Macon và Sarah cần mua một chiếc trường kỷ mới. Họ định dành một ngày thứ Bảy để làm chuyện này - thật ra chỉ nửa ngày thôi, vì Sarah lên lớp vào buổi chiều. Lúc ăn sáng, cô lật qua lật lại cuốn sách trang trí nội thất để có thể quyết định trước nên chọn mẫu trường kỷ như thế nào. “Em nghĩ hay ta chọn loại có hoa,” cô bảo Macon. “Hồi giờ mình chưa có chiếc trường kỷ hoa nào. Mà loại đó có quá diêm dúa không nhỉ?”
“Ồ, anh không biết nữa. Anh đang nghĩ rồi đến mùa đông thì sao,” Macon nói.
“Mùa đông sao?”
“Ý anh là giờ đang giữa tháng Sáu thì một cái trường kỷ hoa trông có vẻ phù hợp, nhưng vào tháng Mười hai anh thấy nó không ổn.”
“Vậy anh thích loại một màu hơn hả,” Sarah nói.
“Ồ, anh không biết.”
“Hay có sọc vằn.”
“Anh không chắc lắm.”
“Em biết anh không thích kiểu ca rô."
“Không.”
“Anh thấy loại bọc vải tuýt thế nào?”
“Vải tuýt à,” Macon nói, cân nhắc.
Sarah đưa anh cuốn sách và bắt đầu cho chén bát vào máy rửa chén.
Macon xem xét mấy tấm ảnh trường kỷ kiểu dáng hiện đại đặt ở góc nhà, những cái bọc vải hoa sặc sỡ ấm cúng, và những cái bọc vải phức hợp được tái sản xuất theo mùa. Anh cầm cuốn sách vào phòng khách và nhìn vào chỗ sẽ đặt trường kỷ. Cái cũ, thấm đẫm nước đến mức không thể cứu vãn, đã được kéo đi cùng cả hai cái ghế bành. Bây giờ chỗ đó chỉ còn lại một bức tường trống dài, với trần nhà mới trát lại thạch cao sáng bừng bên trên. Macon nhận thấy căn phòng không có đồ đạc mang lại cảm giác gì đó rất thực dụng, như thể nó chỉ là một thùng hàng. Hay một chiếc xe. Ừ, một chiếc xe: khi đứng ở đó anh có cảm giác mình đang lao xuyên qua vũ trụ.
Trong khi Sarah thay quần áo, Macon dắt con chó ra ngoài. Ấy là một buổi sáng ấm áp, nắng vàng dịu dàng. Mấy người hàng xóm đang xén cỏ và nhổ cỏ dại bên các vạt hoa. Họ gật đầu chào Macon khi anh đi ngang qua. Anh trở lại nhà chưa đủ lâu để họ có thể cảm thấy thoải mái; có gì đó hơi mang tính hình thức trong cách họ chào anh. Hoặc có thể do anh tưởng tượng ra thế. Anh cố nhắc họ nhớ lại anh đã sống ở đây bao nhiêu năm rồi. “Tôi đã luôn thích hoa tulip nhà chị!” và “vẫn còn xài cái xén cỏ cầm tay xinh xắn đó hả, tôi biết mà!” Edward lon ton bên cạnh anh, lăng xăng với cái đuôi liên tục ve vẩy.
Trong phim ảnh hay đại loại thế, ai đã làm nên những thay đổi lớn lao trong đời mình đều làm tới nơi tới chốn và giải quyết mọi việc ổn thỏa. Họ ra đi và không bao giờ trở lại; hoặc họ cưới nhau và sống bên nhau trọn đời. Trong đời thực, mọi thứ không gọn ghẽ đến thế. Chẳng hạn như Macon, anh phải đến chỗ Muriel đem con chó về, khi mà anh đã quyết định trở lại nhà mình. Anh đã phải đến thu dọn quần áo và lấy máy đánh chữ trong khi Muriel lẳng lặng quan sát với đôi mắt ánh lên vẻ kết tội và trách cứ. Rồi còn cả những thứ đồ khác anh quên không mang về, đến khi phát hiện ra thì đã quá muộn - mấy bộ quần áo đang giặt, cuốn từ điển ưa thích, chiếc cốc sứ lớn anh thích dùng để uống cà phê. Nhưng đương nhiên anh không thể quay trở lại lấy. Anh phải bỏ chúng - những sợi dây rối rắm cản trở sự ra đi của anh.
Lúc anh và Edward trở về, Sarah đang đứng đợi trước sân. Chiếc đầm màu vàng cô mặc khiến làn da rám nắng của cô trở nên sáng rỡ; trông cô thật xinh xắn. “Em đang nghĩ về cây đỗ quyên,” cô bảo Macon. “Chẳng phải mình đã định bón phân cho chúng vào mùa xuân hay sao?”
“À, có lẽ vậy,” Macon nói, “nhưng như thế này anh thấy cũng được mà.”
“Vào tháng Tư, em nghĩ vậy,” cô nói. “Hoặc có thể là tháng Năm. Đã không ai ở đây để làm việc đó cả.”
Macon chuyển hướng câu chuyện. Anh thích giả vờ rằng cuộc sống hai người vẫn diễn ra bình thường. “Không sao đâu, Rose có cả mấy bao phân hóa học,” anh nói. “Khi ra ngoài mình sẽ tạt qua lấy một ít.”
“Cũng đã không ai ở đây để gieo cỏ.”
“Cỏ trông cũng còn được mắt mà,” anh nói một cách hùng hồn hơn ý đồ thực sự của mình.
Họ nhốt Edward vào trong nhà và lên xe của Macon. Sarah mang theo một tờ báo vì trong đó có nhiều quảng cáo đồ nội thất. Modern Housewares,” cô đọc to. “Nhưng ở mãi tận phố Pratt cơ.”
“Thì cũng cứ thử xem sao,” Macon nói. Pratt là một trong những con phố anh nhớ đường đi.
Sau khi họ rời khu phố của mình, với hai hàng cây bên đường xòe tán đan thành vòm trên đầu, không khí trong xe trở nên oi nồng hơn và Macon hạ kính xe xuống. Sarah ngẩng mặt lên đón ánh mặt trời. “Hôm nay mà đi bơi thì tuyệt đấy,” cô nói.
“À, nếu mình có thời gian. Anh đang định mời em đi ăn trưa.”
“Ồ, ở đâu anh?”
“Bất cứ nơi nào em thích. Tùy em chọn đấy.”
“Anh thật tử tế.”
Macon lái xe ngang qua hai người đàn ông râu ria xồm xoàm đang đứng trò chuyện ở góc đường. Sarah khóa cửa bên phía cô ngồi. Macon nghĩ về những gì hai người đàn ông kia có thể đang nói với nhau, “Có gì mới chưa, ông anh?” “Không có gì nhiều.”
Vỉa hè trở nên đông đúc hơn. Mấy người đàn bà tay xách nách mang những túi mua hàng, một ông lão kéo lê chiếc xe chở đồ tạp phẩm, và một cô gái trong chiếc đầm bạc màu đứng tựa đầu vào biển chờ xe buýt.
Tại cửa hàng Modern Housewares, những biểu ngữ bằng giấy khổng lồ bao trùm hết mấy cửa hiệu băng kính. Trên đó có hàng chữ ĐỢT BÁN HÀNG ĐẶC BIỆT NHÂN NGÀY CỦA CHA! Sarah đã không hề cho anh biết có đợt bán giảm giá nhân ngày của Cha. Macon ra vẻ quan tâm, như muốn cho Sarah thấy nó không khiến anh bực bội gì. Quàng lấy cánh tay cô khi hai người đi vào, anh nói, “Chẳng phải là rất đặc trưng hay sao. Ngày của Cha! Chữ nào người ta cũng viết hoa.”
Sarah nhìn xung quanh và bảo, “Hình như ở đây người ta bán toàn là giường không thôi.”
“Anh nghĩ thoạt nhìn nó chỉ là ghế dựa thôi - một kiểu ghế bành cho các ông bố, nhưng sau mới thấy hóa ra là nó có thể mở thành giường được.”
“Cho chúng tôi xem trường kỷ đi,” Sarah nói với một nhân viên bán hàng với giọng kiên quyết.
Trường kỷ đều là loại có lưng dựa hơi ngả về phía sau, của Đan Mạch, loại Macon thấy cũng được. Anh không thực sự quan tâm. Sarah hỏi, “Anh thấy thế nào? Có chân? Hay trệt xuống sàn nhà?”
“Anh sao cũng được,” anh nói và ngồi mạnh xuống một cái bọc da.
Sarah chọn một cái thấp, dài có thể mở ra thành một chiếc giường đôi. “Macon? Anh nói gì đi chứ?” cô hỏi. “Anh thích cái đang ngồi hơn không?”
“Không, không,” anh nói.
“Vậy anh thấy cái này thế nào?”
“Được.”
“Thế anh không có ý kiến gì sao?”
“Anh vừa mới đưa ra ý kiến rồi đấy thôi, Sarah.”
Sarah thở dài và hỏi nhân viên bán hàng liệu có giao hàng ngay hôm nay được không.
Họ mua trường kỷ nhanh đến nỗi vẫn còn thời gian dành cho mấy việc lặt vặt khác nữa. Trước tiên họ lái xe đến hiệu Hutzler mua mấy tấm ga cho cỡ giường đôi. Rồi đến cửa hàng đồ nội thất để mua ghế bành; ở đây cũng đang giảm giá nhân Ngày của Cha. “Có thể hôm nay là ngày may mắn của chúng mình,” Sarah nói với Macon. Nhưng họ không hề gặp may với ghế bành; chẳng có cái nào vừa mắt. Ít nhất là đối với Macon. Anh không ngồi thử nữa mà đứng nhìn một đứa nhóc trên mấy chiếc màn hình ti vi xếp thành dãy.
Rời Hutzler họ đến lấy phân hóa học ở chỗ Rose, nhưng Macon phanh giữa chừng, “Đợi đã! Ngân hàng của anh đây rồi.” Bỗng nhiên anh sực nhớ ra - chi nhánh này là nơi anh thuê để một hộp ký gửi an toàn. “Anh cần lấy hộ chiếu cho chuyến đi Pháp,” anh nói với Sarah. “Nhân tiện đi ngang qua đây rồi, để anh vào lấy luôn.”
Sarah bảo cô sẽ đợi anh trong xe.
Anh phải đứng đợi trong hàng; có hai người phụ nữ đứng tuổi ở trước anh. Chắc họ định lấy đồ nữ trang cho tối thứ Bảy, anh thích tưởng tượng vậy. Hoặc xé cuống phiếu thưởng - bất kỳ phiếu thưởng nào. Trong lúc đứng đó anh cứ có cảm giác ai đó đang đứng đằng sau anh. Vì lý do nào đấy mà anh không muốn quay đầu lại để xem đó là ai. Anh cứ đứng nhìn chăm chăm về phía trước, thỉnh thoảng liếc nhìn đồng hồ ra vẻ bận rộn. Người này thở rất nhẹ và có mùi hoa - đăng đắng, hoa thật chứ không phải loại đựng trong lọ nước hoa. Nhưng rốt cuộc khi ngoảnh lại nhìn xung quanh, anh chỉ thấy một người lạ đang đợi lấy nữ trang.
Không phải Muriel chỉ lẳng lặng đứng nhìn khi anh dọn đồ đi. Thật ra, cô có bảo. Cô nói, “Macon? Anh định làm vậy thật sao? Có phải anh định bảo tôi là anh có thể chỉ dùng đến cạn kiệt ai đó rồi bỏ đi không? Anh nghĩ tôi là một thứ... chai đựng gì đó anh không cần đến nữa hay sao? Có phải ấy là cách anh nghĩ về tôi không, Macon?”
Đã đến lượt anh, và anh theo chân một cô gái mặc váy ngắn băng qua một khu vực trải thảm, vào một căn phòng nhỏ không cửa sổ trong đó có những ngăn kéo sắp thành từng hàng. “Tôi không cần mang hộp đến phòng khác đâu,” anh nói với cô gái. “Tôi chỉ lấy một thứ thôi.”
Cô gái đưa anh tấm card để ký vào và nhận chìa khóa từ anh. Sau khi mở xong khóa hộp cô đứng lùi lại, săm soi mấy cái móng tay của mình, trong khi anh lục lọi đám giấy tờ bên trong để tìm hộ chiếu. Rồi anh quay sang cô bảo anh đã xong, nhưng bỗng nhiên anh thấy xúc động bởi sự ý tứ nhìn sang chỗ khác của cô, bởi sự tinh tế của cô (vì chắc chắn là điều này không được viết trong bảng nội quy của ngân hàng)... Ồ, hẳn trí óc anh lúc này không được bình thường. Ấy là do thời tiết hay là gì đó; do mùa hay là gì đó; anh đã ngủ không ngon giấc. Anh nói, “Cảm ơn cô rất nhiều,” rồi lấy lại chìa khóa và trở ra.
Tại nhà ông nội anh, Rose đang đứng trước nhà xén hàng rào. Chiếc áo làm vườn của cô là kiểu áo lao động màu xám rộng thùng thình được thừa hưởng từ Charles. Khi thấy xe hai người đến gần, cô rướn người lên vẫy tay. Rồi cô tiếp tục xén trong khi họ tham khảo ý kiến của cô về phân bón hóa học. “Đối với đỗ quyên hay bất cứ loại nào anh chị có cũng thế, hoa bụi, cây chịu đất phèn...” cô ra vẻ suy nghĩ.
Sarah nói, “Hôm nay bọn trẻ đâu rồi?”
“Bọn trẻ nào?”
“Mấy đứa cháu ấy.”
“Ồ, chúng về nhà với mẹ cả rồi.”
Sarah nói, “Chị tưởng chúng còn ở đây, do thấy em chưa về với Julian...”
“Ồ, chưa đâu, đương nhiên rồi.” Rose nói.
Macon, sốt sắng bảo vệ thế giới riêng của cô em, lẩm bẩm, “Không, đương nhiên là không,” hầu như đồng thời với Rose, nhưng Sarah đã kịp hỏi, “Sao? Thế cái gì giữ em lại?”
“Ồ, Sarah, chị không thể tin nổi mấy ông con trai sống trong tình trạng thế nào khi em về lại đây đâu,” Rose nói. “Mấy ông đó cứ mặc pyjama suốt để khỏi phải giặt là nhiều. Tối nào cũng chỉ ăn gorp không thôi.”
“Thậm chí chị sẽ không hỏi gorp là gì đâu.”
“Ấy là hỗn hợp mầm lúa mạch và quả hạch và...”
“Nhưng căn hộ em thì sao, Rose? Julian nữa chứ?”
“Ồ, chị biết không, em cứ lạc đường về căn hộ mỗi khi rẽ sang một hướng nào đó,” Rose nói một cách mập mờ. “Em chạy về một khu nhà ở hướng Đông đến cửa hàng tạp hóa và rồi cua sang hướng Tây để trở về lại và em luôn đi sai đường; luôn luôn như vậy. Tòa nhà chung cư có lẽ dịch chuyển sang hướng Đông hay sao ấy; em không biết như thế nào nữa.”
Rồi cả ba đều im lặng. Rốt cuộc Macon nói, “À, em có thể lấy cho bọn anh một ít phân bón hóa học không, Rose...”
“Được chứ,” cô nói. Và đi vào trong nhà kho.
❀ ❀ ❀
Họ ăn trưa ở nhà hàng Old Bay - theo ý của Sarah. Macon hỏi, “Em chắc không?” và Sarah đáp, “Sao lại không?”
“Nhưng em luôn miệng bảo chỗ ấy chán lắm mà,” Macon nói.
“Có những điều còn tồi tệ hơn là chán nữa, em tin là thế.”
Anh không cho rằng Sarah thực sự thích đến chỗ đó, nhưng anh vẫn đồng ý.
Nhà hàng đông người, cho dù giờ đã quá trưa, thế nên họ phải đợi một ít phút mới được xếp chỗ ngồi. Macon đứng bên quầy một lúc để thích nghi với thứ ánh sáng nhờ nhờ bên trong. Anh quan sát những người khách khác và nhận thấy ở họ có gì đó là lạ. Họ không phải những người khách thường thấy ở Old Bay - tuổi trung niên, mặt ai cũng hao hao giống nhau - mà là một tập hợp đủ kiểu người đặc biệt và bất thường. Anh trông thấy một ông thầy tế chìa miếng bánh mì nướng ra mời một phụ nữ mặc chiếc váy tennis, và một phụ nữ mặc bộ vest may khéo ngồi với một người đàn ông trẻ tuổi mặc áo choàng mỏng màu cam, và hai cô nữ sinh nét mặt tươi vui đang dồn cả những miếng khoai tây chiên của chúng sang cho một cậu trai nhỏ. Từ chỗ đứng của mình, Macon không thể nghe được họ nói những gì; anh phải đoán. “Có thể người phụ nữ kia muốn gia nhập vào nhà tu kín, anh nói với Sarah, “và ông thầy tế nọ đang cố làm cô ta thối chí.”
“Sao cơ?”
“Ông ta đã chỉ ra rằng phân loại vớ cho chồng có thể ngang bằng với cái-mà-ông-ta-gọi-là-gì-gì-đó, thiêng liêng như nhau. Và người đàn ông trẻ tuổi trong chiếc áo choàng mỏng, à...”
“Người đàn ông trẻ tuổi trong chiếc áo choàng mỏng kia là Ashley Demming,” Sarah nói. “Anh biết Ashley đấy. Con trai của Peter và Lindy Demming. Ôi trời, cậu ta đã khiến Lindy già đi đến hai mươi tuổi trong vòng sáu tháng qua, có phải không nhỉ? Em không nghĩ là họ có thể vượt qua được chuyện đó.”
“À, ra vậy,” Macon nói.
Rồi họ được đưa đến một cái bàn.
Sarah gọi một thứ cocktail có tên gọi là White Lady còn Macon gọi một ly sherry. Và trong bữa ăn họ uống một chai vang. Macon không quen uống rượu vào ban ngày; anh dễ bị váng đầu. Sarah cũng vậy, rõ ràng là thế, vì cô đang nói dở câu gì đó lại chuyển sang chuyện vải bọc nệm. Cô chạm vào tay anh đang đặt trên khăn trải bàn. “Chúng mình phải làm thế này thường hơn,” cô bảo.
“Ừ, mình phải làm thế.”
“Anh có biết em đã nhớ điều gì nhất khi mình ly thân không? Những điều nhỏ nhặt, những thói quen. Những việc lặt vặt vào ngày thứ Bảy. Đến Eddies mua hột cà phê. Ngay cả những việc đã từng dường như rất chán, như cái cách anh kiếm mọi thứ ở tiệm đồ ngũ kim ấy.”
Khi anh gấp bàn tay cô lại thành nắm, nó thật tròn trịa, giống như một con chim. Không một góc cạnh.
“Em không chắc liệu anh có biết điều ấy không,” cô nói, nhưng có một dạo em cũng gặp gỡ một người.”
“Ồ, tốt thôi; dù thế nào cũng ăn món xa lát của em đi chứ,” anh bảo cô.
Không, em muốn nói chuyện ấy, Macon. Anh ấy vừa mới vượt qua cái chết của vợ, và em cũng vượt qua những thứ tương tự thế, đương nhiên... Ồ, bọn em khởi đầu rất chậm chạp, lúc đầu chỉ là bạn bè, nhưng rồi bọn em bắt đầu nói về chuyện ngày nào đó sẽ kết hôn. Ý của anh ấy là sau khi bọn em có đủ thời gian để hiểu nhau. Thật ra em nghĩ anh ấy thực sự yêu em. Anh ấy đã rất khó khăn khi đón nhận tin anh đã về lại với em.”
Cô nhìn thẳng vào mặt Macon khi nói ra điều ấy, mắt cô đột nhiên xanh lóe lên. Anh gật đầu.
“Thế nhưng em cũng gặp một vài rắc rối,” cô nói. “Ý em là điều tốt thôi; những phẩm chất em luôn ước ao. Anh ấy là một tay lái rất cừ, ví dụ vậy. Không phải không an toàn; chỉ hơi nhanh thôi. Thoạt đầu, em thích thế. Rồi từng chút từng chút một mọi chuyện trở nên tệ đi. ‘Chú ý vào kính chiếu hậu đi anh!’ em muốn bảo anh ấy như vậy. ‘Thắt chặt dây an toàn đi! Hãy đi từ từ qua các biển báo dừng xe thôi, chồng em làm vậy mà!’ Anh ấy chẳng bao giờ chịu xem lại hóa đơn nhà hàng trước khi trả cả - thế này nữa chứ, thậm chí anh ấy cũng không lấy biên lai thẻ tín dụng khi đứng dậy khỏi bàn nữa - và em lại nghĩ về tất cả những lần khi em đang hầm thịt, anh cắm cúi cộng lại mọi khoản dù nhỏ nhặt nhất trong hóa đơn. Em nghĩ, ‘Sao mình lại bỏ lỡ chuyện đó chứ? Thật sai lầm!’”
Giống như, “và bao nhiêu là chuyện khác nữa”, Macon nghĩ.
Giống như Muriel nói, “và bao nhiu là chuyện khác nữa.” Macon cau mày.
Và giờ này đây thật trống rỗng, thật tẻ nhạt khi anh được nghe thấy cái từ ấy phát lên một cách chính xác.
Anh vuốt ve mấy khớp nối trên bàn tay Sarah.
“Macon, em nghĩ rằng sau độ tuổi nào đấy, người ta sẽ không được chọn lựa gì nữa,” Sarah nói. “Anh là người em sống cùng. Đã quá muộn để cho em có thể thay đổi. Giờ đây em thấy mình đã dùng đến gần như cạn kiệt cuộc đời của mình rồi.”
Có phải anh định bảo tôi là anh có thể chỉ dùng đến cạn kiệt ai đó rồi bỏ đi không? Muriel đã nói như vậy.
Câu trả lời là, hiển nhiên là vậy rồi. Vì ngay cả khi anh đã sống với Muriel, thì chẳng lẽ Sarah không bị bỏ rơi hay sao chứ?
“Sau một độ tuổi nào đó,” anh bảo Sarah, “đối với anh dường như chỉ có thể được lựa chọn điều để mất thôi.”
“Anh bảo sao?” cô nói.
“Ý anh là sẽ có điều gì đó em phải từ bỏ, em phải cắt đứt cho dù đó là gì.”
“Ồ, đương nhiên rồi.”
Anh nghĩ cô luôn biết điều ấy.
Hai người đã dùng xong bữa trưa nhưng không gọi cà phê vì đã khá muộn rồi. Sarah còn phải lên lớp; cô đang theo học với một nhà điêu khắc vào các thứ Bảy. Macon gọi tính tiền và thanh toán sau khi đã cộng lại tất cả các mục. Rồi họ bước ra ngoài dưới ánh nắng chói chang. “Hôm nay trời đẹp, anh nhỉ,” Sarah nói. “Em muốn trốn học đi chơi quá.”
“Sao lại không chứ?” Macon hỏi. Nếu cô không lên lớp, anh cũng sẽ không phải chúi mũi vào cuốn cẩm nang.
Nhưng cô bảo, “Em không thể làm ông Armistead thất vọng được.”
Họ về nhà, và cô thay quần áo, mặc bộ đồ thể thao chất nỉ, rồi lại đi. Macon mang chỗ phân bón hóa học Rose đã cho đổ vào một cái xô. Ấy là một thứ gì đó tơi xốp không mùi - hoặc chỉ là mùi hóa chất hăng hăng, không có gì giống với loại phân chuồng mà người ta từng bón cho lũ cây hoa trà của bà nội anh. Anh đặt xô phân hóa học xuống sàn nhà phòng để đồ ăn và dắt con chó ra ngoài. Rồi anh pha một cốc cà phê uống cho đầu óc tỉnh táo. Anh đứng uống cạnh bồn rửa bát ở nhà bếp, nhìn trân trân ra sân. Con mèo cọ cọ vào mắt cá chân anh và kêu grừ grừ. Chiếc đồng hồ phía trên bếp vẫn tích tắc đều đều. Không một âm thanh nào khác.
Khi nghe tiếng chuông điện thoại, anh thấy vui vui. Anh cứ để nó đổ chuông hai lần rồi mới nhấc máy vì không muốn tỏ ra quá sốt sắng. Rồi anh nhấc máy lên, “A lô?”
“Ông Leary phải không ạ?”
“Đúng rồi!”
“Tôi là bà Morton, cửa hiệu Merkle Appliance. Ông có biết cuối tháng này hợp đồng bảo trì máy nước nóng của nhà hết hạn không?”
“Không, tôi không biết,” Macon nói.
“Ông đã ký hợp đồng hai năm giá ba mươi chín đô tám mươi tám xu. Giờ để làm lại hợp đồng cho hai năm tới chi phí đương nhiên sẽ cao hơn một chút vì máy nước nóng của nhà đã cũ hơn trước rồi.”
“À, tôi hiểu mà,” Macon nói. “Ôi chao! Giờ cái máy đó tính ra được bao nhiêu năm rồi ấy nhỉ?”
“Để xem nào. Ông mua nó ba năm trước đây, vào tháng Bảy.”
“À, đương nhiên là tôi vẫn muốn ký lại hợp đồng bảo trì.”
“Tốt. Rồi tôi sẽ gửi cho ông một hợp đồng mới, ông Leary, và cảm ơn ông về...”
“Và vẫn kèm theo cả khoản thay bồn nước chứ?” Macon hỏi.
“Ồ, vâng. Phần nào cũng có.”
“Và vẫn kiểm tra đều đặn hàng năm chứ?”
“Chứ sao nữa.”
“Tôi luôn hài lòng. Nhiều cửa hàng không làm chuyện ấy; tôi biết vậy khi đi mua sắm loanh quanh.”
“Vậy tôi sẽ gửi cho ông hợp đồng nhé, ông...”
“Nhưng tôi sẽ tự sắp xếp lịch kiểm tra chứ, tôi nhớ vậy.”
“Vâng, khách hàng sắp xếp chứ.”
“Có thể ngay bây giờ sắp xếp lịch kiểm tra luôn. Tôi làm vậy được không?”
“Ấy là một phần hoàn toàn khác, ông Leary. Tôi sẽ gửi cho ông hợp đồng để ông có thể đọc tất cả các khoản trong ấy. Chào ông.”
Bà ta gác máy.
Macon cũng gác máy.
Anh suy tư mất một lúc.
Anh đang có hứng thú muốn trò chuyện; ai cũng được. Nhưng anh không thể nghĩ ra được số nào để gọi. Rốt cuộc anh gọi đến trung tâm báo giờ. Cô trực tổng đài nhấc máy trước khi hồi chuông đầu tiên chấm dứt. (Cô ta đầu màng gì đến chuyện sợ người gọi nghĩ cô quá sốt sắng chứ.) “Khi nghe tiếng nhạc,” cô nói, sẽ là một giờ... bốn mươi chín phút. Mười giây.” Thật là một chất giọng êm tai. Thật du dương, trầm bổng. “Khi nghe tiếng nhạc, sẽ là một giờ... bốn mươi chín phút. Mười giây.”
Anh nghe khoảng độ hơn một phút, và rồi cuộc gọi bị ngắt. Nghe tiếng lách cách và tiếng chuông bận bắt đầu. Điều ấy khiến anh cảm thấy mình bị cự tuyệt, mặc dù anh biết như thế thật ngớ ngẩn. Anh khom người vuốt ve con mèo. Nó để yên một lát rồi chạy biến đi.
Không còn gì khác để làm ngoài việc ngồi xuống với cái máy chữ.
Anh đã chậm so với tiến độ. Tuần tới anh nghĩ mình sẽ bắt đầu với nước Pháp, vậy mà anh vẫn chưa xong phần kết luận cho cuốn cẩm nang về Canada. Anh đổ lỗi cho mùa. Ai mà có thể ngồi rịt trong nhà khi mọi thứ bên ngoài đang bừng nở thế kia chứ? Khách du lịch nên được cảnh báo trước, anh gõ vào bàn phím, rồi anh lại thấy mình đang chiêm ngưỡng một cành đỗ quyên trắng rung rinh bên mép cửa sổ để ngỏ. Một con ong đang chờn vờn quanh những cánh hoa nở bung, kêu vo ve. Vậy mà anh không biết rằng những con ong đã ra khỏi tổ rồi cơ đấy. Muriel có biết không nhỉ? Liệu cô có còn nhớ một con ong thì có thể làm gì với Alexander không nhỉ?”
... nên được cảnh bảo trước, anh đọc lên, nhưng mọi sự tập trung của anh đã tan biến hêt cả.
Cô thật bất cẩn, thật thiếu suy nghĩ; làm thế nào mà anh có thể chịu đựng được cô chứ? Thói quen mất vệ sinh của cô khi nhấp ngón tay để giở trang báo; thường hay dùng từ “vật vã” như thể nó là từ để chỉ kích thước vậy. Không có khả năng nào cho thấy cô nhớ được đến những vết chích của ong đâu.
Anh với tay lấy ống nghe điện thoại trên bàn và quay số của cô. “Muriel đấy à?”
“Sao,” cô nói giọng hờ hững.
“Macon đây.”
“Vâng, tôi biết.”
Anh ngừng một lúc rồi nói, “Ưm, mùa ong đến rồi đấy, Muriel.”
“Thế thì sao?”
“Anh không chắc là em biết. Ý anh là mùa hè đang đến, anh biết mùa hè đến thì thế nào, và anh tự hỏi liệu em có để ý về việc Alexander có thể bị ong đốt không.”
“Anh không tin là tôi có thể tự xoay xở chuyện ấy hay sao?” cô rít lên.
“Ồ, được.”
“Anh nghĩ tôi là ai chứ, là một con ngốc chắc? Anh không nghĩ là tôi biết tất cả những điếu ngớ ngẩn nhất giản đơn nhất hay sao?”
“Ồ, anh không chắc em biết rằng...”
“Anh tốt gớm nhỉ! Bỏ đi chẳng thèm chào thằng bé lấy một tiếng và rồi gọi cho mẹ nó để xem cô ta đã chăm sóc nó đúng cách chưa!”
“Anh chỉ muốn...”
“Chỉ trích! Chỉ trích! Bảo tôi bữa ăn nhiều mì không phải là một bữa ăn đủ chất rồi bỏ rơi nó rồi lại nổi hứng lên gọi cho tôi bảo tôi không phải là người mẹ tốt!”
“Không, khoan đã, Muriel...”
“Dominick chết rồi,” cô nói.
“Cái gì?”
“Anh mà cũng quan tâm đến chuyện ấy cơ à. Cậu ấy chết rồi.”
Macom nhận thấy những âm thanh trong phòng đột nhiên im bặt đi như thế nào. “Dominick Saddler hả?” anh hỏi.
“Cái đêm cậu ấy lấy xe tôi đi dự tiệc ở Cockeysville trên đường về nhà cậu ấy đâm sầm vào thanh chắn đường.”
“Ôi, không.”
“Cô gái đi cùng không bị sao ngoài mấy vết trầy sướt.”
“Nhưng Dominick...” Macon nói, vì anh chưa tin vào tai mình.
“Nhưng Dominick chết ngay lập tức.”
“Ôi, Chúa ơi.”
Anh thấy Dominick ngồi trên trường kỷ cùng với Alexander, giơ lên cao một hộp keo đặc.
“Muốn nghe chuyện lạ lùng không? Xe của tôi sẽ ổn cả,” Muriel nói. “Chỉ gò lại đầu xe một chút là nó sẽ lại chạy tốt như trước.”
Macon đưa bàn tay còn lại ôm lấy trán.
“Tôi phải đi bây giờ để đến ngồi cùng bà Saddler tại nhà tang lễ,” cô nói.
“Anh có thể làm được gì không?”
“Không,” cô nói, và rồi hằn học, “anh có mà giúp được gì chứ?”
“Anh có thể ở nhà với Alexander.”
“Alexander có người của chúng tôi ở cùng rồi.”
Chuông cửa reo, và Edward bắt đầu sủa váng lên. Macon nghe tiếng nó ở phòng trước.
“À, chào anh luôn nhé,” Muriel nói. “Xem ra anh có khách rồi.”
“Không phiền gì đâu.”
“Tôi sẽ để anh trở về với vợ anh,” cô nói. “Lâu quá rồi mà.”
Anh giữ lại ống nghe bên tai mất một lúc, nhưng cô đã gác máy.
Anh ra ngoài phòng lớn và giậm chân bảo Edward, “Nằm xuống!” Edward nằm xuống, hàng lông trên lưng vẫn còn dựng đứng. Macon mở cửa và thấy một cậu con trai cầm theo một cái kẹp giấy.
“Cháu ở cửa hàng Modern Housewares đây ạ,”
“Ồ, cái trường kỷ.”
Trong khi trường kỷ được dỡ xuống, Macon nhốt Edward vào nhà bếp. Rồi anh quay ra phòng lớn quan sát cái trường kỷ được khuân về phía anh, hai người - cậu con trai hồi nãy và một cậu nữa, hơi lớn tuổi hơn một chút, có một hình xăm chim đại bàng trên cẳng tay. Macon nghĩ về cơ bắp của Dominick, hai cánh tay cuồn cuộn lấp ló bên dưới ca pô xe Muriel. Cậu con trai đến trước khạc một bãi nước bọt khi gần vào đến nhà, nhưng Macon trông thấy khuôn mặt cậu ta thật non nớt và hiền lành. “Ối,” cậu con trai kia thốt lên khi vấp vào bậu cửa.
Macon nói, “Tốt đấy,” và đưa chúng mỗi đứa một tờ bạc năm đô khi chúng đặt xong cái trường kỷ vào chỗ anh chỉ.
Sau khi hai cậu con trai đi khỏi anh ngồi xuống trường kỷ, vẫn còn bọc giấy bóng kính cellophane. Anh chà chà hai tay lên đầu gối. Edward sủa ỏm tỏi trong nhà bếp. Con Helen thong thả đi vào, đứng yên nhìn cái trường kỷ, và rồi tiếp tục đi ngang qua phòng với cái vẻ hết sức kiêu kỳ. Macon vẫn ngồi đó.
Khi Ethan chết, cảnh sát đã yêu cầu Macon đến nhận xác. Còn Sarah, họ đề xuất, tốt hơn nên đợi bên ngoài. Vâng, Sarah đã nói vậy: cô sẽ đợi bên ngoài. Cô ngồi xuống một cái ghế bành màu be trong hành lang rồi ngẩng lên nhìn Macon, “Anh có thể làm được điều ấy không?”
“Được,” anh nói với cô, giọng bình tĩnh. Anh đã cảm thấy mình gần như nghẹn thở; anh cố giữ mình bình thản, trong khi hầu như tất cả không khí trong phổi đều tuôn ra ngoài hết cả.
Anh theo một người đàn ông vào phòng. Lẽ ra chắc là trông phải kinh khủng lắm, nhưng ai đó đã cuộn một tấm khăn đặt bên dưới đầu Ethan để che đi vết thương nên nhìn cũng không đến nỗi. Mà cũng không phải là Ethan. Không phải là Ethan thật. Thật kỳ là bỗng nhiên thật rõ ràng làm sao rằng, một khi ai đó chết đi, cái xác còn lại thể hiện được rất ít ỏi về người đó. Ấy đơn giản chỉ là một cái vỏ trống rỗng, mặc dù vẻ ngoài của nó chính là Ethan không sai một ly - này cũng là nhân trung chạy xuống đến môi trên, này cũng là nhúm tóc lòa xòa trước trán. Macon thấy mình giống như đang ép chặt vào một bức tường trống, mong muốn đến tuyệt vọng mọi chuyện chưa hề xảy ra: Làm ơn, làm ơn trở lại vào trong đi. Nhưng rốt cuộc anh chỉ nói, “Vâng. Đó là con trai tôi.”
Anh quay trở ra chỗ Sarah đang ngồi và gật đầu. Sarah đứng lên ôm lấy anh. Sau đó, khi chỉ còn lại hai người trong nhà trọ bên đường, cô hỏi anh đã nhìn thấy gì. “Không gì nhiều cả, em yêu, anh đã nói với cô như vậy. Cô cứ gặng hỏi anh về thằng bé. Ethan có... ổn không, trông có vẻ gì là bị thương không? Có dễ sợ không? Anh nói, “Không, nó không sao.” Anh nói, “Để anh mang cho em tách trà.”
“Em không muốn uống trà, em muốn nghe cơ!” cô nói. Anh giấu gì phải không?” Anh có cảm tưởng cô đang đổ lỗi cho anh về điều gì đó. Trong suốt cả một vài tuần kế tiếp dường như cô dần cho rằng anh là người có trách nhiệm, kiểu như người mang những tin tức không tốt lành - người duy nhất có thể nói lên một sự thật rằng Ethan thật sự đã chết rồi. Cô đưa ra nhiều ám chỉ về sự lạnh lùng của Macon, về sự bình tĩnh đến kinh khủng của anh vào cái đêm ở nhà xác bệnh viện. Có đến hai lần cô thể hiện nghi ngờ rằng liệu thật sự anh có thể phân biệt được Ethan với một cậu bé hao hao nào đấy không. Thật ra, có thể đây chẳng phải là Ethan. Có thể cái xác ấy là ai đó khác đã chết. Lẽ ra cô nên tự mình tìm hiểu mới đúng. Dù gì, cô cũng là mẹ cơ mà; cô biết đứa con mình hơn chứ; Macon thì biết gì?
Macon nói, “Sarah à. Nghe này. Anh sẽ cho em biết mọi điều trong khả năng của anh nhé. Nó rất tái và bất động. Em sẽ không tin được bất động như thế nào đâu. Nó không có một xúc cảm nào. Hai mắt khép. Không có máu hay thứ gì gớm ghiếc cả; chỉ là một cảm giác... không còn làm gì được nữa. Ý anh là anh tự hỏi mục đích ở đây là gì. Hai cánh tay nó buông theo thân người và anh nghĩ về mùa xuân năm ngoái khi nó bắt đầu tập tạ. Anh nghĩ, ‘Có phải đây là điều sẽ đến không? Tập tạ và uống vitamin và ăn để lớn lên và rồi - không còn gì cả?’”
Anh đã không lường được phản ứng của Sarah. “Vậy anh đang nói gì thế?” cô hỏi anh. “Cuối cùng thì hai chúng ta cũng chết, thế thì việc gì phải sống cho mệt? Có phải anh đang nói thế không?”
“Không...” anh nói.
“Vậy ra mọi thứ chẳng có ý nghĩa gì ngoài vấn đề tiết kiệm?”
“Không, Sarah à. Khoan đã,” anh nói.
Giờ nghĩ lại cuộc nói chuyện ấy, anh bắt đầu tin rằng thật ra người ta có thể bị dùng cho đến cạn kiệt - có thể dùng nhau cho đến cạn kiệt, có thể không còn giúp gì được cho nhau nữa, và thậm chí có thể còn làm hại nhau. Anh bắt đầu nghĩ rằng việc anh là người như thế nào khi anh ở cùng một ai đó có lẽ còn quan trọng hơn cả việc anh có yêu người đó hay không.
Có Chúa mới biết anh ngồi như thế mất bao lâu.
Edward sủa không ngớt từ nãy giờ trong nhà bếp, nhưng giờ tiếng sủa của nó nghe dữ dội hơn. Hẳn là có ai đó gõ cửa. Macon đứng dậy đi ra phía trước nhà, anh thấy Julian đang đứng ngoài hiên với cặp tài liệu trên tay. “Ồ. Cậu đó à,” Macon nói.
“Tiếng sủa nãy giờ em nghe là gì thế?”
“Đừng lo, tôi nhốt nó trong nhà bếp rồi. Vào nhà đi.”
Anh giữ cửa mở để Julian bước vào trong. “Em nghĩ nên mang cho anh ít tài liệu cho chuyến đi Paris,” Julian nói.
“Tôi biết,” Macon nói. Nhưng anh ngờ rằng cậu ta đến đây thật ra vì một lý do nào đấy khác. Có thể là hy vọng hối thúc anh làm cho xong cuốn về Canada. “À, chỉ còn một ít nữa là xong phần kết luận,” anh nói, đi đến phòng khách. Rồi vội thêm vào, “Có vài chi tiết này nọ tôi không hoàn toàn hài lòng; có thể chỉ mấy bữa nữa thôi...”
Hình như Julian không để ý nghe. Anh ta ngồi xuống trường kỷ còn bọc giấy kính cellophane. Anh ta gạt cặp tài liệu qua một bên và hỏi, “Gần đây anh có gặp Rose không?”
“Có, ban sáng bọn tôi mới đến đó.”
“Anh có nghĩ là cô ấy sẽ không về không?”
Macon không ngờ là anh ta lại hỏi thẳng như thế. Thật ra, tình cảnh của Rose bắt đầu giống với một trong những kiểu bất ổn thường trực mà các cặp vợ chồng không bao giờ muốn đề cập. “Ồ, à,” anh nói vói Julian, “cậu biết như thế nào mà. Nó lo lắng cho mấy ông con trai ấy mà. Họ ăn uống thất thường hay gì gì đó.”
“Không phải con trai, Macon. Họ đã là những người đàn ông ở độ tuổi bốn mươi rồi.”
Macon vuốt vuốt cằm.
“Em sợ cô ấy bỏ em,” Julian nói.
“Ồ, sao cậu biết chắc chuyện đó được.”
“Mà thậm chí chẳng vì một lý do xác đáng nào cả!” Julian nói. “Hay đúng hơn là bất kỳ lý do nào. Ý em là cuộc hôn nhân của hai đứa em đang ổn mà; em có thể thề với anh điều ấy. Nhưng cô ấy đã quen với nếp sống cũ hay gì đó trong ngôi nhà của mình, và cô ấy không thể không có tâm lý hướng về nơi ấy. Chắc chỉ vậy thôi, em không thể nghĩ ra một cách lý giải nào khác.”
“Ồ, có vẻ mọi thứ vẫn ổn.”
“Em có đến thăm cô ấy hai hôm trước,” Julian nói, “nhưng cô ấy ra ngoài. Em đang đứng trong sân tự hỏi cô đã đi đâu thì thấy chiếc xe chạy ngang qua mà người lái chẳng phải là ai khác ngoài Rose, trên chiếc xe chen chúc những cụ bà. Những khuôn mặt già nua teo tóp với những chiếc mũ lông lấp ló qua cửa kính xe. Em gọi với theo, ‘Rose! Đợi đã!’ nhưng cô ấy không nghe nên cứ thế lái đi. Rồi đến phút cuối cùng cô ấy nhìn thấy em, em đoán thế, cô ấy ngoảnh đầu lại nhìn chăm chăm, và em có một cảm giác buồn cười chưa từng thấy, giống như cái xe lái cô ấy đi – giống như cô ấy vừa mới lướt qua một cách không cưỡng lại được và không thể làm được điều gì ngoài việc nhìn em mãi cho đến khi mất hút.”
Macon nói, “Sao không cho nó làm công việc gì đấy đi, Julian?”
“Công việc?”
“Sao không cho nó thấy văn phòng của cậu. Hệ thống hồ sơ chưa bao giờ được phân loại, cái cô thư ký suốt ngày nhai kẹo kẹo cao su và quên béng cuộc hẹn của ai đó vào lúc nào đó. Cậu không nghĩ là Rose có thể làm những việc ấy rất dễ dàng hay sao?
“À, hẳn thế rồi, nhưng...”
“Hãy gọi cho nó và báo công việc kinh doanh của cậu đang lộn tùng phèo cả lên. Hỏi xem nó có thể đến sắp xếp mọi thứ lại, đưa mọi thứ vào vòng kiểm soát không. Hãy làm cách đó đi. Nói những lời này. Đưa mọi thứ vào vòng kiểm soát, nói với nó vậy. Rồi cứ ngồi xuống mà đợi kết quả.”
Julian suy nghĩ.
“Nhưng đương nhiên, ấy chỉ là nói vậy thôi.” Macon nói.
“Không, anh đúng đấy.”
“Nào cho tôi xem cặp hồ sơ của cậu.”
“Anh nói rất đúng,” Julian bảo.
“Nhìn cái gì này!” Macon nói. Anh cầm lên lá thư ở trên cùng. Sao cậu cứ quấy quả tôi với cái này nhỉ? Tôi chỉ muốn khảo sát cho anh một khách sạn nhỏ xíu tuyệt đẹp ở... Một người đàn ông nói anh ta muốn ‘khảo sát’ cho chúng ta, cậu có thực sự nghĩ rằng anh ta biết một khách sạn dễ chịu thoải mái khi anh ta chỉ thấy mỗi một cái thôi không?”
“Macon,” Julian nói.
“Tất cả thứ ngôn ngữ phải gió này đã đang và sẽ bị tiễu trừ,” Macon nói.
“Macon, em biết anh nghĩ em thô bỉ và hỗn xược.”
Mất một lúc Macon mới có thể trả lời, chỉ một phần là vì đây là lần đầu tiên anh nghe cụm “thô bỉ và hỗn xược”. “Ồ,” anh nói. “À, không, Julian, không...”
“Nhưng em chỉ muốn nói điều này thôi, Macon. Em cần em gái của anh hơn bất kỳ điều gì khác trên thế gian này. Mà cũng không phải chỉ một mình Rose thôi đâu, mà còn cả cách cô ấy sống, ngôi nhà ấy, và những bữa tối có món gà tây và trò chơi bài vào buổi tối. Và em cũng cần anh nữa, Macon. Ồ, anh là người bạn tốt nhất của em mà! Ít nhất là em hy vọng thế.”
“Ồ, sao, à...” Macon nói.
Julian đứng dậy bắt tay anh, siết thật chặt, vỗ lên vai anh rồi đi.
❀ ❀ ❀
Sarah về nhà lúc năm giờ ba mươi. Cô thấy Macon đứng bên bồn rửa bát ở nhà bếp tay cầm cốc cà phê thứ hai đang uống dở. “Trường kỷ đến chưa anh?”
“An toàn và lành lặn.”
“Ồ, tốt quá! Mình xem thử đi.”
Cô đi vào phòng khách, để lại mấy vệt bụi xám mà Macon nghĩ rằng đó là đất sét hay đá granite gì đấy. Thậm chí bụi còn vương cả trên đầu cô nữa. Cô đưa mắt nhìn cái trường kỷ và hỏi, “Anh thấy thế nào?”
“Với anh thì cũng được,” anh nói.
“Nói thật đi, Macon. Em không biết điều gì đã xảy ra với anh; trước đây anh khó tính lắm mà, không thích gì cứ nói toạc móng heo ra luôn.”
“Được mà, Sarah. Trông nó rất được mắt.”
Cô bóc lớp giấy bóng kính cellophane ra và đứng lùi lại, hai cánh tay đầy những ánh sáng lốm đốm. “Mình phải xem khi mở nó ra thành giường thì trông như thế nào mới được,” cô nói.
Trong khi cô đang nhồi mớ giấy bóng kính cellophane vào thùng rác, Macon kéo căng đai da để bung cái trường kỷ ra thành giường. Nó khiến Macon nhớ đến nhà Muriel. Mặt ngoài sần sần quen thuộc của cái đai da gợi cho anh nhớ lại những lần cô em gái của Muriel đến ngủ lại, và nhớ khi tấm đệm trượt ra một chút anh trông thấy mớ tóc vàng óng rối tung của Claire rơi ra ngoài.
“Có lẽ mình nên trải ga, khi đã mở nó ra thế này,” Sarah nói. Cô mang một bao khăn trải giường từ phòng trước vào. Macon đứng giữ một đầu, cô bung tấm ga phủ lấy nệm và rồi lăng xăng đi lên đi xuống chỉnh sửa cho thẳng thớm. Macon cũng làm, nhưng không nhanh bằng Sarah. Lớp bụi đất sét hay gì đó còn bám cả lên mấy đốt ngón tay của cô, Macon nhìn thấy vậy. Có một cái gì đó rất quyến rũ nơi đôi tay nhỏ, rám nắng, có nếp nhăn của cô nổi bật trên nền vải peccan trắng tinh mịn màng. Anh nói, “Mình cho cái giường chạy thử đi nào.”
Thoạt đầu Sarah không hiểu gì cả. Cô ngước mắt khỏi tấm ga thứ hai đang được mở ra và hỏi, “Chạy thử là sao?”
Thế nhưng cô vẫn để anh dọn tấm ga ấy đi và cởi áo sơ mi đầy mồ hôi qua đầu cô.
Làm tình với Sarah thật dễ chịu và dịu dàng. Sau ngần ấy năm sống chung, cơ thể cô đã quá đỗi thân thương đối với anh đến độ không phải lúc nào anh cũng có thể nói được sự khác nhau giữa những gì anh cảm thấy và những gì cô cảm thấy. Nhưng chẳng phải là thật đáng buồn hay sao khi mà họ không có lấy chút khó chịu dù nhỏ nhất về chuyện đã từng có ai đó đi qua cuộc đời mỗi người? Họ quá đơn lẻ. Anh vùi mặt vào chiếc cổ ấm áp đầy bụi của cô và tự hỏi liệu cô có cùng cảm giác đó với anh không - liệu cô có cảm thấy sự trống trải trong ngôi nhà không. Nhưng anh không bao giờ có thể hỏi được.
❀ ❀ ❀
Trong khi Sarah đi tắm, anh cạo râu. Hai người định đến nhà vợ chồng Bob và Sue Carney dùng cơm tối. Khi anh ra khỏi phòng tắm, Sarah đang đứng trước bàn phấn đính đôi hoa tai vàng nhỏ xíu lên tai. (Cô là người phụ nữ duy nhất Macon biết không xỏ lô tai). Anh nghĩ Renoir[1] có thể vẽ cô ấy lúc này: trong chiếc quần lót, mặt hơi hếch lên, hai cánh tay tròn trĩnh rám nắng đang đưa lên cao. “Em thật sự không có hứng đi ra ngoài bây giờ,” cô nói.
“Anh cũng vậy,” Macon vừa nói vừa mở tủ quần áo của anh.
“Em chỉ muốn ở nhà đọc sách thôi.”
Anh kéo áo sơ mi ra khỏi móc.
“Macon này,” cô nói.
“Gì em.”
“Anh không bao giờ hỏi xem em có ngủ với ai trong thời gian mình ly thân không.”
Macon khựng lại khi đang xỏ một tay vào ống tay áo.
“Anh không muốn biết à?” cô hỏi anh.
“Không,” anh nói.
Anh mặc áo vào rồi cài cúc cổ tay.
“Em nghĩ anh cũng phải tự hỏi chứ.”
“À, cũng không.”
“Vấn đề của anh là, Macon...”
Thật ngạc nhiên, anh bỗng thấy lửa giận bốc lên ngùn ngụt. “Sarah à,” anh nói. “Đừng lại bắt đầu thế, vì Chúa, nếu điều đó chẳng mảy may là lý do khiến cuộc hôn nhân của chúng mình gặp rắc rối. Vấn đề của anh là, Macon...’ với chả lại ‘Em hiểu anh hơn anh hiểu bản thân anh, Macon...’”
“Vấn đề của anh là,” cô vẫn tiếp tục với giọng đều đều, anh nghĩ người ta nên ở trong cái vỏ bịt kín của mình. Anh không tin vào việc có thể mở nó ra. Anh không tin vào sự giao tiếp qua lại.”
“Anh không phải như thế,” Macon nói, cài cúc áo.
“Anh có biết anh khiến em liên tưởng đến gì không? Bức điện tín Harpo Marx[2] gửi cho mấy người anh em: Không thông tin. Harpo.”
Anh cười xòa khi nghe cô nói vậy. Sarah nói, “Chắc anh nghĩ nó thật buồn cười phải không?”
“Hả? Chẳng phải thế sao?”
“Không buồn cười chút nào cả! Buồn thì có! Tức phát điên ấy chứ! Thật tức đến phát điên lên được khi bước ra cửa ký nhận bức điện tín và rồi mở nó ra chỉ để thấy rằng chẳng có một dòng tin nào cả!”
Anh lấy một chiếc ca vát từ trên giá tủ đồ.
“Nói để anh biết,” cô nói, “em đã không ngủ với bất cứ ai trong suốt quãng thời gian ấy.”
Anh cảm thấy như cô đã thắng một cuộc thi nào đấy. Anh vờ như không nghe cô nói gì.
❀ ❀ ❀
Bob và Sue chỉ mời mấy người hàng xóm thôi - nhà Bidwell và một cặp vợ chồng trẻ Macon chưa gặp lần nào. Macon thường cảm thấy bối rối trước những cặp vợ chồng trẻ vì họ chưa hề biết gì về lai lịch của anh. Khi họ hỏi anh có con không, anh nói, “Không.” Anh hỏi họ có con không.
“Không,” Brad Frederick nói.
“À.”
Vợ Brad đang ở độ tuổi chuyển tiếp từ thiếu nữ lên phụ nữ trưởng thành. Cô mặc chiếc đầm xanh hải quân trông hơi thô và đi đôi giày màu trắng cỡ rộng chắc là của mẹ cô. Brad vẫn còn là một cậu con trai. Khi họ ra hết cả bên ngoài để trông món thịt nướng ngoài trời, Brad tìm thấy một chiếc đĩa đồ chơi Frisbee nằm trong bụi và tung nó lên cho cô nhóc Delialh Carney. Chiếc áo thun polo màu trắng hếch lên trên thắt lưng quần của cậu. Dominick Saddler lại xuất hiện trong đầu anh như một cú đâm mạnh và sâu. Anh nhớ cái cách hình ảnh của bất cứ người già nào cũng có thể khiến anh rơi nước mắt như thế nào kể từ sau khi ông nội anh mất. Chúa ơi, nếu không cẩn thận anh có thể sẽ đi đến chỗ cảm thấy tội nghiệp cho toàn thể nhân loại mất thôi. “Ném lại đây nào,” anh nói nhanh với cô nhóc Delilah, và đặt ly cherry sang một bên, giơ một tay ra chộp lấy chiếc đĩa Frisbee. Chẳng bao lâu sau họ đã có một trận chơi đích thực – tất cả những người được mời đến dùng bữa đều tham gia, ngoại trừ cô vợ của Brad - người đang ở quá gần lằn ranh thơ ấu để có thể mạo hiểm mặc kẹt nơi đây, trong trò chơi này, mà trở lại là một cô bé.
Vào bữa ăn tối, Sue Carney xếp Macon ngồi bên phải chị. Chị đặt một tay lên tay anh và nói thật tuyệt là anh và Sarah đã làm lành. “Ồ, cảm ơn,” Macon nói. “Trời ơi, chị làm món xa lát ngon thật đấy, Sue à.”
“Tất cả chúng ta ai cũng có lúc này lúc khác,” chị nói. Trong một giây anh ngỡ rằng chị muốn ám chỉ đến món xa lát không phải lúc nào cũng thành công. “Tôi nói thật đấy,” chị nói với anh, “có những lúc tôi tự hỏi liệu Bob và tôi có thể làm lành được không. Có những lúc tôi cảm thấy chúng tôi như chòng chành chênh vênh thế nào ấy, anh biết ý tôi muốn nói là gì không? Có những khi tôi bảo, ‘Xin chào, anh yêu, ngày của anh thế nào?’ nhưng trong lòng tôi lại cảm thấy mình như là một người mẹ trong tổ chức Gold Star[3] vậy.”
Macon xoay xoay đế ly rượu và cố nghĩ xem anh đã bỏ lỡ bước nào trong logic của chị.
“Giống như ai đó đã chịu đựng mất mát trong một cuộc chiến nào đó,” chị nói, “và rồi mãi mãi về sau cô ấy phải tiếp tục ủng hộ chiến tranh; cô ấy phải ủng hộ nó còn nhiều hơn bất kỳ ai khác, vì nếu không cô ấy sẽ phải thừa nhận rằng sự mất mát kia chẳng vì mục đích nào cả.”
“Ừm...”
“Nhưng ấy chỉ là một tâm trạng thoáng qua thôi,” cô nói.
“Ồ, lẽ tự nhiên thôi mà,” Macon nói.
❀ ❀ ❀
Anh và Sarah đi bộ về nhà trong không khí đặc quánh như nước. Đã mười một giờ và bọn trẻ choai choai chịu lệnh giới nghiêm mười một giờ đang lục tục kéo về. Những đứa này nhỏ tuổi nhất, hầu hết chưa đủ tuổi lái xe nên những đưa lớn hơn lái đi. Cả bọn choai choai ấy phốc hết xuống xe la om sòm, “Hẹn gặp lại nhé! Cảm ơn! Ngày mai gọi nhé, nghe không?” Những chùm chìa khóa rung leng keng. Những cánh cửa trước hé mở và đóng sập lại ngay. Những chiếc xe chuyển bánh.
Chiếc váy của Sarah phát ra âm thanh lào xào giống như tiếng của vòi phun nước sân cỏ nhà Tuckers lúc này vẫn đang chầm chậm xoay tròn giữa đám thường xuân.
Khi họ về đến nhà, Macon cho Edward ra ngoài đi tè lần cuối. Anh cố lừa con mèo vào nhà, nhưng cô ả vẫn cứ đứng lom khom trên bậu cửa sổ nhà bếp nhìn anh trừng trừng, quạu quọ và cứng đầu; thế nên anh mặc kệ nó. Anh đi khắp các phòng để tắt đèn. Lúc anh lên lầu Sarah đã ở trên giường, chuồi người tựa đầu vào tấm ván đầu giường, tay cầm ly xô đa. “Uống chút không,” cô nói, giơ cao cái ly. Nhưng anh bảo không, anh thấy mệt; rồi anh cởi quần áo chui vào bên dưới tấm đắp.
Tiếng lanh canh của mấy viên đá nhỏ va vào nhau trong ly xô đa của Sarah gợi lên trong anh một ý nghĩa gì đấy. Dường như với mỗi tiếng lanh canh ấy anh lại rơi xuống sâu hơn. Cuối cùng anh mở ra một cánh cửa, bước xuống lối đi và bước vào bục nhân chứng. Họ hỏi anh những câu đơn giản nhất, “Bánh xe màu gì?” “Ai mua bánh mì?” “Mấy cánh cửa chớp đóng hay mở? Thật lòng mà nói anh không nhớ nổi. Anh cố nhưng vẫn không nhớ được điều gì. Họ đưa anh đến hiện trường vụ án mạng, một con đường uốn lượn như trong câu chuyện thần tiên.
“Hãy nói với chúng tôi tất cả những điều anh biết,” họ bảo. Anh không biết một điều gì. Đến nước này thì đối với họ anh không còn chỉ là nhân chứng; họ nghi ngờ anh. Cho nên anh có nặn óc ra, nhưng anh vẫn thấy trống trơn. “Các ông phải hiểu cho tôi chứ!” anh hét toáng lên. “Tôi đã đẩy tất cả ra khỏi đầu; tôi cố xua tất cả ra! Giờ tôi không thể mang tất cả trở vào được nữa.
“Không ngay cả là để tự bảo vệ ư?” họ hỏi.
Anh mở mắt ra. Căn phòng tối om, và Sarah thở nhè nhẹ bên cạnh anh. Đồng hồ chỉ nửa đêm. Nhóm thanh niên chịu giới nghiêm nửa đêm đang kéo nhau về. Tiếng còi ô tô và tiếng cười ầm ĩ, lốp xe quệt soàn soạt vào vỉa hè, phanh rít lên như ai đó tranh giành chỗ đậu xe. Rồi dần dần khu phố lại chìm trong tĩnh mịch. Không gian sẽ cứ im ắng thế, Macon biết, cho đến khi nhóm chịu lệnh giới nghiêm một giờ sáng trở về. Anh sẽ nghe thấy thoạt đầu là tiếng nhạc văng vẳng và rồi nhiều tiếng cười hơn, cửa xe đóng sầm, cửa nhà đóng sầm. Đèn hiên nhà tắt nhất loạt khắp dãy phố, dần dần trần nhà anh đang nhìn trân trân đây sẽ tối dần đi. Cuối cùng, anh là người duy nhất còn thức.
❀ ❀ ❀
[1] Một họa sĩ người Pháp tiên phong trong việc phát triển trường phái ấn tượng, đặc biệt tôn vinh nét đẹp phụ nữ trong 'trang phục Eva'.
[2] Harpo Marx (1888-1964) là diễn viên hài trứ danh, người con thứ hai trong năm anh em trai của một gia đình diễn hài huyền thoại người Mỹ.
[3] Tên của câu lạc bộ dành cho các bà mẹ có con hy sinh khi phục vụ trong quân đội Mỹ, thành lập kể từ sau Chiến tranh Thế giới I.