Du Khách Bất Đắc Dĩ

Lượt đọc: 59 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

“Ôi, tôi đi lang thang và trượt chân suýt ngã,” em gái Macon hát trong nhà bếp, “tôi sai lầm và thiếu sáng suốt...”

Cô có giọng nữ cao hơi run nghe giống như giọng của một quý bà đứng tuổi mặc dù cô ít tuổi hơn Macon. Có thể hình dung một giọng như vậy trong nhà thờ, một giai điệu nhạc đồng quê trong dàn hợp xướng gồm các quý bà vẫn còn đội mũ rơm rộng vành.

Tôi chỉ là một người hành hương may mắn

Trên đường lên Thiên đàng.

Macon nằm trên chiếc sofa trong phòng nắng[1] ở nhà ông bà. Chân trái của anh, bó bột từ giữa đùi cho tới nửa trên bàn chân, cảm giác đau đớn không lớn bằng cái cảm giác rằng nó không hề tồn tại. Cảm giác ấy khiến Macon cứ muốn cấu cẳng chân của mình để xem nó có còn đó không. Dĩ nhiên là anh chẳng thể làm được điều đó. Anh bị tách ra khỏi bản thân mình. Đầu anh ong lên bởi cảm giác ấy cứ như nghe phải một cú nện vào tường từ phòng bên cạnh.

Dẫu vậy anh vẫn thấy dễ chịu. Anh nằm nghe cô em gái chuẩn bị bữa sáng, hờ hững gãi con mèo đang nằm cuộn trên chiếc chăn. “Tôi gian nan, tôi buồn nản,” Rose thích thú hát với giọng rung rung, “Tôi sầu não mà không nề hà...” Khi đã pha cà phê xong, cô đến giúp anh băng qua phòng khách xuống phòng tắm dưới lầu. Anh vẫn còn cảm thầy khó đi lại, đặc biệt là trên sàn nhà bóng loáng thế này. Giờ đây anh thấy ngưỡng mộ những người phải di chuyển bằng đôi nạng, điều mà trước đây anh cho rằng đương nhiên phải thế. Anh thấy họ như một bầy chim có dáng đi lắc lư, thành thạo một cách đáng kinh ngạc với các bước nhảy lò cò đầy sức sống và những cú xoay yêu đời. Thế nào mà họ làm được như vậy?

Cái nạng của anh, quá mới đến nỗi đầu bịt cao su chưa trầy xước tí nào, được dựng chống vào tường. Áo choàng tắm vắt trên ghế. Bên dưới cửa sổ là một chiếc bàn có thể xếp gọn lại, mặt gỗ có vân và chân thì đã lung lay. Ông bà anh mất đã nhiều năm nay, nhưng cái bàn vẫn đứng đó tựa hồ để dành cho một trong những ván bài bridge bất hủ của họ. Macon biết rằng mặt dưới cái bàn có một nhãn hiệu màu vàng với dòng chữ ATLAS MFG. CO. chạm trổ bằng thép hình sáu người đàn ông vận lễ phục với áo cổ cồn dựng cao trang nghiêm đứng trên một tấm ván ngang qua một cái bàn giống y hệt cái bàn này. Lời chú thích bên dưới - CUNG CẤP ĐỒ DÙNG TAO NHÃ GIẢ TẠO - khiến Macon liên tưởng đến bà nội anh: sự tao nhã giả tạo. Hồi còn bé khi nằm dài trên sàn phòng nắng, Macon thường săm soi đôi chân yếu ớt của bà, đôi chân với hai mắt cá nhô ra như hai nắm đấm cửa. Đôi giày thấp, màu đen, đóng chắc chắn, dán chặt xuống đất, chân nọ cách chân kia chừng ba mươi phân, chẳng bao giờ chuệch choạc hay gây tiếng động gì.

Anh nghe thấy tiếng Porter, anh trai anh, lên lầu, huýt sáo theo bài Rose đang hát. Anh biết đích xác đó chính là Porter, ấy là vì Charles chả huýt sáo bao giờ. Có tiếng nước chảy từ vòi hoa sen. Em gái anh nhìn qua cửa phòng nắng, Edward lấp ló đằng sau và thở hổn hển như thể đang cười cợt với Macon.

“Macon? Anh thức không đấy?” Rose hỏi.

“Anh đã thức được mấy giờ đồng hồ rồi,” anh bảo cô, do cái tính có phần thiếu dứt khoát của cô nên các anh trai cứ hễ lúc nào cô tình cờ để mắt đến là lại tỏ ra vờ vĩnh để được nuông chiều. Cô thật ưa nhìn với phong cách nghiêm trang, đứng đắn, mái tóc màu be búi gọn ra phía sau. Dáng vóc cô vẫn còn trẻ trung, nhưng cách ăn bận thì theo lối già nua và thâm nghiêm kín đáo.

Cô khoác áo choàng tắm lên cho anh và giúp anh đứng dậy. Giờ thì chân anh đau kinh khủng. Dường như chính lực hấp dẫn đã gây ra cơn đau ấy. Một cơn đau nhói lan xuống từ từ dọc theo xương chân. Rose đỡ một bên, chiếc nạng đỡ bên kia, anh tập tễnh ra khỏi phòng nắng, băng qua phòng khách nơi có những thứ đồ đạc với các vòng xoắn trang trí cũ kỹ. Con chó vẫn quẩn theo. “Chắc anh phải nghỉ một chút đã,” Macon nói khi họ đi ngang qua chiếc trường kỷ.

“Còn chút nữa thôi mà.”

Họ đi vào phòng để đồ ăn. Rose mở cửa phòng tắm và giúp anh vào trong. “Lúc nào xong thì gọi em nhé,” cô nói, và đóng cửa lại. Macon nghiêng người tựa vào bồn rửa.

Lúc ăn sáng, Porter hào hứng nói luôn mồm trong khi những người còn lại ăn trong im lặng. Porter ưa nhìn nhất trong đám đàn ông nhà Leary - rắn rỏi hơn Macon, tóc anh cũng màu vàng hoe nhưng sáng hơn. Mọi người có ấn tượng anh là người đầy sức sống và có khả năng lãnh đạo – điều mà các anh em trai anh không có. “Hôm nay nhiều việc đây,” anh nói khi đang nhồm nhoàm nhai. “Họp với Herrin, mấy cuộc phỏng vấn cho công việc cũ rích của Dave, Cates bay về từ Atlanta...”

Charles chỉ nhâm nhi cà phê. Trong khi Porter đã áo quần tề chỉnh, Charles vẫn còn mặc đồ ngủ. Anh là người ôn hòa, có khuôn mặt trầm lặng, dường như chẳng lúc nào biểu lộ điều gì; bất cứ khi nào ai đó nhìn anh sẽ bắt gặp một ánh mắt âu sầu dè dặt.

Rose mang cà phê từ bếp ra. “Tối qua, Edward gọi em dậy hai lần đòi ra ngoài,” cô nói. “Anh có nghĩ là nó gặp rắc rối gì đó về thận không?”

“Chỉ là một chút điểu chỉnh thôi mà,” Macon nói. “Điều chỉnh theo sự thay đổi. Anh không hiểu sao nó biết là không được đánh thức anh.”

Porter nói, “Có thể ta nên làm tạm một cái gì đó. Một chỗ ra vào nhỏ dành cho thú cưng hay gì đó chẳng hạn.”

“Cái bộ dạng béo tròn béo trục của Edward không thích hợp với chỗ ra vào kiểu thế đâu,” Macon nói.

“Thêm nữa,” Rose nói, “sân không có hàng rào. Ta chẳng thể cho nó ra ngoài một mình chỗ không có hàng rào bảo vệ như thế.”

"Vậy một cái sọt rác nhé,” Porter đề xuất.

“Sọt rác! Cho chó?”

Tại sao không chứ? Nếu nó đủ to cho con Edward.”

Macon nói, “Thôi dùng cái bồn tắm đi. Dưới tầng hầm có một cái. Từ lâu rồi không ai dùng đến.”

“Nhưng ai sẽ cọ rửa cái bồn đây?”

“À.”

Mấy cặp mắt đổ dồn vào Edward đang nằm dưới chân Rose. Nó giương mắt lên nhìn lại.

“Mà sao em có nó vậy?” Porter hồi Marcon.

“Của Ethan đấy.”

“Ồ, ra vậy,” Porter nói. Anh hắng giọng. “Động vật ấy mà!” anh nói một cách hứng thú. “Có bao giờ ta để ý đến việc liệu chúng nghĩ gì về chúng ta không? Ý anh là, chúng ta ra quầy thực phẩm lôi về hàng đống thứ - nào là thịt gà, thịt lợn, rồi cả tảng thịt bò to tướng. Chúng ta ra khỏi nhà lúc chín giờ và trở về lúc mười giờ, và rõ ràng là chộp về cả bầy động vật đủ loại. Hẳn bọn chúng sẽ phải nghĩ rằng ta đích thị là những gã thợ săn cừ khôi nhất trên thế gian này.”

Macon ngả người ra ghế với ly cà phê lọt thỏm trong hai bàn tay khum lại. Ánh mặt trời khiến cho bàn ăn sáng ấm lên, và nhà bếp thoang thoảng mùi bánh mì nướng. Kỳ thực, anh tự hỏi có phải là từ tiềm thức, anh đã từng bước gây ra thương tật này cốt là để có thể quay trở về bên những người thân yêu đã sống cùng anh những năm tháng đầu đời.

❀ ❀ ❀

Charles và Porter đi làm ở nhà máy, còn Rose lên lầu hút bụi. Macon, định tiếp tục với cuốn cẩm nang, khó nhọc khập khiễng quay ra phòng nắng và từ từ buông người xuống sofa. Từ khi về nhà anh đâm ra ngủ quá nhiều. Cơn buồn ngủ cứ ập tới như thể một viên đạn đen thui to tướng đang chạy khắp hộp sọ anh khiến cho đầu anh trĩu nặng và rồi gục xuống.

Trên tường phía cuối căn phòng có treo một bức tranh bốn anh em nhà Leary: Charles, Macon, Porter và Rose tụ lại bên một chiếc ghế bành. Ông nội cho họa bức ảnh đó vài năm trước khi cả bốn anh em về sống với ông. Lúc đó họ vẫn còn sống tại California cùng mẹ - một góa phụ trẻ nhẹ dạ có chồng chết trận. Thỉnh thoảng mẹ có gửi ảnh chụp về, nhưng ông nội Leary không ưng ý bức nào. Ông viết thư cho mẹ bảo các tấm ảnh chụp không nắm bắt được cái thần của từng đứa. Chúng cho thấy vẻ ngoài của một người chỉ trong một tích tắc - không giống trong đời thực, để nhìn ngắm ai đó người ta phải mất bao nhiêu là thời gian. Nếu vậy thì, Alicia nói, không phải những bức vẽ cũng chẳng thật thà gì hay sao? Thay vì cho thấy vài phút thì nó cho thấy được vài giờ thôi. Mẹ không nói với ông nội Leary như thế mà nói với ông họa sĩ, một ông già người California mà không hiểu sao ông nội Leary lại nhớ được tên. Nếu ông họa sĩ ấy có đáp trả gì thì Macon cũng không tài nào nhớ nổi.

Dẫu vậy anh vẫn còn nhớ mình đã ngồi như thế nào để cho ông ta họa bức tranh đó và giờ đây khi nhìn lại tấm hình trong tâm trí anh hiện lên mồn một hình ảnh mẹ anh mặc bộ kimono hồng đứng ngay bên ngoài cái khung mạ vàng kia, vừa xem ông họa sĩ vẽ vừa lau khô mái tóc ướt. Tóc mẹ ngắn, mềm, có cái màu mà theo lời mẹ nói thì nhìn cũng “tàm tạm”. Kiểu khuôn mặt của mẹ giờ đây không còn thấy nữa - không chỉ lỗi thời mà là đã hoàn toàn biến mất. Làm thế nào mà phụ nữ có thể đúc khuôn dáng vóc mặt mũi của họ theo một lối nào đó để phù hợp với thời đại nhỉ? Chẳng lẽ chẳng còn ai có cái cằm tròn trĩnh, vầng trán đầy đặn, vành môi nhỏ hoa mỹ sậm màu - những nét đặc trưng của những năm bốn mươi - nữa hay sao?

Rõ ràng ông họa sĩ thấy mẹ anh thật cuốn hút. Chốc chốc ông ta lại ngừng vẽ để thốt lên rằng ước gì mẹ anh làm mẫu cho bức ông đang vẽ đây. Alicia bật cười không thành tiếng và huơ tay ra hiệu ông ta thôi nói như vậy đi. Có lẽ về sau mẹ có đi chơi với ông ta đôi ba bận gì đấy. Mẹ luôn cặp kè với những người đàn ông mới, và theo như mẹ kể ai cũng là người khiến mẹ say mê nhất thế gian. Nếu họ là họa sĩ, thì sao nhỉ, thì mẹ tổ chức tiệc tùng và chèo kéo bè bạn mua những bức vẽ của họ. Nếu họ lái phi cơ riêng vào cuối tuần thì mẹ tham gia học những khóa học dành cho phi công. Nếu họ là người quan tâm đến chính trị, mẹ sẽ có mặt trên mọi ngóc ngách đường phố để ấn vào tay khách qua đường những tờ đơn thỉnh cầu. Mấy anh em họ còn quá non nớt để lo lắng về những người đàn ông nọ, nếu như có lý do gì đó để lo lắng. Mà không, chính sự hăng hái của mẹ mới khiến bọn họ lo âu. Mẹ thể hiện sự hăng hái theo lối bộc phát, sự thay đổi quá ư đột ngột những thú tiêu khiển, bạn bè, người tình, động cơ. Dường như mẹ luôn dễ ngã lòng. Mẹ luôn đi quá xa. Giọng nói của mẹ cứ muốn vượt qua giới hạn của chính nó, dường như bất cứ lúc nào nó cũng có thể vỡ tan. Mẹ càng nói nhanh, ánh mắt mẹ càng trở nên rạng ngời, thì ánh mắt mấy đứa con của mẹ dán đăm đăm vào mẹ càng chặt hơn, như thể muốn mẹ sống theo cái lối điềm đạm, chắc chắn của chúng. “Ồ, tụi con sao vậy?” mẹ hỏi. “Sao tụi con cứ đờ người ra như thế?” Và mẹ bỏ mặc mấy đưa ở nhà để hối hả bươn theo cái đám đông kia của mẹ. Rose, đưa bé nhất, luôn ở phòng ngoài ngóng mẹ về, mút ngón tay cái, và vuốt ve chiếc khăn choàng lông đã cũ mà mẹ không bao giờ còn đeo nữa.

Đôi khi niềm hứng khởi của Alicia chuyển hướng sang mấy đứa con - một trải nghiệm khiến bọn trẻ lo ngại. Mẹ đưa cả bọn đi xem xiếc và mua cho họ kẹo bông, thứ mà chẳng đứa nào ưa. (Đứa nào cũng thích giữ mình luôn sạch sẽ tinh tươm.) Mẹ kéo họ ra khỏi trường học và đăng ký cho họ các khóa học ngắn hạn về giao tiếp cộng đồng nơi mà ai đến học cũng trần như nhộng. Bốn đưa họ, lạnh run khốn khổ, ngồi gập người lại trên một hàng ghế trong căn phòng sinh hoạt chung, hai tay ép sát vào giữa hai đùi trần. Trong một dịp Halloween mẹ hóa trang thành phù thủy và chơi trò “cho kẹo hay bị ghẹo” với họ, đó là lễ Halloween tủi nhục nhất trong đời họ bởi vì mẹ đã ra khỏi nhà như thường lệ và khúc khích cười, rền rĩ, hối hả lao tới những người lạ, và dứ dứ cây chổi tơi tả vào mặt họ. Mẹ bắt đầu may quần áo giày mũ cho bản thân và cho Rose, màu hồng sậm và tay bồng, nhưng rồi lại để dở dang vì cái máy khâu đâm thủng tay mẹ và mẹ rú lên. (Mẹ luôn khiến mình bị thương. Có lẽ tại tính của mẹ lúc nào cũng nóng vội.) Rồi mẹ lại quay ngoắt sang một trò khác, và trò khác nữa, và trò khác nữa. Mẹ một mực tin vào sự thay đổi như thể nó là một thứ tôn giáo nào đó vậy. Buồn ư? Hãy kiếm một người đàn ông mới! Chủ nợ réo, tiền thuê đến hạn, bọn trẻ bị sốt à? Thì chuyển sang căn hộ khác! Trong một năm, họ chuyển nhà nhiều lần đến độ mỗi bận tan học, Macon phải đứng thần người ra một lúc mới xác định được hướng về nhà.

Năm 1950, mẹ quyết định đi đến hôn nhân với một ông kỹ sư thường đi khắp thế giới để xây cầu. “Bồ Đào Nha. Panama. Brazil,” mẹ nói với bọn trẻ. “Rốt cuộc thì chúng ta cũng đã tìm thấy hành tinh của mình.” Bọn họ trợn trừng nhìn mẹ một cách lạnh lùng. Nếu trước đây có từng gặp người đàn ông ấy, thì bọn họ cũng chẳng có chút ký ức nào về ông cả. Alicia nói, “Tụi con không thấy vui sao?” Sau đó - có lẽ là sau cái bận ông ta đưa cả nhà ra ngoài ăn tối - mẹ bảo mẹ sẽ gửi bọn họ về sống cùng ông bà nội. “Sự thật là, Baltimore phù hợp cho trẻ con hơn,” mẹ nói. Bọn họ có phản đối không nhỉ? Macon không tài nào nhớ nổi. Anh hồi tưởng lại tuổi thơ của mình như ở trong một lồng kính với những người lớn vội vã lướt qua, nói chút chuyện với anh, thay đổi, trong khi chính anh thì cứ lặng thinh. Dù muốn dù không, vào một đêm oi bức của tháng Sáu Alicia đưa cả bọn lên máy bay thẳng tới Baltimore. Đón họ là ông bà nội, hai con người đạo mạo, nghiêm khắc và gầy guộc trong trang phục màu đen. Bọn họ ngay lập tức chịu ông bà nội.

Sau đó, họ rất hiếm khi gặp lại Alicia. Mẹ ào đến rồi đi như gió với cả đống quà từ các nước nhiệt đới. Các bộ váy áo bằng vải hoa đập vào mắt bọn trẻ khiến chúng lóa cả mắt; cách phục trang của mẹ thật sặc sỡ, giống kiểu của người nước ngoài. Mẹ thấy bọn họ thật khôi hài - trong những bộ đồng phục trắng và xanh hải quân, trong cung cách đường hoàng chững chạc.

Chúa ơi! Các con sống tẻ nhạt thế này sao!” mẹ kêu lên, rõ ràng mẹ quên mất rằng ngay cả trước đây mẹ cũng đã luôn nghĩ về các con mình như thế. Mẹ nói bọn họ thật giống bố. Họ hiểu rằng đấy không phải một lời khen. (Khi bọn họ hỏi bố trông như thế nào, thì mẹ cúi mặt xuống mà nói, “Ồ, Alicia, người lớn hơn đi chứ.”) Sau này, khi mấy đứa con trai lấy vợ mẹ thấy chúng thậm chí còn giống bố hơn nữa, vì hết lần này đến lần khác mẹ xin lỗi cả ba cô con dâu vì những gì họ phải chịu đựng. Macon tưởng tượng mẹ như một bà tiên nghịch ngợm, lém lỉnh bay vô bay ra cuộc đời họ để lại một vệt dài những lời bình phẩm vô trách nhiệm, mà rõ ràng là chẳng bao giờ chịu cân nhắc xem điều gì đáng nói điều gì không. “Mẹ không hiểu con sống thế nào được với cái thằng đó,” mẹ nói với Sarah như vậy. Mẹ giờ đã có người chồng thứ tư, một kiến trúc sư hòn non bộ có chòm râu dê bạc trắng.

Đúng là bọn trẻ trong ảnh dường như chẳng có chút nào giống mẹ. Chúng thiếu đi màu vàng-và-xanh của mẹ; tóc chúng màu xám tro còn mắt thì xám sắt. Cả bốn người đều có nhân trung sâu. Và cả cuộc đời, Alicia chẳng khi nào mang vẻ mặt quá thận trọng hay quá ngờ vực như thế.

Gò bó trong sự sắp đặt thiếu thoải mái, cả bốn nhìn đăm đăm vào người xem. Hai anh trai, Charles phúng phính va Porter mảnh dẻ, mỗi đứa ngồi trên một tay ghế bành, áo sơ mi trắng cổ cồn lá rộng và bẹt ra hai bên. Rose và Macon ngồi trên ghế trong bộ quần áo mặc ở nhà. Rose trông như đang ngồi trong lòng Macon, mặc dù thật ra cô bé đứng giữa hai đầu gối anh thôi, còn Macon thì thu người lại căng thẳng khi có ai đó ngồi sát vào anh - một thế ngồi anh thấy không quen tí nào. Tóc anh, giống tóc ba người còn lại, mượt mà chạy vát qua trán. Miệng anh nhỏ, nhợt nhạt, và hơi mím, tựa hồ như anh sắp quyết định tuyên bố chính kiến của mình. Cái lối mím môi ấy giờ đây dội về tâm trí Macon. Anh nhìn nó, rồi nhìn sang chỗ khác, rồi lại nhìn nó. Ấy chính là cái miệng của Ethan. Macon đã mất mười hai năm tưởng tượng Ethan như một sinh viên nước ngoài trọ học ở nhà anh, một du khách đến từ thế giới bên ngoài, ấy vậy mà hóa ra trước giờ nó vẫn mang chất của dòng họ nhà Leary. Thật lạ lùng làm sao khi lại nhận ra điều ấy trong một ngày muộn màng thế này.

Anh ngồi phắt dậy với tay lấy chiếc quần mà Rose đã cắt đi phần dưới của ống bên trái và may lại bằng những đường chỉ nhỏ xíu đều tăm tắp.

❀ ❀ ❀

Không một ai biết được hiện anh đang ở đâu. Julian không, Sarah cũng không, không ai cả. Macon thấy thích thú với điều ấy. Anh luôn miệng bảo Rose, “Thật thú vị khi chẳng ai liên lạc được với mình. Anh ước mọi thứ cứ như thế này một thời gian.”

“Sao lại không thể chứ?”

“Ồ, em biết rồi đấy, ai đó sẽ gọi đến đây, Sarah hay một ai khác...”

“Vậy mình chỉ cần không nghe là được.”

“Gì? Cứ để chuông reo vậy hả?”

“Sao không?”

“Lúc nào cũng không nghe?”

“Hầu hết những người gọi đến là hàng xóm của em,” Rose nói. “Họ sẽ tạt qua nếu không thấy trả lời. Mà anh biết bọn con trai rồi đấy: chẳng đứa nào thích trò chuyện qua điện thoại đâu.”

“Đúng vậy,” Macon nói.

Julian hẳn sẽ đến gõ cửa nhà anh, dự định ca một bài về cái tội để cho hạn nộp bản thảo cứ trôi qua như thế. Anh ta thể nào cũng phải bỏ cuộc. Còn Sarah cũng sẽ đến để lấy muôi múc canh hay cái gì đó, và khi thấy anh không ra mở cửa cô sẽ hỏi hàng xóm và họ sẽ bảo chẳng thấy anh thò mặt ra ngoài mấy bữa nay rồi. Cô sẽ cố liên lạc với gia đình anh và chỉ nghe tiếng chuông chờ, và cô sẽ bắt đầu lo lắng. Điều gì đã xảy ra? cô sẽ tự hỏi. Làm thế nào mình có thể bỏ anh ấy một thân một mình mà đi như thế?

Dạo này Macon để ý thấy mình bắt đầu xem Sarah như một kiểu kẻ thù nào đấy. Anh không còn thấy nhớ nhung cô và bắt đầu vẽ ra trong đầu hình ảnh một Sarah ăn năn hối hận. Anh sửng sốt khi thấy mình thay đổi nhanh đến vậy. Phải chăng thực chất ý nghĩa của hai mươi năm chung sống rốt cuộc là như thế này? Anh thích hình dung thấy cô đang tự mắng mỏ mình. Anh soạn đi soạn lại trong đầu những lời cô xin lỗi anh. Anh đã không còn những suy nghĩ kiểu vậy kể từ khi còn bé, cái thời luôn mơ được thấy mẹ sẽ phải vật vã thế nào trong đám tang của anh.

Ban ngày làm việc nơi bàn ăn, anh sẽ nghe thấy tiếng chuông điện thoại và ngừng lại, tay đặt lơi trên bàn phím. Một hồi, hai hồi. Ba hồi. Rose sẽ bước vào tay cầm lọ nước đánh bóng đồ bạc. Cô thậm chí dường như không hề nghe thấy tiếng chuông. “Nếu có gì khẩn cấp thì sao em?” anh sẽ hỏi như vậy. Rose sẽ đáp, “Hả? Ai gọi cho mình khẩn cấp được chứ?” và rồi cô sẽ lấy bộ đồ ăn bằng bạc ra khỏi tủ đựng bát đĩa và dàn cả ra nơi đầu bàn bên kia.

Lúc nào cũng có một ai đó trong gia đình cần tới tay Rose săn sóc. Bà nội ốm liệt giường hàng mấy năm trời mới mất, và rồi tới ông nội yếu sức do tuổi cao, và ban đầu là Charles rồi tới lượt Porter hôn nhân tan vỡ kéo nhau về nhà cả. Thế nên cô không lúc nào rảnh tay. Hoặc cô cố tình làm thế, vì rõ ràng là không nhất thiết phải tuần nào cũng lôi đồ ăn bằng bạc ra đánh bóng. Ở riết trong nhà cả ngày cùng với em gái, Macon để ý thấy cô lên thực đơn cẩn thận như thế nào; sắp xếp lại ngăn kéo đựng đồ thường xuyên ra làm sao; rồi thậm chí cả cái cách cô là tất cho mấy ông anh nữa, trước tiên cô tháo chúng ra khỏi những cái kẹp cô dùng để kẹp chúng lại thành đôi với nhau trước khi cho vào máy giặt. Bữa trưa cho Macon, cô nấu một bữa ra trò và dọn lên trên những tấm lót. Cô bày ra món dưa muối và dầu ô liu đựng trong những chiếc chén thủy tinh nhỏ có khắc hoa văn, để rồi cuối bữa ăn chúng lại được đổ trở lại vào hũ. Cô bóp ra một cục mayonnaise to tướng tự làm lấy vào cái bát nhỏ tí.

Macon tự hỏi liệu có khi nào cô chợt nhận thấy rằng mình đang sống một cuộc sống rất ư là kỳ quặc không - không nghề ngỗng, không chồng con, được mấy ông anh đài thọ. Thế nhưng công việc nào hợp với cô bây giờ? anh tự hỏi. Mặc dù anh có thể, xem nào, hình dung ra cô như trụ cột của một công ty luật cổ lỗ sĩ hoặc một công ty kế toán. Trên danh nghĩa là một thư ký, cô sẽ thực sự điều hành toàn bộ công việc, sắp xếp mọi thứ đâu ra đó trên bàn làm việc của sếp mỗi buổi sáng và không cho một ai trên cũng như dưới cô nhìn trộm được chút thông tin gì. Macon có thể dùng một thư ký như thế. Nhớ lại cô ả tóc đỏ hoe đỏ hoét nhai kẹo cao su luôn mồm trong phòng làm việc chẳng theo một trật tự nào của Julian, Macon thở dài ngán ngẩm và ước gì thế giới này có nhiều cô Rose hơn nữa.

Anh kéo trang giấy ra khỏi máy đánh chữ và đặt bên trên những trang khác, mặt úp xuống phía dưới. Anh đã xong phần mở đầu - chung chung theo kiểu Xe điện ngầm không phải là xe lửa chạy dưới đất và Đừng nói restroom, hãy nói toilet - và anh đã kết thúc chương có tên gọi “Hãy cố ăn ở Anh.” Rose đã gửi chương đó qua bưu điện hộ anh hôm qua. Đó là một trò mới của anh: gửi đi từng phần cuốn sách từ nơi không ai biết. “Không có địa chỉ người gửi này anh,” Sarah nhắc anh. “Không cần đâu em,” Macon nói. Rose gật đầu ra chiều hết sức nghiêm túc. Cô là người duy nhất trong nhà xem những cuốn cẩm nang của anh như những tác phẩm đích thực. Trong giá sách phòng ngủ, cô xếp chúng thành một hàng theo thư tự alphabet tên các quốc gia.

Vào xế chiều, Rose ngưng tay để theo dõi vở kịch nhiều tập ưa thích của cô trên truyền hình. Đây là điều Macon không tài nào hiểu nổi. Làm thế nào mà cô có thể hoang phí thời gian cho cái mớ rác rưởi đó chứ? Cô bảo do có một người phụ nữ xấu xa cực kỳ trong vở kịch đó. “Trong cuộc sống có đủ những người xấu xa rồi mà em,” Macon bảo cô.

“Vâng, nhưng không xấu xa cực kỳ.”

“À, chắc chắn là vậy rồi.”

“Người này, anh biết không, rõ là cực xấu đấy. Anh cũng biết người không tin được là như thế nào mà.”

Trong khi chăm chú theo dõi, cô oang oang trò chuyện cùng các nhân vật. Từ phòng ăn Macon có thể nghe thấy, “Cô chẳng phải là người anh ta đeo đuổi đâu, cưng à,” cô nói, và “cứ đợi mà xem. Ha!” - chẳng phải là kiểu nói thường ngày của cô tí nào. Chương trình quảng cáo cắt ngang vở kịch, nhưng Rose vẫn ngồi nguyên chỗ ấy. Trong khi đó, Macon đều đều gõ phần “Hãy cố ngủ ở Anh” tẻ ngắt.

Chuông cửa reo, Rose không ra mở. Edward chạy lăng xăng, sủa nhặng xị, cào cào cửa, chạy lại chỗ Macon rồi lại quay ngược ra cửa. “Rose à?” Macon gọi. Cô không nói gì. Rốt cuộc anh đành đứng lên, kẹp nạng vào nách và khập khiễng ra ngoài sảnh.

Ồ, không phải Sarah. Chỉ cần nhìn qua tấm màn cửa có riềm đăng ten là anh có thể biết chắc điều đó. Anh mở cửa và ló đầu ra, “Gì đó?”

Đó là Garner Bolt, một người hàng xóm của anh từ bên nhà - một người đàn ông tóc hoa râm gầy choắt phát đạt nhờ buôn bán dụng cụ và nước tẩy rửa. Khi ông ta trông thấy Macon, hết thảy những vét nhăn trên khuôn mặt tóp teo ngộ nghĩnh của ông như sống động hẳn lên. Cậu đây rồi! ông ta nói. Con Edward cứ sủa ỏm tỏi cả lên làm cho anh khó có thể nghe ông ta nói gì.

“Có gì không, Garner,” Macon nói.

“Chúng tôi lo cậu đã chết rồi.”

“Anh nghĩ vậy à?”

Macon vội chộp lấy dây đeo cổ của Edward nhưng lại để vuột mất.

“Bao nhiêu là báo chất đống trên bãi cỏ, thư từ lèn đầy khe cửa, thật chúng tôi chả biết làm sao cả.”

“À, tôi đã bảo chuyển qua đây cho em gái tôi rồi mà,” Macon nói. “Anh thấy đấy, tôi bị gãy chân.”

“Trời, sao vậy?”

“Chuyện dài lắm.”

Anh thôi án ngữ nơi cửa. “Vào đi,” anh bảo Garner.

Garner bỏ mũ xuống, ấy là một cái mũ lưỡi trai có gắn nhãn hiệu Sherwin-Williams Paint phía trước. Chiếc áo khoác của ông nguyên là một phần của một bộ đồ mùa lạnh cũ rích cũ rơ, có màu nâu sáng, hầu như sắp hồng vì mặc quá nhiều, còn chiếc quần yếm thì đã bạc phếch nơi đầu gối. Ông ta bước vào nhà, đi vòng né con chó ra, và đóng cửa lại. Edward thôi sủa, chuyển sang rên ư ử. “Tôi chở sang cho cậu cả xe thư kia kìa,” Garner nói. “Brenda bảo tôi phải mang sang cho em gái cậu, và hỏi liệu cô ấy có rõ anh đang ở xó xỉnh nào không. Tôi cũng hứa với bạn cậu như vậy.”

“Bạn nào?”

“Cái cô vận quần lửng ấy.”

“Tôi chả biết cô nào vận quần lửng hết,” Macon nói. Thậm chí, anh còn không biết rằng quần lửng vẫn còn tồn tại trên đời này nữa kia.

“Thấy cô ấy đứng trong hiên nhà, lắc lắc nắm đấm cửa. Gọi vào, ‘Macon à? Anh có trong đó không?’ Cô đó trông gầy nhom. Nhìn khoảng hai mấy tuổi gì đấy.”

“Ồ, tôi chẳng thể hình dung được cô nào như vậy.”

“Mắt nhỏ và có kẻ chì.”

“Có thể là ai được nhỉ?”

“Nhún nhảy xuống mấy bậc tam cấp ở hiên nhà trên đôi giày đế nhọn cao lòng khòng.”

“Cái cô huấn luyện chó rồi,” Macon nói. “Chúa ơi.”

“Cô ấy vẫn còn trẻ quá đấy nhỉ?”

“Tôi thậm chí không biết cô ta nữa là!”

“Đi vòng quanh tới đằng sau nhà nữa kia, cứ ‘Macon à? Macon ơi?’ ”

“Tôi hầu như chưa gặp cô ta!”

“Chính cô ấy cho tôi biết về cái cửa.”

“Cửa?”

“Cửa sổ đến tầng hầm ấy, đã gãy vỡ hết cả rồi. Mảnh vỡ rơi vào bên trong làm cho lò sưởi hoạt động. Lãng phí điện gớm ấy nhỉ.”

“Ồ. À. Vâng, tôi cũng nghĩ vậy,” Macon nói.

“Chúng tôi nghĩ hay là nhà anh có trộm hoặc sao đó.”

Macon dẫn ông ta vào phòng ăn. “Anh coi đó,” anh nói, “tôi bị gãy chân và phải về ở cùng với gia đình cho đến khi có thể đi lại được.”

“Tôi đâu có thấy xe cứu thương hay gì đâu?”

“À, tôi gọi cho đứa em gái.”

“Cô ấy là bác sĩ à?”

“Chỉ đến để đưa tôi đi cấp cứu thôi.”

Khi Brenda gãy xương hông vì trượt cầu thang,” Garner nói, “cô ấy đã gọi xe cứu thương mà.”

“Ồ, tôi thì gọi em gái.”

“Brenda gọi xe cứu thương.”

Câu chuyện của họ dường như đi vào ngõ cụt.

“Hẳn là tôi nên báo cho bưu điện về chuyện thư từ,” rốt cuộc Macon lên tiếng. Anh từ từ hạ thấp người ngồi vào ghế.

Garner kéo một chiếc ghế khác và ngồi xuống, hai tay cầm chiếc mũ. Ông ta nói, “Tôi có thể mang thư đến cho cậu được mà.”

“Không, tôi sẽ bảo Rose báo lại họ. Chúa ơi, cả mớ hóa đơn này chắc là gần đến hạn nộp rồi đây, và đủ thứ nữa...”

“Tôi có thể tiện thể mang đến cho cậu mà.”

“Dù sao cũng cảm ơn anh.”

“Sao tôi không mang được chứ?”

“Nói thật,” Macon nói, “tôi không chắc mình sẽ lại trở về đó.”

Trước đây anh chưa hề có trong đầu suy nghĩ ấy. Anh khẽ khàng đặt hai chiếc nạng song song nhau như đôi đũa xuống sàn nhà gần cái ghế anh ngồi. “Có thể tôi sẽ ở lại đây cùng gia đình,” anh nói.

“Và bỏ ngôi nhà nhỏ xinh kia à?”

“Nhưng chỉ có một người ở thì nó lại quá rộng.”

Garner chau mày nhìn xuống chiếc mũ lưỡi trai. Ông ta đội nó lên đầu rồi nghĩ thế nào lại bỏ ra. “Cậu xem,” ông ta nói. “Nhớ lại những năm tháng tôi và Brenda vừa mới cưới ấy, thật tệ - Quá tệ. Không ai chịu nổi ai, vậy mà không biết sao lại kéo dài được đến tận giờ.”

“Chúng tôi đâu phải mới cưới,” Macon nói. “Chúng tôi sống với nhau đã hai mươi năm.”

“Brenda và tôi không nói với nhau lời nào gần như cả cái năm một ngàn chín trăm ba mươi lăm đó,” Garner nói. “Tháng Giêng đến tháng Tám, năm một ngàn chín trăm ba mươi lăm. Ngày Tết đến kỳ nghỉ hè. Chẳng một lời khỉ gì sất.”

Câu nói đó đập vào suy nghĩ của Macon. “Cái gì?” anh nói, “thậm chí không nói với nhau những câu đại loại như là ‘Đưa giùm lọ muối’ hay ‘Mở cho cánh cửa sổ’ ư?”

“Đúng vậy.”

“Ồ, vậy hàng ngày anh sống kiểu gì?”

“Hầu hết thời gian cô ấy ở nhà chị gái mình.”

“Ồ, ra vậy.”

“Buổi sáng bắt đầu kỳ nghỉ, tôi cảm thấy thật khốn khổ đến nỗi muốn chết quách đi cho xong. Tự hỏi lòng, ‘Mình phải làm gì bây giờ?’ Thế rồi gọi đuờng dài đến tận Ocean City và đặt trước một phòng cho hai người. Nói cho cậu biết nhé, hồi đó, gọi đường dài như vậy không phải là chuyện đơn giản đâu. Gọi qua bao nhiêu là người trực tổng đài và đủ thứ, tốn khá là nhiều tiền đấy. Rồi tôi gói ghém quần áo cho tôi và cho cả Brenda, và chạy qua nhà chị gái cô ấy. Chị ta hỏi, ‘Cậu muốn gì đấy?’ Chị ta thuộc kiểu người thích nhìn thấy sự chia rẽ hay bất đồng. Tôi cứ đi thẳng qua mặt chị ta. Thấy Brenda trong phòng khách, đang khâu lại chiếc bít tất dài. Mở va li ra: Nhìn này. Váy dạ hội để ăn tối ở nhà hàng hải sản này,’ tôi bảo cô ấy. ‘Hai chiếc quần soóc này. Hai áo choàng này. Rồi thì đồ bơi này.’ Cô ấy thậm chí chẳng buồn đưa mắt nhìn tôi lấy một lần. ‘Áo choàng tắm nữa,’ tôi nói. Áo ngủ em đã mặc vào tuần trăng mật nữa này.’ Vậy mà cứ tảng lờ như tôi không hề ở đó vậy. ‘Brenda,’ tôi gọi cô ấy. Tôi nói, Brenda, anh mười chín tuổi và anh sẽ không bao giờ mười chín tuổi nữa. Anh sẽ không bao giờ được sống lại lần nữa. Ý anh là, Brenda, đây là cuộc sống duy nhất anh phải sống cho đến cùng, theo như anh biết, và anh đã mất quá nhiều thời gian ngồi một mình trong căn hộ trống rỗng, quá kiêu hãnh để giảng hòa, quá sợ nghe em bảo không, nhưng ngay cả nếu em bảo không thì nó cũng không thể tệ hơn những gì anh đang chịu. Anh là người đàn ông cô đơn nhất thế gian này. Brenda, vậy hãy đến Ocean City cùng anh nhé.’ Và Brenda đặt chiếc tất đang khâu xuống và nói, ‘Ồ, chính miệng anh nói ra đấy nhé, nhưng hình như anh quên mang cho em chiếc mũ tắm rồi.’ Và thế là chúng tôi đi.”

Ông ta lại ngồi xuống ghế, nét mặt hoan hỉ. “Vậy nên,” ông ta nói.

“Vậy nên sao,” Macon hỏi.

“Vậy nên cậu hãy làm theo bài của tôi đi.”

“Bài gì?”

“Cậu phải tỏ cho cô ấy biết cậu cần cô ấy.”

“Nghe này, Garner, tôi nghĩ rằng chúng tôi đã đi quá xa những chuyện nhỏ nhặt kiểu như tỏ cho cô ấy biết rằng tôi...”

“Đừng có cố chấp quá thế Macon, nhưng tôi nói thẳng với cậu thế này nhé: Đôi khi cậu khiến người khác bực dọc lắm đấy. Tôi không nói ấy là tôi, tôi không để bụng; tôi hiểu. Chỉ là vài người hàng xóm, cậu né tránh không muốn tiếp xúc với họ. Ví dụ như lúc này đây - lúc cậu bị gãy chân thế này. Ý tôi là mọi người thường tỏ ý muốn giúp đỡ nhau vào những lúc như thế - gửi hoa và ghé qua vào giờ thăm hỏi, hay mang cho món thịt hầm sau khi tan sở. Chỉ có cậu là thậm chí không đến sở làm thôi. Ôm lọ tro, cầu Chúa phù hộ, ở tận đẩu tận đâu tuốt Virginia về thẳng nhà luôn chẳng buồn hé môi nói với ai một lời. Peg Everett bảo cô ấy luôn cầu nguyện cho anh, và Sarah đáp, ‘Ồ, cầu Chúa phù hộ cho chị, Peg,’ còn cậu thì nói gì chứ? Cậu hỏi Peg liệu con trai cô ấy có muốn lấy chiếc xe đạp của Ethan luôn bây giờ không.”

Macon lầm bầm. “Vâng,” anh nói. “Tôi không bao giờ biết cách ứng xử vào những lúc như vậy.”

“Rồi cậu cắt cỏ như thể chẳng hề có điều gì xảy ra cả.”

“Cỏ cứ mọc suốt thế mà, Garner.”

“Chúng tôi ai cũng muốn làm điều đó giúp cậu, muốn lắm.”

“Ồ, cảm ơn,” Macon nói, “nhưng tôi thấy thích công việc đó mà.”

“Cậu hiểu ý tôi không?”

Macon nói, “Này, gượm đã. Chỉ là để chèn chút logic vào cuộc tranh luận này thôi...”

“Đó chính xác là điều tôi muốn nói!”

“Anh bắt đầu nói về Sarah. Rồi chuyển sang việc tôi đã làm hàng xóm thất vọng đến thế nào.”

“Có gì khác nhau nào? Cậu có thể không biết điều này, Macon à, nhưng cậu tỏ cái vẻ như là một người không cần đến ai. Hãy nhìn cái cách cậu đi mà xem! Cái cách cậu, kiểu như, lủi thủi, cắm cúi đi với cái đầu vươn về phía trước. Nếu có ai muốn chặn cậu lại và, tôi không biết nữa, ngỏ lời chia buồn, người ấy có thể sẽ thấy phiền lòng đấy. Được rồi, tôi biết cậu không vô tâm, và cậu biết cậu không vô tâm, nhưng người khác thì thấy thế nào chứ? Tôi hỏi cậu đấy! Thảo nào mà cô ấy bỏ đi như thế.”

“Garner, tôi rất cảm kích anh đã nghĩ cho tôi,” Macon nói, “nhưng Sarah hoàn toàn nhận thức được rằng tôi có quan tâm. Tôi không phải là người quá im lặng như cách anh nhìn nhận đâu. Và đây cũng chẳng phải là một chuyện úp mở kiểu cuộc- hôn-nhân-này-có-cứu-vãn-được-chăng. Tôi muốn nói là, anh rõ là sai rồi, khỉ thật đấy, Garner.”

“À,” Garner nói. Ông ta nhìn xuống chiếc mũ, và một lát sau đội mạnh nó lên đầu. “Vậy tôi ra mang thư vào cho cậu nhé,” ông ta nói.

“Vâng, cảm ơn.”

Garner dợm chân bước ra ngoài. Tiếng chân ông đi ra đánh động con Edward, khiến nó lại bắt đầu sủa om lên. Trong chút thời gian ngồi không trống trải đó Macon nhìn xuống đôi chân bó bột của anh và lắng nghe âm thanh của vở kịch dài kỳ trên truyền hình vẳng lại từ phòng khách. Con Edward vẫn kêu ư ử ngoài cửa, rồi lăng xăng ra vào, cào cào móng xuống sàn. Garner quay trở vào. “Hầu hết là catalog thôi,” ông ta nói, quẳng cái gói lên bàn. Ông ta trở vào mang theo mùi của không khí trong lành và những chiếc lá khô. “Brenda nói chúng tôi có thể không cần giữ lại báo làm gì, cứ vứt đi cũng được.

“Ồ, vâng, đương nhiên rồi.”

Anh đứng dậy và họ bắt tay nhau. Tay của Garner cứng, thô ráp như một tờ giấy nhàu nhĩ. “Cảm ơn anh đã ghé qua,” Macon bảo ông ta.

“Bất cứ lúc nào,” Garner nói, nhìn sang chỗ khác.

Macon nói, “Anh biết đấy, tôi không có ý như vậy - tôi hy vọng mình không tỏ ra cáu kỉnh.”

“Không đâu,” Garner nói. Ông ta nhấc một cánh tay lên rồi thả xuống. “Thôi nào. Đừng nghĩ gì về điều đó nữa.” Rồi ông ta quay ra về.

Ngay khi ông ta đi khỏi, Macon suy tư về bao nhiêu điều lẽ ra anh nên đề cập đến. Không phải lỗi là ở nơi anh cả, anh muốn nói như vậy. Sarah cũng có một chút lỗi trong đó. Những gì Sarah cần là một người cứng cỏi như đá, anh muốn nói như vậy; người không hề bị bất kỳ thứ gì khiến cho vỡ vụn. Nếu không, lý do gì cô chọn anh làm chồng? Nhưng anh cứ ngồi lặng thinh như thế, để mặc Garner ra khỏi nhà. Có gì đó thương thương nơi hai đường gờ nổi lên phía sau cần cổ Garner, tạo nên một cái rãnh nhỏ xíu màu nâu hằn sâu ở giữa.

❀ ❀ ❀

Khi mấy anh em trai đi làm về, không khí trong nhà trở nên thoải mái và dễ chịu hơn. Rose kéo rèm cửa phòng khách ra và thắp vài ngọn đèn với ánh sáng dịu nhẹ. Charles và Porter thay áo len dài tay. Macon bắt đầu làm món nước xốt xa lát đặc biệt của anh. Anh chắc chắn một điều rằng nếu gia vị được giã bằng cối đá cẩm thạch và chày, nước xốt sẽ có vị hoàn toàn khác.

Trong nhà ai cũng nhất trí rằng không ai làm món này ngon bằng Macon. “Từ khi chú đi,” Charles bảo anh, “bọn anh phải mua thứ bán sẵn ngoài chợ.” Giọng anh như thể Macon chỉ đi độ một vài tuần gì đó - như thể cả cuộc hôn nhân của anh chỉ là một chuyến đi ngắn ngủi đến một nơi nào đấy mà thôi.

Bữa tối, họ có món bánh mì nướng của Rose, món xa lát với nước xốt do Macon làm, và khoai tây bỏ lò. Khoai tây bỏ lò luôn là món khoái khẩu của mấy anh em nhà họ. Cả bọn đã học cách làm món này từ dạo còn bé, và ngay cả khi đủ lớn để có thể nấu một bữa ăn tươm tất với đầy đủ các món thì họ vẫn cứ nấu mỗi một món khoai tây bỏ lò bất cứ khi nào mẹ Alicia đi vắng để mặc họ tự lo lấy. Có gì đó trong mùi cà phê Idaho rang thật dễ chịu, và cũng thật bảo thủ, như cách Macon tự khoác lên cho chính mình. Anh nhớ về những năm tháng trước đây, đã rất lâu rồi, vào những buổi tối mùa đông: nhìn ra cửa sổ nhà bếp chỉ thấy một màu đen kịt, và bóng tối dần len lỏi vào mọi ngóc ngách của căn phòng. Cả bốn anh em ngôi quanh chiếc bàn tráng men sứt sẹo nhiều chỗ tỉ mẩn cho bơ vào những miếng khoai tây cắt đôi đã nạo đi ít ruột bên trong để làm món potato skins, cứ để bơ tan đều trong khi hấp, và rồi cho gia vị vào; các miếng khoai tây cắt đôi được giữ nguyên miếng không bị vỡ nát ra. Ấy gần như là một nghi thức. Anh nhớ lại một lần, cái bận mẹ đi đâu đó lâu hơn mọi bận, bạn mẹ, cô Eliza đã nấu cho bọn họ món gì đó mà cô gọi là món potato boats[2]. Bọn trẻ, với vẻ đói ngấu và cảnh vẻ, đã chén sạch phần ruột nhồi bên trong rồi tiếp tục dùng đến phần vỏ ngoài như thường lệ, vờ như không nhận ra sai sót của cô. Phần vỏ lẽ ra nên giòn mới phải. Và không nên cho nhiều muối. Tiêu phải là tiêu mới nghiền, ớt bột cũng tạm được, nhưng mà giá như nó mang kiểu Mỹ thì tốt. Ớt bột Hungary có vị quá đặc trưng. Riêng Macon, anh có thể làm món đó mà không cần ớt.

Trong khi ăn, Porter nói về mấy đứa con anh. Tối mai anh đến thăm chúng như thường lệ vào mỗi cuối tuần, anh sẽ chạy xe đến Washington nơi bọn trẻ sống cùng mẹ chúng. “Vấn đề ở đây là,” anh nói, “ăn ngoài tiệm chẳng thấy tự nhiên chút nào. Đồ ăn chẳng có vẻ gì ra đồ ăn cả. Và khẩu vị nữa chứ, ba đứa ba kiểu. Chúng luôn mồm tranh nhau xem nên ăn ở đâu. Đứa thì đang ăn kiêng, đứa thì tự nhiên chuyển sang ăn chay, đứa thì không thích đồ ăn gì phải gặm. Và ông bố phải chấm dứt cuộc tranh cãi bằng cách la lớn, ‘Này, vì Chúa, chúng ta sẽ đi chỗ này chỗ nọ chỗ kia gì đó, tùy!’ Thế rồi cả mấy bố con cùng đi và đứa nào cũng xịu mặt trong suốt bữa ăn.”

“Hay là chú đừng đi nữa,” Charles nói theo lý của anh. (Anh chưa bao giờ có con.)

“Ồ, Charles, em muốn đi thăm con em mà. Em chỉ ước sao bố con em làm gì đó khác hơn là chỉ đi ăn tiệm như thế. Anh có nghĩ ra điều gì không? Giá như bố con em có thể chơi gì đó cùng nhau. Ý em là như cái hồi bọn em chưa ly hôn ấy, cái hồi Danny vẫn thường rót nước đun sôi giúp em, hay Susan ngồi trên tấm ván cho em dễ cưa. Giá như em có thể ghé qua nhà mẹ con nó lúc June và chồng cô ấy ra ngoài xem phim hay làm gì đó, thế rồi bọn trẻ và em sẽ cùng lau chùi cái máng xối, sửa lại các cửa sổ, quấn lại ống nước nóng, vân vân và vân vân... À, cái gã chồng ấy, chẳng được tích sự gì cả, anh có thể cược là gã ta cứ để mặc những cái ống nước nóng trần như nhộng hết cả. Thậm chí em sẽ mang theo hộp đồ nghề. Bố con em sẽ rất vui cho mà xem! Susan sẽ đãi cả mấy bố con món cacao. Rồi khi đã khá muộn em sẽ xếp lại bộ đồ nghề và ra về, để lại căn nhà mọi thứ đâu vào đó, ngăn nắp tinh tươm. Sao nhỉ, June không nhảy cẫng lên vì sửng sốt mới lạ.”

“Thế sao không thử làm vậy đi,” Macon nói.

“Không. Cô ấy không bao giờ chịu vậy. Cô ấy thật thiếu thực tế hết chỗ nói. Tuần trước anh đã trao đổi với cô ấy, anh bảo, ‘Em có biết bậc tam cấp nơi hiên trước bị lung lay không? Chịu khó vặn đinh lại cho chặt mỗi khi em đi mà thấy không ổn.’ Cô ấy nói, ‘Ôi Trời, hồi giờ vẫn vậy đâu có sao,’ như thể ông trời đã ban chiếu chỉ ấy. Như thể không làm gì được nữa vậy. Cái máng xối thì đầy những lá là lá, nghẹt hết cả đâu như tận mùa đông trước nhưng lá cây là gì, xét cho cùng, là thiên nhiên; mà sao lại có thể đối đầu với thiên nhiên chứ. Cô ấy quả thật là thiếu thực tế hết chỗ nói.”

Porter đích thị là một người đàn ông thực tế nhất mà Macon từng biết. Anh ấy là người mang họ Leary duy nhất nhận thức được tầm quan trọng của đồng tiền. Tài kiếm tiền của anh đã giúp công ty gia đình nhà họ không rơi vào nợ nần - cho dù là một lần. Đó không phải là ngành kinh doanh phát đạt lắm. Ông nội Leary đã sáng lập nên công ty này từ những năm đầu thế kỷ, khởi đầu là một công ty nhỏ chuyên về đồ thiếc, rồi chuyển sang sản xuất nút chai vào năm 1915. Ông nội tự xưng mình là Ông Vua Nút Chai, và trong lời cáo phó vào lễ tang của ông, người ta cũng đọc lên danh xưng đó, nhưng thật ra hầu hết nút chai đều do Crown Cork sản xuất và luôn như vậy; ông nội Leary chỉ đứng đâu hạng hai hạng ba gì đấy. Đứa con trai duy nhất của nội, Hoàng Tử Nút Chai, làm ở công ty chẳng được bao lâu rồi bỏ ngang đó tình nguyện tòng quân tham gia chiến tranh Thế giới thứ hai - rốt cuộc ấy là sự hăng hái gây thiệt hại nhiều hơn gấp nhiều lần sự hăng hái của mẹ Alicia. Sau cái chết của ba anh, việc kinh doanh như mất đi nguồn sinh khí, cứ tà tà rề rề chẳng bao giờ phát đạt mấy mà cũng chẳng khi nào lụn bại, cho đến khi Porter học xong đại học, về thẳng nhà và tiếp quản vấn đề tài chính của công ty. Tiền đối với Porter giống như một chất hóa học - một chất dễ bay hơi, khi kết hợp với các chất khác nhau sẽ tạo ra những phản ứng thú vị khác nhau. Anh không phải loại người hám lợi như cách ta vẫn thường nghĩ; anh không phải kiếm tiền vì sự cứu rỗi của chính nó mà là vì những triển vọng hấp dẫn của đồng tiền, và trong thực tế khi vợ chồng anh ly hôn, anh đã để lại cho vợ toàn bộ tài sản không một lời kêu ca.

Chính Porter điều hành công ty, làm ra tiền và nghĩ ra các ý tưởng kinh doanh. Charles, máy móc hơn, chuyên về khâu sản phẩm. Macon chỉ làm một ít công việc nho nhỏ khi còn ở đó, và tinh thần lẫn thể xác gần như kiệt quệ vì chán ngán, vì công việc chẳng đủ nhiều để khiến đưa con trai thứ ba phải bận rộn. Chỉ vì muốn tạo thành thế ba chân vững chãi mà Porter cứ hối thúc anh về làm lại. “Macon, anh nói chú nghe”, anh rủ rê, sao ngày mai không đi nhờ xe xuống đó với bọn anh và ngó qua chỗ làm cũ của mình một tí.”

“Không, cảm ơn,” Macon bảo anh.

“Có đủ chỗ cho cặp nạng của chú mà.”

“Lúc khác đi anh.”

Họ quanh quẩn bên Rose khi cô rửa chén. Cô không thích bọn họ giúp gì cả vì cô có cách làm của riêng cô, cô nói vậy. Cô đi qua đi lại mà chẳng gây tiếng động nào trong căn bếp cổ lỗ sĩ, cho chén bát vào các tủ chén bằng gỗ phía bên trên. Charles dắt con chó ra ngoài. Còn Macon không cách gì đi nạng trong khoảnh sân đất xôm xốp ấy được. Porter thì vừa kéo các mành cửa xuống, vừa giảng giải cho Rose biết rằng bề mặt sáng của mành cửa sẽ khiến cho căn phòng ấm lên trong khi khí trời bên ngoài lạnh dần. Rose nói, “Vâng, Porter, em biết tất cả những điều đó rồi,” và giơ chiếc tô dùng để trộn xa lát về phía ánh sáng, săm soi nó một lúc trước khi cất vào tủ chén.

Họ xem tin tức, như là một nhiệm vụ cần phải làm, và rồi ra phòng nắng ngồi bên chiếc bàn chơi bài của ông bà nội. Họ chơi trò gì đó có tên gọi Vaccination - một trò chơi họ đã nghĩ ra từ hồi bé, và dần phức tạp hơn lên theo năm tháng và tới giờ thì chẳng một ai khác đủ nhẫn nại để học cách chơi nó. Trong thực tế, có vài người đổ lỗi cho họ rằng đã tự ý thay đổi luật chơi nhằm thích hợp với các tình huống. “Nào, chờ chút nhé,” Sarah đã có lần nói vậy, cái thời cô vẫn còn hy vọng rằng mình có thể nghiệm ra được luật chơi. “Em nghĩ át là quân bài chủ.”

“Phải rồi.”

“Thế có nghĩa là...”

“Nhưng không phải khi chúng được rút ra khỏi cỗ bài đâu.”

“A! Đó chính là lý do tại sao con át Rose rút lại được tính điểm cao như thế phải không?”

“À, nó rút con át sau con hai, Sarah à.”

“Vậy át rút ra sau con hai được tính cao à?”

“Không, quân át được rút ra sau một con số được rút ra hai lần trong một hàng ngay trước đó.”

Sarah xếp những con bài lại, úp cả xuống mặt bàn - người cuối cùng trong số các bà vợ nhà Leary bỏ cuộc chơi giữa chừng.

Macon đang bị chặn và phải trao hết những quân bài của mình cho Rose. Rose dịch ghế sang ngồi cạnh anh và chơi phần của anh trong khi anh ngồi ngả người ra ghé, gãi gãi vành tai con mèo. Đối diện anh, trong ô kính cửa sổ nhỏ xíu tối nhờ nhờ, anh thấy hình ảnh tương phản của mấy anh em - mắt sâu, xương gò má cao, còn thú vị hơn cả nhìn người thật nữa.

Điện thoại trong phòng khách chợt ré lên một tiếng rồi đổ một hồi chuông dài. Hầu như chẳng ai thèm để ý. Rose đặt quân già lên trên quân đầm của Porter và Porter nói, “Cái đồ đáng ghét này.” Điện thoại lại đổ chuông, rồi lại một hồi chuông nữa. Giữa hồi chuông thứ tư, nó chợt ngừng. “Chết này,” Rose nói với Porter, và cô chụp con già bằng một con át.

“Em thật đáng ghét đó Rose!”

Trong bức ảnh trên tường phía cuối phòng, những đứa trẻ nhà Leary nhìn đăm đăm bằng ánh mắt u uẩn. Tự nhiên Macon chợt nhận thấy rằng tối nay mấy anh em họ cũng ngồi với vị trí giống y trong bức ảnh: Charles và Porter ngồi hai bên, Macon giữa và Rose thì nghếch ở phía trước mặt họ. Có sự thay đổi thực sự nào không nhỉ? Trong anh một cái gì đó bỗng nhói lên tê điếng hết cả người, anh gần như thấy hoảng loạn. Anh vẫn còn ở nơi này ư! Vẫn như bao giờ ư! Mình đã đi đâu và làm gì? Anh tự hỏi, cổ họng như có gì chặn ngang, và nhìn vào hai lòng bàn tay trống trơn của mình.

❀ ❀ ❀

[1] Sun porch: căn phòng với những cửa sổ kính lớn và thường có mái bằng kính, được thiết kế để đón nhiều ánh sáng.

[2] Cũng là món potato skins, nhưng cô Eliza nói tên món theo hình dạng của mieng khoai tây cắt nửa, giống hình chiếc thuyền.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anne Tyler

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.