Macon đang ngồi trong phòng khách sạn ở Winnipeg, Manitoba thì điện thoại reo. Thật ra thì mất một giây anh mới nhận ra tiếng reo của điện thoại. Tình cờ khi ấy anh đang tận hưởng khoảnh khắc thú vị với một vật thể bí ẩn anh vừa mới phát hiện ra - một ống hình trụ bằng kim loại sơn màu ngà được đóng chặt vào khoảng tường ngay bên trên đầu giường. Anh chưa hề để ý đến một thứ đồ vật nào tương tự, mặc dù anh đã từng lưu lại khách sạn này những hai lần trước đây rồi. Khi anh chạm tay vào cái vật hình trụ ấy để tìm hiểu xem đấy là cái gì, nó lập tức xoay rồi biến mất hút vào trong tường, trong khi từ chỗ đó nhô ra một bóng đèn đã được bật. Cùng lúc đó, điện thoại reo. Ngay lập tức Macon thấy bối rối khi tưởng tượng rằng chính cái ống trụ đó reo. Thế rồi anh chợt trông thấy chiếc điện thoại nằm trên tủ ngăn kéo. Anh vẫn còn bối rối. Theo như anh biết thì đâu có ai có số của anh.
Anh nhấc ống nghe lên, “A lô?”
“Macon.”
Tim anh rộn lên, “Sarah?”
“Em có gọi anh không phải lúc không?”
“Không, không... Làm thế nào em biết chỗ ở của anh?”
“À, Julian nghĩ anh đang ở hoặc Toronto hoặc Winnipeg,” cô nói, thế nên em tìm trong cuốn cẩm nang lần trước của anh và biết mấy khách sạn mà anh bảo có tiếng ồn trong đêm là những nơi anh ở, vậy nên...”
“Có chuyện gì không ổn sao?”
“Không, em chỉ nhờ anh một chuyện thôi. Anh thấy được không nếu em chuyển về nhà chúng ta?”
“Ưm...”
“Chỉ ở không thôi,” cô vội nói. “Chỉ một ít hôm thôi. Hợp đồng thuê nhà của em sẽ hết hạn vào cuối tháng này mà em thì chưa tìm ra được căn hộ khác.”
“Nhưng nhà bây giờ bừa bộn lắm,” anh nói với cô.
“Ồ, em sẽ dọn dẹp.”
“Không, ý anh là có chút sự cố xảy ra vào mùa đông vừa rồi, mấy cái ống nước vỡ ra hay gì gì đó, rồi thạch cao trần nhà rơi đầy cả xuống...”
“Vâng, em biết mà.”
“Em biết?”
“Mấy anh của anh cho hay.”
“Anh của anh?”
“Em đến hỏi họ có biết anh ở đâu không khi em gọi điện mà không thấy ai bắt máy. Rose bảo đích thân cô cũng có đến xem nhà thế nào rồi và...”
“Em cũng đến cả nhà Rose nữa hả?”
“Không, Rose ở nhà mấy anh.”
“Ồ.”
“Cô ấy đến ở đó một thời gian.”
Anh hiểu, anh nói. “Thế sao nó về lại nhà?”
“À, June sinh em bé,” Sarah nói, “vậy nên chị ấy bảo Porter đưa bọn trẻ về một thời gian.”
“Nhưng chuyện ấy thì có liên quan gì đến Rose?” anh hỏi. “Có phải Rose tưởng tượng ra rằng Porter không mở nổi hộp xúp cho bọn trẻ? Sao June lại tống bọn trẻ đi thế?”
“Ồ, anh biết June rồi đấy, chị ấy lúc nào cũng ngớ ngẩn kiểu thế.”
Giọng cô nghe vẫn giống như trước đây, khi cô nói ra điều ấy. Từ trước đến nay luôn có chút gì đó cẩn trọng trong giọng nói của cô, chút gì đó cảnh giác và sẵn sàng nín nhịn, nhưng bây giờ trong giọng nói của cô còn mang chút gì đó như thổ lộ tâm tình. Macon ngả lưng vào gối.
“Chị ấy nói với bọn trẻ rằng chị cần thời gian để gần gũi,” Sarah nói.
“Thời gian làm gì?”
“Chị và chồng cần có thời gian để gần gũi đứa bé.”
“Hoàn cảnh nhỉ,” Macon nói.
“Khi Rose biết tin, cô ấy bảo Porter rằng sẽ về nhà. Dù sao thì cô ấy cũng không nghĩ là dạo gần đây mấy ông con trai ăn uống được tươm tất, Porter và Charles ấy; với lại có một vết nứt bên hông nhà nữa nên cô ấy muốn trát lại trước khi nó nứt ra thêm.”
“Nứt thế nào?” Macon hỏi.
“Nứt một ít thôi ở phần vữa chỗ đâu đó; em không biết nữa. Khi trời mưa, nước thấm qua phía trên trần nhà bếp, Rose bảo thế, Porter với Charles cũng định sửa lại chỗ đó thế nhưng cả hai chẳng thống nhất được cách tốt nhất để làm việc này.”
Macon rút chân khỏi giày rồi gác lên giường. Anh nói, “Vậy Julian sống một mình hay sao?”
“Vâng, nhưng cô ấy có mang cho cậu ta món thịt hầm,” Sarah nói. “Thế anh nghĩ về điều đó chưa, Macon?”
Tim anh lại rộn lên lần nữa. Anh bảo, “Anh nghĩ về điều gì?”
“Về việc em ở lại nhà chúng ta ấy.”
“Ồ. Được. Anh không sao, nhưng anh không nghĩ là em biết tường tận về mức độ hư hại.”
“Nhưng ta cũng phải sửa nó bằng mọi giá chứ anh, nếu ta phải bán nó. Thế nên em đang nghĩ: em có thể trả chi phí sửa chữa - bất kỳ chi phí nào bảo hiểm không trả - bằng tiền hàng tháng em vẫn đang trả cho chủ nhà của em. Thế như vậy có công bằng với anh không?”
“Được, đương nhiên rồi,” Macon nói.
“Và có thể em sẽ thuê ai đó giặt giũ nệm ghế,” cô nói.
“Ừ.”
“Cả mấy tấm thảm nữa.”
“Ừ.”
Sau ngần ấy năm, anh biết khi nào là lúc cô đang dẫn dắt việc gì đó. Anh nhận thấy cái tông giọng lãng đãng đó có nghĩa là cô đang cố hết sức cho những gì cô thật sự muốn nói.
“À em nói luôn,” cô nói, “giấy tờ ở chỗ luật sư xong rồi đấy anh.”
“À.”
“Những thủ tục cuối cùng. Anh biết rồi đấy. Những giấy tờ em phải ký.”
“Ừ.”
“Cũng sốc thật đấy.”
Anh không nói gì.
“Ý em là, đương nhiên em biết rằng giấy tờ thủ tục rồi cũng xong; đã gần một năm rồi còn gì; thật ra ông ấy có gọi trước và bảo em rằng giấy tờ đang được gửi đến, nhưng khi thấy chúng bằng giấy trắng mực đen em lại thấy dường như quá nhanh. Chúng chẳng kể lể gì đến những cảm giác trong chuyện này gì cả. Em nghĩ em không mong chờ điều ấy.”
Macon cảm thấy có một mối nguy hiểm nào đó đang đến gần, một cái gì đó anh không thể kiểm soát được. Anh nói, “À! Phải! Hẳn rồi! Ấy chỉ là phản ứng tự nhiên thôi mà. Dẫu sao đi nữa cũng chúc em gặp may với ngôi nhà, Sarah.”
Anh vội gác máy.
❀ ❀ ❀
Người ngồi bên cạnh anh trên chuyến bay đến Edmonton là một bà lão sợ bay. Anh biết điều đó trước khi máy bay nhấc bổng lên khỏi mặt đất, trước cả khi anh nhìn sang phía bà ta. Anh chăm chú nhìn ra ngoài cửa sổ, cố giữ vẻ bình thường, và anh nghe thấy bà nuốt khan từng hồi. Cố bấu chặt thành ghế và rồi buông ra, anh cũng cảm thấy luôn cả điều ấy. Cuối cùng anh ngoảnh sang để xem thử đó là ai. Một cặp mắt có bọng chảy xệ xuống bắt gặp mắt anh. Một bà lão phì nộn trong chiếc váy hoa đang trân trân nhìn anh, có vẻ từ nãy giờ đã rất mong anh quay lại. “Cậu nghĩ máy bay này an toàn,” bà nói giọng ngang ngang, không rõ là hỏi hay là gì.
“Cực kỳ an toàn đấy,” anh bảo bà.
“Thế sao lại có mấy ký hiệu này chứ. Ô xy này. Áo phao này. Lối thoát hiểm này. Rõ ràng để ứng phó với trường hợp tệ nhất có thể xảy ra mà.”
“Ấy chỉ là những quy định của liên bang thôi mà,” Macon nói.
Rồi anh bắt đầu nghĩ về từ “liên bang”. Ở Canada này, nó có áp dụng được không? Anh nheo mắt nhìn vào ghế phía trước, cân nhắc. Rốt cuộc anh nói, “Quy định của chính phủ.” Khi anh quan sát biểu hiện ở bà lão nọ xem điều ấy có khiến bà dễ hiểu hơn không, anh phát hiện có một điều chắc chắn là suốt từ nãy đến giờ mắt bà không rời khỏi anh lấy một giây. Gương mặt bà hướng về phía anh, xanh mét và tuyệt vọng. Anh bắt đầu thấy lo cho bà. “Bà dùng một ly sherry nhé?” anh hỏi.
“Họ đâu có phục vụ sherry trước khi chúng ta lơ lửng trên không. Mà đến lúc ấy thì đã quá muộn rồi.”
“Chờ chút nhé,” anh nói.
Anh khom người kéo khóa túi xách, và lấy ra một chai rượu nhỏ từ chiếc hộp đựng bộ dao cạo. Anh luôn đem theo nó, phòng khi có đêm không ngủ được. Mặc dù vậy, anh chưa bao giờ phải dùng đến nó - không phải là vì anh chưa hề mất ngủ mà là vì anh muốn để dành nó cho một dịp nào đó thậm chí còn nguy khốn hơn, một điều gì đó chưa bao giờ xảy đến. Giống như những thứ khác anh mang theo phòng trường hợp khẩn cấp (hộp đồ khâu cỡ hộp diêm, vỉ thuốc tiêu chảy Lomotil với những viên màu trắng nhỏ xíu), chai rượu bỏ túi này được anh để dành phòng trường hợp thật sự khẩn cấp. Thật ra, cái nắp chai bằng kim loại đã gỉ sét ở bên trong rồi, anh phát hiện ra điều ấy khi mở nó. “Tôi e rượu này có thể đã... quá hạn một chút hay sao đó,” anh nói với bà. Bà không trả lời mà cứ tiếp tục nhìn chằm chằm vào mắt anh. Anh rót sherry vào nắp chai, với lượng khoảng gần hai ly. Trong khi ấy, máy bay cựa mình phát ra tiếng kêu cót két và bắt đầu chạy trên đường băng. Bà lão uống sạch chỗ sherry và đưa lại anh cái nắp. Anh hiểu rằng không phải bà đưa lại cái nắp chai cho anh luôn. Thế nên anh lại rót đầy vào. Lần này bà uống chậm rãi hơn rồi ngả đầu vào thành ghế.
“Ổn hơn không?” anh hỏi bà.
“Tên tôi là bà Daniel Bunn,” bà nói với anh.
Anh nghĩ đó là cách bà cho biết bà đã lấy lại đúng tinh thần của mình - đường hoàng và phép tắc. “Xin chào bà,” anh nói. “Tôi là Macon Leary.”
“Tôi biết nói ra điều này thật ngớ ngẩn, cậu Leary ạ,” bà nói, “nhưng uống một ít rượu như thế sẽ cho ta cái ảo giác rằng ta đang làm điều gì đó để đương đầu với nỗi sợ, phải thế không nhỉ.”
“Đúng vậy,” Macon nói.
Mặc dù vậy, anh không tin rằng bà đã hoàn hoàn khống chế được nỗi sợ ấy. Khi máy bay chuẩn bị nhấc bổng lên khỏi mặt đất, bà bấu chặt một tay lên thành ghế. Bên tay kia - tay phía anh, đang cầm chặt cái nắp chai - mấy móng tay trở nên trắng bợt. Đột nhiên cái nắp chai vuột khỏi nắm tay bà rồi nảy lên không trung. Macon nhanh tay chộp lấy, “Waao, đây rồi!” và vặn cái nắp vào chai. Rồi cho chai rượu vào lại trong túi. Một khi ta lên khỏi mặt đất...” anh nói.
Anh nín bặt khi liếc nhìn mặt bà. Bà lại nuốt khan. Máy bay bắt đầu cất cánh - đầu máy bay hếch lên trên - và bà bị ấn ngược vào lưng ghế. Trông bà như lả đi. “Bà Bunn?” Macon gọi. Anh sợ bà lên cơn đau tim.
Thay vì trả lời, bà quay mặt về phía anh và ngã gục đầu vào vai anh. Anh choàng tay qua người bà. “Không sao đâu,” anh nói. “Ơn Chúa. Bà sẽ ổn thôi mà. Không sao đâu.”
Máy bay tiếp tục nghiêng về phía sau. Khi thiết bị tiếp đất cụp vào (kêu rin rít), Macon cảm thấy một cơn rùng mình chạy dọc theo thân người bà Bunn. Tóc bà có mùi giống như khăn lót cốc trà mới là xong. Lưng bà rộng và giơ cả xương, có hình thù giống như lưng cá voi.
Anh thấy thật ấn tượng khi mà có ai đó đã quá già như vậy rồi mà vẫn còn ham sống mãnh liệt đến thế.
Rồi khi máy bay trôi êm bà ngồi dựa người ra phía sau, cứng đơ và không còn nghiêng về phía anh, quệt nhẹ mấy giọt nước mắt ứa ra chảy xuống mấy nếp nhăn dưới mắt. Mặt bà đầy nếp nhăn, dày và sâu và in hằn, thế nhưng bà lại có đủ can đảm đeo hoa tai ngọc vào đôi dái tai lỗ rỗ thõng thượi và đánh một màu son đỏ chóe lên đôi môi nhăn nheo đến độ không còn thấy đâu là viền môi nữa.
Anh hỏi, “Bà ổn chứ?”
“Vâng, và vô cùng xin lỗi,” bà nói. Rồi vỗ vỗ vào cái ghim hoa nơi cổ áo.
Khi xe đẩy đồ uống đến anh gọi cho bà một ly sherry nữa, anh khăng khăng trả giúp bà, và cũng gọi cho mình một ly dù không có ý định uống. Anh nghĩ nó cần thiết cho bà Bunn. Anh đã đúng, mọi chuyện đã xảy ra như anh nghĩ, vì chuyến bay này xóc một cách bất thường. Tín hiệu thắt dây an toàn luôn để ở chế độ bật, máy bay nảy tưng và phát ra âm thanh kèn kẹt như thể đang lăn trên sỏi. Mỗi lúc nó hạ độ cao đột ngột là bà Bunn co rúm người lại, nhưng bà vẫn nhấp từng ngụm sherry nhỏ. Thế này chẳng là gì cả,” Macon nói vói bà. “Tôi từng đi trên chuyến bay tệ hơn thế này rất nhiều.” Anh hướng dẫn bà cách đối phó với những lần nảy xóc của máy bay. “Giống như đi thuyền vậy thôi,” anh nói. “Hoặc trên bánh xe, trên giày trượt pa tanh cũng thế. Bà hãy thả lỏng đầu gối. Gập người lại. Bà hiểu những gì tôi đang nói không? Bà đi cùng nó. Bà cưỡi nó.”
Bà Bunn nói bà sẽ cố.
Không chỉ máy bay cứ lên xuống thất thường, bên trong khoang mấy đồ vật nhỏ cũng không yên. Chiếc xe đẩy đồ uống cứ chực chạy khỏi cô tiếp viên mỗi khi cô buông tay. Cái khay đồ ăn của bà Bunn rơi tõm xuống lòng bà những hai lần không có lấy một dấu hiệu nào báo trước. Mỗi khi việc đó xảy ra, Macon lại bật cười bảo, “Ôi trời,” và lắc đầu. “Ồ, không phải chứ,” anh nói. Mắt bà Bunn vẫn dán chặt vào mặt anh, như thể Macon là nguồn hy vọng duy nhất của bà. Một lần có một tiếng động mạnh và người bà lại nảy bật lên; cánh cửa buồng lái không hiểu vì lý do gì bỗng bật tung ra. “Gì thế? Gì thế?” bà hốt hoảng, nhưng Macon chỉ cho bà thấy rằng giờ thì bà đã có thể tự mình chứng kiến tay phi công chả hề lo lắng tí gì ra sao. Hai người ngồi khá gần buồng lái nên bà có thể nghe những điều viên phi công nói; anh ta đang hét to gì đó với người đồng sự, thắc mắc tại sao bất kỳ đứa con gái mười tuổi trí óc chưa phát triển bao nhiêu cũng học đòi đeo niềng răng kim loại trong một căn phòng tắm hơi. “Bà có nghĩ người đàn ông đó đang lo lắng không? Macon hỏi bà Bunn. “Bà có nghĩ một người đàn ông sắp nhảy dù ra khỏi máy bay lại có thể bàn cãi về thuật chỉnh răng?”
“Nhảy dù!” bà Bunn giật nảy người. “Ồ, tôi chưa từng nghĩ về điều ấy!”
Macon lại bật cười.
Anh chợt nhớ lại chuyến đi xa một mình khi còn bé, chuyến tham quan các trường đại học. Lâng lâng với sự tự do không bị ai kèm cặp, anh đã nói dối người đàn ông ngồi bên cạnh rằng anh đến từ Kenya nơi ba anh đang đi săn. Giờ anh cũng đang dối gạt y hệt vậy, thể hiện trước bà Bunn như một người vui tính và kiên nhẫn.
Nhưng sau khi họ hạ cánh (bà Bunn hầu như không sao, nhờ vào mấy ly sherry ấy trên máy bay), và bà đã đi khỏi cùng với chị con gái, một đứa trẻ còn rất nhỏ tuổi chạy đâm sầm vào đầu gối anh. Theo sau nó còn một đứa nữa, rồi một đứa nữa, tất cả suýt soát tuổi nhau - chắc đang học mẫu giáo, Macon nghĩ vậy, đến tham quan sân bay trong một chuyến đi thực địa - và mỗi đứa, như thể hoàn toàn không có khả năng xác định phương hướng, cứ chạy loạn xạ cả lên rồi đâm sầm vào đầu gối Macon. “Oái!” Tiếng kêu la râm ran suốt cả dãy như tiếng chim kêu - “Oái!” “Oái!” “Oái!” - trong khi đằng sau bọn trẻ, một người phụ nữ có vẻ mặt lo lắng đang vỗ vỗ tay lên má. Xin lỗi, cô nói với Macon, và anh bảo, “Không sao đâu.”
Chỉ sau đó, khi đi ngang một tấm gương, anh mới nhận ra rằng, thật ra có thể anh đã không dối gạt bà Bunn chút nào cả.
❀ ❀ ❀
“Người thợ ống nước bảo sửa chẳng khó khăn gì mấy,” Sarah nói với anh. “Ông ta bảo trông thì tệ thật đấy nhưng chỉ có một ống bị vỡ thôi.”
“Ồ, vậy thì tốt,” Macon nói.
Đương nhiên cuộc gọi lần này của cô không làm anh ngạc nhiên, nhưng anh vẫn cảm thấy có gì đó khiến mình luống cuống – đứng trong phòng khách sạn Edmonton vào một buổi chiều trong tuần, nghe giọng nói Sarah ở tít đầu dây bên kia.
“Sáng nay em qua nhà và quả là có hơi sửng sốt, mọi thứ thật bề bộn.”
“Bề bộn?”
“Tại sao có những tấm ga bị khâu gấp lại vậy? Và hộp đựng bắp rang bơ trong phòng ngủ nữa. Anh ăn bắp rang bơ trong phòng ngủ hả?”
“Ừ, chắc vậy.”
Anh đứng gần ô cửa sổ để ngỏ, và có thể nhìn bao quát phong cảnh đẹp đến lạ lùng ở bên ngoài: một dải đất rộng phẳng lì với những tòa nhà vuông vức nổi lên phía xa xa giống như các khối đồ chơi của một em nhỏ được xếp trên một tấm thảm. Với phong cảnh xung quanh thế này, thật khó có thể nhớ được tại sao lại có hộp đựng bắp rang bơ trong phòng ngủ.
“Vậy thời tiết ở đó ra sao, anh?” Sarah hỏi.
“Xám xịt.”
“Ở đây trời nắng. Nắng và ẩm.”
“À, ở đây thì không ẩm,” anh bảo cô. “Không khí khô đến độ mưa biến mất trước khi kịp rơi xuống đất.”
“Thật à? Thế sao anh nói trời đang mưa?”
“Ta có thể thấy nó ở phía trên đồng bằng. Giống như các vệt sọc mờ dần đi ở lưng chừng trời.”
“Em ước được ở đó để xem cùng anh.”
Macon nuốt nước bọt.
Khi đang nhìn chằm chằm ra cửa sổ, anh bỗng nhiên hồi tưởng lại lúc Ethan vừa mới sinh. Ethan thường khóc khi không được quấn chặt vào trong mền; bác sĩ nhi bảo những em bé mới sinh thường rất sợ bị chơi vơi, không có gì để bám víu. Macon đã không thể nào hình dung được điều ấy vào lúc đó, nhưng giờ đây anh đã có thể cảm nhận được. Anh thấy mình đang bị tách ra, thành từng mẩu nhỏ, đầu anh trôi đi nhanh một cách khủng khiếp trong không gian xanh đến kỳ quái của vùng Alberta.
❀ ❀ ❀
Tại Vancouver cô hỏi liệu mưa ở đó có biến mất như thế không. “Không,” anh nói.
“Không hả?”
“Không, ở Vancouver trời đang mưa.”
Trời đang mưa - mưa đêm nhẹ hạt. Anh có thể nghe thấy chứ không nhìn thấy, ngoại trừ mấy giọt nước chảy xuống bên dưới đèn đường ngay bên ngoài phòng anh. Mà cũng có thể cho rằng chính cái đèn đang mưa cũng được.
“À, em đã chuyển về nhà,” cô nói. “Hầu như em chỉ ở trên lầu thôi. Con mèo và em: chúng em dồn cả vào phòng ngủ. Chỉ xuống lầu khi ăn thôi.”
“Mèo nào?” anh hỏi.
“Helen chứ còn con mèo nào nữa.”
“Ồ, thế à.”
“Em đến chỗ Rose mang nó về. Em cần có bầu bạn. Anh có biết cô đơn là gì đâu.”
Có, anh biết chứ, anh có thể nói vậy. Nhưng đã không nói.
Vậy là giờ đây họ lại trở về vị trí như cũ, anh có thể nói rằng: Anh đã có được sự quan tâm của cô chỉ bằng cách rút lui. Anh không thấy ngạc nhiên khi cô hỏi, “Macon à? Có phải anh... Tên cô ấy là gì nhỉ? Người anh sống cùng ấy?”
“Muriel,” anh nói.
Anh ngờ rằng cô đã biết trước điều mình vừa hỏi.
“Anh có định sống luôn vói Muriel không?”
“Anh thật sự không thể nói được,” anh nói.
Anh nhận thấy cái tên ấy lơ lửng trong căn phòng lỗi thời thô cứng này mới kỳ cục làm sao. Muriel. Thật là một âm thanh khác thường. Đột nhiên thật xa lạ.
❀ ❀ ❀
Trên chuyến bay trở về, người ngồi cạnh anh là một phụ nữ trẻ hấp dẫn mặc bộ vest cắt may. Cô dàn mấy thứ trong va li lên trên chiếc bàn xếp trước mặt, và loạt xoạt lôi ra mấy tờ giấy từ một xấp giấy in bằng đôi bàn tay được chăm sóc kỹ lưỡng. Rồi cô hỏi anh có cây bút nào không cho cô mượn. Anh thấy ngạc nhiên - vẻ đẹp thật sự của cô toát lên bên dưới cái vẻ ngoài doanh nhân. Tuy nhiên, cây bút duy nhất anh mang theo là cây bút máy mà anh không thích cho ai mượn, nên anh nói không. Cô có vẻ nhẹ nhõm; vui vẻ cất lại tất cả mấy thứ đồ đã lấy ra từ va li. “Tôi thề là đã xoáy một cây bút bi từ khách sạn trước,” cô nói, “nhưng chẳng rõ nó đã lẩn đi đằng nào rồi.”
“Chắc là cô đi du lịch nhiều lắm nhỉ,” Macon nói một cách nhã nhặn.
“Tôi á? Có những buổi sáng khi tỉnh dậy tôi phải nhìn ngó quanh quất mấy thứ đồ dùng trong khách sạn để biết mình đang ở thành phố nào.”
“Kinh nhỉ.”
“Ồ, tôi thích vậy mà,” cô nói, khom người xuống nhét va li vào dưới gầm ghế. “Ấy là cách duy nhất khiến tôi cảm thấy thoải mái. Cứ hễ về đến nhà là tôi lại thấy bồn chồn suốt, không thể ngồi yên được. Tôi thích là một... thứ gì đó luôn ở trong trạng thái động, có thể nói như vậy.”
Macon nghĩ tới một điều có lần anh đã đọc được về chất heroin: rằng nó không phải là một niềm vui thú, thật sự vậy, nhưng nó hoàn toàn biến đổi thể chất cơ thể người dùng khiến họ buộc phải tiếp tục hít một khi đã bập vào.
Anh từ chối dùng đồ uống và bữa tối, người ngồi cạnh anh cũng vậy; cô khéo léo cuộn chiếc áo vest thành gối và lim dim ngủ. Macon lấy cuốn Miss MacIntosh ra và nhìn chăm chú vào một trang mất một lúc. Hàng chữ đầu tiên bắt đầu với lông mày dựng dứng, tóc cô lốm đốm nhiều sợi bạc. Anh ngắm nghía mấy từ ấy lâu đến độ gần như đã băn khoăn tự hỏi liệu chúng có phải là từ không; cả thứ ngôn ngữ tiếng Anh dường như thật lùn và chắc mập. “Kính chào quý khách,” tiếng loa phóng thanh vang lên, “chúng ta chuẩn bị xuống thấp...” và cụm từ “xuống thấp” đập vào suy nghĩ của anh như một sáng kiến, một lối nói trại do hãng hàng không đặt ra.
Sau khi hạ cánh xuống Baltimore, anh lên xe buýt đến bãi lấy xe ra. Trời đã tối muộn, bầu trời nhàn nhạt và lấp lánh bên trên thành phố. Khi lái xe, anh lại tiếp tục nghĩ về mấy từ trong cuốn Miss MacIntosh. Đầu anh vẫn thấy ong ong giọng nói êm mượt của cô tiếp viên hàng không: đồ uống bổ sung và cơ trưởng đã yêu cầu chúng ta và bàn xếp ở vị trí thẳng đứng. Anh nghĩ đến việc bật radio lên nhưng anh không biết nó đang để ở kênh nào. Có thể đang ở chương trình nhạc đồng quê của Muriel cũng nên. Khả năng ấy khiến anh cảm thấy rã rời; anh cảm thấy không còn đủ sức nhấn nút nữa và do vậy cứ thế lái đi trong im lặng.
Anh đến phố Singleton và bật xi nhan nhưng không rẽ vào. Sau một lúc, tín hiệu tự động ngắt. Anh tiếp tục lái qua thành phố, lên đường Charles, đi vào khu phố cũ của anh. Anh đỗ xe lại, tắt máy rồi ngồi yên nhìn ngôi nhà. Mấy cửa sổ tầng dưới tối om. Cửa sổ trên lầu đèn sáng nhờ nhờ. Rõ ràng, anh đã về đến nhà mình.