi theo hắn. Có lời đồn rằng bà đã nhầm hắn với Nhà vua, nên tâm trí mới đắm đuổi theo hắn: cứ để mặc họ đi. Nhưng chẳng lẽ cô không có lấy nổi một lời khen ngợi trung thành nào dành cho Arthur, vị Vua vô khuyết và con người không tì vết ấy sao?”
Nàng cười khúc khích hạ giọng đáp:
“Đàn ông! Hắn có phải là đàn ông không cơ chứ, kẻ vừa biết vừa nhắm mắt làm ngơ? Nhìn thấy rõ vợ mình là người thế nào và đang làm gì, vậy mà vẫn nhắm mắt làm ngơ? Bằng cách đó, vị Vua tốt lành muốn tự bịp mắt mình, và tự bịp mắt cả Bàn Tròn trước mọi sự dơ bẩn mà họ đang làm. Bản thân ta (nếu không vì cái danh phụ nữ) có thể gọi hắn là—nguyên nhân xinh đẹp, phổ biến tạo nên thứ bản lĩnh đàn ông ấy, có thể gọi hắn là nguyên nhân chính gây ra mọi tội lỗi của họ; phải, nếu hắn không được đội vương miện làm Vua, thì hắn chỉ là một kẻ hèn nhát và ngu ngốc.”
Bấy giờ Merlin tự nhủ với lòng mình đầy tởm lợm:
“Ôi con người chân thực và dịu dàng! Ôi chủ nhân và Nhà vua của ta! Ôi con người vị tha và vị hiệp sĩ không tì vết, ngươi dẫu có tận mắt chứng kiến vẫn cố chấp muốn tất cả mọi người phải trung thực và chính trực, mọi phụ nữ phải trong sáng; làm sao mà qua cái miệng của những kẻ phiên dịch đê tiện, từ sự tinh tế quá mức vốn chẳng tài nào hiểu nổi đối với những sinh vật có mọi giác quan đều giả dối và nhơ nhớp hệt như thứ bùn nhão ngập ngụa giữa đường phố, sự trắng ngần không tì vết của ngươi lại bị coi là tội lỗi!”
Nhưng Vivien, cho rằng Merlin đã bị đuối lý trước những dẫn chứng của mình, liền bèn bồi thêm, để cái lưỡi gầm thét dữ dội như ngọn lửa giữa những tên tuổi cao quý nhất, bôi nhọ và gán ghép chính bản thân mình vào đó, phỉ báng và vấy bẩn, cho đến khi nàng không tha cho ngay cả Lancelot dũng cảm hay Galahad trong sáng.
Những lời nói của nàng lại mang đến một kết quả khác với mong muốn. Ông kéo cụm lông mày rậm rạp xuống, tạo thành một chiếc mái hiên tuyết trắng che đi đôi mắt rỗng tuếch, và lẩm bẩm một mình: “Kể cho ả nghe câu phép á! Để rồi nếu có nó trong tay, ả sẽ lại tru tréo mạt sát ta để giăng bẫy kẻ tiếp theo, và nếu không có nó thì ả cũng vẫn tru tréo như thế. Con ả lẳng lơ ấy vừa nói gì cơ? ‘Không vươn lên cao ư?’; chúng ta khó lòng mà chìm xuống thấp hơn được nữa: bởi vì đàn ông tệ nhất cũng khác nhau như Trời với Đất, nhưng phụ nữ, dù tệ nhất hay tốt nhất, lại khác nhau như Trời với Địa ngục. Ta thừa biết Hội Bàn Tròn, những người bạn cũ của ta; tất cả đều dũng cảm, nhiều người hào phóng, và một số thì trinh bạch. Ả ta khoác lên mình chiếc áo che đậy vết thương bị từ chối bằng những lời dối trá; ta thừa tin rằng ả đã quyến rũ họ nhưng thất bại, vì ả vốn cay độc: bởi vì những âm mưu tinh vi có thể thất bại, dẫu cho đám gái điếm có tô son điểm phấn cho lời nói của chúng giỏi giang đến đâu đi nữa bằng những thứ màu sắc của trái tim vốn chẳng thuộc về chúng. Ta sẽ không để ả biết: chín phần mười những kẻ nói xấu trước mặt lại chính là kẻ đâm sau lưng. Và những kẻ đó, tâm hồn ngọt ngào ạ, kẻ nào càng hay gán ghép tội lỗi cho người khác thì lại càng dễ phạm phải tội lỗi ấy, và tự gán ghép chính bản thân mình vào đó, vì tầm hiểu biết hạn hẹp; hoặc khao khát tầm thường muốn che giấu việc mình ở tầng lớp thấp nhất nên mới kéo tất cả xuống ngang hàng nhau; phải, chúng sẵn sàng gọt giũa ngọn núi cho phẳng lỳ với đồng bằng, để để lại một sự đê tiện ngang nhau; và ở điểm này, đám gái điếm cũng giống hệt như đám đông ngoài kia, nếu chúng tìm thấy một vết nhơ hay tì vết nào trên một tên tuổi lừng lẫy, thay vì đau buồn vì những vĩ nhân của họ lại quá nhỏ bé, chúng lại tự phình to bản thân bằng một niềm vui điên cuồng nào đó, và phán xét toàn bộ thiên nhiên từ cái đôi chân đất bằng bùn lầy của nó, chẳng có lấy chút ý chí nào để ngước mắt lên nhìn xem phần đầu tựa thần linh của ngọn hải đăng ấy đang được đội chiếc vương miện bằng ngọn lửa tâm linh, và chạm đến những thế giới khác. Ta mệt mỏi với ả ta lắm rồi.”
Ông thốt lên những lời có câu nghe rõ, có câu chỉ là tiếng thì thầm, nghẹn ngào nửa phần trong lớp lông lá xám xịt, già cỗi qua bao mùa đông ở cổ và cằm. Nhưng Vivien, láng ngóng nắm bắt được tâm trạng của ông, và nghe thấy từ “gái điếm” được lẩm bẩm hai ba lần, liền chồm dậy khỏi chỗ ngồi trên đùi ông, đứng cứng ngắc như một con rắn bị đóng băng; một cảnh tượng thật gớm ghiếc làm sao, khi từ đôi môi hồng hào của sự sống và tình yêu lại lóe lên bộ xương trắng hếu nhe răng cười của tử thần! Gương mặt nàng tái mét; những hơi thở gấp gáp vì giận dữ phồng phỏng chiếc mũi tiên tử; bàn tay siết hờ ngập ngừng lướt xuống phía dưới thắt lưng rồi sờ soạng; nếu nàng tìm thấy một con dao găm ở đó (bởi chỉ trong chớp mắt tình yêu giả tạo đã biến thành thù hận) nàng đã đâm chết ông rồi; nhưng nàng chẳng tìm thấy gì cả: ánh mắt ông vẫn điềm tĩnh, và bất chợt nàng bật khóc nức nở như một đứa trẻ bị đánh đòn, một tiếng khóc kéo dài dằng dặc, không sao dỗ dành nổi. Bấy giờ giọng nói giả tạo của nàng mới chen vào được, nghẹn ngào trong tiếng nấc:
“Ôi tàn nhẫn hơn bất kỳ câu chuyện nào từng được kể, hay khúc ca nào từng được hát! Ôi tình yêu bị phung phí một cách vô ích! Ôi tàn nhẫn, chẳng có điều gì hoang dại hay kỳ lạ, hay mang vẻ hổ thẹn—vì có gì là hổ thẹn trong tình yêu, miễn là tình yêu chân chính, chứ không phải thứ tình yêu như của ngài—chẳng có điều gì là Vivien tội nghiệp chưa từng làm để giành lấy lòng tin của kẻ từng gọi nàng bằng cái tên mà hắn vừa gọi—toàn bộ tội lỗi của nàng, tất cả—tất cả—chỉ là mong muốn chứng minh nàng hoàn toàn thuộc về ngài.”
Nàng trầm ngâm một lát, rồi vỗ tay vào nhau với một tiếng thét o o đầy bi thương và nói:
“Bị đâm thẳng vào tận trái tim của những tình cảm chân thành nhất! Bị luộc nhừ như con dê con trong chính sữa mẹ của nó! Bị giết chết bằng một lời nói còn tồi tệ hơn cả một đời chịu đòn roi! Em cứ nghĩ rằng ngài là người dịu dàng vì ngài là kẻ vĩ đại: Ôi lạy Chúa, giá như em yêu một kẻ tầm thường hơn! Em đã tìm thấy ở hắn một trái tim vĩ đại hơn rồi. Ôi, em, kẻ uốn nắn niềm đam mê chân thực của mình, từng chứng kiến các hiệp sĩ, triều đình, Nhà vua đều trở nên lu mờ trước ánh sáng của ngài, kẻ vẫn luôn thích làm cho đàn ông trở nên tăm tối hơn thực tế, chỉ vì niềm vui lớn lao khi được đặt ngài ngồi độc tôn trên bệ thờ tôn kính của em—giờ đây em đã nhận được câu trả lời, và từ nay về sau con đường cuộc đời từng rực rỡ hoa tươi đối với em khi có ngài làm người dẫn đường và đại sư, chỉ duy nhất mình ngài, bỗng trở thành lối mòn bên vách đá ven biển bị đứt đoạn, kết thúc trong một đống đổ nát—chẳng còn gì sót lại, ngoài việc bò vào một cái hang tối nào đó và ở đó, nếu bầy sói tha mạng cho em, khóc cạn cuộc đời mình, bị giết chết bởi sự tàn nhẫn không tài nào thốt nên lời.”
Nàng khựng lại, quay mặt đi, cúi gằm đầu, sợi dây chuyền vàng tuột khỏi mái tóc, bím tóc lỏng ra rồi tự tháo tung, nàng lại bật khóc nức nở, và chốn rừng sâu càng trở nên tăm tối hơn hướng về phía cơn bão trong tĩnh lặng, trong khi cơn giận của ông từ từ lụi tàn bên trong, cho đến khi ông buông bỏ cả sự khôn ngoan của mình để đổi lấy sự bình yên trong tâm hồn, và nửa phần tin rằng nàng là thật lòng: ông gọi nàng vào trú ẩn trong thân cây sồi rỗng,
“Hãy tránh bão đi,” và khi chẳng nhận được lời đáp nào, ông nhìn chằm chằm vào bờ vai đang phập phồng và gương mặt bị giấu kín trong bàn tay, ra chiều đau đớn hoặc hổ thẹn khôn cùng; rồi ba lần ông cố gắng, dùng những lời lẽ êm ái nhất để xoa dịu tâm trạng bất an của nàng, nhưng vô ích. Cuối cùng nàng cũng để cho mình được ông dỗ dành, và tựa như chú chim non vừa bay ra xa nay lại quay về, sinh vật tỏ ra bị tổn thương nhưng ngây thơ ấy lại quay về chiếc tổ cũ của mình và đậu lại đó.
Nàng ngồi đó, nửa rơi khỏi đầu gối ông, nửa nép vào lồng ngực ông, và vì nhìn thấy giọt nước mắt chậm rãi vẫn rỉ ra từ đôi mắt đang nhắm nghiền của nàng, vị phù thủy dịu dàng bèn vòng một tay che chở ôm lấy nàng, thiên về sự tử tế nhiều hơn là tình yêu. Nhưng nàng lập tức gỡ tay ông ra rồi đứng dậy, hai tay đan chéo trước ngực, đứng thẳng tắp và đỏ bừng mặt trước mặt ông như một nữ quý tộc đức hạnh bị tổn thương sâu sắc: rồi nàng nói:
“Từ nay về sau giữa đôi ta sẽ chẳng còn bất kỳ cử chỉ ân ái nào nữa cho đến muôn đời; bởi vì, nếu em thực sự là kẻ mang cái tiếng gọi đồi bại kia, thì thứ gì đáng được ban phát mà cái trái tim đồi bại của chính ngài lại cho là đáng để nhận lấy chứ? Em sẽ đi. Thật lòng mà nói, chỉ có một điều duy nhất lúc này—thà chết đi ba lần còn hơn là cất lời xin nó dù chỉ một lần—mới có thể khiến em ở lại—đính chứng về lòng tin ấy—điều từng bị từ chối hết lần này đến lần khác một cách vô ích! Giờ đây em mới đau đớn nhận ra mình thật có lý biết bao, sau cái từ ngữ đê tiện ấy của ngài! Ai mà biết được, biết đâu khi ấy em lại có thể tin tưởng ngài một lần nữa. Kìa! Thứ từng đối với em chỉ là một chút mơ mộng hão huyền, giờ đây đã trở thành nhu cầu thiết yếu to lớn của trái tim và cuộc đời. Vĩnh biệt; hãy nghĩ về em một cách dịu dàng, vì em sợ rằng số phận hoặc sự ngu ngốc của em, khi trót lỡ yêu một kẻ quá ư già dặn so với tuổi trẻ tươi vui hơn, chính là sẽ mãi mãi yêu ngài. Nhưng trước khi rời xa ngài, hãy để em thề thêm một lần nữa rằng nếu em mưu tính điều gì chống lại sự bình yên của ngài trong chuyện này, nguyện xin vị thiên thần công chính kia, kẻ đang làm bầu trời tối sầm lại bên trên, hãy phóng một tia chớp, bỏ qua mọi thứ khác, biến khối óc mưu mô của em thành tro bụi, nếu em nói dối.”
Nàng vừa dứt lời thì từ trên trời một tia sét giáng xuống (vì lúc này cơn bão đã áp sát ngay trên đầu họ), xé toạc một thân cây sồi khổng lồ, phóng những mũi nhọn và mảnh gỗ bay vèo vèo cắm phập xuống mặt đất tối tăm xung quanh. Ông ngẩng mắt lên và nhìn thấy thân cây đang sáng rực những vệt trắng giữa màn đêm u ám. Nhưng Vivien, vì sợ rằng trời đã nghe thấy lời thề của mình, lại bị lóa mắt bởi tia chớp lóe lên màu xám xịt và bị điếc tai bởi những tiếng nổ chói tai nối tiếp nhau, liền hoảng hốt lao quắp lấy ông và kêu lên, “Hỡi Merlin, dẫu ngài không yêu em, xin hãy cứu lấy, hãy cứu lấy em!” nàng bám chặt lấy ông và ôm siết vào ngực; gọi ông là người bảo vệ thân yêu trong nỗi hoảng sợ, dẫu trong lòng sự ranh mãnh vẫn chưa hề mai một trong cơn hoảng loạn, mà tiếp tục lung lạc tâm trạng ông và ôm siết lấy ông. Dòng máu tái nhợt của vị phù thủy trước cái chạm của nàng bỗng chuyển sang những sắc màu tươi tắn hơn, hệt như một viên ngọc mắt mèo được làm ấm lên. Nàng tự trách mình vì đã kể những câu chuyện nghe lỏm; nàng run rẩy vì sợ hãi, và khóc nức nở vì lỗi lầm bướng bỉnh của mình; nàng gọi ông là chúa tể và chủ nhân, là nhà tiên tri, là nhà thơ, là ngôi sao bạc buổi chiều, là vị thần của nàng, là Merlin của nàng, là tình yêu cuồng nhiệt duy nhất trong suốt cuộc đời nàng; và phía trên đầu họ, cơn bão vẫn đang gầm rú, chiếc cành mục gãy rắc trong tiếng nước mưa trút xối xả buốt giá đổ xuống; và trong sự thay đổi giữa ánh chớp chói lòa và bóng tối, đôi mắt cùng chiếc cổ của nàng lấp lánh lúc ẩn lúc hiện; cho đến khi cơn bão đã trút hết cơn giận dữ, rền rỉ và gầm thét kéo sang những vùng đất khác, để lại khu rừng hoang tàn trở lại với sự bình yên; và điều không nên xảy ra đã xảy ra, bởi Merlin, bị thuyết phục quá mức và kiệt sức, đã nhượng bộ, kể cho nàng nghe toàn bộ câu phép thuật, rồi chìm vào giấc ngủ.
Ngay khoảnh khắc ấy, nàng liền thi triển câu phép thuật về những bước đi đan xen và những cái vung tay, và ngài nằm bất động trong thân cây sồi rỗng như đã chết, lạc lõng khỏi sự sống, công dụng, tên tuổi và danh tiếng.
Bấy giờ, vừa hét lên “Ta đã biến vinh quang của hắn thành của mình,” vừa tru tréo “Đồ ngốc!”, mụ đàn bà lẳng lơ nhảy tót xuống khu rừng, và lùm cây khép lại phía sau nàng, còn khu rừng thì vang vọng lại tiếng “Đồ ngốc.”