Du Khách Bất Đắc Dĩ

Lượt đọc: 65 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

❊ ❊ ❊

Dạo trước, khi tâm trí ông nội Leary bắt đầu vơ vẩn đâu đâu, không ai đoán được chuyện gì đang xảy ra. Ông cụ cứ nghĩ gì là làm cho bằng được, không ai lay chuyển nổi. Ông sắc sảo. Quyết đoán. “Nghe này,” ông bảo Macon, “đến ngày mười hai tháng Sáu ta cần lấy giấy thông hành từ hộp đồ ký gửi tại ngân hàng. Ta sẽ đi tàu đến Lassaque.”

“Lassaque hả nội?”

“Nếu ta thích, ta sẽ ở lại đó.”

“Nhưng Lassaque là ở đâu?”

“Đó là một hòn đảo ngoài bờ biển Bolivia.”

“À, đợi cháu một phút...”

“Ta thích nơi đó vì người Lassaque không có chữ viết. Trong thực tế, nếu có ai mang bất cứ thứ tài liệu đọc nào ra đó, họ sẽ tịch thu vì cho rằng ấy là một thứ ma thuật đen tối.”

“Nhưng cháu không nghĩ là Bolivia lại có bờ biển,” Macon nói.

“Thậm chí họ cũng không cho phép mang vào đảo cuốn séc có tên trên đó. Trước khi lên bờ, ai cũng phải rửa sạch chất khử mùi trên cơ thể. Rồi còn phải đổi tiền thành những cái bánh xốp nhỏ nhiều màu nữa.”

“Nội, nội đùa đấy à?”

“Đùa! Nếu không tin thì cháu hãy cứ tự tìm hiểu lấy.” Ông nội Leary lôi chiếc đồng hồ bỏ túi bằng thép ra rồi bặm môi vặn tới vặn lui dây cót. “Một tác động thú vị bắt nguồn từ sự mù chữ của họ là lòng tôn kính đối với người già. Ấy là vì kiến thức của người Lassaque không phải được học từ sách vở mà từ cuộc sống; thế nên bất cứ điều gì họ cũng phải học hỏi từ những người sống lâu năm nhất.”

“Cháu hiểu,” Macon nói, bây giờ thì anh cho rằng mình đã hiểu. “Bọn cháu cũng phải học hỏi từ ông đấy thôi,” anh nói.

“Có thể là như thế,” ông nội anh bảo, “nhưng ta vẫn nuôi ý định đến Lassaque trước khi nó bị cuộc sống văn minh xâm lấn.”

Macon im lặng một lúc. Rồi anh đến bên giá sách và chọn một cuốn trong bộ bách khoa toàn thư bìa xám đã bạc màu của ông nội anh. “Mang lại đây nào,” ông nội anh nói, chìa cả hai tay ra. Ông chụp vội cuốn sách và bắt đầu lật nhanh. Một mùi ẩm mốc xộc thẳng lên mũi anh rồi lan ra xung quanh. “Laski,” ông lẩm bẩm, “Lassalle, Lassaw...” Ông hạ cuốn sách xuống và cau mày. “Ta không...” ông nói. Ông rà lại mấy địa danh vừa rồi, “Lassalle, Lassaw...”

Ông bối rối thấy rõ, và gần như hoảng lên. Gương mặt ông méo xệch hẳn đi - một biểu hiện đã khiến Macon lo sợ nhiều lần trong thời gian gần đó. “Ta không hiểu nổi,” ông thì thào với Macon. “Ta không thể nào hiểu nổi.”

“À,” Macon nói, “có thể đấy chỉ là một giấc mơ. Có thể đấy là một trong những giấc mơ giống như thật.

“Macon, không phải giấc mơ đâu. Ta biết chỗ đó mà. Ta đã mua vé rồi. Tàu sẽ khởi hành vào ngày mười hai tháng Sáu mà.”

Macon cảm thấy lạnh toát cả sống lưng.

Rồi ông nội anh trở thành một nhà phát minh - suốt ngày thao thao về những công trình do mình sáng chế ở dưới tầng hầm. Ông ngồi nghiêm chỉnh trong chiếc ghế bành bọc da màu đỏ, mặc bộ com lê và chiếc áo sơ mi trắng tinh, đi đôi giày da màu đen được đánh xi bóng lóa, hai tay đặt ngay ngắn trong lòng, và thông báo rằng ông vừa hàn xong một chiếc xe máy kéo theo một cái cày. Ông nghiêm túc tranh luận về nào là những tay quay, rồi các chốt định vị, trong khi Macon - mặc dù trong lòng lo lắng đến cực độ - phải cố nén cười khi nghĩ đến một Hells Angel[1] đi ủng da làm việc cật lực trên cánh đồng lúa mì. “Nếu ông có thể giải quyết được vấn đề về những chỗ xoắn dây cáp,” ông nội nói, “ông sẽ làm ăn phát đạt. Rồi nhà mình sẽ giàu to cho mà xem.” Vì có vẻ như ông tin rằng ông lại nghèo như xưa, phải vật lộn cật lực để kiếm lấy cái ăn. Chiếc radio có lắp động cơ do ông sáng chế theo chủ nhà từ phòng này sang phòng nọ, cái điện thoại trôi lơ lửng trong không khí, xe hơi chạy đến khi lái xe gọi - lẽ nào những thứ trên lại không có giá trị sử dụng nào hay sao? Chẳng lẽ không có ai bỏ tiền ra mua chúng?

Ngồi ngoài hiên trọn một buổi sáng tháng Sáu, miệt mài vần vò mấy đường ly quần, ông tuyên bố đã hoàn thiện một giống lai mới. Những bông hoa sẽ khép cánh lại nếu gặp nước mắt. “Các cô hàng hoa thể nào cũng kéo ồ kéo ạt đến tìm ông cho mà xem,” ông nói. “Nghĩ xem, nó sẽ gây hiệu ứng đầy kịch tính tại các đám tang!” Tiếp sau đó ông bắt tay vào lai giống giữa cây húng quế và cà chua. Ông bảo thể nào ông cũng hốt bạc nhờ vào các công ty sản xuất nước xốt mì ống.

Dần dần, ba đứa cháu trai lần lượt ra ở riêng, và rồi bà nội mất; thế nên còn lại một mình Rose kề cận săn sóc ông. Các ông anh bắt đầu lo lắng cho cô. Họ thường xuyên ghé qua, ngày một nhiều hơn. Và rồi Rose bảo, “Bọn anh đâu cần phải làm thế.”

Bọn họ bảo, “Gì? Làm gì? Em nói gì lạ vậy?” Và đại loại thế.

“Nếu bọn anh ghé qua thường xuyên như vậy chỉ vì ông nội thì không cần thiết đâu. Em xoay sở được, và ông cũng vậy. Ông rất vui.”

“Vui!”

“Em thật sự tin rằng,” Rose nói, “ông đang sống phần đời còn lại một cách phong phú nhất và đầy... màu sắc nhất, thật đấy. Em dám cược là ngay cả khi còn trẻ ông cũng không thấy vui sống nhiều đến như thế đâu.”

Bọn họ biết ý cô muốn nói là gì. Macon có một cảm giác gì đó gần như là ganh tị, khi có lần nghĩ đến chuyện đó. Và sau này, khi thời kỳ ấy trôi qua mất, anh lại thay tiếc sao nó quá ngắn ngủi. Vì ông nội anh ngay sau đó rơi vào trạng thái lẩm cà lẩm cẩm, chỉ lầm bầm một mình những điều vô nghĩa không ra đầu ra đuôi, rồi kế tiếp là những tháng ngày im lặng hoàn toàn, không nói gì mà cứ nhìn đăm đăm như thế, và cuối cùng ông mất.

Một sáng tinh mơ thư Tư, Macon mơ thấy ông nội Leary đánh thức anh dậy hỏi cái dùi đâu. “Nội nói gì lạ vậy? Cháu có bao giờ lấy cái dùi gì đó của nội đâu.” “Ồ, Macon,” ông nội anh nói giọng rầu rĩ, “cháu không thấy rằng ta không khi nào nói thẳng những điều ta muốn nói hay sao?”

“Vậy ý nội là gì?”

“Cháu đã đánh mất cái cốt lõi của cuộc đời[2] mình rồi, Macon à.”

“Vâng, cháu biết điều ấy,” Macon nói, và dường như có cả Ethan đứng ngay bên trái, đầu nó cao gần ngang bằng đầu ông cố.

Nhưng ông nội anh bảo, “Không, không,” và lắc đầu vẻ sốt ruột rồi bước đến chiếc tủ có ngăn kéo. (Trong giấc mơ ấy, Macon không ở trong phòng nắng mà ở trên lầu trong phòng ngủ thời niên thiếu của anh, nơi ấy có chiếc tủ mà mấy cái núm kéo thủy tinh từ lâu đã bị Rose lén gỡ ra hết để làm đĩa ăn cho mấy con búp bê của cô.) “Ý ta là Sarah đó,” ông nội bảo, nhặt lên một cái bàn chải tóc. “Sarah đâu rồi?”

“Cô ấy bỏ cháu đi rồi, nội à.”

“Ồ, Sarah là đưa khá nhất trong tất cả chúng ta!” ông nội anh bảo. “Chẳng lẽ cháu muốn ngồi lì trong căn nhà cũ kỹ này chết dần chết mòn ở đây luôn hay sao, cháu trai? Đã đến lúc chúng ta phải bắt đầu đứng lên mà đi rồi đấy! Chúng ta còn định ở lì đây bao lâu nữa chứ?”

Macon mở mắt ra. Trời chưa sáng hẳn. Phòng nắng vẫn còn tối nhờ nhờ như một tờ giấy lem nhem mực.

Quanh quất đâu đó dường như vẫn còn hơi hướng của ông nội. Cái kiểu lắc nhẹ đầu của ông mà Macon đã hoàn toàn quên béng đi; giờ nó lại xuất hiện rõ rành rành như thế. Nhưng những gì ông nội Leary nói trong giấc mơ ấy chưa bao giờ Macon nghe ông nói trong đời thực. Ông quả thật có quý Sarah, nhưng dường như ông xem những người vợ là người dưng nước lã, và ông đến dự đám cưới các cháu nội với cái kiểu gì đó như là bắt buộc phải đi, chứ quả thật ông không hề muốn. Ông hẳn chưa từng xem bất cứ người phụ nữ nào là “cốt lõi”. Ngoại trừ, Macon chợt nghĩ, có lẽ là vợ của ông, bà nội Leary. Sau cái chết của bà nội - sao nhỉ, à, ngay lập tức sau đó - tâm trí ông bắt đầu vẩn vơ.

Macon cứ nằm chong chong như thế cho đến rạng sáng. Thật sảng khoái khi nghe thấy những âm thanh đầu tiên trong ngày ở ngay trên đầu. Rồi anh dậy, cạo râu, thay đồ, và cho Edward ra lấy báo. Lúc Rose xuống lầu, anh đã bắt đầu pha cà phê. Hình như cô thấy không yên tâm nên hỏi, “Anh dùng hạt cà phê buổi sáng hay buổi tối đấy anh?”

“Cho buổi sáng đấy chứ,” anh trấn an cô. “Mọi thứ vẫn được kiểm soát tốt mà.”

Cô đi quanh nhà bếp, kéo màn cửa ra, dọn bàn ăn, mở hộp đựng trứng. “Vậy hôm nay là ngày anh tháo bột phải không?”

“Ừ.”

“Và chiều nay anh đi New York nữa.”

“Ồ, à...” anh nói vẻ ơ hờ, và rồi hỏi liệu cô có muốn lấy phiếu mua thịt lợn muối dự thưởng anh thấy trong tờ báo sáng nay không.

Cô gặng hỏi cho được, “Chẳng phải chiều nay anh đi hay sao?”

“À, đi chứ.”

Vấn đề ở đây là anh sắp đi New York rồi mà chưa biết làm thế nào với Edward cả. Chỗ cũ thì không chịu nhận nó đã đành, chỗ Muriel thì... mà theo Macon thì tốt nhất là để Edward ở nhà. Rose, chẳng nghi ngờ gì nữa, sẽ không đời nào đồng ý. Anh nín thở, nhưng Rose bắt đầu lẩm nhẩm trong miệng bài hát “Clementine” và đập trứng vào chảo rán.

Lúc chín giờ, tại một phòng khám chữa bệnh trên đường St. Paul, ông bác sĩ tháo bột chân Macon bằng một chiếc cưa điện nhỏ xíu khi chạy phát ra tiếng kêu o o. Chân Macon lộ ra trắng bợt như chân người chết, nhăn nhúm và xấu xí. Khi anh đứng lên, mắt cá chân run run. Anh vẫn còn đi khập khiễng. Tệ hơn thế, anh quên mang theo một cái quần lành lặn thế nên đành phải diễu qua đám bệnh nhân ngồi đợi trong chiếc quần ka ki bị cắt ngắn đi mất một bên, để lộ ra cái ống chân gớm guốc. Anh thầm nghĩ liệu chân anh có trở lại được như lúc chưa gãy không.

Trong khi lái xe đưa anh về nhà, rốt cuộc Rose quyết định hỏi xem Macon định gửi Edward ở đâu. “À, để nó lại chỗ em chứ sao nữa,” Macon nói, làm ra vẻ ngạc nhiên.

“Chỗ em? Ồ, Macon, anh biết là nó hay giở chứng thế nào rồi đấy.”

“Chỉ một thời gian ngắn thôi mà, không sao đâu. Anh sẽ về nhà vào tối mai. Nếu nó có làm gì quá thì nhốt nó vào phòng để thức ăn; thỉnh thoảng cứ quẳng cho nó một ít đồ ăn khô cho đến khi anh về.”

“Em chẳng thích thế chút nào,” Rose nói.

Chính những người đến chơi nhà mới khiến nó phát cáu lên như vậy đấy. Không phải em đang đợi một người khách nào đó chứ hả?”

“Ồ, không,” cô nói, và cô bỏ lửng câu chuyện ở đó, lạy trời. Anh tưởng cô phải phản ứng quyết liệt lắm.

Anh tắm rồi thay bộ đồ du lịch. Rồi anh ăn bữa trưa sớm. Trước mười hai giờ trưa, Rose lái xe chở anh đến nhà ga, vì anh không tin tưởng mấy vào cái khớp chân của mình. Lúc bước xuống xe, chân anh như muốn khuỵu xuống. “Đợi đã!” anh nói vói Rose khi cô chìa túi đồ cho anh từ phía sau. “Em có nghĩ là anh làm được không?”

“Em chắc là anh làm được,” cô nói, vẫn không chìa cái túi ra gần thêm chút nào. Cô đóng cửa sau lại, vẫy chào anh, và lái đi.

Từ lần cuối cùng anh đi tàu tới nay, nhà ga đã kịp có một vài thay đổi đáng kể. Cửa sổ trên trần nhà lấp lóa màu xanh nhạt hơi uốn cong phía trên đầu. Mấy chiếc đèn hình cầu treo trên những cái móc bằng đồng thau phát ra thứ ánh sáng yếu ớt. Những tấm liếp ngăn đặt tại phòng đợi một thời gian dài giờ đây biến đâu mất, để lộ ra mấy chiếc ghế gỗ dài được đánh véc ni sáng bóng. Macon ngơ ngác đứng trước cửa sổ phòng bán vé cũng bóng ngời và mới toanh. Anh nghĩ, có thể đi du lịch không hẳn là điều quá tệ hại. Có thể lâu nay anh đã nghĩ sai về nó. Anh thấy lòng mình bắt đầu nhú lên một mầm hy vọng nhỏ nhoi.

Nhưng không lâu sau đó, lúc khập khiễng đi qua cổng, cảm giác mất mát đã luôn ám ảnh anh trong suốt các chuyến đi trước đó lại xuất hiện dập tắt đi tia hy vọng vừa chợt nhóm lên kia. Anh mường tượng thấy mình giống như con số 1 thẳng đơ lạc lõng giữa một đám những con số 2, số 3. Kia là đám đông tụ tập trước quầy thông tin, những con người trẻ tuổi vai mang ba lô cùng túi ngủ. Này là một gia đình ngồi chiếm trọn cả một chiếc ghế băng dài, bốn đứa con gái nhỏ ăn mặc thật diện, bó mình trong những chiếc áo choàng len kẻ ô và những cái mũ buộc ruy băng điệu đà, hẳn là nơi cuối cuộc hành trình có ông bà đang đợi đón. Ngay cả những người ngồi một mình - người phụ nữ đứng tuổi với bông hoa cài ở ngực, tóc hoe vàng, và cùng mớ va li bằng da đắt tiền - cũng khiến người ta có cảm giác họ thuộc về một ai đó.

Anh ngồi xuống trên một chiếc ghê băng. Có tiếng thông báo chuyến tàu đi Nam, và một nửa đám đông lục tục đứng dậy, kéo nhau đi. Một phụ nữ tóc tai rối bù nhếch nhác hổn hà hổn hển với cả đống va li đồ đạc tất tưởi chạy theo. Đám hành khách ấy chen nhau lên cầu thang, chẳng ai chịu nhường ai. Mặt ai nấy đều có vẻ ngơ ngác như từ đâu đó xa lắc vừa mới đến chỉ một chốc trước đây thôi. Một người đàn ông bế đứa bé đón một người phụ nữ; anh hôn cô và trao đưa bé cho cô ngay lập tức, như thể nó cũng là một gói hành lý nặng bất thường đối với sức của anh vậy. Một cô mặc quần jean lên đến đầu cầu thang rồi chợt bắt gặp một cô khác cũng mặc quần jean, thế là ôm choàng lấy cô kia và bắt đầu òa lên khóc. Macon quan sát, nhưng lại vờ như không, và nghĩ xem sao cô kia lại khóc nấc lên như thế. (Có phải cô về dự đám tang của bà mẹ không nhỉ? Hay việc bỏ theo trai của cô không trót lọt?)

Có tiếng thông báo chuyến tàu của anh, anh nhấc chiếc túi lên tập tễnh theo sau gia đình có bốn đứa con gái nhỏ nọ. Dưới chân cầu thang, một luồng không khí lạnh, trong trẻo thốc vào anh. Dường như ở các sân ga gió luôn hiện diện dù thời tiết có thế nào đi chăng nữa. Đứa con gái bé nhất phải cài hết cúc áo khoác lại. Chiếc tàu xuất hiện, từ từ dừng lại trước ngọn đèn ghi màu vàng.

Hóa ra hầu hết các toa đã đầy người cả. Macon từ bỏ ý định cố tìm một chỗ ghế trống hẳn, anh ngồi xuống cạnh một người đàn ông trẻ béo trục mang theo va li. Để không phải trò chuyện gì, anh mở túi lấy cuốn Miss MacIntosh ra.

Chiếc tàu lắc lư về phía trước rồi khựng lại, rồi lại lắc lư về phía trước và lao đi. Macon thấy hình như có những lớp gỉ sét trên đường ray; nên tàu đi có vẻ không êm. Anh thu vào tầm mắt những ngôi nhà chạy ào ào về phía anh rồi biến mất - những dãy nhà lộn xộn, những mảnh đất hoang bạc màu, những cửa hiệu giặt là kiên gan trong giá lạnh.

“Kẹo cao su không?” người ngồi kế bên hỏi.

Macon nói, “Không, cảm ơn,” và vội mở cuốn sách ra.

Tàu chạy được độ trên dưới một tiếng đồng hồ thì mí mắt Macon bắt đầu muốn sụp xuống. Anh ngả đầu ra sau tựa vào thành ghế. Anh nghĩ chỉ nhắm mắt một tí thôi, ngờ đâu lại ngủ thật. Điều tiếp theo anh nhận thức được là người bán vé thông báo nơi đến Philadelphia. Macon giật bắn mình, ngồi bật dậy và vừa kịp chộp lấy cuốn sách trước khi nó rơi khỏi lòng anh.

Người ngồi bên đang hí hoáy viết gì đấy, dùng va li làm bàn. Chắc là một doanh nhân rồi - một trong những đối tượng cuốn cẩm nang Macon đang viết hướng đến. Thật đáng buồn cười là Macon không bao giờ hình dung được độc giả của anh.

Nói một cách chính xác, doanh nhân thường làm những công việc gì? Người này đang viết nhanh những ghi chú lên các tờ mục lục, thỉnh thoảng đối chiếu với một cuốn sách nhỏ chi chít đồ thị. Một đồ thị với những chiếc xe tải màu đen nhỏ xíu diễu ngang qua trang giấy - bốn chiếc, bảy chiếc, ba chiếc và nửa chiếc. Macon nghĩ chiếc xe tải có một nửa kia trông thật méo mó và đáng thương.

Ngay trước khi tàu đến ga, anh vào phòng vệ sinh ở phía cuối toa - không lý tưởng lắm, nhưng giống như ở nhà hơn bất kỳ thứ gì anh thấy tại New York. Anh về lại ghế ngồi và cất cuốn Miss MacIntosh vào trong va li. “Trời trở lạnh rồi đấy,” người bên cạnh nói.

“Tôi nghĩ thế,” Macon đáp.

“Bản tin thời tiết báo trời lạnh và có gió.”

Macon không đáp lại.

Anh cho rằng chẳng ai đi du lịch mà lại mang theo áo bành tô - chỉ tổ nặng thêm thôi - nhưng anh có mặc một chiếc áo lót ấm và quần ôm dài bó sát người. Lạnh là điều ít khiến anh lo ngại nhất.

Tới New York hành khách ngay lập tức ào xuống rồi tản ra mọi phía. Trong đầu Macon hiện lên hình ảnh lớp vỏ ngoài của một thứ quả gì đấy bị bung ra làm mớ hạt bên trong văng tung tóe. Anh không muốn bị xô đẩy nên cố đi xuyên qua đám đông theo cách ít đụng chạm nhất, bước lên những cầu thang tối om kêu răng rắc, và lại lèn lách qua một đám đông khác có vẻ như còn hối hả hơn cả đám đông trước đó. Chúa ơi, mấy cái bà này học đâu ra cách ăn mặc như thế không biết? Một bà đội chiếc mũ lông thú rậm rịt hình chóp và đi ủng da báo. Một bà khác mặc nguyên bộ đồ màu lục vàng giống hệt bộ đồ của thợ sửa máy, duy chỉ khác là nó được làm bằng da thôi. Macon nắm chặt túi xách hơn và đẩy cửa bước ra đường. Ngoài đường, tiếng còi xe inh ỏi không ngừng, không khí xám xịt và nồng nặc mùi hăng hắc, giống như bên trong một ống khói bị tắc nghẽn. Trong suy nghĩ của anh, New York là một thành phố ngoại quốc. Anh không bao giờ thôi bị ám ảnh bởi bầu không khí chăm chú lan tỏa khắp nơi của nó - sự tập trung cao độ của các tay lái xe, sự tất bật hối hả của người đi bộ chen chúc nhau trên đường xuyên qua tất thảy những chướng ngại mà không hề để ý đến mọi điều xung quanh.

Anh vẫy một chiếc taxi, ngồi vào chiếc ghế trơn chuội đã sờn mòn, và cho lái xe biết địa chỉ khách sạn anh muốn đến. Người lái xe ngay lập tức bắt đầu thao thao về cô con gái của mình. “Ý tôi là nó mới mười ba tuổi thôi,” anh ta nói, hai mắt vẫn chăm chú vào dòng xe cộ trên đường, “đã bấm ba lỗ trên mỗi tai và mỗi lỗ đeo một chiếc khoen, và giờ thì nó còn muốn bấm thêm một lỗ bên trên mỗi tai nữa. Mới mười ba tuổi thôi đấy!” Có thể anh ta đã nghe thấy địa chỉ anh vừa cho biết mà cũng có thể không. Dẫu vậy, anh ta vẫn cứ tiếp tục cho xe chạy. “Thậm chí tôi cũng chẳng ưa gì ba lỗ trước,” anh ta nói. “Tôi bảo nó, ‘Sao, con không đọc Ann Landers à? Ann Landers cho rằng bấm lỗ tai là xâm hại đến cơ thể. Có phải Ann Landers không nhỉ? Ba nghĩ đúng là Ann Landers đấy. Rồi con cũng có thể đeo khoen mũi giống người châu Phi, đúng không?’ Tôi bảo con gái tôi thế. Nó nói, ‘Vậy thì sao? Đeo khoen mũi thì có sao chứ? Có thể lần tới con sẽ làm thế.’ Tôi cũng sẽ không để nó làm vậy đâu. Tôi sẽ không để nó làm vậy. Giờ bấm thêm một lỗ thứ tư nữa thì sẽ đụng vào phần sụn mà chỗ này thì không phải chỗ để bấm lỗ tai; thế nên anh có thể thấy chuyện này điên rồ đến thế nào. Bấm lỗ vào phần sụn là một trò hoàn toàn khác. Chỗ đó đâu có thật mềm giống như chỗ dái tai chứ.”

Macon có cảm giác mình không thật sự hiện hữu. Anh đang lắng nghe một người đàn ông tự nói chuyện với bản thân, có thể đã nói như thế từ trước khi anh bước lên xe kia và có thể vẫn tiếp tục nói như thế sau khi anh xuống xe cũng nên. Hay là anh không hề có mặt trên chiếc taxi này nhỉ? Những ý nghĩ kiểu thế thường tấn công anh mỗi khi đi du lịch. Trong cơn tuyệt vọng, anh lên tiếng, “Ưm...”

Người lái xe ngừng nói, khá ngạc nhiên. Anh ta ngoái cổ nhìn anh rồi quay lên thật nhanh. Macon phải nói tiếp thôi. Anh nói, “Hãy bảo với nó gì đó thật hãi vào.”

“Chẳng hạn như là gì?”

“Chẳng hạn... kể cho nó nghe chuyện anh biết một cô gái nào đó bị mất lìa cả hai tai.”

“Nó không chịu tin chuyện đó đâu.”

“Hãy khiến câu chuyện mang tính khoa học một chút. Hãy bảo nó nếu nó bấm chỗ sụn, tai sẽ teo lại ngay lập tức.”

“Hmm,” người lái xe nói. Anh ta nhấn còi một chiếc xe tải đằng trước mặt.

“Cứ bảo nó là ‘Con tưởng tượng xem con sẽ cảm thấy thế nào nếu suốt đời phải để mỗi một kiểu tóc. Để có thể che đi hai cái tai bị teo của con.’”

“Nghĩ xem liệu nó có tin tôi không nhỉ?”

“Sao không?” Macon hỏi. Và rồi sau một hồi im lặng, anh tiếp, “Thật ra, có thể đúng như vậy mà. Anh không nghĩ là có thể tôi đã từng đọc thấy điều ấy ở đâu đó à?”

“À, được rồi, có thể anh đã đọc ở đâu đó,” người lái xe nói. “Chắc là có chuyện như thế mà.”

“Thậm chí có thể tôi cũng đã thấy ảnh nữa kia,” Macon nói. Ảnh ai đó có đôi tai bị teo tóp lại. Khô quắt đi.”

“Nhăn quéo lại chứ gì,” người lái xe đồng tình.

Macon nói, “Giống như hai quả mơ phơi khô vậy.”

“Chúa ơi! Tôi sẽ bảo nó như thế mới được.”

Chiếc taxi đỗ xịch trước khách sạn của Macon. Macon trả tiền xe, và khi bước xuống anh còn với theo, “Tôi hy vọng con bé sẽ nghe anh.”

“Hẳn rồi,” người lái xe đáp, “cho đến lần sắp tới. Cho đến khi nó muốn một cái khoen mũi hay gì gì đấy.”

“Mũi cũng được cấu thành từ chất sụn, nhớ đấy! Mũi cũng bị teo lại đấy!”

Người lái xe vẫy chào anh và lại hòa vào dòng xe cộ.

Sau khi nhận phòng, Macon lên tàu điện ngầm đến khách sạn Buford. Một người bán hàng điện tử đã gợi ý nơi này; khách sạn Buford có cho doanh nhân thuê các căn hộ nhỏ, theo ngày hay theo tuần. Người quản lý, một ông mang họ Aggers, xuất hiện với bộ dạng mập lùn đi khập khiễng giống hệt dáng đi của Macon. Macon nghĩ hẳn là trông họ có vẻ gì đó rất kỳ cục khi cùng băng qua sảnh đến chỗ thang máy. “Hầu hết các căn hộ của chúng tôi đều do các tập đoàn sở hữu,” ông Aggers nói. Ông ta nhấn vào nút “Lên”. “Các công ty thấy rằng mua hẳn chỗ nào đó để nhân viên thường xuyên đến đây công tác ở lại thì rẻ hơn nhiều. Mầy tuần nay những căn hộ đó không ai ở, tôi trộm nghĩ nên cho thuê, để giúp giảm chi phí.”

Macon ghi chú bên lề cuốn cẩm nang mang theo. Với chữ viết li ti, anh ghi chú cách bài trí ở sảnh đón khiến anh liên tưởng đến một câu lạc bộ lỗi thời nào đó dành cho đàn ông. Giữa hai thang máy có một chiếc bàn to với bốn chân chạm trổ hình móng vuốt, bên trên là một bức tượng phụ nữ khỏa thân bằng đồng cao gần một mét, khoác hờ một mảnh vải cũng bằng đồng, và đứng trên đám mây cũng bằng đồng nốt, giơ cao một bóng đèn nhỏ xíu bám đầy bụi với một sợi dây điện sờn cũ buông lủng lẳng. Cửa thang máy mở, bên trong lót thảm hoa màu tôi tối và tường đóng ván ô.

“Tôi hỏi khí không phải,” ông Aggers nói, “anh chính là người viết loạt cẩm nang Du khách bất đắc dĩ phải không?”

“Vâng, chính tôi,” Macon bảo ông ta.

“A!” ông Aggers nói. “Thật vinh dự quá. Chúng tôi có bày các cuốn cẩm nang của anh tại sảnh đón cho khách xem. Nhưng chẳng hiểu sao trong hình dung của tôi anh có khác một chút.”

“Ông đã nghĩ tôi trông thế nào?” Macon hỏi.

“À, có thể là không quá cao như thế này. Có thể là hơi, à, hơi nặng nề hơn,... phục phịch hơn.”

“Tôi hiểu,” Macon nói.

Thang máy ngừng, nhưng mất một lúc cửa mới mở. Ông Aggers đưa Macon ra sảnh lớn. Một người phụ nữ đẩy chiếc xe chở đồ bẩn cần giặt nhường chỗ cho họ đi qua. Đến nơi rồi, ông Aggers nói. Ông mở khóa cửa và bật đèn lên.

Macon bước vào trong căn hộ tưởng chừng như được xây dựng đâu từ những năm 1950. Một chiếc sofa vuông vức với những đường chỉ óng ánh như kim loại chạy trên nền vải bọc, một bộ bàn ăn bọc crôm, và trong phòng ngủ một chiếc giường đôi có tấm ván trên đầu bọc nhựa vinyl màu kem. Anh kiểm tra tấm nệm. Rồi cởi giày, nằm lên giường và trầm ngâm một lúc. Ông Aggers đứng nơi đầu giường, hai bàn tay đan vào nhau. “Ừm,” Macon nói. Anh ngồi dậy và mang giày vào. Rồi anh bước vào phòng tắm, thấy trên nắp bồn cầu giăng một dải băng màu trắng với dòng chữ HỢP VỆ SINH. “Tôi chẳng bao giờ hiểu được những thứ này,” anh nói. “Sao cái dải giấy được dán trên nắp bồn cầu thế kia lại khiến người ta yên tâm được chứ?” Ông Aggers khoát hai tay tỏ vẻ bất lực. Macon lùa tấm màn có in hình những con cá màu xanh dương và màu hồng nơi bồn tắm sang một bên để kiểm tra cái bồn. Nó có vẻ khá sạch sẽ, mặc dù có một vệt gỉ sét chạy xuống từ chỗ cái vòi.

Nơi căn bếp nhỏ, anh nhìn thấy một cái chảo con, hai chiếc tách và hai chiếc đĩa nhựa đã bạc màu, và một cái giá để toàn ly cỡ đại. “Khách của chúng tôi không thường nấu ăn lắm,” ông Aggers giãi bày, “nhưng họ có thể mời bạn hữu đến uống chút gì đó.” Macon gật. Tại đây anh lại đối mặt với một vấn đề muôn thuở: cái lằn ranh mong manh giữa “tiện nghi” và “tuềnh toàng”. Trong thực tế, đôi khi sự tuềnh toàng lại mang đến cho người ta cảm giác ấm cúng dễ chịu. Anh mở tủ lạnh, ngăn nhỏ bên dưới khá tuềnh toàng. Các khay trong ngăn đá giống hệt mấy cái khay của Rose ở Baltimore - cũng bằng thứ nhựa trong, và trầy xước hết cả.

“Anh phải công nhận rằng ở đây mọi thứ đều có đủ cả,” ông Aggers nói. “Thấy không? Có một cái tạp dề trong ngăn kéo tủ bếp. Ý tưởng của vợ tôi đấy. Để bảo vệ quần áo cho khách đến ở.”

“Vâng, ý tưởng hay đấy,” Macon nói.

“Nó giống như ở nhà mà lại không phải ở nhà; đó là cách tôi nghĩ về nó.”

“Ồ, nhà à,” Macon nói. “Không nơi nào như ở nhà cả, thật đấy.”

“Sao? Còn thiếu gì à?” ông Aggers hỏi. Làn da bợt bạt, nhẵn thín của ông chợt căng bóng lên, giọng ông lộ vẻ nôn nóng. “Thế anh thấy cần thêm gì nữa nào?”

“Nói thật nhé,” Macon nói. “Trong đầu tôi luôn có suy nghĩ rằng một khách sạn nên có sẵn thú cưng cho khách khi họ yêu cầu.”

“Thú cưng?”

“Ý tôi là một con mèo ngủ cùng ta trên giường vào ban đêm, hay một con chó giống gì đó luôn tỏ vẻ mừng rỡ mỗi khi ta bước vào phòng. Có bao giờ ông để ý thấy phòng khách sạn thật thiếu sự sống không?”

“Vâng, quả có thế thật, nhưng, tôi không biết làm thế nào có thể - nào là quy định về sức khỏe, hay gì gì đó... những rắc rối, công việc liên quan đến giấy má, cho chúng ăn... và đương nhiên còn có cả chuyện nhiều vị khách mắc chứng dị ứng...”

“Ồ, tôi hiểu, tôi hiểu mà,” Macon nói. Bên lề cuốn cẩm nang anh ghi chú số lượng các giỏ đựng rác: bốn. Tuyệt.

“Không,” anh nói, “dường như người ta chưa từng đề cập với tôi về chuyện này.”

“Dù sao thì anh cũng sẽ gợi ý cho khách hàng khách sạn chúng tôi chứ?”

“Hẳn nhiên rồi,” Macon nói, gấp cuốn cẩm nang lại, và hỏi xin bảng giá.

❀ ❀ ❀

Thời gian còn lại của buổi chiều, anh đảo qua hết mấy khách sạn đã được anh đánh dấu từ trước. Anh vào gặp trực tiếp quản lý tại văn phòng của họ, được họ đưa đi dạo quanh một vòng để thấy rằng không có gì đang trên bờ vực hư hại, và nghe nói về giá cả đang tăng, rồi những kế hoạch tu sửa, và những phòng họp được nâng cấp, làm mới. Rồi anh trở về phòng mình, bật truyền hình xem bản tin tối. Tình hình thế giới đang diễn ra hết sức tồi tệ; thế nhưng xem bằng cái ti vi lạ lẫm này, ngồi co cái chân đau lên chiếc ghế bành dường như được thiết kế cho một ai khác, Macon có cảm tưởng rằng không cuộc chiến hay trận đói nào anh thấy trên truyền hình kia là thật cả. Chúng giống như, ừm, trên sân khấu hơn. Anh tắt ti vi và bước xuống cầu thang, ra ngoài vẫy một chiếc taxi.

Theo gợi ý của Julian, anh sẽ ăn tối tại tầng thượng của một tòa nhà cao đến khó tin. (Macon để ý thấy Julian rất ưa những nhà hàng có lối quảng cáo màu mè câu khách. Anh ta chẳng thấy thích thú gì trừ khi đến một nơi có hệ thống xoay vòng, hay lơ lửng, hay chỉ có thể lên được bằng một lối đi hẹp.)

“Hãy thử hình dung,” Julian nói, “đến hiệu quả tác động lên một khách hàng của anh bên ngoài thành phố xem. Phải, một khách hàng nào đó bên ngoài thành phố; tôi không lấy một người New York làm ví dụ đâu...” Macon khụt khịt mũi. Lúc ấy người lái taxi cũng khụt khịt mũi. “Một cốc cà phê ở đó cũng làm anh tốn mất năm đô đấy,” anh ta bảo Macon.

“Dễ hiểu thôi mà.”

“Anh nên đến một trong những nhà hàng hải sản nhỏ của Frenchy.”

“Chỗ ấy dành cho ngày mai. Những khách hàng ở trong thành phố.”

Chiếc taxi lao xuống lòng đường đang trở nên tối dần và tĩnh lặng hơn, bứt ra khỏi những đám đông. Macon thò đầu ra ngoài cửa xe. Anh trông thấy một người đàn ông cô độc khoác chiếc măng tô dài tất ta tất tưởi đi vào một ô cửa. Những cuộn hơi bốc lên từ mấy nắp cống bên đường. Hết thảy các cửa hiệu đã đóng kín, bên ngoài còn rào thêm một tấm lưới sắt.

Cuối con đường, và là chỗ tối hơn cả, taxi dừng. Người lái xe lại khụt khịt mũi, Macon trả tiền và bước xuống. Anh không ngờ hôm nay gió to thế, tựa như một tấm phản khổng lồ cứ tấp thẳng vào anh. Anh băng nhanh qua vỉa hè, hay là do gió đẩy đi không biết nữa, trong khi hai ống quần cư xoắn cả lại, và vỗ phành phạch vào cẳng chân anh. Ngay trước khi vào tòa nhà, anh chợt nghĩ đến việc ngước lên phía trên. Anh nhìn lên, lên nữa, lên nữa, và cuối cùng trông thấy một chóp nhọn trắng nhợt cao vút đâm thẳng lên bầu trời xa đen ngòm kỳ quái và sâu hun hut không một ánh sao. Anh chợt nhớ đến một lần cách đây lâu lắm rồi khi Ethan mới biết đi chập chững, nó đến chơi sở thú, dừng lại trước một con voi, và cứ thế ngước nhìn con voi với vẻ kinh ngạc đến độ ngã kềnh ra phía sau.

Bên trong, mọi thứ chìm trong những đường sọc màu hồng cẩm thạch và sàn được lát những tấm thảm không theo một mẫu mã, bố cục nào cả. Một thang máy kích cỡ bằng một căn phòng đang để mở, bên trong là một đám người chiếm chừng phân nửa diện tích, Macon bước vào đứng giữa hai người phụ nữ mặc đồ lụa và đeo nhẫn kim cương. Thứ nước hoa họ xức tưởng chừng như nhìn thấy được. Anh hình dung mình có thể nhìn thấy nó chảy róc rách trong không khí.

Hãy mang theo kẹo kẹo cao su, anh viết vào cuốn cẩm nang mang theo khi thang máy vút lên. Tai anh ù đi. Không gian khép kín nặng nề u tịch khiến giọng nói của hai người phụ nữ kia như bé đi. Anh nhét cuốn cẩm nang vào túi và liếc nhìn những con số điện tử lóe sáng phía trước mặt. Các con số tịnh tiến theo đơn vị hàng chục: bốn mươi, năm mươi, sáu mươi... Một trong mấy người đàn ông nói rằng lúc nào đó chắc họ phải mang theo thuốc an thần Harold – nhớ ra viên Harold vào cái lúc anh ta trở nên hoảng loạn vì thang máy đang lên cao chọc trời thì sao nào? - ai nấy đều phá lên cười.

Thang máy phát ra một âm thanh êm ái và cửa trượt mở ra không một tiếng động. Một cô gái trong bộ vest trắng hướng dẫn họ đi theo lối hành lang xuống một căn phòng rộng đến choáng ngợp không có ánh sáng nào ngoài những ngọn nến lung linh. Những khuôn cửa sổ màu đen khổng lồ vây quanh từ sàn cho tới trần nhà, nhưng Macon lại được đưa đến một cái bàn chẳng gần khuôn cửa sổ nào cả. Anh nghĩ nếu ai đi ăn tối một mình ở đây thì thật là ngượng chết đi được. Anh có thể là người khách đầu tiên tới đây một mình. Bàn anh đang ngồi đây có đủ chỗ cho một gia đình bốn người.

Người bồi bàn, ăn mặc còn bảnh hơn anh rất nhiều, đưa menu cho anh và hỏi anh muốn uống gì. “Vui lòng cho một sherry nguyên chất,” Macon nói. Lúc người bồi vừa đi khỏi, Macon gập menu lại làm đôi và ngồi lên trên. Rồi anh nhìn những người xung quanh. Mọi người có vẻ như đang ăn mừng gì đó. Một người đàn ông và một phụ nữ mang bầu nắm tay nhau và mỉm cười nhìn nhau qua ánh nến lung linh. Một nhóm người huyên náo bên trái anh thay nhau chúc mừng một người đàn ông hết lần này đến lần khác.

Người bồi bàn quay trở ra, bê một chiếc khay trên đặt ly sherry với vẻ chuyên nghiệp. “Tuyệt lắm,” Macon nói. “Và có lẽ giờ cho tôi xem menu được rồi đấy.”

“Menu? Không phải tôi đã đưa cho ông rồi sao?”

“Chắc bỏ đâu rồi,” anh nói, không giống nói dối chút nào.

Menu thứ hai được mang ra và mở bung trước mặt anh. Macon nhấp một ngụm sherry và xem bảng giá. Cao đấy. Như thường lệ, anh quyết định ăn những món anh nghĩ độc giả của anh có thể ăn - không phải thịt băm, cá băm, hay lá lách bê, lá lách cừu non mà là bò bít tết, chín vừa. Sau khi gọi món xong, anh đứng dậy, dịch ghế vào và bê ly sherry ra đứng bên cửa sổ.

Đột nhiên anh tưởng như mình đã chết rồi.

Anh trông thấy cả thành phố trải ra bên dưới như một đại dương lấp lánh vàng, đường sá như những dải ruy băng ánh sáng uốn lượn nhỏ xíu, hành tinh không tròn trịa mà như bị cong vênh lên khắp chỗ, bầu trời như lòng chảo sâu hút đến vô tận. Không phải độ cao; mà là khoảng cách. Ấy chính là cái khoảng cách khổng lồ, cô độc giữa anh và những người xung quanh. Ethan, với những bước đi nhún nhảy - làm sao nó có thể biết được rằng ba nó đã bị mắc kẹt trong cái mê cung ở thiên đường này? Làm thế nào Sarah có thể biết, khi mà cô ấy đang nằm ườn ra tắm nắng một cách uể oải như thế? Vì anh tin chắc như đinh đóng cột rằng mặt trời có thể chiếu sáng bất cứ nơi nào cô ấy ở vào ngay lúc này; cô ấy với anh đã quá xa xôi mất rồi. Anh nghĩ về cô em gái và mấy ông anh trai với những công việc thường ngày và chơi bài vào buổi tối, không hề biết rằng anh đã để họ tụt lại đằng sau bao xa rồi. Anh đã đi quá xa để có thể trở về. Anh sẽ không bao giờ, không bao giờ trở về. Không rõ bằng cách nào anh đã đến được một nơi hoàn toàn cách biệt với hết thảy mọi người trên thế gian này, và không có gì là thật cả ngoài bàn tay xương xẩu của anh đang siết chặt ly sherry.

Anh đánh rơi cái ly, tạo nên vài tiếng động nhỏ chẳng ai nghe thấy, rồi xoay người chân thấp chân cao chạy băng qua căn phòng và nhào ra cửa. Nhưng đó lại là một hành lang dài vô tận, và anh không sao đi hết được. Thế là đành rẽ phải. Anh đi qua một hốc tường kê điện thoại và bổ nhào vào phòng vệ sinh - phải, một phòng vệ sinh nam, thật may. Nhiều đá cẩm thạch hơn nữa, những tấm gương, men sư trắng. Anh ngỡ mình sắp nôn đến nơi, nhưng khi anh bước vào một ô vệ sinh thì cảm giác nôn nao nơi dạ dày bỗng chạy ngược lên đầu khiến anh thấy váng vất. Anh để ý thấy bán cầu não bên trái chợt nhẹ bẫng đi.

Anh đứng đó, tít cao trên khách sạn này, ấn mạnh vào hai bên thái dương. Trong đầu anh bỗng lóe lên thắc mắc không rõ một toa lét của khách sạn với độ cao dường này thì cần bao nhiêu mét ống dẫn nước mới đủ.

Anh nghe thấy tiếng ho của ai đó đang bước vào. Cánh cửa của một ô vệ sinh đóng đánh rầm. Anh hé mở cửa phòng mình nhìn ra bên ngoài. Căn phòng không người, tinh sạch như chưa từng có ai đến khiến anh liên tưởng tới những bộ phim khoa học viễn tưởng.

À, tình cảnh này có lẽ thường xảy ra ở đây, phải vậy không? Hoặc không phải chính xác là tình cảnh như thế này mà là những tình cảnh gì đó tương tự thế - chẳng hạn như những người sợ độ cao trở nên hoảng loạn, phải kêu cứu... ai nhỉ? Người bồi bàn được không? Cô gái dẫn đường từ chỗ thang máy chăng?

Anh đánh liều lần mò ra khỏi ô vệ sinh, rồi ra hẳn khỏi phòng vệ sinh, suýt nữa đâm sầm vào một người phụ nữ ở chỗ hốc tường kê điện thoại. Bà ta mặc chiếc váy xếp màu ghi là lượt dài không biết bao nhiêu mét. Bà ta vừa mới gác máy xuống, và giờ thì vén váy lên chầm chậm duyên dáng đi về phía phòng ăn. Xin lỗi, quý bà, tôi tự hỏi không biết quý bà có vui lòng ưm... Thế nhưng lời thỉnh cầu duy nhất lóe lên trong đầu anh lại là lời của những năm tháng còn bé bỏng: Cho tôi theo với!

Chiếc ví dự tiệc nhỏ xíu bằng da mềm của người phụ nữ kia là thứ cuối cùng anh còn trông thấy, ve vẩy ra đằng sau trong bàn tay trắng hếu của bà ta trong khi thân người bà đã lẫn mất vào trong bóng tối nhà hàng.

Anh bước vội lại chỗ điện thoại và nhấc ống nghe lên. Ống nghe lành lạnh; hẳn là bà ta trò chuyện không lâu mấy. Anh mò mẫm sục vào hết các túi áo quần, tìm thấy vài đồng xu và thả chúng vào khe. Thế nhưng nào có ai để anh gọi chứ. Anh có quen biết người nào ở New York này đâu. Thế là anh đành gọi về nhà, thật kỳ diệu là anh nhớ được số thẻ tín dụng của mình vào ngay lúc này. Anh thấy lo ngay ngáy, biết đâu nhà anh cứ để điện thoại reo thế - như thói quen từ trước tới giờ - nhưng Charles nhấc máy. “Nhà Leary đây.”

“Charles phải không?”

“Macon đấy ư!” Charles reo lên với giọng hớn hở bất thường.

“Anh Charles, em đang ở trên sân thượng của một tòa nhà cao tầng và một chuyện gì đó thật... ngớ ngẩn đã xảy ra ở đây. Anh nghe này: Anh phải đưa em ra khỏi chỗ này.”

“Đưa em ra! Chú đang nói cái quái gì vậy? Chú phải đưa anh ra khỏi chỗ này mới đúng!”

“Sao ạ?”

“Anh chú đang chốt cửa ở trong phòng để đồ ăn đây này; con chó của chú dồn ép anh đấy.”

“Ồ. À, em xin lỗi, nhưng... Charles, cứ giống như em đang mắc một chứng bệnh gì ấy. Em không nghĩ mình có thể sử dụng thang máy và em cũng nghi ngờ việc mình có thể đi bằng lối cầu thang và...”

“Macon, chú có nghe thấy tiếng sủa không đấy? Con Edward đó. Edward đã dồn anh vào thế phải chốt cửa ở trong phòng để đồ ăn đây này, anh nói cho chú biết thế, và chú phải về nhà ngay lập tức đi.”

“Nhưng em đang ở New York mà! Em đang ở tít trên tầng thượng của một cao ốc và em không thể xuống được!”

"Mỗi lần anh mở cửa là nó chạy xộc đến sủa ầm ĩ khiến anh phải vội sập cửa lại tự nhốt mình vào bên trong, thế là nó tấn công vào cánh cửa, chắc nó đã cào xước hết cả phân nửa cánh cửa rồi cũng nên.”

Macon cố hít một hơi thật sâu. Anh bảo, “Charles, em nói chuyện với Rose được không?”

“Nó ra ngoài rồi.”

“Ôi.”

“Chứ nghĩ sao anh lại rơi vào tình cảnh này chứ?” Charles hỏi. “Julian đến đưa nó đi ăn tối, và...”

“Julian?”

“Đó chẳng phải là tên của anh ta à?”

“Julian sếp em.”

“Đúng rồi, và con Edward chực tấn công anh ta; nên Rose bảo, ‘Nhanh đi, nhốt nó vào phòng để đồ ăn đi.’ Vậy nên anh mới chộp lấy sợi dây và nó xoay sang anh và suýt chút nữa đã ngoạm cả bàn tay anh rồi. Thế nên thay vì nhốt nó thì anh chốt cửa phòng để đồ ăn rồi ở luôn trong này, và chắc Rose đã đi rồi, vậy nên...”

“Không có Porter ở nhà sao?”

“Tối nay nó đến thăm con mà.”

Macon hình dung thấy ở trong phòng để đồ ăn thì thật an toàn biết bao nhiêu, với những lọ mứt của Rose được xếp theo thứ tự ABC và chiếc điện thoại quay số màu đen cổ lỗ sĩ. Để được ở đó lúc này, mất gì anh cũng chịu!

Giờ thì anh có thêm một triệu chứng mới. Tim anh bỗng nhiên đập loạn lên, lúc yếu ớt lúc dồn dập, chẳng giống gì với nhịp tim bình thường cả.

“Nếu chú không chịu về đưa anh ra khỏi chỗ này, anh sẽ gọi cảnh sát đến bắn vỡ sọ nó đấy,” Charles dọa.

“Không! Đừng làm thế!”

“Anh không thể cứ ngồi thế này mà chờ nó phá tan cửa xộc vô.”

“Nó không làm được vậy đâu. Anh có thể mở cửa ra và cứ thế đi ngang qua nó. Tin em đi, Charles. Làm ơn đi. Em đang ở trên tầng thượng của một cao ốc và...”

“Có thể chú không hề biết rằng anh rất dễ rơi vào nỗi sợ hãi bị giam,” Charles phân bua.

Chỉ có một khả năng thôi. Macon quyết định, anh sẽ cho nhân viên nhà hàng biết anh đang mắc chứng nhồi máu cơ tim. Một người đang lên cơn nhồi máu cơ tim rất cần được cấp cứu kịp thời. Họ sẽ gọi ngay xe cứu thương đến và anh sẽ được, phải, sẽ được mang đi - ấy chính là điều anh đang muốn lúc này. Hoặc anh sẽ không được mang đi mà chỉ được chạm vào thôi, một cái chạm đơn thuần từ một người khác lên cánh tay anh, hay một bàn tay đặt trên vai anh, hay một cái gì đó đưa anh trở về kết nối với phần còn lại của thế giới này. Đã lâu lắm rồi anh không có được cái cảm giác đụng chạm từ một người khác.

“Anh sẽ chỉ cho họ lấy chìa khóa nơi hòm thư để họ không phải phá cửa vào nhà,” Charles nói.

“Cái gì? Ai?”

“Cảnh sát chứ ai, và anh sẽ bảo họ làm thế đấy - Macon, anh xin lỗi chú nhưng chú biết đấy, sớm muộn gì con chó cũng phải bị khử.”

“Đừng làm thế!” Macon quát to.

Một người đàn ông từ trong phòng vệ sinh bước ra nhướng mắt về phía anh.

Macon hạ giọng và bảo, “Nó là của Ethan mà anh.”

“Thế có nghĩa là nó được phép xé toạc cổ họng anh ra phải không?”

“Anh nghe này. Đừng nóng vội. Hãy suy nghĩ thêm đã nhé. Giờ em sẽ... em sẽ gọi điện cho Sarah. Em sẽ bảo cô ấy ghé qua trông nom nó. Anh vẫn đang nghe đấy chứ, Charles?”

“Nhưng nếu nó tấn công luôn cô ấy thì sao?”

“Nó không làm thế đâu, tin em đi. Giờ thì đừng làm gì cho tới khi cô ấy đến nhé, anh hiểu không? Anh đừng vội làm bất cứ điều gì nhé.”

“Được...” giọng Charles đầy ngờ vực.

Macon gác máy và rút ví ra khỏi túi. Anh lục lọi mớ danh thiếp và những mảnh giấy xé, một số đã ố vàng vì thời gian, anh đã cất chúng trong một ngăn bí mật. Khi tìm thấy số của Sarah, anh rê theo dòng số bằng một ngón tay run lẩy bẩy và nín thở. Sarah, anh sẽ nói như vậy, anh đang ở tít trên tầng thượng của một cao ốc và...

Cô không nghe máy.

Anh đã không hề tính đến khả năng này. Anh nghe thấy chuông điện thoại của cô reo. Giờ thì sao? Giờ thì làm thế quái nào đây?

Rốt cuộc anh đành gác máy. Anh tuyệt vọng xới tung hết cả loạt số điện thoại trong ví - nha sĩ này, dược sĩ này, người huấn luyện động vật này...

Người huấn luyện động vật được không nhỉ?

Thoạt tiên trong đầu anh xuất hiện hình ảnh một người nào đó trong rạp xiếc - một gã với thân hình lực lưỡng cơ bắp trong bộ đồ bằng lụa xa tanh bó sát người. Rồi anh trông thấy tên: Muriel Prichette. Thông tin được viết vội bằng tay trên mảnh giấy được xé một cách lam nham cẩu thả từ một tờ giấy lớn.

Anh gọi cho cô. Cô nhấc máy ngay lập tức. “Xi-in chào,” nghe giọng uể oải giống giọng một cô phục vụ ở quán rượu ngày đông khách.

“Muriel đấy phải không? Macon Leary đây,” anh bảo cô.

“Ồ, anh thế nào?”

“Ổn. Hoặc, khá là... À, vấn đề là con Edward khiến anh trai tôi phải chốt cửa ở trong phòng để thức ăn, và đang trở nên quá khích. Ý tôi là anh Charles ấy, anh ấy luôn phản ứng quá khích, mà tôi thì đang ở tít trên tầng thượng của một cao ốc ở New York và tôi đang rơi vào một trạng thái kiểu như, ừm, bị nhiễu loạn sao đấy, cô biết không? Tôi đang nhìn xuống thành phố bên dưới, nó như cách xa tôi hàng bao nhiêu dặm ấy, xa lắm. Tôi chẳng thể miêu tả cho cô tường tận bây giờ...”

“Hãy chắc là tôi hiểu đúng ý anh,” Muriel nói. “Edward đang ở trong phòng để đồ ăn…”

Macon trấn tĩnh lại, anh bảo, “Edward đang ở ngoài phòng để đồ ăn, sủa inh ỏi. Anh trai tôi ở bên trong. Anh ấy bảo sẽ gọi cảnh sát đến để họ bắn vỡ sọ nó ra.”

“Thật là một ý tưởng hết sức xuẩn ngốc.”

“Đúng đấy!” Macon hưởng ứng. “Vậy nên tôi nghĩ không biết cô có thể ghé qua và mở cửa bằng chìa khóa để trong hòm thư ấy, ở dưới đáy...”

“Tôi đi ngay bây giờ đây.”

“Ồ, thế thì tuyệt quá.”

“Vậy chào anh nhé, Macon.”

“À, nhưng còn...” anh nói.

Cô đợi.

“Tôi nói rồi đấy, tôi đang ở tít trên tầng thượng của một cao ốc,” anh nói, “và tôi không biết đích xác điều gì đang diễn ra nhưng quả thật nó khiến tôi bấn loạn cả lên.”

“Ôi, Chúa ơi, hồn vía tôi cũng đã lên mây hết cả sau khi xem xong bộ phim Towering Inferno[3]

“Không, không, không phải thế, không liên quan đến lửa hay độ cao...”

“Anh xem Towering Inferno chưa? Anh bạn này, sau khi tôi xem bộ phim ấy thì đố anh khiến được tôi leo lên bất kỳ cao ốc nào. Tôi nghĩ người nào leo lên được các tòa cao ốc thì đúng là can đảm thật đấy. Ý tôi là nếu anh nghĩ về điều đó, Macon à, anh phải can đảm lắm mới có thể đứng ở chỗ mà anh đang đứng vào lúc này đấy.”

“Ồ, à, không can đảm đến thế đâu cô,” Macon nói.

“Không, tôi nói nghiêm túc đấy.”

“Cô nói quá lên rồi. Không can đảm gì đâu, thật mà.”

“Anh nói thế vì anh không nhận thấy mình đi qua những gì trước khi bước vào thang máy. Anh nghĩ thầm trong bụng rằng, ‘OK, ta sẽ đặt niềm tin vào nó.’ Đó là cách người ta vẫn thường làm; tôi cược rằng họ cũng làm tương tự vậy khi lên máy bay. Rõ ràng là nguy hiểm thật đấy, nhưng mà biết làm sao được, họ nói, ‘thôi thì hãy phó thác mình cho cái phương tiện đó và cứ đặt niềm tin vào nó đi.’ Vậy thì anh nên đi dạo quanh cái cao ốc chót vót ấy mà hãnh diện về bản thân mình mới phải chứ!”

Macon bật ra một tiếng cười nhỏ, khô khốc và nắm chặt ống nghe hơn.

“Giờ là những việc tôi sắp làm đây này,” cô nói. “Tôi sẽ ghé qua nhà anh đưa con Edward về Meow-Bow. Tôi thấy có vẻ như anh trai anh không thể ứng phó được với nó. Khi anh về chúng ta cần nói chuyện về việc huấn luyện cho nó. Ý tôi là, không thể để mọi chuyện diễn ra như thế này được đâu, Macon.”

“Cô nói đúng đấy, không thể để thế được. Không thể được,” Macon hưởng ứng.

“Ý tôi là chuyện này thật buồn cười.”

“Cô hoàn toàn đúng.”

“Vậy hẹn gặp lại anh nhé. Tạm biệt.”

“À, đợi đã!” anh nói.

Nhưng cô đã gác máy.

Sau khi gác máy, anh xoay người lại và trông thấy những người mới đến ra khỏi thang máy xăm xăm về phía anh. Đi trước là ba người đàn ông, sau là ba người phụ nữ mặc đầm dạ hội. Sau nữa là một đôi vẫn còn ở tuổi teen. Cổ tay gầy nhẳng của cậu con trai thòi ra ngoài ống tay áo vest. Váy của cô con gái thì luộm thuộm vụng về đến thảm hại, chiếc cằm nhỏ của cô bị che khuất bởi một cây phong lan kỳ quái.

Khi đến quãng giữa hành lang, hai cô cậu dừng lại nhìn quanh quất. Cả hai nhìn lên trần nhà, rồi nhìn xuống sàn. Rồi nhìn nhau. Cậu trai thốt lên, “Hoo!” và túm lấy cả hai tay cô gái, và hai đứa cứ thế đứng một lúc, cười ngặt nghẽo rồi cùng bước vào nhà hàng.

Macon theo sau hai đứa. Anh cảm thấy yên lòng nhưng người mệt rũ ra và bụng thì đói meo. Đúng lúc người bồi bàn vừa dọn đồ ăn lên, anh tới bàn mình và gieo người vào ghế.

❀ ❀ ❀

[1] Thiên thần địa ngục - nhóm thanh niên hung bạo chuyên mặc áo da, đi mô tô.

[2] Ông nội Leary dùng hình ảnh center punch (cái dùi) để ám chỉ Sarah nhưng Macon không hiểu, vì thế ông dùng cụm từ center of life (cốt lõi của cuộc đời) cho sát ý hơn.

[3] Một bộ phim về thảm họa, do Irwin Allen đạo diễn năm 1974.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anne Tyler

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.