Du Khách Bất Đắc Dĩ

Lượt đọc: 52 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Macon đã tưởng rằng sau khi vợ anh bỏ đi ngôi nhà sẽ trở nên rộng hơn. Trái lại, giờ đây anh cảm thấy nó thật chật chội. Những ô cửa sổ như co mình lại. Trần nhà thấp xuống. Có gì đó xảy ra với đống đồ đạc, như thể chúng đang dồn cả vào anh.

Tất nhiên Sarah đã dọn hết những vật dụng cá nhân của mình, chỉ là những đồ nhỏ như quần áo, nữ trang. Nhưng rõ ràng những đồ đạc lớn trong nhà mang hơi hướng của cô nhiều hơn anh tưởng. Này là cái bàn gập đặt nơi phòng khách, ngăn kéo đầy những bì thư đã xé và cả những lá thư chưa bóc của cô. Này là chiếc radio trong nhà bếp, định vị kênh chương trình 98 Rock. (Cô thích giữ liên lạc với sinh viên của mình, trong lúc lúng búng ngâm nga và bồn chồn đi quanh bàn ăn sáng, trước đây cô thường nói như vậy.) Này là chiếc ghế dài không có lưng tựa nơi cô từng nằm sưởi nắng, được đặt ngay chỗ duy nhất có được chút ánh mặt trời rọi vào trong cả ngôi nhà. Anh nhìn những chiếc gối ôm bọc vải hoa và tự hỏi làm thế nào một không gian trống trơn lại có thể đong đầy hình ảnh một người đến thế - cái mùi dầu dừa thoang thoảng luôn khiến anh thèm uống một ly cocktail rum pha nước dừa của cô; khuôn mặt tròn trịa sáng sủa ẩn sau đôi kính mát của cô; thân hình chắc lẳn của cô trong bộ đồ bơi kèm váy mà cô đã cố nài mua cho được sau dịp sinh nhật lần thứ bốn mươi. Những sợi tóc rụng của cô còn vương lại nơi đáy bồn rửa mặt. Cái kệ của cô trong tủ y tế, trống trơn, chỉ còn sót lại những giọt chất lỏng đã khô ánh lên màu hồng sậm đặc trưng khiến ngay lập tức trong tâm trí anh hình ảnh cô trở nên rõ nét. Anh đã luôn chê bai sự đểnh đoảng của cô nhưng giờ đây những giọt thuốc nước rơi vãi kia dường như gợi nên một niềm thương yêu, chúng giống như thể những món đồ chơi đầy màu sắc bọn trẻ bỏ lại trên sàn khi đi ngủ.

Ngôi nhà không rộng cũng không chật, nhìn cũng không nổi bật gì, nằm ở khu phố cũ của Baltimore trong một dãy phố gồm những ngôi nhà giống hệt nhau. Những ngôi nhà xung quanh cũng có kiểu tương tự thế. Quanh nhà có những cây sồi to phủ tán, che rợp bóng suốt mùa hè oi bức, nhưng lại cũng chắn luôn cả những cơn gió mát. Bên trong là những căn phòng vuông vức và thiếu ánh sáng. Trong phòng riêng của Sarah không còn lại gì ngoài chiếc khăn choàng lụa màu nâu treo trên móc; trong các ngăn kéo tủ của cô còn sót lại những cuộn xơ vải buộc vết thương, những lọ nước hoa đã dùng hết. Căn phòng cũ của cậu con trai được dọn dẹp ngăn nắp, đẹp đẽ như phòng trong nhà nghỉ. Ở đâu đó, từ các bức tường dội lên cái gì như tiếng vọng. Macon nhận thấy mình đang áp chặt hai tay quanh người, nem nép đi qua đồ đạc trong phòng như thể anh đang tưởng tượng ra rằng ngôi nhà hầu như không thể chứa nổi anh. Anh thấy mình trở nên cao lớn quá cỡ. Đôi chân dài vụng về dường như đang kéo giãn ra một cách bất thường. Anh cúi đầu xuống thật nhanh khi bước qua những ô cửa.

Anh tự nhủ với lòng rằng cơ hội để anh sắp xếp lại mọi thứ đã đến. Anh đã bị lún vào một sở thích có phần phi lý. Thật ra trông nom một ngôi nhà cần phải có một kiểu lề lối, mà Sarah lại chẳng bao giờ hiểu được điều đó. Cô là kiểu phụ nữ hay đặt lẫn lộn những thứ như dao, thìa, nĩa với nhau... Cô khởi động máy rửa chén khi bên trong chỉ có một nắm nĩa mà chẳng nghĩ gì. Còn Macon lại thấy khổ sở vì điều đó. Nói chung Macon phản đối việc dùng máy rửa chén; anh cho rằng chúng lãng phí năng lượng. Có thể nói rằng tiết kiệm năng lượng cũng là một thú vui của anh.

Anh bắt đầu thói quen giữ cho bồn rửa chén luôn đầy nước, cho vào một ít clo để khử trùng. Mỗi lúc dùng bữa xong, anh thả đĩa ăn vào bồn. Đến khi bồn đầy chén dĩa, anh rút nút chặn và xịt nước nóng lên những thứ trong bồn. Rồi anh xếp chén dĩa đã được xả sạch vào cái máy rửa chén trống không - bây giờ theo lề lối mới của anh nó đã trở thành một kho chứa khổng lồ.

Khi anh lom khom xịt nước bên bồn rửa chén dĩa, anh thường có cảm giác Sarah đang quan sát mình. Anh cảm thấy chỉ cần nhướng mắt lên một chút sang bên trái thì sẽ thấy cô đang đứng khoanh tay, nghiêng nghiêng đầu và đôi môi cong mím chặt đầy tư lự. Ở cái liếc đầu tiên thì cô đang quan sát cách anh làm, ở cái liếc tiếp theo (anh biết) là cô đang cười anh. Mắt cô luôn ánh lên tia bí mật mà anh đã quá quen thuộc. “Em biết mà,” cô sẽ nói như vậy, gật đầu theo những câu giải thích dài dòng của anh; rồi anh sẽ ngước lên bắt gặp ánh nhìn ấy và khóe môi nhếch khẽ của cô.

Trong sự hiện diện này của cô - nếu có thể coi đó là sự hiện diện, vì xét cho cùng anh chưa bao giờ thực sự liếc mắt sang phía cô - cô đang mặc chiếc đầm màu xanh sáng mua từ hồi họ mới cưới. Anh không hề biết từ khi nào cô đã thôi mặc nó, nhưng chắc là rất lâu rồi. Anh gần như có cảm tưởng rằng đấy là hồn ma của Sarah - rằng cô đã chết. Ở một mặt nào đó (anh nghĩ, rồi tắt vòi nước), cô đã chết, cô gái Sarah trẻ trung, mạnh mẽ nơi căn hộ đầu tiên tràn ngập hạnh phúc của họ trong con hẻm Cold Spring ấy. Khi anh cố nhớ lại những hồi ức ấy thì bất cứ hình ảnh nào của Sarah hiện lên cũng ngay lập tức bị thay thế bởi một sự thật rằng Sarah đã bỏ anh đi. Khi anh hình dung lại ngày đầu tiên quen nhau - khi họ vừa qua hết tuổi thơ - dường như đấy chính là dấu hiệu ban đầu cho sự chia tay sau này của họ. Khi cô ngước nhìn anh và khua lách cách những mẩu đá lạnh trong chiếc cốc giấy vào cái đêm đầu tiên ấy, họ đã bắt đầu hành trình tiến tới cái năm căng thẳng, khổ sở cuối cùng bên nhau, tới những tháng ngày mà bất cứ điều gì người kia nói ra đều sai, tới cái cảm giác về sự kết nối cơ hồ đã đứt ấy. Họ giống như hai người đang chạy tới để gặp nhau, nắm lấy tay nhau nhưng cái đích họ hướng đến lại khác nhau; họ lướt qua nhau và cứ thế chạy. Và cuối cùng, tất cả còn lại là con số không. Anh nhìn chằm chằm vào bồn rửa chén, hơi nóng trong bồn nhẹ nhàng phả lên mặt anh.

Vậy đấy, mày phải tiếp tục. Mày phải tiếp tục. Anh quyết định chuyển tắm sáng sang tắm tối. Anh thấy mình đã bắt đầu thích nghi - tâm hồn anh vô cùng sảng khoái. Khi tắm dưới vòi hoa sen, anh hứng nước lại trong bồn rồi dò dẫm quanh bồn, chân đạp bì bõm lên đống quần áo bẩn mặc trong ngày. Sau đó, anh vắt khô quần áo móc lên dây phơi. Rồi anh mặc đồ lót ngày mai để không bao giờ phải giặt pyjama. Thật ra, thứ duy nhất anh giặt là khăn tắm và ga trải giường, mỗi tuần một lần - chỉ có hai chiếc khăn nhưng cả đống ga. Đó là do anh đã tiến hành lề lối giúp mình có thể ngủ trên chiếc ga sạch sẽ vào mỗi đêm mà không phải đổi giường. Anh đã áp đặt lề lối đó cho Sarah trong nhiều năm, nhưng cô lại chỉ thích làm theo ý mình. Thế là anh lột hết bọc nệm ra, rồi thay chúng bằng cách lấy một trong bảy cái ga dùng máy khâu may lại thành một thứ gì đó tựa như cái bao lớn. Anh nghĩ về phát minh này như là một cái Túi Ngủ Macon Leary. Một cái túi ngủ không cần phải gấp, khó bẩn, dễ thay, và là một chiếc mền hoàn hảo cho mùa hè. Vào mùa đông, anh phải nghĩ ra cách làm một thứ gì đó ấm hơn, nhưng anh chưa kịp nghĩ đến mùa đông. Anh vừa mới làm xong nó một ngày trước.

Có những lúc - khi đang chèn cái nút vải đã tả tơi vào chỗ rút nước trong bồn tắm hay đang lùng nhùng trong cái túi ngủ của mình trên chiếc đệm trần loang lổ vét gỉ sét - anh nhận thấy có lẽ mình đang khiến mọi việc đi quá xa. Mà anh cũng chẳng biết giải thích ra làm sao nữa. Anh luôn có thú vui nghĩ ra các phương pháp, nhưng đó không thể gọi là chứng gàn dở được. Nghĩ lại cái tính thiếu phương pháp của Sarah, anh tự hỏi phải chăng giờ đây mọi việc đã không còn trong tầm kiểm soát nữa. Có lẽ trong suốt những năm tháng đó, họ đã đi theo những con đường khác nhau phù hợp cho họ. Bằng cách nào đó họ dạt ra khỏi nhau như hai thỏi nam châm cùng cực, tất yếu họ lờ lững trôi xa nhau. Anh hình dung căn hộ mới của Sarah - căn hộ anh chưa hề thấy - chắc là bừa bộn đến phát điên, nào là giày vứt vào lò, nào là sofa đầy cả chồng chén dĩa. Chỉ nghĩ thế thôi cũng khiến anh ngán ngẩm. Anh nhìn xung quanh mình mà lòng đầy khoan khoái.

Hầu như mọi công việc của anh đều được làm tại nhà; nếu không anh đã không thể coi sóc nhà cửa như thế được. Anh có một chỗ làm việc nhỏ trong căn phòng trống tách biệt với nhà bếp. Ngồi vào ghế dành cho nhân viên tốc ký, gõ vào chiếc máy đánh chữ - cái máy đã theo anh suốt cả bốn năm đại học, - anh viết một loạt các cuốn sách hướng dẫn những người buộc phải đi lại vì công việc. Thật buồn cười là Macon vốn ghét đi du lịch. Anh lướt một vòng chớp nhoáng qua các đất nước bằng cách khép mắt lại, nín thở và thả mình vào trạng thái lơ lửng, đôi lúc chìm trong tưởng tượng, và rồi quay về thực tại lòng đầy khấp khởi bắt tay vào viết các cuốn sách bìa mềm dày với kích thước của một tấm hộ chiếu. Du khách bất đắc dĩ ở Pháp. Du khách bất đắc dĩ ở Đức. Ở Bỉ. Không tên tác giả, chỉ là một cái logo: một chiếc ghé bành có hai cái cánh ở ngoài bìa.

Trong sách anh chỉ đề cập tới các thành phố, vì những người đi công tác thường chỉ hay bay đến các thành phố rồi lại bay về chứ không đến miền quê bao giờ. Và vì lẽ đó, họ lại cũng không ngó ngàng gì đến các thành phố nữa. Điều họ quan tâm là làm cách nào để có thể giả vờ như chưa hề ra khỏi nhà. Khách sạn nào ở Marid quảng cáo về những tấm đệm ngủ kích cỡ lớn hơn bình thường? Nhà hàng nào ở Tokyo có phục vụ đồ ăn ít ngọt? Amsterdam có cửa hàng McDonald không? Thành phố Mexico có quán Taco Bell không? Có nơi nào ở thành Rome bán bánh bao Chef Boyardee không? Những khách du lịch bình thường khác thường mong đợi được khám phá các loại rượu vang địa phương hảo hạng, còn độc giả của Macon thì chỉ muốn tìm kiếm sữa tiệt trùng thanh khiết.

Ghét đi du lịch bao nhiêu, anh lại thích viết bấy nhiêu - trong niềm khoái cảm đầy tự hào, anh sắp xếp lại các miền đất hỗn độn, gạt bỏ những thứ không cần thiết và những cái hạng hai, phân loại những thư còn lại trong các đoạn viết mạch lạc và súc tích. Anh đạo từ các cuốn sách hướng dẫn khác, chộp lấy một vài ý cốt lối có giá trị và loại bỏ phần còn lại. Anh thích thú bỏ ra hàng giờ cần mẫn với những dấu chấm câu. Một cách chính đáng và tàn nhẫn, anh trừ khử hết thảy thể bị động. Cái nỗ lực gõ liên hồi vào máy đánh chữ khiến khóe môi của anh trễ xuống, thế nên chẳng ai có thể đoán được anh đang thích thú công việc này đến đâu. Tôi thật vui khi nói rằng, những ngón tay anh mổ vào bàn phím, nhưng nét mặt thì vẫn căng thẳng và cau có. Tôi thật vui khi nói rằng giờ đã có thể mua gà rán Kentucky ở Stockholm. Cả bánh mì pita nữa, anh thêm vào ý nghĩ vừa mới nảy ra đó. Anh không biết chắc nó đã xảy ra theo cách nào, nhưng gần đây bánh mì pita dường như đã mang chất Mỹ ngang bằng xúc xích.

❀ ❀ ❀

“Đương nhiên anh có thể xoay sở được,” em gái anh nói qua điện thoại. “Em có nói anh không làm được đâu? Nhưng ít ra anh cũng cho bọn em biết chứ. Ba tuần rồi cơ đấy! Chị Sarah đã bỏ đi được ba tuần mà mãi đến hôm nay em mới nghe nói. Mà cũng chỉ là tình cờ nữa chứ. Nếu em không bảo muốn nói chuyện với chị Sarah, liệu anh có bao giờ cho bọn em biết chị ấy đã bỏ anh không?”

“Cô ấy không bỏ anh,” Macon lên tiếng. “Ý anh là không phải như em nghĩ đâu. Bọn anh đã bàn bạc như những người lớn với nhau rồi quyết định chia tay, vậy thôi. Điều cuối cùng anh cần là người thân của anh vây quanh anh và bảo, ‘Ôi, thật tội nghiệp cho Macon, làm thế nào mà Sarah có thể đối xử như vậy...’ ”

“Tại sao em phải nói vậy?” Rose hỏi. “Ai cũng biết thật khó sống với những người đàn ông nhà Leary mà.”

“Ồ,” Macon nói.

“Giờ chị ấy ở đâu?”

“Cô ấy thuê nhà dưới phố,” anh nói. “Mà này,” anh nói thêm, “em cũng không việc gì phải thương cảm và rồi đến kêu cô ấy đi ăn tối hay gì gì đó. Cô ấy có gia đình của mình. Anh tưởng trong chuyện này em đứng về phe anh.”

“Em tưởng anh không muốn bọn em đứng về phe nào cả.”

“Không, không, anh không nghĩ vậy. Ý anh là em không nên đứng về phe cô ấy, đó chính là lời anh muốn nói.”

“Khi vợ chồng Charles ly dị,” Rose nói, “Giáng sinh nào bọn em cũng đến đưa chị ấy đi ăn tối, như đã luôn như vậy. Nhớ không?”

“Anh nhớ,” Macon uể oải nói. Charles là anh cả của họ.

“Em cho là chị ấy vẫn sẽ đến, nếu như chưa lấy chồng xa.”

“Cái gì? Nếu chồng chị ấy là người khu Baltimore, thì em cũng tiếp tục đi mời cả hai người chắc?”

Chị ấy và vợ Porter và Sarah thường ngồi trong bếp - ấy là cái dạo trước khi vợ chồng Porter ly hôn - và họ liên tục nói về đàn ông nhà Leary. Ồ, nào là đàn ông nhà Leary thì như thế này, nào là đàn ông nhà Leary thì như thế kia: làm sao mà họ cứ phải bắt mọi thứ trật tự ngăn nắp, cứ phải lường trước mọi thứ, cứ phải kiểm soát chặt chẽ thế giới như thể họ thật sự nghĩ rằng họ có thể khiến nó nằm im trong trật tự vậy. Ôi đàn ông nhà Leary! Em vẫn còn có thể nghe thấy họ nói. Em phải bật cười: Vào một ngày lễ Tạ ơn nọ, Porter và June đang chuẩn bị đi, hồi bọn trẻ nhà họ vẫn còn nhỏ ấy, June đang bế đứa bé tiến ra phía cửa còn Danny đang bám riết vào áo mẹ với cả đống đồ chơi và các thư lỉnh kỉnh khác thì Porter la to, ‘Dừng lại!’ rồi bắt đầu đọc to một trong những tờ hóa đơn thanh toán mà ở đó anh ấy luôn liệt kê các thứ như: chai lọ, mền, sữa bột lấy từ tủ lạnh, tã giấy... June chỉ liếc nhìn hai đưa bé và đảo tròn mắt thôi.”

“Ồ, đó đâu phải là một ý tệ lắm,” Macon nói, “khi em nghĩ cho June.”

“Không, và anh cũng phải để ý là danh sách đó được viết theo thứ tự alphabet,” Rose nói. “Em thì em nghĩ đặt theo alphabet có thể giúp sắp xếp mọi thứ chút đỉnh.”

Rose có một căn bếp trong đó mọi thứ được sắp xếp hoàn toàn theo một trật tự alphabet - tiêu sọ có thể được tìm thấy ngay cạnh thuốc diệt kiến. Cô đúng là người thích hợp để nói về những người đàn ông nhà Leary.

“Dù gì,” cô nói. “Từ hôm đi đến giờ, chị Sarah có về nhà chứ?”

Cô ấy có về một hai bận. Thật ra là một,” Macon nói. Chỉ để lấy ít đồ cần đến.”

“Đồ gì?”

“À, cái nồi đun đôi. Những thứ tương tự như thế.”

"Vậy thì chỉ là cái có thôi,” Rose nói nhanh. “Chị ấy có thể mua cái ấy ở của hàng bán đồ rẻ tiền nào chả được.”

“Cô ấy bảo thích cái cũ.”

“Chị ấy chỉ muốn kiểm tra xem anh sống thế nào thôi. Chị ấy vẫn còn quan tâm đấy. Anh có trò chuyện gì không?”

“Không,” Macon nói, “anh chỉ đưa cô ấy chiếc nồi. Và cả cái khui nút chai nữa.”

“Ôi, Macon. Lẽ ra anh nên bảo chị ấy vào nhà.”

“Anh sợ cô ấy từ chối,” anh nói.

Họ im lặng. Cuối cùng Rose nói, “Vậy đấy. Sao cũng được.”

“Nhưng anh đang ổn cả mà!”

“Ừ, đương nhiên là thế,” cô bảo.

Rồi cô bảo đang nướng gì đó trong lò và gác máy.

Macon đến bên cửa sổ phòng làm việc. Ấy là một ngày đầu tháng Bảy nắng nóng, bầu trời xanh đến độ khiến anh chói mắt. Anh áp sát trán vào kính và nhìn ra vườn, tay đút vào hai túi sau của chiếc quần ka ki. Tít trên cao một cầy sồi, có chú chim hót điệu giống như ba nốt nhạc dạo trong bài hát “My little gypsy sweetheart”. “Ngủ... ngoan... nào,” nó như hót vậy. Macon tự hỏi liệu chăng một ngày nào đó, ngay cả giây phút này cũng sẽ trở thành một điều gì đấy mà anh nhìn lại với bao tiêc nuối. Anh không thể hình dung được; suốt cả đời mình anh không thể nghĩ được lúc nào lòng anh trống trải hơn lúc này, nhưng anh nhận thấy thời gian có cách khiến mọi vật trở nên đầy màu sắc như thế nào. Chẳng hạn như chú chim kia có một giọng hót thật trong veo, ngọt ngào, lảnh lói.

Anh quay vào, phủ chiếc máy đánh chữ lại, và ra khỏi phòng.

❀ ❀ ❀

Anh đã không còn ăn uống theo đúng nghĩa nữa. Thấy đói thì uống một cốc sữa, hoặc xúc một chút kem từ trong hộp. Chỉ ăn qua loa như vậy thôi nhưng anh lại thấy mình no căng và nặng nề, tuy vậy sáng dậy mặc quần áo vào anh lại thấy mình dường như gầy đi. Cái cổ áo sơ mi không còn khít cổ anh nữa. Nhân trung hõm vào khiến anh thấy thật khó cạo chỗ ria ấy. Còn mái tóc của anh - mái tóc trước đây Sarah thường cắt cho anh - xìa ra trước trán như một cái giá. Và cái gì đó đã khiến mi dưới của anh chảy xệ. Anh vốn có đôi mắt nhỏ màu xám; giờ đây đôi mắt ấy lồi ra và mang vẻ thảng thốt. Phải chăng đó là dấu hiệu của sự thiếu dưỡng chất?

Bữa sáng: Bữa sáng là bữa ăn quan trọng nhất. Anh đặt bình pha cà phê và chảo rán điện bên cạnh chiếc radio có đồng hồ điện tử trên bậu cửa sổ phòng ngủ. Cứ như anh đang muốn để đồ ăn nhiễm độc, để mặc hai quả trứng sống cả đêm ở nhiệt độ phòng, nhưng một khi anh đổi thực đơn thì chẳng có bất trắc gì xảy ra cả. Con người ta phải thích nghi trong mọi hoàn cảnh mà. Giờ anh được đánh thức hẳn bởi mùi cà phê mới và món bắp chiên bơ nóng hổi, và anh có thể chén sạch cả hai món kia mà không cần phải ra khỏi giường. Ồ, anh đã có thể xoay xở tốt, rất tốt. Mọi thứ đều tốt đẹp cả.

Nhưng ban đêm thì thật kinh khủng với anh.

Không phải anh gặp rắc rối trong chuyện đi vào giấc ngủ. Dễ lắm. Anh xem ti vi cho đến khi hai mắt rát lại; rồi anh leo lên lầu. Lại vặn vòi hoa sen, rồi cho đồ bẩn vào bồn tắm. Đôi khi anh nghĩ đến việc bỏ qua thủ tục này, ngoại trừ điều đó có nguy cơ khiến anh rớt lại đằng sau cái trật tự do mình tạo ra ấy. Thế nên anh thực hiện từng bước một: treo đồ đã giặt, chuẩn bị thức ăn sáng, làm sạch răng bằng chỉ nha khoa - anh không thể nào đi ngủ mà không làm việc đó. Chẳng rõ vì lý do gì mà Sarah thấy phát cáu với thói quen này của anh. Nếu Macon bị kết án tử hình, đã có lần cô nói thế, và họ bảo anh sẽ bị đem xử bắn vào lúc bình minh, thể nào đêm hôm ấy anh cũng vẫn miệt mài ngồi làm sạch răng cho mà xem. Macon, sau khi nghĩ chín ra, cũng gật đầu đồng tình. Ừ, chắc sẽ như thế thật. Liệu anh có chà răng trong khi vùi mình trong căn bệnh viêm phổi? Hay vật vã với bệnh sỏi mật trong bệnh viện? Hay tại nhà trọ dành cho khách đi đường trong cái đêm con trai anh bị giết? Anh soi răng mình trong gương. Chúng chưa bao giờ hoàn toàn trắng sáng, dù cho anh đã bỏ ra bao công sức chùi chà. Và giờ đây dường như làn da anh cũng bắt đầu hơi ngả sang vàng.

Anh tắt đèn, dịch con mèo sang một bên, đỡ con chó lên giường. Ấy là một giống chó xứ Wales, chân cực ngắn, nhưng lại cứ thích ngủ trên giường, do vậy mà tối nào nó cũng đứng thẳng lên, tựa chân trước lên giường nhìn Macon cầu khẩn cho đến khi anh đỡ nó lên giường mới thôi. Rồi cả ba đều yên vị. Macon trườn vào cái bao của anh, con mèo cuộn mình ấm áp ngay dưới cánh tay anh, còn con chó thì phóc đến cuối giường gần chân anh. Rồi Macon nhắm mắt lại và chìm vào giấc ngủ.

Vậy mà rốt cuộc anh lại thấy mình tỉnh như sáo với những giấc mơ - không phải chịu đựng chúng mà là dựng chúng lên một cách tẻ nhạt, mổ xẻ chúng đến từng chi tiết. Khi anh nhận thấy mình tỉnh giấc, anh mở mắt và liếc nhìn chiếc radio. Nhưng mới có một giờ sáng. Muộn nhất là hai giờ. Thế là vẫn còn trằn trọc nhiều giờ nữa mới đến sáng.

Đâu anh ong lên với những âu lo nhỏ nhặt. Có khi nào anh quên khóa cửa sau không nhỉ? Hay anh đã viết séc cho khoản nợ ngân hàng thay vì hóa đơn tiền ga? Anh sực nhớ mình đã mở hộp nước trái cây V8 và rồi đặt chiếc hộp vào ngăn đá. Các chỗ riềm kim loại sẽ bị ô xy hóa! Thể nào cũng nhiễm độc chì cho xem!

Những âu lo kiểu thế mỗi lúc một tăng lên. Anh tự hồi đã có gì sai lầm trong cuộc hôn nhân của hai người. Sarah là mối tình đầu tiên và cũng là duy nhất của anh; giờ đây anh lại nghĩ lẽ ra mình nên thực hành trước với ai đó đã. Trong cái quãng hai mươi năm chồng vợ ấy đã có những khoảnh khắc - những ngày tháng - anh cảm thấy họ không là một thể thống nhất như vẫn thường thấy ở các đôi vợ chồng khác. Đúng thế đấy, họ đã luôn là hai thực thể khác biệt, thậm chí bạn bè cũng không phải. Lại có những lúc họ giống như hai địch thủ đang gờm nhau, đua tranh xem lối sống của ai tốt hơn. Là Sarah, bừa bãi và dễ lung lay? Hay là Macon, ngăn nắp và kiên định?

Khi Ethan ra đời, nó chỉ mang lại thêm nhiều khác biệt giữa ba mẹ nó. Những điều họ đã cố lờ đi nay lại hiện lên mồn một. Sarah chẳng bao giờ đặt con trai vào một nề nếp nào cả, không nghiêm và cứ để mặc kệ. Còn Macon (ồ, anh biết điều đó, anh thừa nhận điều đó) lại quá chú ý đến việc lường trước cho cu cậu mọi tình huống có thể xảy ra đến độ anh chẳng còn chút thời gian nào để vui chơi cùng con. Ethan lên hai, rồi lên bốn - tất cả hiện lên trước mặt anh như một cuốn phim màu được chiếu lên trần nhà phòng ngủ. Cu cậu lúc nào cũng cười như nắc nẻ với Macon mỗi khi anh khom người xuống siết chặt lấy tay nó. Năm nó lên sáu, Macon đã rất quyết liệt trong việc dạy cậu vợt bóng; anh hẳn sẽ cảm thấy hết sức khổ sở nếu Ethan là người cuối cùng được chọn vào bất cứ đội nào. “Tại sao?” Sarah hỏi. “Nếu nó được chọn cuối cùng, thì nó được chọn cuối cùng. Sao anh không cứ để mọi chuyện xảy ra tự nhiên đi.” Cứ để vậy! Cuộc đời có quá nhiều điều ta không thể làm gì được; ta phải cố làm những gì có thể. Cô cười to khi Macon bỏ ra cả một mùa thu để góp nhặt Wacky Pack[1] bên trong có những tấm nhãn dính có hình Ethan thích để dán lên cửa phòng ngủ của nó. Macon dám cá là không đưa nào ở khối lớp ba có thể có nhiều thứ ấy hơn nó. Mãi rất lâu sau khi Ethan không còn hứng thú với cái trò đó nữa, Macon vẫn tiếp tục kiên trì mang thứ nhãn dính ấy về nhà. Macon biết mình đang làm một việc ngớ ngẩn, nhưng vẫn còn có những cái nhãn mà cha con anh chưa sưu tầm được...

Mười hai tuổi, Ethan đi cắm trại xa nhà - cách đây một năm, gần như tròn trặn. Bọn con trai hầu như đều đi cả, nhưng Macon lại lần lữa. Có con để làm gì, anh hỏi Sarah, khi mà em chỉ chực gửi nó đến một chỗ khỉ ho cò gáy nào đó ở Virginia? Cái lúc mà rốt cuộc anh cũng chịu thua, Ethan đã là đứa nổi bật trong nhóm bạn cùng lứa - một cậu con trai cao ráo tóc vàng với nét mặt thân thiện và cởi mở, có thói quen đáng yêu là nhịp nhịp các ngón chân mỗi khi thấy căng thẳng.

Đừng nghĩ về điều ấy.

Cậu đã bị giết tại tiệm bánh Burger Bonanza vào đêm cắm trại thứ hai. Ấy là một trong những cái chết không gây đau đớn gì cả - cái lối cướp của mà tên cướp sau khi lấy xong tiền và đã chực bước đi thì bỗng thấy tốt hơn nên nã vào sọ mỗi nạn nhân một phát đạn cho xong.

Thậm chí chẳng ai nghĩ Ethan lại ở đó. Cậu đã luồn ra khỏi khu vực cắm trại với một cậu bạn cùng lều, đứa lúc ấy đang đứng canh chừng bên ngoài.

Chỗ cắm trại thật đáng trách vì không có giám sát gì cả. Burger Bonanza thật đáng trách vì an ninh lỏng lẻo. Cậu bạn cùng lều kia thật đáng trách vì không chịu vào cùng luôn và biết đâu có thể thay đổi việc đã xảy ra. (Canh chừng cái gì cơ chứ, lạy Chúa?) Sarah thật đáng trách vì đã để Ethan ra khỏi nhà; Macon thật đáng trách vì đã đồng ý; Ethan cũng thật đáng trách (vâng, khỉ thật!). Ethan thật đáng trách vì đã muốn tham gia cái hội trại đó và vì đã lẻn ra khỏi trại, và vì đã vào Burger Bonanza như một tên ngốc gàn dở khi một vụ cướp của đang diễn ra. Cậu thật đáng trách vì đã ngoan ngoãn cùng với những người khác đi vào nhà bếp, vì đã đặt hai tay áp sát tường khi được bảo làm thế, và thế nào cũng khẽ nhịp các ngón chân...

Đừng nghĩ về điều ấy.

Người quản lý trại, vì không muốn báo tin dữ qua điện thoại, đã đích thân lái xe đến Baltimore cho họ biết việc xảy ra. Rồi lái ngược về Virginia. Macon thường hồi tưởng lại cái ông quản lý đó. Tên ông ta là Jim, Jim Robinson hay có thể là Roberton - một người đàn ông lực lưỡng, có ria mép màu sáng, với mái tóc húi cua, mặc một chiếc áo bành tô, bên trong là áo phông hiệu Redskins. Ông ta dường như thấy kém thoải mái khi không ai nói gì nên đã cố hết sức khỏa lấp sự im lặng bằng những mẩu chuyện rời rạc chắp nối. Macon đã không nghe, hoặc giả anh nghĩ rằng anh đã không nghe; nhưng giờ đây những mẩu chuyện không đầu đuôi đó lại kéo nhau về. Nào là bà mẹ của Jim đã là một người Baltimore ra sao, Jim đã chịu đựng cái năm Babe Ruth chơi cho đội Orioles như thế nào. Nào là cái đám cà chua của Jim ỏng eo ra sao, chúng chỉ cho ra toàn những quả bé tẹo rớt khỏi cành trước khi kịp chín. Nào là vợ Jim rất sợ phải lùi xe và luôn cố tránh các tình huống đòi hỏi phải vào số lùi thế nào. Giờ đây, nằm trên giường, Macon miên man suy nghĩ về điều ấy. Liệu có ai có thể lái xe mà không bao giờ phải cài số lùi không nhỉ? Vậy chỗ các ngả ba, ngả tư thì sao, ở những chỗ mà mấy bác xe buýt cứ chực thò đầu ra cửa sổ réo mình lùi xe lại một chút để mấy bác có thể rẽ trái hay phải. Chẳng lẽ cô ta không chịu à? Macon hình dung cô ta im lặng, thách thức, một mực nhìn về phía trước và giả vờ như chẳng nghe thấy gì cả. Thế là bác xe buýt nọ bật ra câu chửi thề, rồi nhấn còi inh ỏi, rồi những lái xe khác thì la ó, “Này, cô kia!” Một hình ảnh thật thú vị. Macon cứ giữ riết hình ảnh ấy trong đầu.

Rốt cuộc anh ngồi dậy và luồn ra khỏi cái bao của mình. Con chó, thở dài, tỉnh ngủ hẳn và vọt xuống giường, thẽ thọt xuống lầu sau ông chủ. Ván sàn mát rượi dưới chân, vải sơn lót nhà bếp lại còn mát lạnh hơn; một dòng sáng phát ra từ tủ lạnh khi Macon rót cho mình một ly sữa. Anh đi lên phòng khách và bật vô tuyến. Ti vi đang chiếu một bộ phim đen trắng gì đấy - đàn ông vận com lê và mũ nỉ, phụ nữ áo tay bồng. Anh không cố theo dõi cốt truyện. Anh chậm rãi nhấp từng ngụm sữa nhỏ, cảm thấy dòng can xi như tan chảy nhanh vào xương. Có phải anh đã đọc đâu đó rằng can xi có thể giúp trị chứng mất ngủ? Anh lơ đãng vuốt ve con mèo không biết bằng cách nào đã trườn vào nằm trong lòng anh từ bao giờ. Thật quá nóng nực khi để một con mèo nằm trong lòng như thế, nhất là con mèo này - một con mèo cái rậm rạp lông xám như thể làm từ một thứ chất liệu gì đó dày một cách bất thường. Và con chó thì cũng lại đang nằm ngay dưới chân anh. “Chỉ còn lại tao và tụi mày thôi, bạn thân mến.” Macon bảo chúng thế. Con mèo liếm một vệt hình dấu phảy ngang qua bắp đùi trần của anh.

Sau cùng anh tuồn ra khỏi hai con vật và tắt ti vi. Anh cho ly vào bồn nước rửa chén trong nhà bếp đã pha chất tẩy clo. Rồi leo lên lầu. Anh đứng cạnh cửa sổ phòng ngủ nhìn quanh quất sang nhà hàng xóm - những nhánh cây đen kịt ngoằn ngoèo trên nền trời đêm tím sẫm, đây đó lấp lóa một tấm che bằng ván trắng, đôi khi là một ánh đèn. Macon luôn cảm thấy dễ chịu khi phát hiện ra một ánh đèn. Anh cho rằng có ai đó cũng mất ngủ như anh. Anh không thích nghĩ đến bất kỳ khả năng nào khác - một bữa tiệc chẳng hạn, hay tâm sự giữa những người bạn cũ lâu ngày gặp. Anh thích nghĩ đến khả năng người kia cũng như anh, đang ngồi tỉnh như sáo có gạt những suy nghĩ ra khỏi đầu. Như vậy khiến anh dễ chịu hơn rất nhiều. Anh quay về giường. Đặt mình xuống. Nhắm mắt lại và thậm chí chẳng cần cố gắng gì, anh trôi ngay vào giấc ngủ.

❀ ❀ ❀

[1] Wacky Pack: Những tấm card thương mại mô tả nét nổi bật của các sản phẩm tiêu dùng vùng Bắc Mỹ do công ty Topps sản xuất lần đầu vào năm 1967, thường ở dạng nhãn dính.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anne Tyler

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.