Vua Pellam, kẻ từng liên minh và thất bại cùng Lot trong cuộc chiến đầu tiên ấy, người có vương quốc được khôi phục nhưng phải chịu quy phục triều cống, gần đây đã khất nợ không gửi cống vật; vì thế Arthur liền gọi viên quản kh già nua của mình tới và cất lời: “Hãy cùng đi với người này và người kia để mang nó về cho trẫm, kẻo ta phải đưa một kẻ trung thực hơn lên ngai vàng của hắn. Lời hứa của con người chính là hiện thân của Chúa nơi trần thế.” Bãm tâu bệ hạ, viên nam tước đáp lời: “Chúng thần xin đi, nhưng xin ngài hãy lắng nghe: có hai hiệp sĩ lạ mặt đang ngồi bên bờ suối gần Camelot, cách mép rừng chừng một dặm, sẵn sàng thách thức và quật ngã bất cứ hiệp sĩ nào đi qua. Ngài có muốn thần nhân tiện xử lý họ trên đường đi, và áp giải họ về diện kiến ngài không?” Arthur mỉm cười nhìn ông. “Bạn già ơi, ông đã quá già để còn bốc đồng như thế, hãy lên đường đi thôi, đừng chần chừ vì bất cứ chuyện gì, cứ để họ ngồi đó, cho đến khi họ gặp được một đối thủ cường tráng hơn chính họ.”
Thế là họ lên đường. Sớm tinh mơ một buổi bình minh tươi đẹp, tinh thần trẻ trung, nhẹ nhõm bỗng trỗi dậy trong lồng ngực Arthur; ngài tự mình mặc giáp lên đường, và khi đến bên bờ suối, ngài nhìn thấy Balin và Balan đang ngồi bất động như những bức tượng, hai anh em ngồi ở hai bên phải trái của dòng suối — dòng nước từ dưới cụm dương xỉ róc rách chảy ra, làm làn cát dưới đáy nhảy múa tưng bừng. Bên phải Balin là con ngựa của chàng được buộc chặt vào gốc cây tổng quán sái, còn bên trái Balan là con ngựa của chàng đứng sát bên cây dương. “Hỡi các vị trượng phu tuấn tú,” Arthur hỏi, “cớ sao hai vị lại ngồi nơi đây?” Balin và Balan đáp: “Vì danh dự; chúng ta là những tráng sĩ mạnh mẽ nhất trong triều đình của Arthur; điều đó chúng ta cũng đã chứng minh rồi; bởi bất kỳ hiệp sĩ nào tiến đánh chúng ta, dù là ta hay huynh ấy, đều đã bị quật ngã một cách dễ dàng.” “Ta đây,” Arthur nói, “cũng là người thuộc triều đình của Arthur, nhưng ta quen chiến trận với người ngoại giáo hơn là những trận tỉ thí danh tiếng; tuy nhiên, hãy xem, dù có tài nghệ hay không, liệu các ngươi có thể quật ngã được cả ta chăng.” Và Arthur nhẹ nhàng đánh ngã hai anh em, rồi ung dung quay gót trở về mà không một ai hay biết.
Bấy giờ Balin và Balan đứng dậy, trở lại ngồi bên dòng nước đang róc rách ca hát, và chẳng nói một lời nào cho đến khi bóng ngả về chiều; thì kìa, từ mép bụi rậm xung quanh bỗng xông ra một vị quan sứ mặc áo lấp lánh, cất tiếng kêu lớn: “Hỡi các ngài, hãy đứng dậy và đi theo ta! Nhà vua đang triệu tập hai ngài.” Họ liền bước theo; khi Arthur nhìn thấy họ liền hỏi: “Hãy nói cho ta biết tên các ngươi; vì sao lại ngồi bên giếng nước?” Balin phá vỡ sự im lặng kéo dài một phút đồng hồ, cất lời: “Một cái tên không mấy êm tai đối với ngài, Balin — ‘Kẻ Hoang Dã’ — danh hiệu ấy là do ngài ban tặng — còn đây là người anh và cũng là người giỏi giang hơn tôi, Balan. Tôi từng giáng một đòn vào đỉnh đầu trần của một tên nô bộc dưới đại sảnh của ngài, khi ấy tay tôi đang đeo găng sắt, suýt nữa đã tước đoạt mạng sống của hắn; bởi tôi nghe nói hắn đã nói những lời xấu xa về cơn thịnh nộ công chính của ngài đã đày ải tôi xa tầm mắt ngài suốt ba năm trời. Tôi đã sống những ngày tháng chẳng mấy vui vẻ gì: bởi chính tôi, kẻ đã gây bạo lực lên tên nô bộc của ngài, cũng từng nhiều lần muốn tự tay gây ra tội ác với chính mình, nếu không nhờ có Balan: ba năm không vua ấy đã trôi qua — đối với tôi đắng ngắt như cây ngải cứu. Hỡi Đức Vua, tôi tưởng rằng nếu chúng ta ngồi bên giếng nước, và quật ngã xuống đất bất kỳ hiệp sĩ nào phi ngựa xông vào chúng ta, ngài sẽ vui mừng chào đón tôi trở về, và phong cho Balan làm hiệp sĩ — người xứng đáng gấp mười lần, đáng giá hơn cả hai mươi tên Balin. Tôi đã nói xong. Không phải thế — vẫn chưa hết. Một bề tôi của ngài ngày hôm nay đã khiến cả hai chúng tôi bẽ mặt, và phá vỡ lời khoác lác của tôi. Ý ngài thế nào?” Arthur đáp: “Ngươi vẫn luôn nói sự thật; sự nam tính quá mức mãnh liệt không cho phép ngươi nói dối. Hãy đứng dậy, hỡi hiệp sĩ trung trắc của ta. Như những đứa trẻ học khôn, hãy trở nên khôn ngoan hơn sau những lần vấp ngã! Hãy đi bên ta, và cùng hòa nhịp với Hội Hiệp Sĩ của ngươi và Nhà Vua. Chiếc ghế của ngươi, nỗi buồn của tất cả các huynh đệ, vẫn đang trống chỗ, nhưng ngươi hãy nhận lại nó, nó lại thuộc về ngươi!”
Sau đó, khi Sir Balin bước vào đại sảnh, Kẻ Lạc Lối Trở Về được chào đón như chốn Thiên đàng với niềm vui bùng cháy trong sắc lá xanh tươi của rừng sâu và những vòng hoa rực rỡ nhất giăng dọc theo những bức tường và trải dài suốt bàn tiệc; họ ngồi xuống, những chiếc cốc va vào nhau lanh lảnh; họ nâng chén chúc mừng và một ai đó cất tiếng hát cất cao giọng ngọt ngào khúc ca chào mừng, khiến tiếng hô vang đồng thanh của họ dâng trào, làm rung chuyển những lá cờ của mười hai trận chiến treo phía trên — giống như cách chúng từng rung lên ngày xưa, khi đại quân của Arthur tôn vinh ngài là Bậc Khải Hoàn, và ngày chiến thắng đã thuộc về họ.
Bấy giờ Balan ở lại sống cùng Hội Hiệp Sĩ, hưởng một cuộc sống phong phú hơn trước kia bên cạnh họ và Balin, cho đến khi phái đoàn của họ trở về.
“Tâu Đức Vua,” họ mang báo cáo về, “chúng thần đã khó nhọc lắm mới tìm ra — vì nơi đó bị bao bọc trong bóng tối u ám — đại hội sảnh của kẻ mà ngài đã sai chúng thần đến gặp, Pellam, kẻ từng là kẻ thù vô tín ngưỡng của ngài, kẻ từng phi ngựa chiến đấu hăng hái nhất; nhưng thấy rằng vương quốc của ngài đã hưng thịnh trong danh nghĩa của Chúa, Nhà Vua liền ganh đua, hướng về những điều linh thiêng; và nhận ra mình là hậu duệ của vị Thánh — Joseph người Arimathaea, người đầu tiên mang đức tin lớn lao vượt biển đến với nước Anh; hắn khoe khoang rằng cuộc sống của mình còn thanh tịnh hơn cả ngài; ăn uống vô cùng kham khổ cốt để duy trì hơi thở; đã ruồng bỏ người vợ tận tụy của mình, không cho phép bất kỳ phu nhân hay thiếu nữ nào bước qua cổng vì sợ bị ô uế. Vị vua đầu bạc này đã cho chúng thần xem một ngôi đền chứa đầy những điều kỳ diệu — phải — những chiếc ròm quý giá chứa đựng hài cốt tử đạo vô giá, những chiếc gai trên vương miện và những mảnh vỡ của cây thánh giá, cùng với đó (vì hắn đã kể với chúng thần như vậy) chính vị thánh Joseph đã mang đến đây ngọn giáo mà người lính La Mã đã đâm vào sườn Chúa. Hắn khiến chúng thần vô cùng kinh ngạc; sau đó, khi chúng thần đòi cống vật, hắn đáp rằng: ‘Ta đã từ bỏ hoàn toàn mọi chuyện ở thế gian này: Garlon, người thừa kế của ta, hãy đòi hắn ấy,’ và Garlon này đã miễn cưỡng trao lại, vừa trao vừa nguyền rủa ngài và cả ngài nữa.”
“Nhưng khi chúng thần rời đi, trong những khu rừng sâu thẳm ấy, chúng thần đã tìm thấy một hiệp sĩ của ngài bị đâm lén từ sau lưng, đã chết, và chúng thần đã chôn cất anh ta; hơn một người trong chúng thần đã lớn tiếng nguyền rủa Garlon, nhưng một người tiều phu ở đó đã kể rằng có một con ác quỷ trong rừng từng là con người, vì bị những lời ác khẩu đuổi khỏi mọi bè bạn nên đã sống cô độc, rồi đến học ma thuật đen tối và căm ghét đồng loại của mình bằng một mối thù hận sâu sắc đến mức khi hắn chết đi, linh hồn hắn đã biến thành một Ác Ma — giống như người sống từng bị những lưỡi miệng mù quáng không rõ từ đâu đánh lén, nay ra tay từ sau lưng. Người tiều phu này đã chỉ ra cái hang mà từ đó hắn xuất hiện và từng trú ngụ. Chúng thần chỉ nhìn thấy vết móng ngựa, ngoài ra không còn gì khác.”
Bấy giờ Arthur cất lời: “Kẻ đi trước ta hãy cẩn thận để không bị tụt lại phía sau: bị sát hại một cách hèn hạ và đê tiện! Ai sẽ thay ta săn lùng con ác quỷ trong rừng này?” Balan liền đáp: “Thần xin đi!” Thế là chàng nhận nhiệm vụ và lên đường, nhưng trước tiên, ôm lấy Balin, chàng dặn dò: “Hỡi người anh em tốt của ta, hãy lắng nghe! Đừng để tâm trạng bốc đồng lấn át khi ta vắng nhà — ta vốn là kẻ chuyên dẹp bỏ chúng! Hãy xem chúng là những con quỷ bên ngoài, chực chờ nhảy bổ vào để xé xác ngươi; hãy xua chúng đi, đó chỉ là những giấc mộng hoang đường khi lý trí ngủ quên! Phải, việc mơ rằng bất kỳ ai trong số họ có ý hại ngươi chính là hành động tự làm hại chính mình. Hãy nhìn sự đón chào nồng nhiệt bằng hoa của họ mà làm chứng. Họ bị ràng buộc không được nói lời ác ý. Quả thật, ngoại trừ những mối lo âu, những nỗi lo của ta dành cho ngươi, thì một hội đoàn phong phú nhường này sẽ khiến ta hoàn toàn hạnh phúc: ngươi là một thành viên trong số họ, hãy thực sự là một phần của họ: hãy suy ngẫm về họ, và về tất cả cách hành xử của họ trong mối dây liên kết tình yêu chung, chẳng có chút căm hận nào hơn ở trên Thiên đàng, chẳng có chút ghen tị nào hơn ở chốn Cực Lạc.”
Balan dặn dò rồi lên đường; còn Balin ở lại: Người mà — vì chỉ mới ba vầng trăng ngắn ngủi trôi qua kể từ ngày được phong hiệp sĩ cho đến khi ra tay đập tên nô bộc, rồi biến mất khỏi triều đình để bước vào những năm tháng lưu vong — giờ đây càng tự nghiêm khắc với bản thân hơn để học hỏi xem Arthur thực sự hàm ý điều gì về sự nhã nhặn, lòng nam tính và tư cách hiệp sĩ; vì thế chàng vẫn luôn quẩn quanh Lancelot, nhưng khi nhận thấy nụ cười cao quý dịu dàng của ngài lúc lướt qua, cùng một lời nói thoáng qua có thể khiến một hiệp sĩ, kẻ phàm phu, đứa trẻ hay thiếu nữ dường như hạnh phúc hơn bội phần trong chính họ chỉ vì được nụ cười ấy chiếu cố — bấy giờ chàng lại thở dài, hệt như một đứa trẻ bị tàn tật bẩm sinh sinh ra dưới chân một ngọn núi cao phủ bóng tối lên thung lũng của nó, thở dài ao ước được nhìn thấy đỉnh núi ngập tràn ánh nắng, hoặc chạm vào ngôi sao bắc đẩu vào ban đêm; bởi có kẻ trong làng vừa mới leo lên đỉnh núi ấy và mang về câu chuyện về những vùng đất xanh thẳm tuyệt đẹp, nhìn thấy từ xa ở cả hai phía trái phải; trong khi bản thân cậu ta dù có sự trợ giúp cũng khó lòng trèo nổi một trăm bước chân từ chân núi lên: thế nên Balin thường tự ngạc nhiên không biết Lancelot dường như đã vượt xa mình đến nhường nào, chàng rên rỉ, và đôi khi lẩm bẩm: “Đó là những ân huệ, sinh ra đã có trong dòng máu, không thể học được, là điều thiêng liêng vượt quá tầm với của ta. Ta đã chiến đấu rất cừ — rất cừ — trong những cuộc chiến khốc liệt ấy, đã tung những đòn chí mạng — và giả sử ta chất đống những kẻ ta đã hạ gục bằng chính thân xác đẫm máu của mình — thì — có lẽ còn tốt hơn! — Nhưng sự tôn sùng dành cho Hoàng Hậu, cả niềm vinh dự mà nàng dành cho ngài ấy — điều này, chính điều này mới là ánh nắng ban mai giúp con người ấy vươn lên, tạo nên một tên tuổi vươn cành che phủ tất cả những kẻ khác, cùng sức mạnh chống lại mọi nghịch cảnh, và điều mà Nhà Vua vô cùng trân trọng — ca ngợi quá mức — chính là sự dịu dàng. Ta cũng sẽ tôn sùng nàng nếu có thể. Ta chưa bao giờ có thể gần gũi với nàng như kẻ đã đưa nàng đến đây. Ta có nên cầu xin Nhà Vua cho phép mang theo một tín vật nào đó của Hoàng Hậu để ngắm nhìn, nhờ đó mà tưởng nhớ nàng — để quên đi những cơn giận dữ và bạo lực của mình? để sống một cuộc đời mới? Chà, nhỡ đâu Hoàng Hậu khinh miệt không ban tặng thì sao! Không đâu, nàng vốn cao quý dịu dàng nhường ấy, liệu nàng có biến màn đêm của ta thành cõi tối tăm vô tận không? Và nàng đã chào đón sự trở lại của ta với một ân huệ ngọt ngào biết bao! Ta sẽ thật táo bạo — xin một huy hiệu đẹp đẽ nào đó của Guinevere, để thay thế cho con thú hung hợm trên chiếc khiên này của ta, với cái lưỡi đỏ lè và nanh vuốt nhe ra đầy vẻ hoang dã ghê rợn.”
Và Arthur, khi Sir Balin đến cầu kiến, đã nói: “Ngươi muốn mang theo tín vật gì?” Balin đầy táo bạo, xin được mang chính chiếc vương miện hoàng gia của nàng trên khiên, khiến nàng mỉm cười và quay sang nhìn Nhà Vua, người liền đáp: “Ngươi hãy mang chiếc vương miện đó ra chiến trận đi. Vương miện chẳng qua chỉ là cái bóng của Nhà Vua, và cái này lại là cái bóng của cái bóng, cứ để hắn lấy nó đi, miễn là điều này giúp hắn kìm chế được những cơn bạo lực!” “Không phải cái bóng,” Sir Balin nói, “Hỡi Hoàng Hậu của ta, mà là ánh sáng đối với tôi! Không phải cái bóng, hỡi Đức Vua, mà là bảo chứng vàng son cho một cuộc sống dịu dàng hơn!”
Thế là Balin mang chiếc vương miện ấy, và tất cả các hiệp sĩ đều tán thành, Hoàng Hậu cùng toàn thể thế giới cất lên khúc ca hòa nhịp, và chàng cảm thấy bản ngã của mình đang chuyển động trong khúc ca hòa quyện cùng Hội Hiệp Sĩ và Nhà Vua.
Tiếng chim sơn ca cất lên đầy đặn vào giữa tháng Năm, thỉnh thoảng lại vang lên một nốt nhạc mỏng manh đến mức tưởng như một giọng ca khác từ những lùm cây khác; cũng vậy, sau một đợt bùng nổ giận dữ đột ngột nào đó, âm nhạc trong lòng chàng dường như thay đổi, trở nên yếu ớt và xa xăm. Và có lần chàng nhìn thấy tên nô bộc suýt bị cơn giận dữ của chàng bóp cổ đến chết, kẻ gây ra sự lưu vong và nỗi hổ thẹn của chàng, đang mỉm cười với chàng, theo ý nghĩ của chàng là một cách ngạo mạn: cánh tay chàng khẽ giơ lên định đánh một đòn nữa, nhưng rồi lại buông thõng xuống: ký ức về chiếc huy hiệu trên khiên đã đè nặng nó xuống, nhưng trong thâm tâm chàng rên rỉ:
“Ngọn núi Camelot này quá cao đối với ta: Những phép tắc xã giao cao ngã ấy không dành cho ta. Liệu ta có trở nên tồi tệ hơn vì những điều này chăng? Trở nên hung hăng và giông bão hơn vì bị kìm nén, để rồi bùng phát thành cơn điên dại ngay trước mặt Hoàng Hậu?”
Thế nên, giống như ngọn lửa trong một ngôi nhà miền núi, hắt ánh sáng lên ô cửa sổ, khi bóng tối chạng vạng bao trùm xung quanh, trông giống như một ngọn lửa đang bùng cháy dữ dội trong khu rừng tận sâu phía dưới, cũng vậy, khi tâm trạng chàng tối sầm lại, triều đình, Nhà Vua và toàn bộ hơi ấm ân cần của đại sảnh Arthur lại trở thành một khoảng cách giận dữ phủ đầy bóng tối: thế nhưng chàng vẫn cố gắng học hỏi những phép lịch sự của Bàn Tròn, chiến đấu dữ dội với chính mình, và cuối cùng dường như cũng tìm được sự bình yên.
Rồi có một buổi sáng nọ, Sir Balin ngồi ẩn mình trong khu vườn gần đại sảnh. Một lối đi rợp hoa hồng chạy từ cửa này sang cửa khác; một lối đi trồng hoa huệ cắt ngang nó dẫn đến chòi nghỉ mát; và dọc theo dải hoa hồng ấy, vị Hoàng Hậu cao quý bước đến với những bước chân chậm rãi, ánh bình minh hiện trên khuôn mặt nàng; còn từ cánh cửa đối diện chìm trong bóng tối, Sir Lancelot bước ra như để đón nàng, nhưng rồi ngay lập tức, như thể không nhìn thấy, ngài quay mặt sang một bên, rảo bước dọc theo lối đi dài rợp hoa huệ trắng hướng về chòi nghỉ. Hoàng Hậu bước theo sau; Sir Balin nghe thấy nàng gọi: “Hỡi vương tử, chàng lại thiếu trung thành với Hoàng Hậu của mình đến mức bước qua mà không thèm chào một tiếng với Hoàng Hậu sao?” Đáp lại nàng, Sir Lancelot cúi gằm mặt xuống đất: “Thần vẫn luôn ao ước được trung thành với Hoàng Hậu.” “Phải vậy không,” nàng nói, “nhưng cứ lướt qua ta như thế — sự trung thành kiểu ấy hầu như chẳng còn là trung thành với chính chàng nữa, kẻ mà mọi người đều tôn vinh là bậc thầy của phép lịch sự. Thôi được rồi: hỡi vị lãnh chúa tuấn tú, chàng đứng đó cứ như đang mơ vậy.”
Bấy giờ Lancelot đưa tay chạm vào những đóa hoa: “Vâng — quả thực là một giấc mơ. Đêm qua thần tưởng như đã nhìn thấy vị Thánh Nữ đang cầm hoa huệ trong ngôi đền đằng kia. Xung quanh nàng bóng tối bao trùm, và toàn bộ ánh sáng chiếu rọi lên khuôn mặt bạc của nàng tỏa ra từ nhành hoa huệ tâm linh mà nàng đang cầm. Kìa! Những biểu tượng ấy đã kéo ánh mắt của ta — rời đi: Bởi ngài xem, tinh khiết hoàn hảo làm sao! Chỉ một chút ửng đỏ nhẹ nhàng như cánh hoa mộc qua khẽ chạm cũng có thể làm lu mờ vẻ đẹp trinh bạch không tỳ vết của chúng.”
“Đối với ta,” nàng nói, “bông hồng trong vườn này mới ngọt ngào làm sao, với sắc thắm sâu đậm và những cánh hoa xếp lớp! Ngọt ngào hơn nữa là loài hoa lan chuông trong rừng hoang và sắc hoa tháng Năm. Hỡi vương tử, chúng ta từng cùng nhau dạo chơi giữa muôn hoa trong những ngày tháng tươi đẹp ấy — không hẳn là mát mẻ như thế này, dù thời gian còn sớm hơn. Chàng buồn ư? Hay đang ốm? Đức Vua cao quý của chúng ta sẽ sai ngự y đến — Ốm ư? Hay vì bất cứ chuyện gì mà nổi giận với ta?”
Bấy giờ Lancelot ngước đôi mắt to lớn của mình lên; chúng đắm chìm sâu thẳm vào đôi mắt nàng, không thể rời đi: sắc mặt nàng thay đổi theo ánh nhìn của ngài; thế là họ sóng đôi bước đi, và Balin giật mình vùng dậy khỏi chòi nghỉ.
“Hoàng Hậu? bề tôi ư? nhưng ta không nhìn thấy những gì mình đang thấy. Thiếu nữ và người tình ư? không nghe thấy những gì mình đang nghe. Cha ta đã sinh ra ta trong cơn thịnh nộ của ông. Ta chịu đựng những gì bày ra trước mắt, biết đấy, mà chẳng học hỏi được gì; ta chẳng xứng đáng làm hiệp sĩ; ta chỉ là một kẻ phàm phu, một tên hề!” và trong lòng chàng, bóng tối này chồng chất bóng tối khác sâu thẳm thêm: chàng vội vớp lấy ngọn giáo và chiếc khiên, chẳng màng xin phép Nhà Vua, mà cuồng nộ vì khao khát những cuộc phiêu lưu kỳ lạ, phóng đi như bay.
Chàng đi theo đúng con đường mà Balan từng đi, nhìn thấy dòng suối nơi họ từng ngồi bên nhau, thở dài: “Chẳng phải ta ở đó cùng huynh ấy sẽ tốt hơn sao?” rồi phóng ngựa vào khu rừng không bóng trời, để rồi dưới vòm trời xanh quang đãng, chàng bắt gặp gã tiều phu đầu bạc đang mệt nhọc đốn cành cây. “Tên phàm phu kia, đưa cái rìu cho tao!” chàng thét lên, lao xuống và chặt đứt đôi nó chỉ bằng một nhát chém; gã tiều phu kinh ngạc thốt lên với chàng: “Thưa lãnh chúa, ngài có thể hạ gục được Ác Quỷ trong khu rừng này nếu cánh tay phàm trần có thể hạ gục được hắn.” Balin thét lên: “Hắn, hoặc kẻ ác quỷ đê tiện hơn đang đóng vai trò của hắn, hạ gục được con quỷ đó cũng chính là hạ gục con quỷ trong ta.” “Không đâu,” gã phàm phu nói, “con quỷ của chúng ta là có thật, ta vừa mới thấy ánh chớp của hắn vào chiều hôm qua. Và có kẻ còn bảo rằng Sir Garlon của chúng ta cũng đã học ma thuật đen tối, và biết cách cưỡi ngựa tàng hình. Hãy cẩn thận cái hang kìa.” Nhưng Balin đáp lại hắn: “Gã thêu dệt chuyện hoang đường già nua, đó chỉ là những tưởng tượng của gã phàm phu, hãy lo việc đốn củi của ngươi đi,” rồi bỏ mặc hắn, lúc thì buông lỏng dây cương chẳng màng đến bản thân, lúc thì thúc gót giày sắt phóng ngựa và gào thét nguyền rủa chính mình, lúc thì cúi gằm trán phi ngựa qua những khoảng rừng thưa dài; thế nên chàng đã không nhận ra bên phải mình có một miệng hang vực sâu há hốc trong bóng tối, nơi mà ánh sáng ban ngày chưa lùi sâu vào trong đã vụt tắt, nhưng khi tàn lụi lại chiếu rọi lên những vách đá sắc nhọn treo lơ lửng trên mái; và những mỏm đá khác mọc nhô lên từ mặt đất như những chiếc ngà voi, tạo thành cái hàm của màn đêm nơi con Ác Ma từ Địa ngục phóng thích trỗi dậy. Chàng không hề nhận ra điều đó, mà mù lòa và điếc đặc trước mọi thứ ngoại trừ cơn thịnh nộ bị xích xiềng vẫn luôn gầm gào trong lòng, chàng phi ngựa hướng về phía đông rời xa ánh mặt trời đang lặn. Ngay lập tức chàng cảm thấy lớp rêu trũng xuống dưới móng ngựa rung lên bần bật, rồi cái bóng của một ngọn giáo, được phóng ra từ phía sau lưng, lướt nhanh trên mặt đất. Chàng giật mình nhảy tránh sang một bên đường, và nhìn thấy, với ngọn giáo chĩa thẳng như muốn đâm thủng, một hình bóng, một luồng ánh sáng áo giáp lóe lên bên cạnh, rồi lướt qua, biến mất vào trong rừng; và chàng đuổi theo nó, nhưng vì quá mù quáng trong cơn thịnh nộ nên trong lúc vô tình chàng đã đâm gãy ngọn giáo của mình vào một cành cây trong rừng, rơi ngã xuống đất, rồi đứng dậy và tiếp tục phi ngựa đi xa, cho đến khi lâu đài của một vị Vua, đại sảnh của Pellam, mọc đầy rêu phong, xám xịt buông rủ những sợi cỏ thõng thòng, hiện ra — một kiến trúc thấp nhưng kiên cố; ngọn tháp đổ nát trông như một gò rêu, những chiến lũy mọc đầy dây thường xuân phủ kín, là ngôi nhà của loài dơi, và mỗi ngọn tháp đều có một con cú mèo ngự trị. Bấy giờ những gã gia nhân của Pellam lên tiếng hét lớn: “Hỡi lãnh chúa, tại sao ngài lại mang chiếc vương miện hoàng gia này trên khiên?” Balin đáp: “Bởi vì người phụ nữ đẹp nhất và tuyệt vời nhất trong số những người đẹp còn sống đã ban cho ta vương miện này để mang theo.” Thế là chàng dắt ngựa vào chuồng, bước sải chân qua sân, nhưng nhận thấy sự chào đón của cả hiệp sĩ lẫn Nhà Vua đều vô cùng hờ hững trong đại sảnh yến tiệc tối tăm thấp lè tè: những chiếc lá áp mặt xanh ngắt vào các ô cửa kính, những cành cây cọ xát vào nhau, và những cành cây sâu mọt bên ngoài rên rỉ trong gió rừng; bởi vì bên trong mọi thứ đều im lìm, cho đến khi trong bữa tiệc, Sir Garlon cũng cất tiếng hỏi: “Tại sao ngươi lại mang chiếc vương miện hoàng gia ấy?” Balin đáp: “Hoàng Hậu mà chúng ta tôn sùng, Lancelot, ta, và tất cả mọi người, xem là người đẹp nhất, tuyệt vời nhất và tinh khiết nhất, đã ban cho ta được mang nó!” Một âm thanh (bởi vì các hiệp sĩ của Arthur là những kẻ xa lạ bị căm ghét trong đại sảnh) giống như tiếng của mẹ thiên nga trắng đang ngồi ấp trứng, khi nghe thấy tiếng bước chân lạ sột soạt xuyên qua khóm sậy bí mật của mình, đã khiến Garlon rít lên; rồi hắn cười mỉm đầy cay độc. “Đẹp nhất thì ta công nhận: ta đã tận mắt chứng kiến; nhưng tuyệt nhất, tuyệt nhất, tinh khiết nhất ư? Ngươi đến từ đại sảnh của Arthur, vậy mà lại quá ngây thơ! Ngươi có mắt không, hay nếu có, thì đôi mắt ấy đã mờ đục đến mức không nhận ra rằng trò tôn sùng vợ người này chỉ là lớp vỏ bọc cho một sự hổ thẹn thầm kín? Quả thật, những gã đàn ông của Arthur chỉ là lũ trẻ con mà thôi.”
Một chiếc cốc trên bàn đặt cạnh Balin, được chạm nổi câu chuyện truyền thuyết về vị thánh Joseph, nằm ở bên phải chàng, hoàn toàn làm bằng đồng thau nguyên khối: một bên khắc hình biển cả cùng tàu bè, buồm căng và những thiên thần đang thổi gió vào đó; và một bên gồ ghề những thanh đan bện, cùng những bức tường của ngôi nhà thờ nhỏ mà ông đã xây dựng tại Glastonbury. Balin vội nắm lấy chiếc cốc, nhưng khi đang định vung tay ném đi, nhờ ký ức về chiếc tín vật trên khiên nên chàng đã kìm lại lực tay: “Ta sẽ dịu dàng,” chàng nghĩ “và vô cùng dịu dàng,” liền rụt tay lại, rồi hung hăng quay sang Sir Garlon: “Ta có đôi mắt đã nhìn thấy bóng của một ngọn giáo vào ngày hôm nay, được phóng ra từ phía sau lưng, lướt nhanh trên mặt đất; ta cũng có đôi mắt đã từ lâu quan sát cách mà Lancelot rút ra được từ lòng kính ngưỡng đối với người đẹp nhất và tinh khiết nhất thứ sức mạnh, danh tiếng, sự nam tính và một vẻ duyên dáng — thứ mà ngươi khó lòng có được, khi mà ngồi ngay trong đại sảnh của chính mình, ngươi lại có thể nhẫn tâm thốt ra những lời đê tiện kinh tởm nhường ấy — đối với khách của ngươi, chính là ta, ta đây thuộc Bàn Tròn của Arthur. Những lời lẽ của một kẻ phản bội! Thôi đi! Đừng nói nữa!” Nhưng chẳng vì thế mà sự khinh miệt của Garlon vơi bớt vào ban đêm, nó đầu độc toàn bộ giấc ngủ của chàng, châm chích chàng trong những giấc mơ. Cuối cùng, mờ ảo xuyên qua những tán lá, buổi sáng trắng xóa nhấp nháy, những cành cây cọ xát, và những cành cây già cỗi rên rỉ trong khu rừng. Chàng đứng dậy, bước xuống, chạm trán với kẻ khinh mỉm trong sân lâu đài, và vì căm hờn và ghê tởm, chàng suýt nữa đã bước lướt qua hắn; nhưng khi Sir Garlon cất giọng nhạo báng: “Sao thế, ngươi vẫn mang cái vương miện tai tiếng ấy à?” Khuôn mặt chàng sầm lại, những mạch máu trên trán phồng lên, nổi gân xanh; và giật phăng thanh gươm khỏi vỏ, Sir Balin với một tiếng thét giận dữ “Hạ! Ngươi đã là cái bóng, ở đây ta sẽ biến ngươi thành oan hồn,” giáng một đòn chí mạng vào mũ giáp của hắn, và lưỡi gươm liền văng ra vỡ tan thành sáu mảnh, kêu leng keng trên nền đá. Rồi Garlon loạng choạng lùi lại phía sau rồi ngã xuống, và Balin túm lấy dải băng trên mũ giáp của hắn lôi xềnh xệch đi, rồi giáng đòn tơi bời, nhưng từ phía trong lâu đài một tiếng thét vang vọng khắp sân, và — những gã lính trận, khoảng chừng đôi mươi tên với ngọn giáo chĩa thẳng, lao về phía chàng — chàng vung chuôi gươm đập thẳng vào khuôn mặt tên đi đầu, lách mình chui qua một cánh cửa thấp, cắm cổ chạy như bay qua một hành lang mờ ảo, cho đến khi nhìn thấy cánh cổng nhà nguyện của Vua Pellam mở rộng liền lao thẳng vào góc tường; chàng nép người nấp phía sau; ngay khoảnh khắc ấy, chàng nghe thấy bọn chúng lao qua như bầy sói gầm rú; nhưng trong lúc chàng đưa mắt quan sát ngôi đền, nơi chàng khó lòng nhìn thấy Chúa qua lớp lớp các vị Thánh, chàng bỗng nhìn thấy nằm trước bàn thờ vàng rực là ngọn giáo dài nhất mà mắt chàng từng thấy, với phần mũi nhọn được quét sơn đỏ; liền chộp lấy nó, chàng đẩy qua một khung cửa sổ mở toang rồi trèo ra ngoài, dựa người vào đó, nhảy một vòng bán nguyệt và đáp xuống mặt đất; rồi áp tai lắng nghe xem từ phía nào những tiếng lục lọi mù quáng vang lên trong các bức tường có thể vọng lại, chàng chạy theo con đường ngược lại, tìm thấy con ngựa chiến của mình, nhảy lên lưng ngựa và phóng đi mất tăm. Một mũi tên vút qua bên phải, một mũi tên bên trái, một mũi tên bay qua đầu; và tiếng kêu yếu ớt của Pellam: “Dừng lại, bắt lấy hắn! Hắn đang làm ô uế những thứ thiêng liêng bằng mục đích phàm trần” — khiến chàng vội vã lao mình dưới những tán cây, phi nước đại qua vô số dặm đường rừng rậm lẫn rừng thưa, cho đến khi con chiến mã tuấn tú của chàng, vấp phải một thân cây sồi đổ đang lúp xúp gượng dậy, bèn vấp ngã chúi đầu xuống đất và hất văng chàng cắm mặt xuống nền đất.
Dù có chút bực bội vì chưa kết liễu được kẻ thù, nhưng chàng vô cùng mừng rỡ vì giống như một hiệp sĩ chân chính, con chiến mã của mình vẫn chưa bị què quặt, Sir Balin bèn tháo chiếc khiên khỏi cổ, nhìn chằm chằm vào huy hiệu vô giá, rồi thầm nghĩ: “Ta đã làm ngươi ô uế đến mức giờ đây ngươi lại làm ta hổ thẹn, Ta sẽ không mang ngươi nữa đâu,” chàng treo nó lên một cành cây cao rồi quay lưng bước vào trong rừng, và ở đó, giữa bóng tối u buồn, chàng ngả mình nằm dài trên đất, rên rỉ: “Những hành vi bạo lực của ta ơi, những hành vi bạo lực của ta ơi!”
Nhưng lúc bấy giờ, âm thanh trong lành của khu rừng đã bị lấn át bởi tiếng hót của một kẻ phát ra từ đại sảnh của Mark — một nữ hiệp sĩ giang hồ, vừa cất tiếng hát véo von vừa cưỡi ngựa qua những lối mòn trong rừng, đó chính là Vivien, đi cùng với người hầu cận của nàng.
Lửa Thiên đàng đã tiêu diệt cái lạnh cằn cỗi,
Và thắp sáng toàn bộ đồng bằng lẫn gò đồi.
Lá non luôn đẩy lá già rụng rơi.
Lửa Thiên đàng nào phải ngọn lửa Địa ngục.
Hỡi vị linh mục già lẩm bẩm cầu kinh trong xướng thánh đường —
Hỡi các tu sĩ nam nữ khinh miệt khao khát trần thế, liệu các ngươi
Chẳng phải trong những căn phòng giá lạnh vẫn cảm nhận được ngọn lửa?
Lửa Thiên đàng nào phải ngọn lửa Địa ngục.
Lửa Thiên đàng ngự trị trên những con đường bụi bặm.
Những đóa hoa bên đường hé nở dưới ánh hào quang.
Cả thế giới rừng rực là một khúc ca ngợi ca vang lừng.
Lửa Thiên đàng nào phải ngọn lửa Địa ngục.
Lửa Thiên đàng là chúa tể của muôn vật tốt lành,
Đừng để ngọn lửa này trong huyết quản ngươi phải chết đói,
Hãy đi theo Vivien vượt qua dòng nước lửa tơi bời!
Lửa Thiên đàng nào phải ngọn lửa Địa ngục!
Rồi quay sang người hầu cận, nàng nói: “Ngọn lửa Thiên đàng này, thờ cúng mặt trời cổ xưa này, hỡi chàng trai, sẽ trỗi dậy một lần nữa, và đánh sập cây thánh giá xuống đất, đập tan Nhà Vua cùng toàn bộ Bàn Tròn của ông ta.” Rồi họ đến một khoảng rừng thưa, nơi dưới một dải trời mây quang đãng kéo dài trước một khu rừng khác, chiếc vương miện hoàng gia đang lấp lánh, và đung đưa trên một cây du chao đảo đã thu hút ánh nhìn vẩn vơ của Vivien và người hầu cận; họ kinh ngạc thốt lên: “Kìa,” nàng kêu lớn — “một chiếc vương miện — được mang bởi một vị vương tử cao quý thuộc đại sảnh của Arthur, Và kìa một con ngựa! Còn người kỵ mã đâu rồi? Hãy nhìn xem, đằng kia có một kẻ nằm chết trong rừng. Không phải chết; hắn đang cựa quậy! — mà là đang ngủ. Ta sẽ lên tiếng cất lời. Chào ngài hiệp sĩ hoàng gia, chúng ta đã làm phiền giấc ngủ êm đềm của ngài, chắc chắn là không phải không có lý do từ những chiến công cao quý. Nhưng ngài có bổn phận, nếu đến từ đại sảnh của Arthur, là phải giúp đỡ những kẻ yếu thế. Hãy nhìn xem, ta đang trốn chạy sự hổ thẹn, khỏi một tên Vua đầy dục vọng, kẻ tìm cách chiếm đoạt tình yêu của ta bằng những thủ đoạn đê tiện: vị hiệp sĩ mà ta cùng cưỡi ngựa đi chung đã gặp tai nạn bất ngờ, và người hầu cận của ta chẳng có mấy khả năng tự vệ; nhưng ngài, hỡi vương tử, chắc chắn sẽ dẫn đường cho ta đến với vị Vua chiến binh, Arthur không tì vết, tinh khiết như một trinh nữ, để giúp ta tìm nơi nương náu cho sự trinh bạch của mình. Ta buộc tội ngài nhân danh chiếc vương miện trên chiếc khiên của ngài, Và nhân danh danh tính của vị Hoàng Hậu vĩ đại, hãy đứng dậy và đi theo ta.”
Và Balin đứng dậy: “Đừng đến đó nữa! Ta chẳng phải Vương tử cũng chẳng phải hiệp sĩ, mà chỉ là kẻ đã bôi nhọ chiếc huy hiệu mà nàng ấy đã trao cho ta: ta sống ở đây như một kẻ hoang dã giữa chốn rừng thiêm nước độc, ta sẽ chết ở đây — Chết: hãy để cái hàm đen ngòm của bầy sói chôn cất người anh em thú vật của chúng, kẻ có cơn giận dữ là chủ nhân của mình. Khổ thân ta, một cái tên như Guinevere, cái tên mà vị Lancelot cao quý của chúng ta đã tôn lên vinh quang nhường ấy, và nhờ thế mà được vinh thăng, nay lại vì ta, vì sự bạo lực và đê tiện của ta, mà phải chịu ngậm ngùi hổ thẹn.”
Nghe vậy, nàng bất chợt bật cười lanh lảnh, rồi ngay lập tức lại thở dài đầy kịch tính. Balin nói với nàng: “Đó là phép lịch sự của ngươi đấy à — dám chế nhạo ta sao? Biến đi, vì ta sẽ không đi cùng ngươi đâu.” Nàng lại thở dài: “Xin tha lỗi, hỡi vị lãnh chúa ngọt ngào! Chúng tôi những người thiếu nữ thường hay bật cười khi tâm can đau đớn, trong khi lẽ ra chúng ta phải khóc. Ta biết ngài đã bị oan khuất. Ta đã làm phiền giấc ngủ của ngài, và giờ đây ta vô cùng miễn cưỡng khi phá vỡ giấc mơ của ngài, nhưng ngài là nam nhân, và có thể chịu đựng được một sự thật, dù là cay đắng. Lại đây, cậu bé — và hãy lắng nghe ta cho kỹ. Ngươi có nhớ ở Caerleon thuở nào — Một năm về trước — thôi, nếu không thì ta chẳng yêu ngươi đâu — À, ngươi nhớ rất rõ — một buổi sáng mùa hè — Bên cạnh ngà tháp lớn — Caerleon bên sông Usk — Không, thực ra chúng ta đã nấp kỹ: vị vương tử tuấn tú này, bông hoa của toàn bộ giới hiệp sĩ trinh bạch của họ, đã quỳ xuống trong sự sùng bái đầy ân ái — quỳ xuống — còn gì nữa? — Ờ phải Quỳ xuống, và kéo xuống từ mái tóc đen như mực của nàng rồi lẩm bẩm hôn lên bàn tay trắng ngần ấy — bàn tay mang chiếc nhẫn vuốt ve từng lang thang qua mái đầu vàng óng của chính vị Vua của nàng, và lạc lối trong bóng tối, cho đến khi nàng thét lên — Ta cứ tưởng ngọn tháp lớn sẽ sụp đổ đè bẹp cả hai — ‘Hãy đứng dậy, hỡi vị Vua ngọt ngào của em, và hôn lên môi em đi, Chàng chính là Vua của em.’ Cậu thiếu niên này, người có lời nói nhẹ nhàng nhất chỉ là sự thật trắng tinh khiết trong sự trần trụi giản đơn, đã chứng kiến họ ôm lấy nhau: cậu ta đỏ mặt, không thẹn thùng nói nên lời, đến vậy là cùng! Nhưng tất cả các vị Thánh Nữ trinh bạch, hội đồng mẹ-đồng-trinh bất tử trên Thiên đàng, đều cất tiếng nguyền rủa nàng. Vậy thì đứng dậy, hãy cưỡi ngựa đi với ta! Đừng nói về sự hổ thẹn! Ngươi không thể nào, dù có muốn, gây ra cho họ nhiều sự hổ thẹn hơn những gì họ tự gây ra cho chính mình.”
Ả ta nói dối một cách trôi chảy; nhưng chàng chìm đắm trong nỗi kinh hoàng, nhớ lại cái chòi nghỉ tối tăm ở Camelot, thốt lên bằng một lời thì thầm ảm đạm: “Đó là sự thật.”
Ả mỉm cười rạng rỡ: “Và ngay cả trong khu rừng hoang vắng này, hỡi lãnh chúa ngọt ngào, ngài thật khôn ngoan khi thì thầm điều này. Lũ ngu ngốc thường bàn tán, và rồi chết trong vai trò những kẻ phản bội. Rừng rậm cũng có lưỡi, giống như tường vách có tai: nhưng ngài sẽ đi cùng ta, và thoạt đầu chúng ta sẽ thì thầm với nhau cực kỳ khẽ khàng. Thật là phải lẽ khi vị Vua hiền đức không bị lừa dối. Nhìn kìa, ta đặt ngài lên một vị thế vô cùng có lợi, từ đó có thể quan sát thời cơ, và như loài đại bàng lao xuống theo ý muốn vào Lancelot và Hoàng Hậu.”
Ả im bặt; con quỷ dữ trong lòng Balin chồm lên, chàng nghiến ken két hàm răng, thét lên một tiếng rợn người, giật phăng chiếc khiên khỏi cành cây, ném xuống đất, dùng gót giày giáp sắt giẫm đạp lên chiếc vương miện hoàng gia, giẫm nát nó đến biến dạng, rồi văng nó ra xa lẫn vào đám cỏ dại trong rừng, đồng thời nguyền rủa câu chuyện, kẻ được kể, và cả kẻ kể chuyện. Tiếng thét kỳ quái ấy, ghê rợn hơn mọi tiếng gào thét của loài chim hay thú vật, đã vang vọng khắp khu rừng; và Balan đang mai phục ở đó (nhiệm vụ của chàng vẫn chưa hoàn thành) nghe thấy và thầm nghĩ: “Tiếng hét của con Ác Quỷ rừng xanh mà ta đến để tiêu diệt!” Rồi tiến lại gần: “Kìa! Hắn đã giết chết một hiệp sĩ đồng môn nào đó, và đang giày xéo chiếc khiên quý giá để bày tỏ sự ghê tởm của hắn đối với Hội Hiệp Sĩ và Hoàng Hậu của chúng ta. Nhiệm vụ của ta, có lẽ, là ở đây. Dù là quỷ hay người, hãy bảo vệ cái đầu của ngươi cho chắc.” Sir Balin không nói một lời, nhưng chộp lấy một chiếc khiên tròn bất ngờ từ tay người hầu cận, rồi tung người nhảy lên lưng ngựa, và thế là họ lao vào nhau trong trận chiến, và ngọn giáo thánh của Vua Pellam, vốn nổi tiếng là nhuốm máu vô tội, ngay lập tức nhuốm máu tội lỗi, bởi vì mũi giáo đã đâm xuyên qua chiếc khiên trinh nguyên của Balan lấn sâu vào da thịt chiếc áo giáp; và con ngựa của Balin đã kiệt sức đến chết, và khi họ lao vào nhau, ngã ngửa ngược lại đè lên Balin, nghiền nát thân thể chàng vào bên trong, và cả hai ngã quỵ rồi bất tỉnh nhân sự.
Bấy giờ, thiếu nữ lẩm bẩm với người hầu cận: “Đúng là lũ ngu ngốc! Tên này chắc đã làm chuyện đồi bại gì đó với Hoàng Hậu của mình: Nếu không thì hắn đã chẳng mang vương miện của nàng, cũng chẳng cuồng nộ và sùi bọt mép như thế khi nghe đến cái tên của đối thủ: Còn ngươi, hỡi chú gà con mới vừa nứt vỏ, vẫn còn nửa lòng đỏ, thậm chí chưa mọc lông tơ — người chưa từng nhìn thấy Caerleon bên sông Usk — vậy mà vẫn thường xuyên cầu xin tình yêu của ta — Hãy nhìn những gì ta thấy, hãy đến nơi ta từng đặt chân đến, hoặc nếu không, hỡi chú gà con — hãy xuống ngựa và cởi mũ giáp của chúng ra Ta rất muốn biết chúng là loại người nào.” Và khi người hầu cận đã cởi mũ giáp cho họ: “Tuyệt quá! — nhìn kìa! Chúng suýt nữa đã tẻo hạt muôn loài hoa tháng Năm, và húc đầu vào nhau ở đây, chẳng khác nào những con bò đực vô tích sự, chết chỉ vì một con bò cái!” Bấy giờ người hầu cận hiền lành cất lời: “Thần thấy họ thật hạnh phúc, miễn là họ chết vì tình yêu: Và, hỡi Vivien, dù người có đánh thần như đánh con chó của người, thần cũng sẵn sàng chết, giống như lúc này thần đang sống, vì người.”
“Cứ sống tiếp đi, hỡi cậu bé,” ả ta thốt lên. “Ta đánh giá cao một con chó sống hơn là một con sư tử chết: đi thôi! Ta không thể chịu đựng nổi khi nhìn chằm chằm vào người chết.” Rồi con ngựa bạch của ả phóng qua thân cây sồi đổ, và lao vút về phía trước: “Hãy mặc kệ chúng cho bầy sói đi.”
Nhưng khi vầng trán của họ cảm nhận được làn gió mát lành, Balin tỉnh lại trước, và nhìn thấy khuôn mặt quen thuộc ấy, quen thuộc từ thói quen thuở nôi nôi, nay xanh xao nhợt nhạt, liền chậm chạp bò lết với những tiếng rên rỉ nghẹn ngào đến chỗ chàng đang nằm, rồi ngả mình lên người người anh em đang lâm chung trong cơn hấp hối; và Balan nâng đôi mắt mệt mỏi lên; chàng cảm thấy có ai đó ở bên cạnh; đột nhiên họ nhận thức được thế gian, với đôi mắt mở trừng trừng đầy hoang dại; rồi với tiếng khóc nức nở như trẻ thơ và kéo vầng trán mờ mịt đầy tai ương đang treo lơ lửng bên trên mình xuống, chàng hôn lên đó, rên rỉ và cất lời:
“Ôi Balin, Balin, ta là kẻ vốn mong được chết để cứu mạng ngươi, nay lại đẩy ngươi đến cái chết. Sao ngươi lại không cầm chiếc khiên mà ta từng biết rõ? Và sao ngươi lại giẫm đạp lên thứ vốn mang Vương miện như thế?”
Bấy giờ Balin ngắt quãng kể lại cho chàng nghe trong từng hơi thở đứt quãng, tất cả những gì đã xảy ra, và Balan lại rên rỉ.
“Hỡi người anh em, ta đã ở lại đại sảnh của Pellam một ngày: Garlon này đã chế nhạo ta, nhưng ta chẳng màng đến. Và có kẻ nói rằng: ‘Hãy ăn trong bình yên! Hắn là kẻ nói dối, và căm ghét ngươi vì chuyện cống vật!’ vị hiệp sĩ tốt bụng này đã kể cho ta nghe rằng hai lần có một ả thiếu nữ lẳng lơ xuất hiện, và tìm kiếm Garlon tại cổng lâu đài, kẻ mà Pellam đã xua đuổi bằng sự phẫn nộ thánh thiện. Ta hoàn toàn tin rằng ả thiếu nữ này, và kẻ đứng cạnh ngươi vừa nãy, chính là một. ‘Ả sống trong rừng,’ hắn nói, ‘và gặp gỡ, tíu tít vui đùa với hắn tại Miệng Địa Ngục.’ Cuộc sống của chúng thật đồi bại; lời lẽ của chúng thật dơ bẩn; chúng đã nói dối. Hoàng Hậu của chúng ta thuần khiết như chính Người Mẹ chân chính của chúng ta.”
“Ôi người anh em,” Balin đáp: “Ta thật khốn khổ làm sao! Sự điên cuồng của ta suốt cuộc đời qua đã trở thành tai họa cho ngươi, là lời nguyền rủa của ngươi, và phủ bóng tối lên toàn bộ cuộc đời ngươi; và giờ đây màn đêm đã buông xuống. Ta hầu như chẳng thể nhìn rõ ngươi nữa.
Chúc ngủ ngon! Bởi vì chúng ta sẽ chẳng bao giờ còn được nói câu chào buổi sáng nữa — Bóng tối là định mệnh của ta ở đây, và bóng tối sẽ bao trùm ở cõi đó. Ta không thể nhìn thấy ngươi nữa rồi. Ta không muốn bóng tối của mình lại làm lu mờ bóng tối của ngươi, Chúc ngủ ngon, người anh em chân chính.” Balan thì thầm đáp lại: “Chúc ngủ ngon, người anh em chân chính ở cõi này! Chào buổi sáng ở cõi kia! Hai chúng ta được sinh ra cùng nhau, và chúng ta sẽ chết cùng nhau dưới một định mệnh:” và trong khi chàng cất lời thì đôi mắt đang chìm dần vào giấc ngủ tử thần cũng nhắm lại, và chìm vào giấc ngủ ngàn thu cùng với Balin, cả hai ôm chặt lấy nhau trong vòng tay của người kia.