Khi điện thoại reo, Macon mơ đó là Ethan. Anh mơ thấy Ethan gọi về từ khu cắm trại, muốn biết sao ba mẹ không đến đón nó. “Nhưng chúng ta tưởng con đã chết rồi,” Macon nói, và Ethan hỏi – với giọng nói vụn vỡ nơi âm tiết cuối - “Sao ba mẹ lại có thể nghĩ thế?” Điện thoại lại reo, và Macon bừng tỉnh. Một cái gì như thất vọng chùng xuống đâu đó trong lòng anh. Giờ anh mới hiểu tại sao người ta nói lòng “chùng xuống.”
Một cách chậm chạp, anh với lấy ống nghe. “A lô.”
“Macon! Chào mừng ông anh đã trở về!”
Là Julian Edge, sếp anh, vẫn cái giọng oang oang và rổn rảng như thường lệ cho dù chỉ mới sáng sớm. “Ồ,” Macon nói.
“Chuyến đi thế nào?”
“Ổn.”
“Ông anh vừa về tối qua à?”
“Vâng.”
“Có tìm thấy chỗ mới nào xuất sắc không?”
“À, không quá xuất sắc nhưng cũng được.”
“Thế giờ ông anh có thể bắt tay vào viết được rồi đấy nhỉ.” Macon không nói gì.
“Ông anh tính khi nào đưa cho tôi bản thảo đấy?” Julian hỏi.
“Tôi chưa biết.”
“Thế có tính đưa tôi sớm không?”
“Tôi chưa biết.”
Cả hai không nói gì một lúc.
“Chắc tôi đã làm mất giấc ngủ của ông anh rồi,” Julian nói.
“Ừm.”
“Macon Leary trên giường,” Julian nói. Câu anh ta nói nghe như tiêu đề của một cuốn sách hay bộ phim gì đó. Julian ít tuổi hơn Macon, bỗ bã, liến thoắng và không phải loại đàn ông nghiêm túc. Dường như anh ta thích thú với cái lối giả bộ xem Macon là một nhân vật nào đấy. “Dù gì thì cuối tháng tôi cũng có bản thảo chứ?”
“Chưa đâu.”
“Sao chưa?”
“Tôi chưa sắp xếp được.”
“Chưa sắp xếp được! sắp xếp gì chứ? Tất cả những gì ông anh cần làm là đổ rượu mới vào bình cũ thôi, về cơ bản là vậy mà.”
“Không chỉ thế thôi đâu.”
“Ông anh ơi, nhìn đây này...” Julian hạ giọng. Anh ta hẳn là đang chau mày cúi xuống chiếc đồng hồ vàng chóe với dây đeo bằng da kiểu dáng thể thao có hiện lịch năm. “Giờ là ngày ba tháng Tám rồi. Tôi muốn có bài viết lên khuôn vào tháng Mười. Có nghĩa là ngày ba mốt tháng Tám ông anh phải có bản thảo cho tôi.”
“Không thể được.”
Quả thật anh thấy sửng sốt vì không hiểu mình lấy sức ở đâu ra mà có thể tiếp tục cuộc nói chuyện như vậy.
“Ngày ba mốt tháng Tám, nhé Macon. Còn những bốn tuần nữa cơ mà.”
“Không đủ.”
“Không đủ,” Julian nói. “Được. Vậy mười lăm tháng Chín nhé. Chẳng phải là cách tối ưu, nhưng tôi sẽ gia hạn cho ông anh đến ngày mười lăm tháng Chín. Thế nào?”
“Tôi không biết.”
Nghe giọng nói uể oải của mình khiến Macon thinh thích. Anh cảm thấy thật xa lạ với bản thân anh. Julian có thể đã cảm nhận được điều đó, nên sau một lúc im lặng anh ta nói, “Này, ông anh ổn chứ?”
“Tôi ổn.”
“Tôi biết ông đã phải cố rất nhiều để có thể vượt qua, ông anh à...”
“Tôi ổn! Rất ổn! Có vấn đề gì được chứ? Tất cả những điều tôi cần là thời gian để sắp xếp. Tôi sẽ có bản thảo cho anh vào giữa tháng Chín. Có thể sớm hơn. Ừ, chắc là sẽ sớm hơn. Có thể vào quãng cuối tháng Tám gì đấy. Được chưa?”
Rồi anh gác máy.
❀ ❀ ❀
Nhưng phòng làm việc của anh quá tối và ngột ngạt, mùi mực in bốc lên khiến đầu óc anh váng vất. Anh bước vào và thấy choáng ngợp trước cả một đống việc đang lù lù nằm chờ, có vẻ như rốt cuộc thì cái mớ hỗn độn kia đã thắng thế. Anh quay trở ra.
Có thể anh không làm sao sắp xếp được thông tin để bắt tay vào viết cuốn cẩm nang, nhưng dọn dẹp nhà cửa cho tinh tươm lại là chuyện hoàn toàn khác. Có gì đó như khiến lòng anh dịu lại, như thể được an ủi - hoặc trên cả cảm giác được an ủi; anh thấy mình như thoát ra khỏi một mối hiểm nguy nào đấy. Cả tuần sau đó anh đi khắp các phòng sắp xếp chúng lại theo một trật tự mới. Anh rốt ráo dọn lại tất cả tủ bếp, tống khứ hết thảy những thứ chất lỏng ôi thiu nhớp nhúa đựng trong đủ loại chai lọ mà bao nhiêu năm nay Sarah không mở ra lấy một lần. Anh cắm phích điện máy hút bụi vào ổ cắm có dây điện dài gần bốn mươi mét trước đây dùng cho máy cắt cỏ. Anh bước ra sân và làm cỏ, cắt tỉa lá, xén cành - dọn sạch và ngắm nghía. Trước đây công việc làm vườn là của Sarah, thế nên có không ít điều khiến anh sửng sốt. Đủ loại cỏ dại bắn hạt ra tứ tung khi anh vừa đụng vào, một sự kháng cự đến cùng hết sức cừ khôi, trong khi những loại khác thì chịu thua một cách dễ dàng - quá dễ dàng, đứt lìa thân ngay tấp lự, chỉ còn trơ lại gốc trong lòng đất. Thật can trường! Thật đúng là bản năng sống còn! Sao con người lại không làm được như thế chứ?
Anh giăng dây phơi quần áo ngang qua tầng hầm để khỏi phải dùng máy sấy. Cái bọn máy sấy đến là lãng phí năng lượng. Rồi anh tháo cái ống xả rộng bằng nhựa dẻo ra khỏi máy sấy, và dạy con mèo chui ra chui vô cái ô trống nơi gắn ông xả. Vậy là chả cần một chỗ nằm cho nó nữa. Ngày nào con mèo cũng mấy bận nhảy vọt tới chỗ bồn giặt một cách êm ru, đứng thẳng lên bằng hai chân sau dài và dẻo dai rồi phóng cái vèo ra cửa sổ.
Thật tiếc là Edward chẳng làm được điều tương tự. Macon ghét dắt nó đi dạo; Edward chưa bao giờ được tập luyện đứng trên hai chân và cứ xoắn dây xích quanh chân anh. Ôi, bọn chó thật phiền nhiễu. Khẩu phần ăn khổng lồ nữa chứ; đồ ăn của Edward anh phải khệ nệ lôi về từ siêu thị, ì ạch kéo lê từ cốp xe lên bậc tam cấp khá dốc nơi cửa trước, lếch thếch xách vào nhà rồi cho tất cả vào tủ đồ ăn. Nhưng chí ít thì rốt cuộc anh đã nghĩ ra được một giải pháp. Ngay chân máng đổ rác cũ dưới tầng hầm anh đặt cố định một thùng rác bằng nhựa đã cắt ở đáy một ô trống hình vuông. Rồi anh rót phần còn lại của túi đồ ăn vào thùng rác, thật kỳ diệu, giờ nó đã trở thành một cái máng ăn như cái máng của con mèo. Lần tới mua đồ ăn cho chó, anh chỉ cần lái xe vòng qua hông nhà và cho đồ ăn vào lối xuống máng đổ rác dưới tầng hầm.
Điều không ngờ tới là tự nhiên Edward đâm ra sợ căn hầm. Sáng sáng nó vào phòng để đồ ăn trước đây Macon thường đặt đồ ăn sáng cho nó, ngồi xuống trên hai cái đùi béo ục và ư ử. Macon phải xềnh xệch lôi nó qua các bậc thang xuống tầng hầm, anh bước chuệnh choạng trong khi con Edward hai chân trước khua khoắng loạn xạ. Toàn bộ giải pháp kia là để giúp Macon thoát khỏi cái lưng hay trở chứng của anh, vậy nên tới lúc này anh cảm thấy mình không đạt được mục đích như ban đầu. Dẫu vậy anh vẫn cứ cố.
Cũng để đối phó với cái lưng hay dở chứng ấy, anh cột giỏ đựng quần áo vào chiếc ván trượt cũ của Ethan và thả một cái túi có dải rút buộc miệng xuống tủ đựng quần áo ở một đầu dây. Vậy là anh không còn phải khệ nệ ôm đống đồ lên xuống cầu thang, hoặc thậm chí băng qua tầng hầm. Mặc dù vậy, có đôi khi – cần mẫn cho chiếc giỏ có bánh xe ấy lăn từ dây phơi đến tủ quần áo, nhồi những tấm ga sạch thơm vào chiếc túi, chạy lên lầu để kéo chúng lên bằng một sợi dây thừng dài và chắc chắn - Macon chợt thấy nhói lên một cảm giác ngượng ngùng. Có thể nào đây là một dạng ngớ ngẩn không nhỉ?
Ồ, mọi điều đều ngớ ngẩn, khi ta suy xét thật kỹ.
Hàng xóm giờ hẳn là đã tường tận việc Sarah bỏ đi. Họ bắt đầu điện cho anh vào những buổi tối trong tuần và mời anh sang ăn tối “potluck”[1] với họ. Thoạt đầu Macon nghĩ chắc họ đề cập đến một kiểu tụ tập mà ở đó mỗi người mang theo một cái tô đựng đồ ăn gì đấy và nếu ai may mắn thì sẽ có một bữa ăn đủ dưỡng chất. Anh đã qua nhà vợ chồng Sue và Bob Carney mang theo một tô mì ống và phô mai. Do hôm ấy Sue lại nấu món mì sợi nên anh không thấy mình may mắn chút nào. Cô đặt tô mì ống của anh phía đầu bàn và chẳng ai đụng lấy một miếng trừ cô bé Delilah mới lên ba tuổi. Mặc dù nó còn có vài món ăn khác nữa.
Macon không thích trẻ con có mặt nơi bàn ăn. Anh thấy mình giờ như một ai đó khác, một ông chú chưa vợ được cho là thỉnh thoảng cũng cần phải dòm ngó cuộc sống gia đình một chút. Nhưng thực tế là anh chưa bao giờ thấy yêu thích con cái của người khác. Và các buổi tụ tập dưới bất cứ hình thức nào cũng khiến anh thấy ngán ngẩm. Những tiếp xúc mang tính xã giao có chút đụng chạm về thể xác với những người dưng - một cái bá vai, một cái khoác tay - đều khiến anh co rụt lại như con ốc sên. “Macon này, anh biết đấy,” Sue nói, chồm người qua bàn ăn chực vỗ vào tay anh, “bất cứ lúc nào thấy cần, cứ ghé qua nhà chúng tôi. Đừng đợi gọi nhé.”
“Chị thật tốt bụng, Sue,” anh nói. Anh tự hỏi tại sao anh lại thấy làn da của người dưng không thật đến thế - gần như sáp, tựa hồ có một lớp gì đấy mà mắt thường không thấy được trên chỗ da tiếp xúc. Ngay lập tức, anh dịch tay ra.
“Nếu anh cứ sống theo cách anh muốn,” Sarah đã có lần nói với anh như vậy, “em cho rằng thể nào rốt cuộc anh cũng sẽ sống trên một hoang đảo không có lấy một bóng người.”
“Tại sao chứ! Chẳng đúng chút nào cả,” anh nói. “Anh đã có em này, Ethan này, em gái anh này, các anh em trai này...”
“Nhưng không ai khác nữa. Ý em là, anh không thể hòa nhập được với những người anh gặp tình cờ, những người anh chưa biết ấy.”
“Ồ, không, anh nghĩ là không,” anh nói. “Em thì làm được phải không?”
Nhưng đương nhiên cô ấy làm được - ấy là nói về trước đây. Trước khi Ethan mất. Cô luôn là một người quảng giao. Khi không phải làm việc gì, cô hào hứng loanh quanh khắp siêu thị - với Macon nơi này đúng là địa ngục, hàng bao nhiêu cái vai cứ sườn sượt qua vai anh. Sarah lại thích chỗ đông người. Cô thích gặp gỡ người lạ. Cô say sưa với tiệc tùng, ngay cả tiệc cocktail. Có họa điên mới mê tiệc cocktail - chỉ toàn là những tình huống ngượng ngập, Macon nghĩ vậy - cô lôi anh đi bằng được đến những nơi khiến anh thấy mình như phạm một tội gì đó nếu tình cờ lâm vào một cuộc trò chuyện hơi thân mật một chút. "Nào, làm một vòng đi anh. Nào.” Sarah huýt sáo, tay cầm ly đi ngang qua sau lưng anh.
Năm qua mọi thứ đã đảo ngược hết cả. Sarah không còn hứng thú với đám đông nữa. Cô không bao giờ đến gần trung tâm mua sắm, không còn kéo anh đi bằng được đến các buổi tiệc. Họ chỉ dự những bữa cơm tối không ồn ào và cô không hề tổ chức một bữa cơm tối nào mời khách từ sau cái chết của Ethan. Có lần anh hỏi cô, “Sao mình không mời nhà Smith và nhà Millard dùng cơm, em? Họ đã mời mình mấy lần rồi.”
Sarah bảo, “Ừ, đúng đấy anh. Làm ngay đi.” Thế rồi cô lờ đi.
Anh và cô đã gặp nhau trong một buổi tiệc. Lúc ấy cả hai chỉ mới mười bảy. Đó là tiệc giao lưu giữa trường anh và trường cô. Ngay cả ở tuổi ấy Macon cũng chẳng ưa gì tiệc tùng, song anh đang âm thầm mong ước được yêu do vậy đã gồng mình lên để đến dự buổi giao lưu ấy, nhưng rồi lại chỉ đứng nép mình trong góc, cố tỏ ra hờ hững, nhấm nháp ly rượu ướp gừng. Đó là vào năm 1958. Cả thế giới mặc sơ mi cài khuy, Macon diện áo len cổ lọ màu đen, quần đen, và đi xăng đan. (Anh đang ở độ tuổi thanh niên mới lớn đầy mơ mộng.) Và Sarah, một thiếu nữ phổng phao với mái tóc xoăn màu nâu đồng rối tung và khuôn mặt tròn trĩnh, đôi mắt to xanh da trời, và môi dưới hơi trễ - một chút son hồng phớt bên trên, anh nhớ như thế, khiến gương mặt cô như bừng sáng lên. Bao nhiêu anh chàng ngưỡng mộ vây quanh cô. Cô có dáng người thấp gọn, và có gì đó khá dạn dĩ trong cách sóng đôi vững chãi của hai bắp chân nhỏ nhắn màu nâu vàng, như thể cô nhất quyết không để mình trố mắt ra ngạc nhiên trước sự xuất hiện từ xa của một dàn sao bóng rổ hoặc bóng đá nào đó. Macon ngay lập tức thôi quan sát cô. Không, thậm chí không phải thế - anh thậm chí không nhìn cô, không một giây nào, mà chỉ nhìn sang phía ấy để chú ý đến những cô gái khác, những cô anh có cơ may với tới hơn. Thế nên Sarah tiếp cận anh trước. Cô đến bên anh và hỏi sao anh lại có vẻ hợm mình, chẳng chịu hòa đồng gì cả thế. “Hợm mình!” anh nói. “Không phải thế.”
“Thế mà.”
“Không, tớ chỉ thấy... chán thôi,” anh bảo.
“Được rồi, thế cậu muốn nhảy không?”
Họ nhảy với nhau. Anh không chuẩn bị trước cho một tình huống như vậy nên nó trôi qua thật nhạt nhòa. Anh chỉ tận hưởng trải nghiệm ấy sau khi về nhà - khi đầu óc anh trở về trạng thái tĩnh lặng hơn để anh có thể nghĩ về nó thật kỹ lưỡng. Và vì suy nghĩ kỹ đến thế nên anh nhận thấy nếu trông anh không có vẻ hợm mình hẳn cô đã chẳng thèm để ý đến anh. Anh là cậu con trai duy nhất không công khai theo đuổi cô. Sau này anh sẽ đủ khôn ngoan để không theo đuổi cô; không ra vẻ quá sốt sắng, không bộc lộ cảm xúc. Anh có cảm tưởng rằng với Sarah ta cần phải giữ phẩm giá của mình.
Dẫu vậy chỉ có Chúa mới biết giữ phẩm giá đâu phải dễ dàng gì. Macon sống với ông bà, và họ một mực tin rằng không ai dưới mười tám tuổi được cấp bằng lái xe. (Chẳng hề lưu tâm đến việc liệu luật bang Maryland có làm ngược lại hay không.) Vậy nên ông nội Leary lái xe chở Macon và Sarah vào những buổi hẹn hò. Ấy là một chiếc Buick dài màu đen với ghế sau bọc nhung xám và Macon ngồi một mình ở đó, vì ông nội cho rằng thật khó coi khi để cả hai ngồi chung với nhau. “Ta không phải tài xế lái thuê,” ông nói, “và thêm nữa, hai đứa mà ngồi chung ghế sau thể nào cũng dễ mang tiếng xấu.” (Hầu hết những năm tháng tuổi trẻ của Macon luôn bị chi phối bởi nỗi lo mang tiếng xấu như thế.) Thế nên Macon ngồi một mình ở ghế sau và Sarah ngồi ghế trước bên cạnh ông nội Leary. Mái tóc cắt ngắn của cô sáng lóa qua ánh đèn pha, khiến Macon liên tưởng đến một bụi cây đang bốc cháy. Anh thường phải chồm về phía trước, dọn giọng, và hỏi, “Ừm, cậu làm xong bài kiểm tra chưa?”
Sarah nói, “Sao?”
“Bài kiểm tra,” ông nội Leary nói lại với cô. “Cậu chàng muốn biết cháu đã làm xong chưa.”
“Ồ, vâng, xong rồi.”
“Nó làm xong rồi,” ông nội Leary nhắc lại cho Macon.
“Con có tai mà, nội.”
“Có muốn ra ngoài dạo chút không? Vì ta chẳng thể chịu được các con cứ ngậm tăm mãi thế khi có ta bên cạnh. Còn ta có thể về nhà với những người thân yêu của ta, chứ không phải cứ chạy xe loanh quanh trong đêm tối thế này.”
“Nội, con xin lỗi.”
Điều duy nhất Macon muốn là im lặng. Anh ngồi ngả người ra ghế, nín thinh và cách biệt, biết rằng nếu Sarah có ngoái nhìn thì cô cũng chẳng thấy được gì ngoài vầng sáng nhạt nhòa bao quanh mái tóc hoe vàng và khuôn mặt vô cảm - khoảng tối còn lại, chiếc áo cổ lọ màu đen cũng lẫn vào bóng tối. Đúng như thế. “Cậu nghĩ gì thế? Lúc nào trông cậu cũng như đang tư lự điều gì ấy,” cô ghé vào tai anh hỏi khi cả hai sóng bước quanh phòng thể dục của trường. Anh chỉ khẽ nhếch môi, như thể lấy làm vui thích lắm, nhưng chẳng trả lời gì cả.
Khi anh được cấp bằng lái mọi việc cũng không khác là bao. Cũng chẳng khác gì mấy khi anh vào đại học, cho dù anh đã chịu bỏ chiếc áo cổ lọ màu đen và trở thành một sinh viên trường đại học Princeton, năng động, ăn vận bình thường như bao người - sơ mi trắng và quần ka ki. Vắng bóng Sarah bên cạnh, anh thấy lòng trống trải, nhưng trong những lá thư viết cho cô anh kể toàn chuyện học hành. Sarah hồi âm cho anh từ quê nhà Goucher rằng, “Không phải là cậu nhớ mình rất ít đấy chứ? Mình chẳng thể đi đến những nơi mà bọn mình đã từng đến vì sợ rằng sẽ nhìn thấy cậu với vẻ mặt khó hiểu đang băng ngang qua căn phòng.” Cô đề dưới các lá thư viết cho anh Mình yêu cậu còn anh thì Thân mến. Ban đêm anh mơ thấy cô nằm cạnh anh, mái tóc xoăn của cô cọ lào xào vào gối của anh, mặc dù trong thực tế tất cả những gì họ làm với nhau chỉ là những nụ hôn dài. Nói thật, anh cũng không chắc rằng anh có thể kiềm chế nhiều đến thế mà không làm chuyện... thế nào mà họ có thể như vậy được vào dạo đó nhỉ? Anh thấy mất bình tĩnh. Đôi khi, anh suýt nổi nóng với Sarah. Anh thấy mình bị đẩy lùi vào một vị thế sai lầm. Anh buộc phải thể hiện nét mặt dửng dưng nếu muốn cô yêu anh. Ôi, đàn ông sao lại muốn nhiều đến vậy!
Cô viết cho anh rằng hiện cô không hẹn hò với ai cả. Macon cũng không, nhưng dĩ nhiên anh không nói vậy. Anh về nhà vào mùa hè và làm việc ở nhà máy ông nội anh; Sarah làm tại một hồ bơi trong vùng. Khoảng chừng giữa mùa hè, cô nói cô muốn biết tại sao anh chưa bao giờ đòi ngủ với cô. Suy nghĩ một lúc, anh hết sức thật thà nói rằng thật ra anh thích đòi ngay bay giờ. Họ về nhà ba mẹ cô; hai người đã đi nghỉ hè ở Rehoboth. Họ leo lên lầu vào căn phòng bé xíu của cô, chỗ nào cũng sơn trắng, nắng nóng như thiêu khiến căn phòng xộc lên mùi sơn mới. “Cậu có mang theo cái đó không?” Sarah hỏi, và Macon, không muốn thừa nhận rằng anh hầu như chẳng biết cái đó hình thù tròn méo ra sao, quát lên, “Không, tớ chẳng mang theo cái gì đó nào cả, cậu nghĩ tớ là ai chứ?” - một câu hỏi chẳng mang ý nghĩa gì, nếu ta dừng lại để suy xét, nhưng Sarah lại cho rằng cô khiến anh bị sốc, rằng trong suy nghĩ của anh cô thật quá sành sỏi, cô vội nói, “Ồ, xin lỗi!” và chạy ào xuống lầu lao ra ngoài. Anh mất nửa giờ mới tìm được cô, và mất hơn khoảng thời gian đó mới dỗ cho cô nín khóc. Anh bảo thật ra anh chỉ nghĩ cho cô: Chứ theo như anh biết thì cái đó chẳng an toàn chút nào. Anh cố làm ra vẻ hiểu biết và làm như không bị ảnh hưởng bởi những xúc cảm mạnh mẽ của khoảnh khắc ấy. Anh cho rằng cô nên gặp bác sĩ anh quen - tình cờ lại là người đã chữa chứng rối loạn Female Complaint cho bà nội anh. Sarah lau khô mắt và mượn Macon cây bút để viết tên vị bác sĩ lên mặt sau của mảnh giấy bọc kẹo kẹo cao su. Nhưng ông bác sĩ sẽ không từ chối cô chứ? cô hỏi. Ông sẽ không bảo cô ít nhất là phải đính hôn đã chứ? Ồ, được rồi, Macon nói, họ sẽ đính hôn. Sarah nói vậy thì thật là hay.
Thời gian từ lúc đính hôn đên khi cưới kéo dài ba năm, hết cả thời gian học ở trường đại học. Ông nội Leary cảm thấy nên hoãn đám cưới lại lâu hơn nữa kia, chờ cho đến khi Macon ổn định công ăn việc làm hẵng; nhưng vì sẽ làm ở Leary Metals, nhà máy chuyên sản xuất nút chai cho các loại đồ uống giải khát, nên Macon chẳng thể thấy mình có chút tâm trí nào với chuyện đó. Thêm nữa, việc nhào vào nhào ra phòng ngủ của Sarah vào những ngày đi làm tình nguyện cho hội Chữ Thập đỏ của mẹ cô đã bắt đầu khiến cả hai thấy mỏi mệt.
Vậy là họ kết hôn vào mùa xuân ngay khi Macon vừa tốt nghiệp đại học, và Macon đi làm ở nhà máy trong khi Sarah dạy tiếng Anh tại một trường tư thục. Bảy năm sau Ethan ra đời. Đến lúc đó Sarah không còn gọi Macon là “người bí hiểm” nữa mà cái tính trầm của anh giờ đây khiến cô không chịu được. Macon biết hết, nhưng anh không biết phải làm sao. Một cách khá kỳ cục, anh bị khóa chặt vào trạng thái thờ ơ xa cách như vào buổi đầu gặp gỡ của hai người. Anh bị đóng băng ở đó. Nó giống như một lời răn đe trước đây của bà nội anh: “Đừng chụi mắt thế kẻo chúng chết gí ở đó luôn cho mà xem.” Cho dù anh đã cố gắng biết bao nhiêu để thay đổi tính nết của mình thì Sarah vẫn đối xử với anh như thể anh là một người nào đó có tính trầm tĩnh bất bình thường, điềm đạm hơn cô nhưng có lẽ cũng thiếu cảm xúc hơn.
Có lần Macon thấy Sarah đang cắm cúi chọn đáp án cho mục câu hỏi trắc nghiệm tâm lý trong một tạp chí phụ nữ - có câu “Cuộc hôn nhân của bạn hạnh phúc tới đâu?” - và Sarah đã tích dấu Đúng cho đáp án Tôi nghĩ rằng tôi yêu chồng tôi hơn anh ấy yêu tôi. Điều đáng lo ngại là sau khi khịt mũi một cách vô thức tỏ ý phủ nhận, anh đã tự hỏi liệu rốt cuộc thì điều ấy có quả thực như vậy không. Trong chừng mực nào đó, vai trò của anh không còn chút trọng lượng nào. Ngay cả giờ đây anh vẫn là một người đàn ông khá lạnh lùng xét về bản chất, và nếu không tính đứa con trai (nó thật dễ dàng, dễ dàng; một đứa trẻ chẳng khó như một bài trắc nghiệm), thì không một ai khiến anh phải thật sự đớn đau.
Lúc này đây khi nghĩ về điều đó, anh chợt nghe lòng nhẹ nhõm khi thấy rằng rốt cuộc thì anh đã có nhớ Sarah. Nhưng rồi sự nhẹ nhõm ấy của anh dường như cũng chỉ là do anh cố tạo ra, anh lầm bầm lắc đầu và bứt mạnh tóc.
❀ ❀ ❀
Có một phụ nữ nào đó gọi cho anh, “Macon phải không?” Anh có thể ngay lập tức nhận ra đó không phải Sarah. Giọng Sarah nhẹ và nghe rõ cả tiếng thở; còn giọng người này cứng, thô, sang sảng. “Muriel đây.”
“Muriel.”
“Muriel Pritchett.”
“À, vâng,” anh nói, nhưng vẫn chưa nhớ được cô là ai.
“Bệnh viện thú y chứ đâu nữa? Ai đã trông nom tử tế con chó của anh nhỉ?”
“Ồ, bệnh viện thú y!”
Anh đã hình dung được cô, dù vẫn còn chưa rõ nét. Anh trông thấy cô nói tên mình, âm u dài ra và âm p với hai vành môi son màu đỏ sậm mím chặt.
“Không biết con Edward ra sao rồi.”
Macon đưa mắt nhìn Edward. Anh và nó đang ở phòng làm việc của anh, Macon cố gõ mãi mới được nửa trang giấy. Edward nằm áp bụng xuống sàn, hai chân xoãi ra phía sau - những cái chân ngắn, núc mỡ giống như hai cẳng của một người trong bộ đồ vịt nhồi tại công viên giải trí Long Island. “Tôi thấy nó vẫn ổn,” Macon nói.
“Ý tôi là nó có cắn ai nữa không?”
“À, gần đây thì không, nhưng nó trở một chứng mới. Nó trở nên cáu bẳn khi tôi ra khỏi nhà. Nó sủa và nhe nanh ra.”
“Tôi vẫn nghĩ là nó cần được huấn luyện.”
“Ồ, cô biết đấy, nó đã bốn tuổi rưỡi và tôi cho rằng...”
“Như thế đâu có quá già! Tôi có thể làm lúc nào cũng được, tuổi không thành vấn đề. Thế này nhé, có thể tôi sẽ ghé chỗ anh và ta trao đổi thêm. Anh và tôi có thể uống rượu hoặc gì đó và nói chuyện xem rắc rối của Edward là do đâu.”
“Ồ, tôi thật sự không nghĩ...”
“Hay anh có thể đến chỗ tôi. Tôi sẽ đãi anh bữa tối.”
Macon tự hỏi làm sao để lôi được con Edward tới ăn tối tại nhà một người lạ nào đấy.
“Macon? Anh nghĩ sao?” cô hỏi.
“Ồ, à, ưm... Tôi nghĩ lúc này tôi sẽ cố tự xoay sở.”
“Biết mà, tôi có thể hiểu điều đó,” cô nói. “Tin tôi đi. Tôi đã từng trải qua thời kỳ ấy. Vì vậy điều tôi sẽ làm là đợi anh liên lạc lại. Anh vẫn còn giữ danh thiếp của tôi chứ?”
Macon nói anh còn giữ, mặc dù anh chẳng biết nó đã lẫn đi đằng nào.
“Tôi không muốn bị xem là quá sốt sắng đâu!” cô nói.
“Không, à... ” Macon nói. Rồi anh gác máy và tiếp tục với cuốn cẩm nang của mình.
Anh vẫn còn dang dở phần mở đầu, mà giờ đã là cuối tháng Tám. Làm sao anh có thể đúng hạn đây? Anh ngồi, sống lưng hơi lệch so với thành ghế. Phím s vẫn cứ mắc kẹt luôn. Anh gõ những từ như có thể nghe thấy được. “Không thể bắt chước.” Tiếng anh gõ nghe giống hệt cách Sarah nói “không thể bắt chước được”. “Anh với cách cái không thể bắt chước được...” cô bảo anh thế. Anh vội lắc mạnh đầu. Nhìn chung đồ ăn ở Anh không khiến người ta bực bội như ở những nước khác. Rau nấu vừa chín, đồ ăn chung với nước xốt trắng, bánh nhân táo tráng miệng... Tôi không hiểu tại sao một số khách du lịch lại chê thức ăn Anh.
***
Vào tháng Chín, anh quyết định thay đổi cách ăn mặc. Nếu anh mặc đồ thể thao ở nhà - loại không có dây kéo, không làm anh bị trầy xước và mắc kẹt - anh có thể tắm hai lần mà không cần thay bộ khác. Đồ thể thao có thể dùng như đồ ngủ và cả đồ mặc trong nhà ban ngày.
Anh mua hai bộ, màu xám không đậm không nhạt. Đêm đầu tiên anh mặc một bộ lên giường để tận hưởng cảm giác trong bộ quần áo ấy, và anh thấy thích thú khi không phải thay ra vào sáng hôm sau. Thật ra, anh chợt nghĩ rằng mình có thể mặc một bộ trong hai ngày; bỏ tắm một bữa. Cũng chỉ để tiết kiệm điện nước thôi mà. Sáng ra anh chỉ cạo râu thôi. Anh tự hỏi mình có cần phải để ria không.
Dù vậy vào quãng trưa ngày thứ hai anh bắt đầu thấy mình hơi thấp đi. Lúc anh đang ngồi bên máy đánh chữ, có gì đó khiến anh chú ý đên bộ dạng của mình - dáng gù xuống và nhếch nhác. Anh đổ lỗi cho bộ đồ thể thao. Anh đứng dậy, đi tới trước tấm gương dài trong phòng lớn. Hình ảnh phản chiếu từ tấm gương làm anh liên tưởng đến một bệnh nhân trong bệnh viện tâm thần. Có lẽ một phần của vấn đề là do đôi giày mà ra - đôi giày màu đen có dây cột nhằm làm cho trang phục bảnh hơn. Anh có nên mua một đôi giày đế mềm không nhỉ? Nhưng anh ghét bị hiểu nhầm là đi chạy bộ. Anh để ý thấy nếu không đeo nịt ngang hông, bụng anh có thể sẽ xệ xuống. Anh rướn thẳng người lên. Tối đó lúc giặt bộ đồ thể thao đầu tiên, anh dùng nước nóng hơn bình thường một chút để làm nó co rút lại.
Sáng hôm sau anh thấy còn tồi tệ hơn nhiều. Tối qua thời tiết hơi oi nên lúc tỉnh dậy người anh nhớp nhúa mồ hôi và bức bối. Anh không thể chịu được cái ý nghĩ sẽ ăn sáng với bỏng ngô. Anh giặt một đống ga và rồi trong lúc phơi anh thấy mình đứng bất động, đầu cúi xuống đất, hai tay buông thõng qua dây phơi như thể bị ghim chặt ở đó. “Nhanh nào,” anh nói to. Giọng anh nghe rin rít vì ít dùng đến.
Hôm nay là ngày mua thực phẩm – thứ Ba, ngày siêu thị vắng người nhất. Chẳng biết vì lẽ gì anh không thể khiến mình phấn chấn lên để đi được. Anh hãi cái công việc đó với những cuốn sổ ghi địa chỉ, ba cuốn sổ nhật ký mua sắm. (Một cuốn lưu những dữ liệu từ tạp chí của Hiệp hội Người tiêu dùng Consumer Reports - nhãn hiệu bánh mì hàng đầu, chẳng hạn vậy, được liệt kê trên mặt giấy có đánh dấu chữ B. Trong một cuốn khác anh ghi các mức giá, và cuốn thư ba anh lưu những phiếu mua hàng, phiếu dự thưởng.) Anh cứ phải dừng lại để lật soàn soạt xem hết những thông tin trong đó, lẩm nhẩm giá cả trong họng, so sánh nhãn hiệu nội với nhãn hiệu ngoại. Ôi chao, mọi thứ dường như quá phức tạp. Sao lại phải tự làm khổ mình như thế? Sao lại phải ăn chứ?
Nhưng mà, anh cần sữa. Và đồ ăn cho con Edward sắp cạn rồi, con Helen thì hầu như không còn chút thức ăn nào cả.
Anh làm một việc chưa từng làm trước đây. Anh gọi cho The Market Basket - một cửa hàng tạp hóa nhỏ đắt đỏ chuyên giao hàng tận nhà. Và anh không chỉ gọi khẩu phần cho trường hợp khẩn cấp. Không, anh gọi cho cả tuần. “Chúng tôi mang đến cửa trước hay cửa sau ạ?” cô thư ký nói giọng màu mè.
“Lối sau,” Macon nói. “Không, chờ đã. Mang thực phẩm ra lối sau, nhưng đặt đồ ăn cho chó ngay cạnh máng đổ rác ấy.”
“Máng đổ rác,” cô thư ký lặp lại, và hình như đang hí hoáy ghi vào giấy.
“Máng đổ rác ở bên hông nhà. Nhưng đồ ăn cho mèo thì không, cô mang theo vào cùng với thực phẩm.”
“Ồ, đợi đã...”
“Và các thứ dùng trên lầu thì mang đặt ở cửa trước.”
“Thứ dùng trên lầu là gì?”
“Kem đánh răng, bánh xà bông hiệu Ivory, bánh quy cho chó...”
“Tôi tưởng bánh cho chó anh bảo mang xuống cạnh máng đổ rác.”
“Không phải bánh quy cho chó, mà là đồ ăn cho chó! Đồ ăn cần được mang xuống chỗ cái máng đổ rác ấy, mẹ kiếp.”
“Này, anh,” cô thư ký nói. “Không ai gọi đến mà lại thô lỗ thế đâu.”
“Ồ, tôi xin lỗi,” Macon bảo cô, “nhưng tôi chỉ muốn những thứ đơn giản nhất, với tôi dường như là vậy: một hộp nhỏ bánh quy Milkbone để phía trên cạnh giường ngủ. Nếu cho con Edward ăn bắp rang bơ nó sẽ bị ách bụng. Nếu không thì tôi cũng chẳng việc gì mà không cho nó ăn bắp rang bơ cùng tôi; không phải tôi giành ăn hay gì gì đó, nhưng nó nhạy cảm với thức ăn béo và tôi sống chỉ một mình, chính tôi là người phải lau dọn cho nó nếu nó lăn ra ốm. Tôi là người duy nhất làm điều đó; tôi chỉ sống một mình; một mình tôi; dường như ai cũng cứ... dạt ra khỏi tôi, tôi không biết nữa, tôi đã đánh mất họ; tôi bị bỏ lại đứng đây một mình và tự hỏi, ‘Họ đã đi đâu? Họ đâu mất rồi? Ôi, Chúa ơi, chẳng lẽ những điều con đã làm lại tồi tệ đến thế sao?’”
Giọng anh không được ổn và anh gác máy. Anh đứng bên điện thoại day day trán. Anh đã cho cô ta biết tên anh rồi? Hay là chưa. Anh không tài nào nhớ nổi. Cầu trời anh chưa cho cô ta biết tên.
Anh thấy rã rời; rõ ràng là vậy. Anh phải cố làm chủ bản thân. Điều trước tiên là: dẹp cái bộ đồ thể thao này đi. Nó chỉ đem lại xui xẻo thôi. Anh vỗ mạnh hai tay vào nhau rồi leo lên lầu. Trong phòng tắm, anh cởi phăng bộ đồ thể thao ra và quăng vào chậu giặt. Bộ đồ hôm qua treo trên khung màn quây ở phòng tắm vẫn còn ẩm. Chẳng thể nào nó khô nổi trước tối nay. Sai lầm quá! Anh thấy mình giống một thằng khờ. Chỉ một ly nữa thôi là anh sẽ chẳng khác gì một trong những gã rượu chè bê tha người ta vẫn hay thấy hàng ngày - chẳng tắm gội, chẳng cạo râu, dáng dấp chẳng ra hồn, lảm nhảm một mình, và bước đi khệnh khạng.
Giờ đây khi đã gọn ghẽ trong áo sơ mi trắng, quần ka ki, anh gom bộ đồ thể thao vẫn còn ẩm lại và mang nó xuống tầng hầm. Ít ra vào mùa đông anh có thể mặc nó để ngủ. Anh cho nó vào máy sấy, lại chèn cái ống xả nơi cửa sổ, và bật chế độ. Thà tốn một ít điện còn hơn là khổ sở với bộ đồ thể thao sũng nước.
Ngay bậc thang đầu tiên dẫn xuống tầng hầm, Edward dừng lại rên rỉ. Nó thấy đói nhưng không đủ táo gan để tự xuống đó. Khi thấy thấp thoáng bóng Macon, nó nằm rạp xuống mũi thúc lia lịa vào bậc thang trên cùng với hy vọng rằng Macon sẽ đưa nó xuống dưới. “Đồ nhát gan,” Macon nói với con chó. Macon xốc nó lên bằng hai tay và ì ạch lôi nó xuống. Răng của Edward bắt đầu va vào nhau - lập cà lập cập lập cà lập cập. Macon chợt lóe lên ý nghĩ rằng có thể Edward biết điều gì đó, còn anh thì không. Liệu có ma ở tầng hầm không nhỉ, hay có gì khác? Đã mấy tuần rồi mà Edward vẫn còn hãi đến độ có vài bận anh đặt nó xuống trước chỗ thức ăn rồi mà nó vẫn cứ đứng rũ ra đó vãi tè mà không buồn nhấc một chân sau lên. “Mày đúng là đồ ngốc, Edward,” Macon nói với nó.
Rồi ngay sau đó, một tiếng tru đầy ma quái phát ra từ... từ đâu nhỉ? Từ ngay trong tầng hầm, dường như là vậy. Âm thanh đó tiếp tục phát ra, dai dẳng. Edward, từ lúc giờ hẳn đã chuẩn bị tinh thần cho cái âm thanh đó, ngay lập tức đá bật đôi chân sau chắc khỏe đầy móng vuốt của nó vào ngực Macon làm anh chới với. Edward phóng vút vào dãy túi ngủ còn ẩm đang treo trên dây phơi, bị đẩy bật ra, và rơi vèo xuống ngay chính giữa bụng Macon. Anh dẫm đại một chân vào trong cái giỏ có bánh xe và hai chân anh như hẫng đi.
Anh nằm ngửa trên sàn xi măng lạnh ẩm với chân trái gập lại bên dưới. Cái âm thanh khiến mọi thứ lộn tùng phèo chợt bẵng đi trong tích tắc rồi lại rộ lên. Giờ thì đã rõ, tiếng động đó phát ra từ ống xả máy sấy. “Này,” Macon nói với Edward đang nằm sõng soài hổn hển. “Mày không nghĩ con mèo ngốc nghếch biết cái máy sấy đang chạy chứ?”
Anh có thể thấy mọi việc đã xảy ra như thế nào. Con mèo bị luồng khí trong ống xả máy sấy cản lại nhưng nó vẫn bướng bỉnh cố vào sâu hơn cho bằng được. Anh thấy đôi mắt nó dán chặt vào các kẽ hở, hai tai bị thổi bật ngược ra phía sau. Miệng kêu gào ầm ĩ, nó vẫn tiếp tục đánh vật với luồng khí kia mà không chịu chùn bước. Gan lì hết chỗ nói!
Macon hất Edward xuống và sấp người lại. Chỉ một cử động nhỏ thế thôi cũng khiến anh đau đớn cực độ. Anh thấy có gì đó chèn ngay họng khiến anh buồn nôn, nhưng anh cố gượng dậy và đứng lên đi với một chân kéo lê theo sau. Cắn chặt răng lại, anh cố bước tới cửa máy sấy và mở ra. Bộ đồ thể thao chầm chậm ngừng quay. Con mèo thôi kêu gào. Anh quan sát cái dáng vụng về của nó đang nhích từng chút một về phía cuối ống xả. Ngay khi nó tới được lối ra, toàn bộ cái ống rơi khỏi cửa sổ và lộn nhào xuống bồn giặt, nhưng Helen không rơi cùng cái ống. Anh nghĩ chắc nó không sao. Anh quan sát cho đến khi nó phóng vút qua cửa sổ kia, trông khá nhàu nhĩ. Rồi anh hít một hơi thật sâu và bắt đầu chậm chạp lê từng bước đầy khó khăn lên các bậc cấp để nhờ người giúp đỡ.
❀ ❀ ❀
[1] Potluck: có gì ăn nấy. Pot: cái tô. Luck: may mắn.