Sarah gọi điện hỏi Macon liệu cô có thể về nhà lấy tấm thảm xanh hải quân trong phòng ăn không.
“Thảm xanh hải quân,” Macon lặp lại. (Anh đang đánh trống lảng để câu giờ.)
“Em không định lấy nó đâu, nhưng tại vì anh chẳng bao giờ thích tấm thảm ấy,” Sarah bảo. “Anh nói trải thảm phòng ăn là sai lầm.”
Đúng thế thật, anh đã từng nói như vậy. Một thứ chỉ tổ bám bụi, anh đã bảo thế. Mất vệ sinh. Thế thì có sao đột nhiên trong anh lại cuộn lên mong muốn giữ lại tấm thảm ấy?
“Macon, anh còn đó không?”
“Anh đây.”
“Vậy em tới lấy nhé, anh không phiền chứ?”
“Không, chắc là không.”
“Ồ, vậy được rồi. Căn hộ của em sàn nhà vẫn chưa có thảm trải và anh không biết là...”
Cô sẽ ghé qua lấy tấm thảm ấy, và anh sẽ đón cô vào. Anh sẽ mang cho cô một cốc rượu sherry. Hai người sẽ ngồi trên trường kỷ với cốc sherry của mình và anh sẽ nói, Sarah à, em có nhớ anh không?” À không, anh sẽ nói, “Anh nhớ em, Sarah à.”
Cô sẽ nói...
Cô lên tiếng, “Em nghĩ nếu tiện sáng Chủ nhật em sẽ ghé qua.”
Thế nhưng người ta chẳng ai lại uống sherry vào buổi sáng.
Và hơn thế nữa: Hôm ấy anh không có nhà. “Chiều mai anh bay sang Anh,” anh bảo.
“Ồ, lại đến lúc đi Anh nữa rồi à?”
“Hay là em về tối nay?”
“Không được, xe em đang sửa.”
“Xe em? Hỏng gì?”
“À, em đang lái và... anh có biết cái đèn đỏ nhỏ xíu bên phải bảng đồng hồ xe không?”
“Cái gì, đèn báo áp suất dầu hả?”
“Ừ, em cũng nghĩ vậy. Vậy đấy, em sẽ muộn giờ hẹn với bác sĩ răng nếu kiểm tra xem nó thế nào và dù sao thì cái xe có vẻ chạy rất ổn, thế nên...”
“Gượm đã. Có phải em nói là cái đèn đó sáng lên? Nhưng rồi em vẫn cứ thế cho xe chạy?”
“À, tiếng xe không có gì khác, cách nó chạy cũng vẫn bình thường, thế nên em nghĩ...”
“Chúa ơi, Sarah.”
“Như thế có gì tệ lắm sao?”
“Có thể em đã làm hỏng động cơ rồi đấy.”
“Không đâu, em không làm hỏng động cơ như anh nói đâu. Em chỉ phải mang nó đi sửa chút thôi, không may lại mất vài ngày mới xong. Ồ, không sao đâu. Em có chìa khóa nhà mà. Em sẽ tự mở cửa vào khi ghé qua vào thứ Bảy.”
“Hay là để anh mang tấm thảm qua cho em.”
“Thứ Bảy em sẽ qua lấy.”
“Để anh xem căn hộ của em thế nào,” Macon nói. “Anh chưa vào trong lần nào, em biết rồi đấy.”
“Không được, em chưa dọn dẹp ngăn nắp.”
“Anh không quan tâm đến điều đó đâu.”
“Lộn xộn lắm. Em chưa mó tay vào việc gì.”
“Làm thế nào mà như thế được chứ? Em đã ở đó hơn một tháng rồi còn gì.”
“À, em đâu phải là người có năng lực cực kỳ xuất sắc như anh, Macon.”
“Em không cần phải có năng lực để...”
“Có những hôm,” Sarah nói, “thậm chí em tìm mãi không thấy áo choàng tắm đâu nữa kia.”
Macon im lặng.
“Lẽ ra em nên nhận dạy hè,” Sarah nói. “Có việc gì đó để làm nhiều khi lại tốt hơn. Mỗi sáng em thức dậy, mở to mắt và nghĩ, 'Sao lại phải dậy nhỉ?’ ”
“Anh cũng thế,” Macon nói.
“Sao lại phải ăn? Sao lại phải hít thở?”
“Em yêu, anh cũng như vậy.”
“Macon à, anh có cho rằng cái người đó cũng có suy nghĩ không? Em muốn xông thẳng vào nhà tù để nhìn cho tận mặt hắn, Macon à. Em muốn ngồi bên ngoài song sắt, hay khung lưới hay bất kể là cái gì và em sẽ nói, ‘Nhìn vào tao đây này. Nhìn đi. Nhìn vào những gì mày gây ra đây này. Mày không chỉ giết chết những người mày bắn hôm ấy; mày còn giết cả những người khác nữa. Hậu quả của những gì mày làm sẽ không bao giờ kết thúc. Mày không chỉ giết chết con trai tao; mày còn giết cả tao; cả chồng tao. Tao thậm chí còn không thể kéo nổi cái rèm cửa nữa; mày có hiểu những gì mày gây ra không hả?’ Khi đã biết chắc rằng hắn đã thật sự nhận ra, rằng hắn cảm thấy việc hắn làm thật kinh khủng, em sẽ mở ví, rút súng ra, và nhắm vào giữa trán hắn mà bóp cò.”
“Ồ, em yêu...”
“Anh nghĩ em chỉ nói vậy cho hả thôi chứ gì. Nhưng Macon, em thề đấy, em có thể cảm thấy cái giật nhẹ của báng súng vào lòng bàn tay khi em bóp cò. Trong đời mình em chưa một lần bắn súng – Thề có Chúa, em chưa từng thấy súng. Điều đó chẳng phải là kỳ quặc lắm sao? Ethan đã thấy súng; Ethan đã có một trải nghiệm mà cả anh và em đều không hề có một ý niệm nào. Nhưng đôi khi em giơ tay ra, ngón tay cái vống lên giống như bọn trẻ chơi trò cao bồi, và ngón tay trỏ hơi cong lại, em thầy trong lòng dâng lên một cảm giác thỏa mãn.”
“Sarah, em nói thế anh thấy không ổn chút nào.”
“Hả? Thế anh bảo em phải nói sao bây giờ?”
“Ý anh là nếu em cứ giữ sự căm giận trong người mãi như thế em sẽ... quỵ mất. Em sẽ tự thiêu cháy mình mất thôi, bằng ngọn lửa căm hờn đó. Chẳng lợi lộc gì.”
“Lợi lộc! Trời ơi, không phải chứ, đừng phí hoài thời gian vào bất cứ thứ gì không mang lai lợi lộc.
Macon xoa xoa trán. Anh nói, “Sarah, anh chỉ cám thấy chúng mình không đủ sức để đắm chìm mãi trong những suy nghĩ kiểu ấy.”
“Anh nói thật dễ.”
“Quái quỷ! Không dễ dàng gì...”
“Cứ đóng cửa lại, Macon, cứ đi đi. Cứ giả vờ như chưa hề có gì xảy ra. Hãy đi mà sắp xếp lại cái đống dụng cụ của anh đi, sao lại không chứ; hãy cứ cố xoay chuyển cái tồi tệ nhất thành điều nhẹ nhàng nhất, thay vì từ điều nhẹ nhàng nhất đến cái tồi tệ nhất; thế mới vui.”
“Mẹ kiếp, Sarah, em...”
“Không phải anh đang chửi thề vào mặt em đấy chứ, Macon Leary!”
Họ im lặng một lúc.
Macon lên tiếng trước, “Được.”
Sarah bảo, “Ừm, sao cũng được.”
“Em cứ về nhà trong lúc anh đi vắng,” anh nói.
“Nếu được.”
“Hẳn rồi,” anh bảo thế mặc dù khi gác ống nghe xuống anh có cảm giác khó chịu không lý giải nổi, như thể anh đã để cho một kẻ xa lạ vào nhà mình. Như thể cô về sẽ khuân đi nhiều thứ khác nữa chứ không chỉ mỗi tấm thảm nơi phòng ăn.
❀ ❀ ❀
Chuẩn bị cho chuyến đi Anh, Macon chọn bộ đồ khiến anh thấy thoải mái nhất. Một bộ là đủ, anh đã viết như thế trong những cuốn sách hướng dẫn du lịch của mình, nếu bạn đem theo chất tẩy đựng trong các gói cỡ nhỏ dành cho du lịch. (Macon biết tất tần tật mọi thứ người ta có thể cho vào các gói nhỏ kiểu như vậy, từ chai nước thơm khử mùi cho đến hộp xi giày.) Nên mặc bộ đồ hơi xám. Màu như vậy không những lâu bẩn, mà còn rất tiện khi ngộ nhỡ phải dự một đám tang bất ngờ, hay phòng khi phải tham gia những sự kiên trọng đại. Và màu ấy cũng không quá sẫm, thế nên có thể mặc thường ngày được.
Anh cho vào va li số quần áo ít nhất có thể và một bộ dao cạo râu. Một cuốn sách anh viết gần đây về những chỉ dẫn khi đi du lịch ở Anh. Một cuốn tiểu thuyết để đọc trên máy bay.
Hãy mang những thứ vừa vặn với cái túi có thể mang theo bên mình. Gửi và nhận hành lý chỉ tổ rước thêm phiền phức. Hãy bỏ thêm một vài gói bột giặt cỡ nhỏ dành cho du lịch vào túi, để bạn khỏi rơi vào tay những bà chủ tiệm giặt ngoại quốc.
Sau khi sắp xếp hành lý xong, anh ngồi nghỉ trên chiếc trường kỷ. Hay nói đúng ra là anh không nghỉ mà chỉ ngồi như thế để trấn tĩnh lại - giống như một người đang hít thật sâu nhiều lần để chuẩn bị cho cú lặn của mình.
Đồ đạc được sắp đặt đâu ra đó thành những đường thẳng tắp và những mép cong vui mắt. Những hạt bụi lơ lửng trong vạt nắng chiếu nghiêng. Cuộc sống của anh lúc này mới bình yên làm sao! Nếu hôm nay không phải đi Anh, nếu hôm nay là một hôm nào đấy khác, anh có thể đã đi pha một tách cà phê hòa tan rồi. Anh sẽ thả chiếc muỗng rơi tõm vào bồn rửa chén và đứng đó nhâm nhi từng ngụm cà phê trong khi con mèo cọ qua cọ lại dưới chân. Và rồi anh có thể sẽ mở hộp thư. Những việc như thế lúc này mới đáng yêu và thư thái làm sao. Thế thì anh còn ta than gì được nữa? Ở nhà mọi thứ đã ổn thỏa, anh không cần phải lo lắng gì. Chuyến đi cũng đã được chuẩn bị xong từ những thứ nhỏ nhặt nhất sau nhiều nỗ lực và cân nhắc.
Khi chỉ còn hai giờ nữa là máy bay cất cánh, anh đứng dậy. Sân bay cách nhà chừng ba mươi phút lái xe, nhưng anh không thích cảm giác vội vã. Anh đảo một vòng hết các phòng trong nhà, dừng lại nơi phòng tắm tầng một - cái phòng tắm đích thực (theo cách nghĩ của anh) mà tuần sau anh mới được tắm trong đó. Anh huýt sáo gọi con chó. Anh xốc chiếc túi lên, và bước ra nơi cửa trước. Hơi nóng bên ngoài táp vào anh đặc quánh.
Con chó chỉ đi với anh một đoạn tới nhà bác sĩ thú y thôi. Nếu biết vậy, còn lâu nó mới chịu phốc lên xe. Ngồi bên cạnh Macon, con chó thở hào hển ra dáng hăng hái, cái bộ dạng trùng trục của nó loay hoay ra chiều mong ngóng. Macon nói với nó theo cách anh hy vọng rằng không khiến nó hoảng, “Nóng, phải không Edward. Mày muốn bật điều hòa lên không?” Anh điều chỉnh chế độ điều hòa. “Rồi đó. Dễ chịu hơn chưa?” Anh thấy có gì đó giả tạo trong giọng mình. Có lẽ Edward cũng có cảm giác như thế nên nó khựng lại và ném về phía anh ánh mắt ngờ vực thảng thốt. Macon quyết định không nói thêm gì.
Họ đi vòng vèo qua khu phố, chạy xuống những con đường rợp bóng cây. Rồi rẽ vào một khu phố nhiều nắng hơn với những cửa hiệu và dịch vụ. Khi họ đến gần đại lộ Murray, Edward bắt đầu rên ư ử. Tại bãi đậu xe của bệnh viện thú y trên đại lộ Murray, nó co rúm người lại như thể biến thành một chú chó con bé tẹo.
Macon ra khỏi xe và đi vòng ra sau để mở cửa. Khi anh nắm vòng cổ lôi nó ra, Edward bấu chặt lấy lớp da bọc ghế. Và cứ thế con Edward bị lôi đi với bốn chân cào soàn soạt xuống mặt đường bê tông bỏng nắng cho tới tận tòa nhà.
Phòng đợi không có ai. Một bể cá vàng sủi tăm nơi góc nhà, trên bể cá là một tấm áp phích sặc sỡ mô tả vòng đời của con bọ chó. Phía sau quầy, một cô gái đang ngồi trên chiếc ghế đẩu, dáng người nhỏ xíu trong chiếc áo đầm hở vai có thắt dây vòng qua cô.
“Tôi mang chó đến gửi,” Macon nói. Anh phải lên giọng để át đi tiếng rên rỉ của Edward.
Vẫn nhai kẹo cao su, cô gái đưa anh một tờ đơn in sẵn và cây bút chì. “Đã gửi ở đây lần nào chưa?” cô hỏi.
“Có, cũng thường.”
“Họ là gì?”
"Leary."
“Leary. Leary,” cô nói, lật nhanh các tấm thẻ trong hộp. Macon bắt đầu điền thông tin vào mẫu. Edward giờ đã đứng thẳng lên và bám chặt lấy đầu gối anh, trông giống như đứa bé mới biết đi sợ bị đưa vào vườn trẻ.
“Ôi chao,” cô gái nói.
Cô nhíu mày nhìn chiếc thẻ vừa mới lấy ra khỏi hộp.
“Edward?” cô nói. “Trên đường Rayford?”
“Đúng rồi.”
“Chúng tôi không nhận nó được.”
“Cái gì?”
“Có lần nó đã cắn một người phục vụ. Này, trên thẻ có ghi rõ, ‘Đã cắn vào mắt cá chân của Barry, không được nhận lần sau.
‘Có ai nói cho tôi biết đâu.”
“Ồ, lẽ ra họ phải nói rồi chứ.”
Chẳng ai nói gì cả! Vào tháng Sáu tôi đã gửi nó lại đây khi chúng tôi đi biển; tôi về và họ trao nó lại cho tôi.”
Cô gái chớp mắt nhìn anh, không biểu lộ cảm xúc gì.
“Cô trông đây này,” Macon nói. “Tôi đang trên đường tới sân bay, đến giờ rồi. Tôi phải tới đúng giờ lên máy bay.”
“Tôi chỉ làm theo lệnh thôi,” cô gái bảo.
''Vậy giờ phải làm gì với nó đây?” Macon hỏi. “Đã có ai tìm hiểu việc đó chưa? Có thể con Edward làm vậy là vì một lý do nào đó!”
Cô gái lại chớp mắt. Edward giờ đã đứng xuống bằng bốn chân và nhìn lên với vẻ hóng hớt, như đang dõi theo cuộc nói chuyện.
“Ôi chết tiệt,” Macon nói. “Thôi đi nào, Edward.”
Giờ thì anh không cần phải lôi cổ nó đi như lúc vào nữa. Edward chạy chồm về phía trước phóng thẳng tới bãi đậu xe.
Chỉ có một lúc mà nhiệt độ trong xe tăng lên như trong lò nung. Macon mở cửa kính và ngồi im đó, không khởi động xe. Làm thế nào bây giờ? Anh nghĩ đến việc tới gửi nhà em gái, nhưng có lẽ cô cũng không chịu nhận Edward. Thật ra, đây không phải lần đầu tiên anh nghe phàn nàn về Edward. Nói đâu xa, mới tuần rồi, anh trai Macon - Charles - tạt qua mượn cái bào soi, và Edward lao ra như tên bắn làm một vòng ngoạn mục quanh chân anh, nhay lấy nhay để gấu quần anh. Charles kinh ngạc đến độ chỉ biết từ từ ngoái đầu lại đằng sau và nói như hụt hơi, “Cái gì khiến nó dở chứng ra như thế hả? anh hỏi. Trước đây có bao giờ nó cư xử vậy đâu chứ.” Và rồi khi Macon chộp lấy vòng cổ nó, Edward đã gừ lên. Nó xếch hai mép trên lên và gừ. Lẽ nào chó cũng có chuyện suy sụp tinh thần sao?
Macon không mấy thân thiện với lũ chó. Anh thích mèo hơn. Anh thích cái cách lũ mèo trầm ngâm tư lự. Chỉ gần đây Macon mới để ý đến Edward. Giờ thì anh quá cô đơn, thế nên bắt đầu trò chuyện huyên thuyên với nó, hay có lúc anh chỉ ngồi ngắm nó thôi. Anh ngưỡng mộ đôi mắt xám thông minh và nét mặt hao hao mặt cáo của nó. Anh ngắm nghía những lọn lông xoắn màu mật ong ánh lên hai bên sống mũi của nó. Và cái dáng đi của nó nữa chứ! Trước đây Ethan hay nói rằng Eward đi như thể trong bộ da của nó chứa toàn là cát vậy. Nó ngoáy mông không ngớt; bốn cái chân ngắn mập thì trông như được xếp đều đặn hơn bất cứ chân của con chó cao nào.
Giờ Macon đang lái xe về nhà, vì chẳng nghĩ ra được ý tưởng khả dĩ nào cho Edward. Anh tự hỏi không biết điều gì sẽ xảy ra nếu anh để Edward ở nhà như cái cách anh vẫn thường làm với con mèo, để sẵn nhiều đồ ăn và nước uống. Không được. Hay là liệu Sarah có thể đến trông chừng nó ngày vài ba bận gì đấy không nhỉ? Anh vội gạt ý nghĩ đó ra khỏi đầu; điều đó có nghĩa là phải nhờ vả đến cô. Có nghĩa là phải quay cái số điện thoại mà lâu nay anh không hề dùng tới để nhờ cô giúp đỡ.
Trông thấy biển hiệu BỆNH VIỆN THÚ Y MEOW-BOW, Macon nhấn phanh, con Edward nảy chồm về phía trước. “Xin lỗi mày,” Macon nói với nó. Anh cua trái vào bãi đỗ xe.
Phòng đợi nồng nặc mùi tẩy uế. Đứng phía sau quầy là một phụ nữ trẻ gầy gò khoác chiếc áo blouse có diềm đăng ten nơi cô. Tóc cô màu đen được uốn xoăn, và dày đến độ phủ xuống hai bên vai trông như chiếc khăn trùm đầu của người Ả rập. “Xin chào,” cô nói với Macon.
Macon hỏi, “Ở đây có nhận gửi chó không?”
“Có chứ.”
“Tôi muốn gửi con Edward lại đây.”
Cô chồm người qua quầy để trông Edward cho rõ. Edward nhìn lên hí hửng ra mặt. Rõ ràng là nó không ý thức được mình đang ở chỗ nào.
“Anh có đăng ký trước không?” người phụ nữ hỏi Macon.
“Đăng ký trước? Không.”
“Hầu như ai cũng đăng ký trước cả.”
“Ồ, tôi đâu có biết.”
“Đặc biệt là trong mùa hè thế này.”
“Không thể có ngoại lệ được sao cô?”
Cô ngẫm nghĩ, nhíu mày nhìn Edward. Cô có đôi mắt nhỏ tí hệt như quả caraway[1], khuôn mặt thì sắc nét và nhợt nhạt.
“Làm ơn đi cô,” Macon nói. “Tôi sắp bay rồi. Tôi phải đi vắng một tuần mà không ai trông coi nó cả. Nói thật với cô, tôi hết cách rồi.”
Qua cái liếc nhanh của cô anh có cảm giác mình đã khiến cô ngạc nhiên. “Anh không thể để nó ở nhà cho vợ trông sao?” cô hỏi.
Anh tự hỏi thế quái nào mà óc cô nàng lại nảy ra cái ý như thế.
“Nếu tôi mà có thể làm vậy,” anh nói, “thì việc gì tôi phải đứng đây chứ?”
“Ồ”, cô nói. “Anh không có vợ hả?”
“À có chứ, nhưng cô ấy... đang sống nơi khác. Chỗ ấy họ không cho nuôi thú cưng.”
“Ồ.”
Cô bước ra khỏi quầy. Vận chiếc quần soóc ngắn màu đỏ, cô để lộ đôi chân khẳng khiu như hai cái que. “Tôi cũng đã ly dị,” cô nói. “Tôi hiểu cảm giác của anh.”
“Cô xem,” Macon nói, “nơi tôi vẫn thường gửi Edward đột nhiên buộc tội nó cắn người. Cắn một nhân viên phục vụ, và thế là họ không chịu nhận nó nữa.”
“Edward này? Mày có cắn không đấy?” cô hỏi.
Macon chợt thấy lẽ ra anh không nên đả động đến chuyện đó, nhưng cô dường như chẳng để tâm. “Sao mà mày có thể làm thế được chứ, nhỉ?” cô hỏi Edward. Edward lộ vẻ sung sướng, vểnh cả hai tai lên ra chiều muốn được vỗ về. Cô khom người vuốt vuốt đầu nó.
“Thế cô nhận nó chứ?” Macon hỏi.
“Ồ, chắc là được,” cô nói, giọng dứt khoát. “Nếu anh không còn cách nào khác.” Cô nhấn mạnh từ không - đôi mắt nhỏ màu nâu nhìn thẳng vào anh - như thể muốn anh thấy câu nói đó của cô nằm vượt xa mong đợi của anh. “Hãy điền vào đây,” cô bảo rồi lấy một mẫu đăng ký trên quầy đưa cho anh. “Tên của anh, địa chỉ, và ngày về. Đừng quên ghi rõ ngày anh về đấy nhé.”
Macon gật đầu, mở nắp cây bút mực.
“Có thể tôi sẽ gặp lại anh khi anh đến nhận lại con chó,” cô nói. Ý tôi là nếu anh ghi rõ thời gian anh về để tôi còn biết. Tên tôi là Muriel.”
“Ở đây buổi tối có mở cửa không cô?” Macon hỏi.
“Tối nào cũng mở, trừ Chủ nhật. Mở đến tám giờ.”
“Ồ, vậy thì tốt.”
“Muriel Pritchett,” cô nói.
Macon điền vào mẫu đăng ký trong khi cô quỳ xuống bên Edward nới lỏng dây cổ cho nó. Edward liếm liếm gò má cô; hẳn là nó nghĩ cô chỉ đang tỏ ra thân thiện thôi. Thế nên khi Macon điền xong phiếu, anh không chào tạm biệt, đặt phiếu lên quầy và bước nhanh ra ngoài, thọc tay vào túi quần để giữ chùm chìa khóa khỏi va nhau loẻng xoẻng.
❀ ❀ ❀
Trên chuyến bay đến New York, anh ngồi cạnh một người đàn ông để ria có vẻ giống người ngoại quốc. Ông ta đang nghe nhạc qua tai nghe. Thật lý tưởng: không phải trò chuyện gì. Macon ngả người ra ghế hài lòng.
Anh luôn ủng hộ việc đi lại bằng máy bay. Khi thời tiết êm ả, ta thậm chí chẳng thể biết được là ta đang di chuyển. Ta có thể vờ như đang ngồi yên ổn tại nhà. Phong cảnh bên ngoài luôn giống nhau - không khí và không khí - còn bên trong máy bay thì gần như có thể thay thế cho bất cứ nơi nào khác.
Anh không lấy bất cứ thứ gì từ chiếc xe đẩy phục vụ đồ uống, nhưng người đàn ông ngồi cạnh anh tháo tai nghe ra gọi mọt ly cocktail Bloody Mary. Một giai điệu Trung Đông rối rắm rỉ ra từ hai núm xốp màu hồng. Macon nhìn xuống chiếc máy nhỏ tí và tự hỏi liệu anh có nên mua môt chiếc không. Chẳng phải để nghe nhạc gì sất, thề có Chúa - thế giới này đã đủ ồn ã rồi - mà chỉ là để tránh nói chuyện với người khác thôi. Anh có thể gắn tai nghe vào và thế là chăng ai có thể quấy quả gì anh được. Anh có thể cho máy chạy một cái băng trống: ba mươi phút im lặng. Đảo băng lại và thêm ba mươi phút nữa.
Máy bay đáp xuống Kennedy anh lên xe buýt để chuẩn bị bay chuyến kế tiếp vào buổi tối. Khi đã yên vị ở phòng chờ, anh bắt đầu chơi trò ô chữ được cắt ra từ thời báo New York Times từ Chủ nhật trước để dành cho dịp này. Anh ngồi như kiểu phòng thủ “ túi trên ghế bên này, áo khoác trên ghế bên kia. Người qua kẻ lại trước mặt nhưng anh vẫn dán mắt lên mẩu báo, cứ thế hoàn thành trò chơi ghép từ ngay sau khi hoàn tất trò điền từ vào ô trống. Lúc anh chơi xong cả hai trò ô chữ thì cũng vừa vặn đến giờ lên máy bay.
Người ngồi cạnh anh chuyến bay lần này là một phụ nữ tóc xám đeo kính. Bà ta mang theo chiếc chăn mỏng bằng len đan. Anh có cảm tưởng đây chẳng phải dấu hiệu tốt lành, nhưng anh đã có cách. Thoạt đầu anh ra vẻ hối hả, nới lỏng cà vạt, tháo giày và lấy ra khỏi túi một cuốn sách. Sau đó anh mở sách và với điệu bộ khoa trương anh bắt đầu đọc.
Tên cuốn sách là Miss MacIntosh, người yêu dấu dày 1.198 trang. (Hãy luôn mang theo một cuốn sách, đó là cách để bạn khỏi phải tiếp xúc với người lạ. Tạp chí chẳng ăn thua. Báo mang theo từ nhà chỉ khiến ta thêm nhớ nhà thôi, còn báo nơi khác thì lại nhắc nhở ta rằng ta chẳng thuộc về nơi ấy. Bạn biết kiểu chữ của một tờ báo từ nơi khác có vẻ lạ lẫm như thế nào rồi đấy.) Anh đã chui đầu vô Miss MacIntosh nhiều năm nay rồi. Cuốn này có cái hay là chẳng có cốt truyện gì, chỗ nào cũng thú vị cả, thế nên anh cứ đọc ngẫu nhiên bất cứ trang nào. Thỉnh thoảng anh ngước mắt lên cẩn thận đánh dấu dòng đang đọc bằng một ngón tay và thể hiện trên mặt một nét gì đó như muốn chứng tỏ cho người khác thấy rằng anh đang rất hứng thú với cuốn sách.
Như thường lệ, một giọng êm ái phát ra từ loa phóng thanh về việc thắt dây an toàn, cửa thoát hiểm, và mặt nạ ô xy. Anh thầm nghĩ sao cô tiếp viên hàng không lại cho trọng âm rơi vào những từ đó như thế. “Trên chuyến bay tối nay, chúng tôi sẽ cung cấp...” Người phụ nữ ngồi cạnh hỏi anh có muốn nhai một thanh kẹo cao su Lifesaver không. “Không, cảm ơn chị,” Macon nói và tiếp tục cắm cúi với cuốn sách của mình. Anh nghe thấy bà ta loạt xoạt bóc vỏ kẹo, và rồi tiếp sau đó là mùi hương bạc hà thoang thoảng.
Anh không lấy ly cocktail và từ chối luôn cả khay thức ăn, chỉ lấy mỗi hộp sữa được kèm theo khay thức ăn. Anh ăn một quả táo và một chút nho khô mang theo, hút sữa, rồi vào nhà vệ sinh làm sạch răng bằng chỉ nha khoa. Khi anh trở ra, khoang máy bay đã tắt điện, đây đó rải rác những chiếc đèn đọc sách được bật lên. Một vài hành khách đã ngủ. Người phụ nữ ngồi cạnh anh cuộn tóc lại thành những hình chữ O nhỏ xinh và cố định chúng bằng kẹp xước. Macon thấy ngạc nhiên khi người ta có thể làm những điều vô ý vô tứ đến thế ở nơi đông người. Nào là những ông mặc cả pyjama lên máy bay. Lại có những bà trét lên mặt cả một lớp phấn dày. Rõ ràng họ không cảm thấy dè dặt gì cả.
Anh đặt nghiêng cuốn sách bên dưới ánh sáng tỏa nhẹ từ chiếc đèn đọc sách và lật một trang. Tiếng động cơ máy bay rì rì dai dẳng. Anh nghĩ khoảng thời gian đó là một quãng thật dài - đoạn nghỉ giữa bữa ăn khuya và bữa ăn sáng khi họ đang lơ lửng trên đại dương, đợi ánh bình minh của một ngày mới, mặc dầu tất nhiên là chẳng thể nào giống với một ngày mới ở nhà. Với Macon, buổi sáng ở những múi giờ khác giống như cảnh trí trên sân khấu - cảnh mặt trời đang mọc được vẽ trên nền tối của một tấm phông.
Anh lại ngả đầu ra thành ghế và nhắm nghiền mắt lại. Giọng cô tiếp viên hàng không đâu đó gần khoang trước máy bay, nghe tiếng được tiếng mất, lẫn vào tiếng rì rì của động cơ. “Chúng ta chỉ ngồi không và chẳng có việc gì làm; tất cả những gì chúng ta có chỉ là tờ báo thứ Tư và chúng ta biết rằng những tin tức ấy dường như chẳng phải chỉ xảy ra vào một ngày thứ Tư nào đó không thôi...”
Macon nghe thấy một giọng đàn ông đều đều bên tai. “Macon.” Nhưng anh thậm chí không quay đầu lại. Anh không lạ gì những trò trêu ngươi của âm thanh trên máy bay vào ban đêm. Dưới đôi mắt nhắm nghiền anh lại nhìn thấy cái đĩa đựng bánh xà phòng đặt trên bồn rửa chén ở nhà - lại một trò đùa nữa, tính cụ thể của hình ảnh. Ấy là một cái đĩa bằng sứ hình oval in hình những bông hồng vàng trên bề mặt, trong đĩa đựng một miếng xà phòng đã mòn vẹt và hai chiếc nhẫn của Sarah, nhẫn đính hôn và nhẫn cưới, cô đã để lại đó trước khi ra đi.
“Con đã có vé rồi,” anh nghe thấy giọng Ethan. “Họ sẽ mở cửa sau năm phút nữa.”
“Được rồi,” Macon bảo, “hãy vạch ra chiến lược đi.”
“Chiến lược?”
“Mình sẽ ngồi đâu này.”
“Tại sao mình lại cần chiến lược cho điếu ấy chứ?”
“Chính con đòi đi xem bộ phim đó mà, Ethan. Ba nghĩ con cần quan tâm đến chỗ ngồi thích hợp chứ. Kế hoạch của ba này. Con đi vòng đến hàng đó qua bên trái. Đếm thử có bao nhiêu cậu nhóc. Còn ba sẽ đi vòng sang phải.”
“Ba này...”
“Thế con có muốn ngồi gần những cậu nhóc ầm ĩ không?”
“À thì không.”
“Và con chọn cái nào: một chiếc ghế ngay lối đi được không?
“Con không quan tâm.”
“Ethan, ngay lối đi? Hay ở giữa hàng? Con phải có ý kiến gì đi chứ.”
“Không biết nữa.”
“Giữa hàng nhé con?”
“Có gì khác đâu chứ?”
“Ethan. Khác nhiều chứ con. Ngay lối đi, con sẽ ra ngoài nhanh hơn. Vậy nếu con có ý định đi mua bánh snack, hay đi vệ sinh thì con sẽ muốn ngồi ngay lối đi. Nhưng nếu ngồi chỗ đó người ta sẽ chen lấn ghê lắm. Vậy nếu con không nghĩ đến việc sẽ bỏ chỗ đang ngồi, thì ba đề nghị...”
“Trời ơi! Ba thật là...” Ethan nói.
“Được,” Macon nói. “Nếu con cứ như thế thì mình sẽ ngồi cái chỗ chết tiệt đó và rồi chẳng hay hớm gì đâu.”
“Được,” Ethan đáp.
“Được,” Macon nói.
Giờ thì anh xoay đầu, rồi lắc lắc. Nhưng mắt vẫn nhắm nghiền, và dần dần giọng nói kia đã không còn vẳng bên tai nữa, và anh thấy mình chìm trong thứ ánh sáng mờ mờ đó – thứ ánh sáng khiến ta dễ rơi vào giấc ngủ khi đi du lịch.
❀ ❀ ❀
Lúc rạng sáng anh có lấy một tách cà phê, và uống một viên vitamin mang theo. Những hành khách khác trông có vẻ nhếch nhác và nhợt nhạt. Người phụ nữ ngồi cạnh anh kéo lê một chiếc va li nhỏ vào nhà vệ sinh và rồi trở ra với quần áo đầu tóc gọn ghẽ nhưng gương mặt thì sưng húp. Macon thấy việc đi lại thế này luôn khiến cơ thể bị ứ nước. Lúc mang giày anh thấy chúng quá bé so với chân anh, và khi vào nhà vệ sinh cạo râu anh nhận thấy có gì khang khác nơi bọng mắt. Dầu vậy trông anh vẫn ổn hơn hầu hết bọn họ, vì anh chẳng hề đụng một chút đồ ăn nào có chứa muối hay rượu cả. Rượu ở lại trong cơ thể rất lâu. Uống rượu trên máy bay thể nào cũng khiến đầu óc ta mụ mị đi, anh tin như vậy.
Cô tiếp viên hàng không thông báo giờ Luân Đôn, và mọi người nhộn nhạo chỉnh lại giờ. Macon cũng chỉnh lại giờ cho chiếc đồng hồ báo thức trong hộp đựng dao cạo, còn chiếc đeo tay anh cứ để nguyên như thế.
Máy bay hạ cánh đột ngột. Như thể gợi lại cho anh những sự kiện khó khăn nào đó - những va chạm bất ngờ, nhanh như cắt, ầm ĩ và gây xáo trộn. Trên loa phóng thanh vẫn ra rả những câu nhắc nhở lịch sự. Người phụ nữ ngồi cạnh anh gấp chăn len lại. “Tôi hồi hộp quá chừng,” bà nói. “Tôi sắp nhìn thấy cháu nội rồi, lần đầu tiên đấy nhé.” Macon mỉm cười và bảo bà anh hy vọng rằng mọi điều sẽ tốt đẹp. Giờ thì anh không phải lo bị sập bẫy nữa nên anh nhận thấy bà khá dễ mến. Ngoài ra, vẻ ngoài của bà trông đậm chất Mỹ.
Tại sân bay Heathrow, anh lại chứng kiến cảnh nhếch nhác thường thấy tại đây - như thể vừa sau một thảm họa nào đó. Mọi người nhốn nháo qua lại, có những người đứng trông như dân tị nạn với nào thùng nào gói bao quanh, và những nhân viên mặc đồng phục đang cố giải thích các vấn đề khách hàng yêu cầu. Vì không phải đợi để lấy hành lý, Macon chẳng phải nhì nhằng với mớ thủ tục rườm rà nên anh đi ra trước những người khác. Rồi anh đổi tiền và lên tàu điện ngầm. Tôi khuyên mọi người nên dùng tàu điện ngầm, trừ người nào sợ độ cao, và ngay cả những người sợ độ cao cũng có thể đi nếu họ tránh được các ga tàu có những bậc thang đi xuống với độ dốc khác thường...
Trong khi tàu điện ầm ào tiến về phía trước, Macon ngồi phân loại tiền vào các phong bì mang theo - mỗi phong bì đã được anh đánh dấu bên ngoài một đơn vị tiền khác nhau. (Nếu tách riêng và phân loại sẵn ngoại tệ, ta sẽ không phải lóng ngóng với những đồng xu lạ lẫm, lọ mọ với những tờ tiền dễ gây nhầm lẫn.) Những khuôn mặt trải ra trước mắt anh. Mọi người ở đây trông có vẻ khác lạ, dù anh không thể nói được chính xác họ khác như thế nào. Anh nghĩ họ vừa khỏe mạnh hơn lại vừa ẻo lả hơn. Một phụ nữ bế một đứa trẻ quấy khóc luôn miệng bảo, “Ngoan nào, mẹ yêu. Ngoan nào, mẹ yêu,” bằng một giọng Anh rõ ràng, nhẹ và mỏng. Trời nóng, và trán cô lấm tấm mồ hôi. Trán của Macon cũng thế, hẳn rồi. Anh cho những chiếc phong bì vào túi trước ngực. Tàu dừng và nhiều người nữa bước lên. Họ đứng ở ngay phía trên anh, không bám vào mấy cái đai da mà bấu vào mấy cái núm đính vào các thanh ngang không cố định, thứ mà lần đâu tiên đến đây anh nhầm tưởng là một loại micro.
Như thường lệ, anh ở Luân Đôn. Tại đây anh có thể thực hiện những cuộc viếng thăm chớp nhoáng đến các thành phố khác, và tại mỗi nơi anh liệt kê vài ba khách sạn, vài ba nhà hàng khá gần nhau để tiện cho du khách chọn lựa; vì những cuốn cẩm nang du lịch của anh hầu như không sót một thứ gì. (“Nhiều cuốn cẩm nang khác chỉ cho ta biết cách tham quan một thành phố càng nhiều địa điểm càng tốt,” sếp anh bảo. “Ông anh nên cho biết cách làm thế nào để trông thấy nó càng ít càng tốt.”) Khách sạn nơi Macon lưu lại có tên Jones Terrace. Anh vẫn thích một trong những khách sạn nằm trong chuỗi khách sạn của Mỹ, nhưng lại quá tốn kém. Jones Terrace cũng được, dù có hơi nhỏ nhưng gọn ghẽ tươm tất. Anh ngay lập tức bắt tay dọn dẹp căn phòng theo ý mình, bóc tấm khăn trải giường xấu xí ra nhét vào ngăn tủ quần áo, lấy đồ đạc ra và cất túi đi. Anh thay quần áo, giặt giũ rồi treo trong phòng tắm. Sau khi ném về phía chiếc giường ánh mắt thèm thuồng, anh ra ngoài ăn sáng. Chẳng thể nào giống với một ngày mới ở nhà, nhưng bữa sáng là bữa ăn mà những người đi công tác thường phải tự xoay sở lấy. Đi bất cứ đâu anh cũng cẩn thận chọn lựa nơi ăn uống.
Anh đi bộ đến Yankee Delight, gọi món trứng bác và một cốc cà phê. Phục vụ ở đây không chê vào đâu được. Cà phê được mang ra ngay lập tức, và cốc của anh luôn được giữ đầy. Trứng không có vị giống như ở nhà, nhưng có bao giờ vậy đâu chứ. Có thể nói gì với món trứng của nhà hàng đây nhỉ? Chẳng phong cách gì, cũng chẳng đặc sắc mấy. Thế nhưng anh vẫn mở cuốn cẩm nang ra và đánh một dấu ngay bên cạnh Yankee Delight. Đến cuối tuần, những trang này sẽ hầu như không thể đọc được. Anh đã xóa đi mấy cái tên, chèn thêm vài tên khác, và ngoằn ngoèo mấy dòng ghi chú bên lề. Anh luôn ghé lại mấy nơi đã từng vào - mọi khách sạn và nhà hàng. Thật tẻ nhạt nhưng sếp anh, Julian, cứ khăng khăng bảo, “Hãy cứ hình dung xem sẽ ra sao nếu một độc giả nào đấy vào một tiệm cà phê do anh giới thiệu và phát hiện ra giờ nó đã được sang tay cho một người chuyên bán đồ ăn chay.”
Sau khi thanh toán, anh bước xuống đường tới tiệm New America, lại gọi món tráng và cà phê. “Loại đã lọc hết cafein nhé,” anh nói thêm. (Giờ đầu anh đã ong lên rồi.) Người bồi cho biết ở đây không có loại đó. “Ồ, không có à,” anh nói. Sau khi người bồi đi khỏi, anh viết một dòng lưu ý vào cuốn cẩm nang.
Nơi anh đến tiếp theo là một nhà hàng có tên US Open. Xúc xích ở đây khô không khốc đến độ tưởng như chúng được phơi trên mái nhà vậy. Giờ thì đã rõ: Một độc giả đã giới thiệu nhà hàng US Open. Ôi chao, những nơi do độc giả giới thiệu, đúng thật là! Macon đã từng (giờ thì anh khôn ra rồi) đăng ký trước một phòng tại một nhà nghỉ dựa vào cái kiểu giới thiệu ấy - ở đâu đó tại Detroit hay Pittsburgh, hay một thành phố nào đó, dành cho Du khách bất đắc dĩ tại Mỹ. Anh trả phòng ngay tắp lự và dông thẳng sang đường đến một khách sạn nằm trong chuỗi Hilton. Tại đây người gác cửa ào ra đón và chộp lấy túi xách của anh kèm theo một tiếng kêu thương hại như thể anh vừa lết được về đây từ một hoang mạc nào đó. Không có lần hai, Macon đã thề như thế. Anh bỏ miếng xúc xích lại đĩa và gọi tính tiền.
Vào buổi chiều (có thể nói như vậy), anh tới các khách sạn. Anh nói chuyện với nhiều quản lý và xem xét kỹ các loại phòng. Tại đây anh kiểm tra giường, thử dội toa lét, liếc nhìn vòi hoa sen. Hầu hết các khách sạn ít nhiều vẫn còn đạt chuẩn, nhưng có gì đó không ổn mấy với Royal Prince. Như thế nào nhỉ, dường như có vẻ... à, vẻ ngoại quốc. Những gã đàn ông ngăm đen điển trai vận đồ lụa mỏng thì thào ngay sảnh đợi trong khi bọn nhóc da nâu rượt đuổi nhau quanh các ống nhổ. Macon có cảm tưởng như anh bị lạc đường đến mức tuyệt vọng, hơn bất kỳ lúc nào, và thấy mình như đang ở Cairo. Những cô đeo mạng che mặt màu đen nép người đi qua lối cửa xoay vào khách sạn lỉnh kỉnh những túi hàng mua sắm. Gì ấy nhỉ? Anh cố hình dung những thứ họ mua, này là những chiếc quần jean soóc lửng, này là những đôi bốt cao nghều với lưới đan màu hồng - những thứ anh thường vẫn thấy ở hầu hết các cửa hiệu. “Ơ này...,” anh nói với viên quản lý. Nói thế nào đây nhỉ? Anh ghét cái lối hẹp hòi thiển cận, nhưng mà độc giả của anh không muốn va phải những gì mang tính ngoại lai. “À này, khách sạn đổi chủ rồi phải không?” anh hỏi. Viên quản lý hình như ngửi thấy điều gì đó bất ổn liền đứng bật dậy cho biết khách sạn này do một tập đoàn sở hữu, đã luôn như vậy và sẽ luôn như vậy, chỉ có tập đoàn đó thôi. “Tôi hiểu rồi,” Macon nói. Anh bỏ đi với cảm giác phân vân.
Vào giờ ăn tối, lẽ ra anh nên thử đi một chỗ nào đó trang trọng một chút. Anh phải liệt kê được ít nhất mỗi thành phố một nhà hàng hạng sang chuyên tổ chưc tiệc chiêu đãi. Nhưng tối nay anh thấy không hứng thú. Thay vì đó, anh vào tiệm cà phê ưa thích của mình có tên là My American Cousine. Khách ở đây nói rặt giọng Mỹ, và một vài nhân viên cũng vậy. Cô gái đứng đón khách tại cửa trao cho mỗi người một tấm vé có đánh số. Người nào có số được gọi trên loa phóng thanh có thể nhận được một chiếc ti vi hay bét nhất cũng là một bức ảnh màu đóng khung chụp hình nhà hàng.
Macon gọi một phần ăn nhỏ có rau luộc đơn giản và hai miếng sườn cừu, cùng với một ly sữa. Người đàn ông bên cạnh cũng đang dùng bữa. Ông ta đang ăn món pa tê lợn trông ngon mắt, và khi cô phục vụ mang món tráng miệng đến ông ta bảo, “Ồ, xem nào, ta thử một ít chứ nhỉ,” bằng chất giọng lè nhè chầm chậm, mãn nguyện và vỗ về của người luôn được đám đàn bà con gái trong nhà khuyến khích tăng trọng mỗi ngày. Macon thì dùng món bánh gừng phết kem, giống hệt cách bà nội anh từng làm.
Quãng tám giờ, theo đồng hồ đeo tay, anh đã yên vị trên giường. Đương nhiên giờ này vẫn còn quá sớm nhưng anh chỉ có thể kéo ngày dài đến thế thôi; ở Anh giờ đã là nửa đêm. Ngày mai anh sẽ bắt đầu cuộc viếng thăm chớp nhoáng đến những thành phố khác. Anh sẽ lấy một vài đồ lưu niệm của khách sạn, thử một vài món ăn sáng tiêu biểu. Cà phê còn chất cafein và cà phê đã lọc chất cafein. Thịt lợn hun khói chín tái và chín kỹ. Nước cam tươi và đóng hộp và ướp lạnh. Nhiều vòi sen hơn, nhiều nệm giường hơn. Máy sấy tóc có được mang tới khi yêu cầu không? Có ổ điện 110 vôn dùng cho dao cạo chạy bằng điện không? Khi thấy buồn ngủ, anh nghĩ về những căn phòng không tên tuổi đang quay mòng mòng quanh vòng xoay ngựa gỗ. Anh nghĩ về những chiếc giá để va li chằng chịt mạng nhện, những bình phun nước gắn dưới trần nhà, và những tờ rơi gồm danh mục các nội quy chống hỏa hoạn chờn vờn thoắt gần thoắt xa, cứ thế suốt thời gian còn lại trong ngày. Anh nghĩ về Ethan lúc nó đang cưỡi con lạc đà bằng thạch cao và gọi anh, “Đỡ con đi ba!” và rơi xuống, nhưng Macon không thể đến đúng lúc và khi anh vươn tay ra, Ethan đã biến mất.
❀ ❀ ❀
Một trong những thói quen xấu của Macon là mỗi khi đi đâu cũng cứ ngóng chờ ngày về cho thật sớm. Cho dù đã trù tính thời gian ở lại ngắn đến đâu, anh vẫn quyết định rằng cần phải về sớm, rằng anh đã tự cho mình quá nhiều thời gian, rằng mọi thứ tối cần thiết đã được làm xong - hoặc hầu hết mọi thứ gần như đã hoàn tất. Thế là phần còn lại của chuyến đi anh dành để gọi điện cho những đại lý du lịch và thực hiện những chuyến đi chẳng mang lại hiệu quả gì tới các văn phòng hàng không, đợi rũ cả người ở đó để rồi rốt cuộc lại phải quay trở về khách sạn vừa trả phòng xong. Anh luôn tự nhủ rằng lần sau sẽ không có chuyện tương tự, nhưng bằng cách nào đấy nó vẫn cứ xảy ra. Anh đã lâm vào cảnh như vậy vào buổi chiều thứ tư lưu trú tại Anh. Còn có thể làm gì hơn nữa chứ? anh tự hỏi. Chẳng lẽ anh không biết gì về nơi này hay sao?
À, đúng rồi: Hôm nay là thứ Bảy. Khi ghi ngày vào sổ công tác phí, anh vô tình biết rằng ở nhà hôm nay là thứ Bảy. Là ngày Sarah ghé qua nhà lấy tấm thảm.
Cô sẽ mở cửa trước và khịt khịt mũi. Cô sẽ đi qua các phòng nơi cô đã có những năm tháng hạnh phúc. (Mà cô có hạnh phúc không nhỉ?) Cô sẽ thấy con mèo nằm ườn trên trường kỷ, lừ đừ lười nhác, và cô sẽ ngồi bên nó mà nghĩ, Làm thế nào mà tôi có thể rời bỏ nơi này ra đi được chứ?
Thật không may, đang là mùa hè và các chuyến bay đã đăng ký trước quá nhiều. Anh bỏ ra hai ngày mải miết theo dõi những khả năng dù nhỏ nhoi nhất nhưng đến khi gần đạt được thì hầu như chúng lại tan biến đi hết cả. “Sao cũng được! Tôi có thể đi bất cứ chuyến bay nào! Tôi không phải đi New York nữa; tôi sẽ đi Dulles. Tôi sẽ đi Montreal! Chicago! Nào, tôi sẽ đi Paris hay Berlin, xem thử còn chuyến nào không. Có thể đi bằng đường thủy không? Giờ mà đi bằng đường thủy thì mất bao lâu? Sẽ ra sao nếu đây là trường hợp khẩn cấp chứ? Ý tôi là mẹ tôi đang hấp hối hay gì gì đó tương tự thế? Cô có định báo là chẳng có cách nào ra khỏi nơi này không?”
Những người tiếp chuyện anh luôn có thái độ nhã nhặn và vui vẻ - thật ra, nếu không vì sự căng thẳng do việc đi lại gây nên anh đã có thể thực sự có cảm tình với người Anh - nhưng họ chẳng giải quyết được rắc rối của anh. Rốt cuộc thì anh cũng phải tiếp tục ở lại. Những ngày còn lại của tuần lễ ấy anh rúc vào phòng xem ti vi, gặm đốt ngón tay, sống cầm hơi với những đồ tạp phẩm khó ôi và đồ uống ấm vì anh không thể ló mặt tới một nhà hàng nào nữa.
Thế nên vào ngày về đương nhiên anh là người đầu tiên đứng xếp hàng trước quầy đăng ký lên máy bay. Anh đã có chỗ ngồi như ý nhất: cạnh cửa sổ, không thuốc lá. Ngồi cạnh anh là một đôi quấn lấy nhau suốt chuyến bay; vì vậy anh không cần đến cuốn Miss MacIntosh nữa, thay vì đó cả buổi chiều dài lê thê buồn tẻ ấy anh ngồi nhìn đăm đăm vào những đám mây.
Anh không bao giờ ưa những buổi chiều; đó là điều tồi tệ nhất cho những chuyến bay về như thế này. Buổi chiều dài lê thê, hết thức uống lại đến đồ ăn trưa, rồi lại thức uống - anh chẳng lấy thứ gì. Chính vì buổi chiều nên họ cho chiếu phim; hành khách phải kéo chụp đèn xuống. Một thứ ánh sáng màu cam choán đầy cả khoang máy bay, nặng nề và gây bức bối.
Lần nọ anh có một chuyến đi gay go bất thường đến Nhật - cái nơi mà ta thậm chí không thể nhớ nổi các biển hiệu chỉ đường để trở lại được nơi ta đã xuất phát - Sarah đã đến đón anh tại sân bay New York. Đó là dịp kỷ niệm mười năm ngày cưới của họ, và Sarah muốn làm anh ngạc nhiên. Cô gọi Becky ở hãng du lịch để hỏi số chuyến bay của anh và rồi bỏ Ethan lại cho bà ngoại, cô bay đến Kennedy, mang theo chiếc giỏ mây picnic đựng rượu vang và phô mai, họ đã cùng nhau nhấm nháp những món đó tại phòng chờ ở sân bay trong lúc đợi chuyến trở về. Mọi chi tiết về bữa ăn đó vẫn còn đọng lại trong tâm trí Macon: những miếng phô mai ánh lên màu cẩm thạch, rượu vang trong cốc thủy tinh có đế - không hiểu vì sao vẫn còn nguyên lành sau chuyến đi như thế. Anh vẫn còn thấy nơi đầu lưỡi vị phô mai Brie óng ánh như xa tanh. Anh vẫn còn có thể trông thấy bàn tay nhỏ nhắn quyến rũ của Sarah khi cô cắt từng lát bánh mì một cách dứt khoát.
Nhưng hôm nay cô không gặp anh tại New York.
Ngay cả ở Baltimore cũng không.
Anh lấy xe ra khỏi bãi và lái về thành phố trong ánh chiều chạng vạng đầy vẻ đe dọa như báo hiệu điều gì - một trận bão hay một cơn sấm sét, một thứ gì đó đầy kịch tính. Có thể nào cô đang đợi anh ở nhà không nhỉ? Cô có đang mặc chiếc váy sọc dài kiểu Thổ Nhĩ Kỳ có đai lưng mà anh cực thích không? Có phải bữa tối đã được dọn sẵn trên bàn ăn không?
Để không bị sập vào cái bẫy tưởng tượng của chính mình, anh ghé lại tiệm Seven-Eleven mua ít sữa. Anh lái xe đến bệnh viện thú y đón Edward. Khi anh đến Meow-Bow, chỉ còn vài phút nữa là tới giờ đóng cửa; chẳng hiểu sao anh lại đi lộn đường vào đó. Không còn ai đứng quầy. Anh phải rung chuông gọi. Một cô gái tóc đuôi ngựa thò đầu ra cửa, kéo theo một dàn hợp ca đủ mọi âm thanh của những con vật nuôi được gửi tại đây rộ lên từ nhiều hướng. “Gì đấy anh?” cô hỏi.
“Tôi đến đón con chó.”
Cô bước lại mở hộp hồ sơ nằm trên quầy. “Họ anh là gì?”
“Leary.”
“Ồ,” cô nói. “Anh đợi chút nhé.”
Macon tự hỏi không biết lần này con Edward có gây rắc rối gì không.
Cô gái biến đi, và một lát sau một cô khác xuất hiện, cô tóc xoăn hôm nọ. Tối nay cô vận váy đen cổ chữ V, điểm xuyết những bông hồng màu hồng to tướng, có lót đệm ở hai vai và hơi bó từ eo trở xuống; cô đi đôi giày cao gót kệch kỡm. “Ồ, xin chào,” cô nói với nét mặt sáng lên. “Chuyến đi của anh thế nào?”
“Ồ, chuyến đi... Edward đâu? Nó ổn chứ cô?”
“Hẳn rồi, nó ổn. Nó ngoan ngoãn, dễ bảo và thân thiện nữa!”
“Ồ, vậy thì tốt.”
“Chúng tôi như lửa phải rơm ấy. Có vẻ như ngay từ đầu nó đã thích tôi, chẳng biết vì sao nữa.”
“Tuyệt đấy.” Anh hắng giọng, “Thế cho tôi đón nó về bây giờ được chứ?”
“Caroline sẽ mang nó đến ngay đây.”
“À.”
Cả hai không nói thêm gì. Người phụ nữ đứng đối diện anh chờ đợi với nụ cười tươi rói trên môi, những ngón tay đan vào nhau đặt lên quầy. Macon thấy móng tay của cô sơn màu đỏ sẫm và đôi môi được thoa một thứ son hơi sậm màu khiến miệng cô mang một kiểu dáng rắc rối lạ thường - đầy góc cạnh, giống như hình quả táo.
“À,” cuối cùng Macon lên tiếng. “Chắc tôi có thể trả lệ phí chứ.”
“Ồ, vâng.”
Cô thôi cười và cúi xuống hộp hồ sơ kẹp đang để ngỏ. “Bốn mươi hai đô,” cô nói.
Anh trao cho cô thẻ tín dụng. Cô lóng ngóng với cái máy rập nổi vì phải làm mọi thao tác bằng lòng bàn tay, còn móng tay thì chừa ra. Cô rề rà điền vào các chỗ trống và rồi chìa hóa đơn về phía anh. “Chữ ký và số điện thoại,” cô nói. Cô tựa vào quây khom người xuống xem anh viết. “Số điện thoại nhà hay cơ quan anh đấy?”
“Cả hai. Sao vậy? Có chuyện gì à?” anh hỏi.
“Tôi chỉ hỏi vậy thôi,” cô bảo anh. Cô xé rời tờ bản sao hóa đơn anh vừa đưa, theo cách không cho những móng tay chạm vào, và cho phần còn lại của tờ hóa đơn vào ngăn kéo. “Tôi không biết đã đề cập đến chuyện này chưa, chứ tôi cũng là một người huấn luyện chó đấy.”
“Thật vậy sao?”
Anh nhìn về phía cửa nơi cô gái anh gặp lúc đầu đã biến vào đó. Anh luôn ở trong trạng thái căng thẳng khi thấy họ lâu mang Edward ra. Họ làm gì trong ấy - có phải là xóa sạch chứng cớ gì đấy không?
“Chuyên nghiệp của tôi là huấn luyện chó hay cắn người,” người phụ nữ lên tiếng.
“Chuyên môn.”
“Sao ạ?”
“ ‘Chuyên môn’ mới đúng.”
Cô ném về phía anh một cái nhìn khó hiểu.
“Hẳn đó là một công việc nguy hiểm,” Macon nói một cách nhũn nhặn.
“Ồ, với tôi thì không phải vậy. Dưới gầm trời này tôi chẳng sợ thứ gì cả.”
Có tiếng cửa kéo phía sau cô. Edward lao vọt ra, theo sau là cô gái với cột tóc đuôi ngựa. Edward kêu lên ăng ẳng và nhảy chồm chồm về phía trước lộ vẻ vui mừng nhặng xị đến độ Macon cúi xuống muốn vỗ về nó mà không được.
“Nào, dừng lại,” cô gái tóc đuôi ngựa bảo Edward. Trong khi đó, người phụ nữ đứng sau quầy vẫn tiếp tục nói, “Chó hay cắn này, chó sủa dai này, chó điếc, chó nhát gan, chó bị ngược đãi, chó nhiễm thói xấu, chó lớn lên trong tiệm bán thú cưng và chẳng tin tưởng vào con người... Tôi xử lý được tất.”
“Ồ, tốt,” Macon nói.
“Không phải vì nó sẽ cắn tôi, dĩ nhiên,” người phụ nữ nói. “Nó chỉ quý mến tôi, hình như có lần tôi đã bảo với anh rồi đấy.”
“Tôi rất vui khi nghe vậy,” Macon đáp.
“Nhưng tôi có thế huấn luyện nó không cắn bất cứ ai vào bất cứ khi nào nữa. Hãy suy nghĩ kỹ đi và gọi cho tôi nhé. Muriel, anh nhớ không? Muriel Pritchene. Để tôi đưa anh tấm danh thiếp.”
Cô trao anh tấm danh thiếp màu hồng cam chẳng biết lấy từ đâu ra. Anh phải cố đi vòng qua con Edward đang nhảy chồm chồm kia mới có thể lấy được tấm card. “Tôi đã học cùng một người từng huấn luyện chó hay tấn công người,” cô nói. “Anh thấy đấy, chẳng phải nghiệp dư đâu nhé.”
“À, tôi sẽ ghi nhớ chuyện đó,” Macon nói. “Cảm ơn cô rất nhiều.”
“Hoặc chỉ gọi mà không cần có lý do nào nhé! Gọi để nói chuyện thôi.”
“Nói chuyện?”
Chứ sao! Nói về Edward này, những rắc rối của nó này, nói về... bất cứ thứ gì! Cứ nhấc ống nghe lên và nói thôi. Chẳng lẽ anh chưa bao giờ có thôi thúc làm điều đó?”
“Không hẳn.”
Rồi con Edward kêu ẳng lên một tiếng, và anh cùng con chó lao vội về nhà.
❀ ❀ ❀
Ồ, đương nhiên là cô không hề có ở đó. Anh biết thế ngay khi bước vào trong nhà, khi anh ngửi thấy không khí nóng ẩm và đặc quánh vì cửa đóng lâu ngày. Thật ra, anh đã biết trước vậy. Anh đã tự dối gạt mình. Anh đã bịa ra những câu chuyện cổ tích.
Con mèo phóng sượt qua anh và biến ra khỏi cửa, kêu ngao ngao với vẻ tố cáo. Con chó sục vào phòng ăn định lăn tròn trên tấm thảm hòng làm mất đi cái mùi cũi nhốt mấy bữa nay. Nhưng thảm đâu mất rồi - chỉ còn lại sàn nhà trống trơn với những gạch sọc, và con Edward khựng lại, trông thật ngố. Macon hiểu cảm giác của nó lúc này.
Anh dọn chỗ sữa đi và lên lầu dỡ đồ ra khỏi va li. Anh đi tắm, dẫm chân lên bộ đồ bẩn, và dọn gường. Khi anh tắt đèn phòng tắm, hình ảnh bộ quần áo mới giặt vẫn còn đẫm nước treo bên trên bồn tắm khiến anh nhớ lại chuyến đi vừa qua. Điểm khác nhau thật sự là ở chỗ nào nhỉ? Du khách bất đắc dĩ tại nhà, anh nghĩ rồi mệt mỏi chuồi vào chiếc túi ngủ.
❀ ❀ ❀
[1] Caraway hay còn gọi là carum, xuất xứ ở châu Âu và Tây Á. Giống như cây cà rốt, quả (hay bị gọi nhầm là hạt) có hình trăng lưỡi liềm.