Du Khách Bất Đắc Dĩ

Lượt đọc: 98 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10

❊ ❊ ❊

“Tôi nói thật đấy,” Muriel nói. “Chúng tôi đâu có định sinh em bé. Ý tôi là ngay cả kết hôn thật sự cũng chưa, nếu anh muốn biết sự thật. Nếu anh muốn biết sự thật thì đứa bé chính là lý do khiến chúng tôi phải lấy nhau, nhưng tôi đã bảo Norman rằng anh ấy không cần phải chịu trách nhiệm về chuyện đó nếu anh ấy không muốn. Không phải là tôi muốn buộc anh ấy phải có trách nhiệm hay gì gì đâu.”

Cô hướng ánh mắt ra phía sau Macon nhìn Edward đang nằm xoãi ra trên tấm thảm phòng lớn nhà trên. Nó bị ép phải nằm đúng tư thế, nhưng ít nhất nó đã chịu nằm yên một chỗ.

“Anh hãy để ý cách tôi cho nó xê dịch chút đỉnh, miễn là nó chịu nằm như thế,” cô nói. “Giờ tôi sẽ xoay lưng lại nhé, và anh xem xem nó làm gì.”

Cô lững thững đi vào phòng khách, cầm lọ hoa trên bàn lên săm soi dưới đáy. “Vậy nên dù thế nào đi nữa,” cô nói, “chúng tôi cứ thế đi đến kết hôn, trong khi mọi người làm như thể ấy là thảm họa tồi tệ nhất thế giới vậy. Người nhà tôi không bao giờ có thể vượt qua được chuyện ấy. Mẹ tôi bảo, ‘Tao biết ngay là thế nào chuyện này cũng xảy ra mà. Nhớ lại cái lúc mày cặp kè với thằng Dana Scully và cả lũ con trai khác luôn chờn vờn quanh mày, không đếm sao cho xuể, chẳng phải tao đã bảo rằng chuyện này thế nào cũng xảy ra hay sao?’ Chúng tôi tổ chức một đám cưới nho nhỏ tại nhà thờ, chẳng trăng đường trăng mật gì cả mà đi thẳng về căn hộ luôn và ngay ngày hôm sau Norman bắt đầu làm việc ở chỗ chú anh ấy. Anh ấy quen ngay với việc là đàn ông đã có vợ - cùng tôi đi mua hàng tạp phẩm, chọn rèm cửa và mấy việc linh tinh khác. Ồ, anh biết đấy, đôi khi tôi bỗng nghĩ rằng chúng tôi thật trẻ con. Giống như chúng tôi đang chơi trò vợ chồng vậy! Chỉ là giả vờ thôi! Những ngọn nến tôi thắp lên vào giờ ăn tối, những bông hoa trên bàn, Norman gọi tôi là ‘vợ yêu’ và bê đĩa của anh đến bồn cho tôi rửa. Và rồi mọi thứ ngay lập tức bỗng trở nên nghiêm túc. Giờ này tôi đã có một cậu con trai nhỏ, cậu con trai bảy tuổi bằng xương bằng thịt, và đó đã chẳng phải là trò chơi vợ chồng chút nào. Tất cả là thật, từ đầu chí cuối, chỉ là chúng tôi đã không nhận ra đấy thôi.”

Cô ngồi trên trường kỷ và nhấc một chân lên trước mặt. Cô xoay chân qua lại với ánh mắt tự mãn. Đôi vớ dài của cô phồng ra nơi mắt cá.

“Edward sao rồi?” cô hỏi.

Macon đáp, “Nó vẫn đang nằm.”

“Chẳng mấy nữa nó sẽ cứ nằm thế suốt ba giờ đồng hồ trở lên cho mà xem.”

“Ba giờ?”

“Dễ thôi mà.”

“Không phải dùng đến bạo lực chứ?”

“Tôi tưởng anh đã hứa không nói đến chuyện này nữa,” cô bảo anh.

“Được rồi. Xin lỗi cô,” Macon nói.

“Có thể ngày mai nó sẽ tự nằm.”

“Cô nghĩ vậy à?”

“Nếu anh tập cho nó. Nếu anh không bỏ cuộc. Nếu anh không dễ mềm lòng.”

Rồi cô đứng lên và lại gần Macon, vỗ lên cánh tay anh và bảo, “Nhưng không sao đâu, trong suy nghĩ của tôi đàn ông đa cảm rất đáng yêu.”

Macon xoay lưng lại dợm bước. Suýt chút nữa giẫm lên con Edward.

❀ ❀ ❀

Lễ Tạ ơn sắp đến, mấy anh em nhà Leary như mọi năm lại bàn cãi về bữa tối lễ Tạ ơn. Sự thực là không ai trong bọn họ để tâm đến món gà tây. Nhưng Rose bảo thật chẳng hợp lý chút nào khi lại đi nấu nướng bất kỳ món nào khác. Chuyện đó đơn giản là không hợp lý. Mấy ông anh bảo cô sẽ phải thức dậy lúc năm giờ để cho gà tây vào lò nướng. Thế nhưng ấy là việc của cô mà, Rose bảo. Chẳng phiền đến họ.

Rồi thì hóa ra dường như cô có động cơ cá nhân nào đấy, vì ngay khi mấy ông anh nhất trí về món gà tây cô thông báo rằng có thể cô chỉ mời mỗi Julian Edge thôi. Thật tội nghiệp cho Julian, Rose nói, chả có gia đình thân thuộc bên cạnh, anh ta cùng mấy người hàng xóm, vào các ngày nghỉ, thường tụ lại với nhau một cách cô độc và buồn tủi, mỗi người mang theo món đặc biệt của mình. Bữa tối lễ Tạ ơn năm rồi anh ta chỉ có món mì thịt hầm dành cho người ăn chay, phô mai làm từ sữa dê đặt trên lá nho và bánh tạc nhân kiwi. Ít nhất thì cô cũng có thể mang đến cho anh ta một bữa tối gia đình bình thường.

“Cái gì!” Macon thốt lên kinh ngạc và tỏ ra không tán thành, nhưng không may, cái cách biểu hiện của anh chẳng giống gì với ngạc nhiên cả. Ồ, Julian xứng đáng với thứ gì đấy, được thôi. Nhưng có thể là cái gì chứ? Bất kỳ khi nào Rose bước xuống lầu với bộ váy đẹp nhất của cô và má phấn phớt hồng, bất kỳ khi nào Rose bảo Macon nhốt Edward vào phòng để đồ ăn vì Julian sắp ghé qua đưa cô đi đâu đó - thì trong Macon bừng lên một thôi thúc làm như vô tình để Edward thoát được ra ngoài. Anh làm vậy chỉ cốt để chạm trán Julian ngay cửa, nhìn anh ta hồi lâu, cứ lặng im như thế một lúc rồi mới lên tiếng gọi Rose. Thế nhưng Julian vẫn tỏ ra bình thường; không chút gì lộ vẻ mai mỉa hay châm biếm. Anh ta tôn trọng Rose, có phần hơi thẹn nữa chứ, và lóng nga lóng ngóng mỗi khi đưa cô ra ngoài. Hay ấy chính là sự mỉa mai? Cách hành xử theo lối Rose Leary của anh ta. Macon không thích cái cảnh ấy chút nào.

Thế nhưng cả mấy đứa nhỏ nhà Porter cũng sẽ về dịp lễ Tạ ơn này. Mọi năm chúng vẫn về vào lễ Giáng sinh nhưng năm nay có chút thay đổi vì có gì đó rắc rối với bố mẹ của ông cha dượng. Thế nên Rose bảo, nấu món gà tây chẳng phải sẽ rất tuyệt sao? Bọn trẻ cũng truyền thống ra phết đấy. Cô bắt tay vào việc nướng bánh bí ngô. “Chúng ta tụ họp bên nhau,” cô hát, “để được Chúa ban phước lành...” Đang trải khắp bàn bếp mớ menu lấy được từ mấy nhà hàng, Macon nghe tiếng hát bèn nhìn lên. Có một nốt vui trong giọng hát của cô khiến anh cảm thấy bực bội thế nào ấy. Anh tự hỏi liệu con bé có mắc sai lầm gì về Julian hay không - chẳng hạn không biết nó có đặt hy vọng vào một điều gì đó lãng mạn hay không. Nhưng trông Rose thật bình dị và giản đơn trong chiếc tạp dề dài màu trắng. Cô khiến anh liên tưởng đến Emily Dickinson[1]; không phải Emily Dickinson cũng nướng bánh cho lũ cháu chứ? Thật ra thì chẳng cần bận tâm làm gì.

❀ ❀ ❀

“Tên con trai tôi là Alexander,” Muriel nói. “Tôi đã cho anh biết điều ấy chưa nhỉ? Tôi đặt tên cho cháu là Alexander vì tôi nghĩ cái tên ấy có vẻ sang sang, quý tộc. Cháu là đứa khó nuôi. Có gì đó không ổn hồi tôi đang mang thai cháu, thế là bác sĩ phải làm phẫu thuật, lấy cháu ra khi vẫn chưa đủ tháng và sau khi phẫu thuật xong tôi không còn khả năng sinh con nữa. Còn Alexander thì bé xíu xiu, bé đến độ thậm chí chẳng giống người gì cả, giống một con mèo con mới sinh có cái đầu to hơn, cháu phải ở trong lồng kính luôn như thế, và suýt nữa thì chết. Norman nói, ‘Khi nào nó mới giống những đứa bé khác nhỉ?’ Anh ấy luôn luôn gọi Alexander là ‘nó’[2]. Tôi thích nghi nhanh hơn; ý tôi là dường như tôi sớm nhận thấy rằng một đứa trẻ mới sinh thì phải trông giống như thế, và tôi suốt ngày quanh quẩn bên lồng kính còn Norman thì không chịu lại gần con, anh bảo thấy nó chỉ khiến anh thêm lo lắng bực bội.”

Edward rên ư ử. Nó cứ chực nhổm người lên - hai bên hông rướn lên, móng cào cào xuống thảm. Nhưng Muriel chẳng tỏ vẻ gì là để ý cả.

“Có thể anh và Alexander nên gặp nhau lúc nào đấy nhỉ,” cô bảo Macon.

“Ồ, tôi, à...” Macon lúng túng.

“Nó hiếm khi có cơ hội tiếp xúc với người lớn cùng phái.”

“À, nhưng...”

“Tôi cho rằng nó phải được gặp người cùng phái nhiều hơn để có thể biết được cách xử sự cho ra dáng đàn ông. Có thể ba chúng ta sẽ đi xem phim. Anh đâu có hay đi xem phim phải không?”

“Ừm,” Macon thành thật đáp. “Tôi đã không đến rạp chiếu phim bao tháng nay rồi. Tôi thật sự không để tâm đến phim ảnh. Có vẻ như người ta quay mọi thứ cận cảnh quá.”

“Hay chỉ cần đến tiệm McDonalds nào đó thôi cũng được.”

“Tôi không nghĩ vậy,” Macon nói.

❀ ❀ ❀

Mấy đứa nhỏ nhà Porter đến vào buổi tối trước lễ Tạ ơn, cả bọn đi bằng xe hơi vì Danny - đưa lớn nhất – mới thi đậu bằng lái. Việc đó khiến Porter lo lắng ghê gớm. Anh cứ đi tới đi lui từ cái lúc lẽ ra bọn nhỏ đã đến rồi mà chưa thấy tăm hơi. “Chẳng biết June nghĩ gì trong đầu nữa,” anh nói. “Để một đứa nhóc mười sáu tuổi lái cả chặng đường từ Washington đến Baltimore trong khi nó nhận bằng lái mới vỏn vẹn một tuần! Lại còn chở hai đứa em gái nữa chứ! Không biết đầu óc mẹ nó có vấn đề gì không nữa.”

Còn tệ hơn cả thế, bọn trẻ đã trễ gần một tiếng đồng hồ. Khi rốt cuộc thì Porter cũng thấy cái đầu xe xuất hiện, anh vội lao ra cửa và chạy băng băng xuống bậc tam cấp, đứng chặn trước mặt bọn trẻ. “Sao muộn quá vậy?” anh lớn tiếng.

Danny ra khỏi xe với thái độ cực kỳ lãnh đạm, há miệng ngáp, vươn vai, và bắt tay Porter như ý muốn bảo mọi giải thích sẽ từ từ tính sau trong khi quay sang săm soi mấy cái lốp xe. Cậu đã cao ngang Porter nhưng gầy nhom, làn da sẫm màu thừa hưởng từ mẹ. Theo sau cậu là Susan, mười bốn tuổi – lớn hơn Ethan vài tháng. Thật may là con bé chẳng giống gì Ethan, mái tóc ngắn màu đen xoăn tít và hai má lúc nào cũng ửng hồng. Tối nay con bé mặc quần jean, đi giày leo núi và khoác chiếc áo phao dày cộm - loại làm cho những người trẻ tuổi trông có vẻ bự con hơn và hách xì ngầu. Rồi cuối cùng là Liberty. Tên kiểu gì vậy không biết nữa, Macon luôn nghĩ như thế. Ấy là phát minh của mẹ nó - một phụ nữ phù phiếm đã ruồng rẫy Porter để chạy theo một gã bán máy hippie stereo cách đây tám năm rưỡi và ngay khi đó phát hiện ra rằng mình đã có thai được hai tháng rồi. Mỉa mai thay, Liberty lại là đứa giống Porter nhất. Cũng tóc thẳng màu sáng, cũng khuôn mặt thanh tú, và hôm nay cô bé mặc một chiếc áo khoác may đo nhỏ xíu. Danny lạc đường đấy, cô bé gay gắt. Người gì mà ngốc thế không biết.” Cô bé hôn Porter, Rose và hai ông chú, nhưng Susan lại cứ thế lững thững đi ngang qua bốn người theo cách muốn chứng tỏ cho họ biết rằng nó có còn bé bỏng gì nữa đâu để mà làm cái chuyện đó.

“Ồ, như thế này mà không vui sao?” Rose hoan hỉ. “Chẳng lẽ chúng ta sẽ không có một ngày lễ Tạ ơn tuyệt vời hay sao?” Cô đứng trên lề đường quấn một tay vào trong tạp dề, có lẽ để cố ngăn mình nhào tới Danny khi cậu ta lừ đừ tiến về phía ngôi nhà. Trời nhá nhem tối, và Macon, tình cờ liếc nhìn xung quanh, thấy hết thảy họ giống như những hồn ma nhợt nhạt – bốn anh em trung niên không vợ chồng gì khao khát được âu yếm những người thân thuộc trẻ tuổi.

Bữa tối có món bánh pizza mua về, để lấy lòng bọn trẻ, nhưng Macon lại cứ ngửi thấy mùi gà tây. Thoạt tiên anh nghĩ chắc là mình tưởng tượng ra thôi. Rồi anh để ý thấy Danny khụt khịt mũi. “Gà tây? Chín rồi à?” Danny hỏi cô.

“Cô đang thử nghiệm một phương pháp mới,” cô nói. “Để tiết kiệm điện ấy mà. Cứ để lò nướng ở nhiệt độ cực thấp rồi nấu cả đêm thế.”

“Quái nhỉ.”

Sau bữa tối, họ xem ti vi - có vẻ như bọn trẻ chưa bao giờ thấy mặn mà với trò chơi bài - rồi đi ngủ. Nhưng đến nửa đêm, Macon bỗng giật mình tỉnh giấc và nghĩ về món gà tây một cách nghiêm túc. Có phải Rose sẽ nấu món đó đến mai không nhỉ? Ở nhiệt độ cực thấp? Chính xác là bao nhiêu?

Anh đang ngủ trong căn phòng cũ của mình, giờ cái chân đã lành. Anh từ từ huých con mèo đang nằm trên ngực xuống rồi ngồi dậy ra khỏi giường. Anh lần mò xuống cầu thang tối hù, bước trên nền vải sơn lót sàn nhà bếp mát lạnh, và bật cái đèn nhỏ xíu bên trên lò nướng. Anh thấy lò nướng đang ở nhiệt độ bảy mươi bảy. “Chắc chết quá,” anh nói với con Edward đang lẽo đẽo theo sau. Rồi Charles bước vào, lùng nhùng trong bộ pyjama vải mềm rộng thùng thình. Anh nhướng mắt nhìn nhiệt độ và thở dài. “Không chỉ có vậy đâu,” anh nói, “mà còn là gà tây nhồi nữa cơ đấy.”

“Tuyệt đầy chứ.”

“Những hai ký nhồi cơ. Anh nghe nó bảo thế.”

“Hai ký vi khuẩn nhồi.”

“Biết đâu nó có phương pháp gì đó mà chúng ta không biết thì sao.”

“Đến sáng chúng ta sẽ hỏi nó xem,” Macon nói, và họ trở về giường.

Vào buổi sáng, Macon xuống lầu thấy Rose đang dọn bánh kếp ra cho bọn trẻ. Anh nói, “Rose à, chính xác là em đang làm gì với món gà tây vậy?”

“Nói với anh rồi mà: để ở nhiệt độ thấp. Danny, mứt hay xi rô?”

“Chắc thế không?” Macon hỏi.

“Cháu làm chảy ra hết kìa,” Rose nói với Liberty. “Gì nữa, Macon? Em đọc một bài báo về món thịt bò nấu ở nhiệt độ thấp và em nghĩ, à, nếu mà cách đó được với thịt bò thì thể nào với gà tây cũng ổn, thế nên em...”

“Cách đó có thể đúng với thịt bò nhưng với gà tây mà thế sẽ khiến chúng ta ngộ độc mất,” Macon nói với cô.

“Nhưng cuối cùng em sẽ tăng nhiệt độ lên mà!”

“Em phải để ở nhiệt độ cao. Em phải hầm chứ.”

“Cô phải nấu ở nhiệt độ cực cao mới được - cao như trong lò hạt nhân ấy,” Danny trêu.

Rose bảo, “Ồ, hai chú cháu sai cả rồi. Ai là đầu bếp ở đầy chứ? Bảo ngon là sẽ ngon mà.”

Có thể là vậy, nhưng nhìn bề ngoài nó lại không có vẻ như vậy. Đến giờ ăn tối, ngực con gà dúm dó lại còn da thì khô quéo đi và xỉn màu. Rose hân hoan bước vào phòng ăn, tay bê con gà tây giơ lên cao giống như người ta giơ cúp chiến thắng, nhưng chỉ những người không biết gì về phương pháp nấu mới của cô mới thể hiện sự cảm kích - đó là Julian, và bà Barret - một trong những hàng xóm lớn tuổi của Rose. Julian thốt lên, “Ah!” còn bà Barret thì móm mém cười. “Tôi chỉ ước sao mấy người hàng xóm của tôi có thể trông thấy món ăn này,” Julian nói. Anh ta mặc áo cộc tay màu xanh hải quân với những hạt cúc bằng đồng, và hình như còn mới cạo mặt sạch bong nữa.

“À, có thể có một vấn đề nhỏ ở đây,” Macon nói.

Rose đặt con gà xuống và lừ mắt.

“Dĩ nhiên, những món khác không chê vào đâu được,” anh nói. “Nào, chúng ta có thể no nê với chỉ món rau thôi! Thật ra tôi sẽ làm thế. Còn món gà tây thì...”

“Chỉ là một món gây chết người thôi,” Danny tiếp theo ý của anh.

Julian nói, “Nói lại xem?” nhưng bà Barrett vẫn móm mém cười.

“Bọn anh nghĩ rằng có thể em đã nấu món gà tây ở nhiệt độ hơi thiếu thích hợp,” Macon phân bua.

“Không phải thế!” Rose nói. “Rất hoàn hảo mà.”

“Có thể bác nên ăn những món phụ thôi,” Macon nói với bà Barrett. Anh lo có thể bà bị lãng tai.

Thế nhưng chắc chắn là bà nghe thấy vì bà trả lời, “À, có thể ta sẽ làm vậy,” và vẫn móm mém cười. “Dù sao ta cũng không cảm thấy thèm ăn lắm,” bà nói.

“Còn cháu thì ăn chay,” Susan bảo.

“Cháu cũng vậy,” Danny chợt xen vào.

“Ồ, Macon, sao mà anh có thể làm thế được hả?” Rose hỏi. “Ôi món gà tây hảo hạng của tôi! Mọi khâu đều ổn mà!”

“Tôi nghĩ trông nó ngon đấy chứ,” Julian nói.

“Ừ,” Porter nói với anh ta, “nhưng cậu có biết những lần khác như thế nào đâu.”

“Những lần khác?”

“Những lần ấy chỉ là do không may thôi mà,” Rose nói.

“Ồ, dĩ nhiên rồi!” Porter nói. “Hay là do tiết kiệm. Em không thích vứt các thứ đi; anh có thể hiểu điểu đó mà! Thịt heo được hâm đi hâm lại nhiều lần hoặc món xa lát trộn thì để qua đêm hôm sau ăn tiếp...”

Rose ngồi phịch xuống. Hai mắt ầng ậng nước. “Đấy,” cô nói, “mấy người thật là tệ! mấy người cứ muốn lấy em ra làm trò hề; em biết sao mấy người làm thế rồi. Mấy người muốn làm em không ra gì trước Julian đúng không.”

“Julian?”

Julian có vẻ bối rối. Anh ta lôi chiếc khăn tay từ túi áo ngực ra, nhưng rồi cứ cầm nguyên thế.

“Mấy người muốn đuổi anh ấy đi mà! Cả ba người đã phí hoài cơ hội của mình rồi và giờ lại muốn em cũng giống vậy chứ gì, nhưng em sẽ không chịu vậy đâu. Em có thể thấy được cái gì là cái gì mà. Hãy thử nghe bất kỳ bài hát nào trên radio; xem bất kỳ vở kịch dài tập nào trên truyền hình; bao giờ đề tài chính cũng là tình yêu. Trong các vở kịch dài tập trên truyền hình, mọi chuyện đều xoay quanh tình yêu. Một người mới đến một thị trấn và ngay sau đó vấn đề đặt ra là, anh ta sẽ yêu ai? Ai sẽ đáp lại tình anh ta? Ai sẽ mất trí vì ghen tuông? Ai sẽ hủy hoại đời mình? Và giờ mấy người muốn em bỏ lỡ cơ hội ấy!”

“Ôi, chúa ơi,” Macon nói, cố gắng xoa dịu tình hình.

“Mấy người hoàn toàn biết rằng chẳng có gì không ổn với món gà tây này cả. Mấy người chỉ không muốn em thôi nấu ăn cho mấy người và coi sóc ngôi nhà này, mấy người không muốn Julian phải lòng em.”

“Sao cơ?”

Nhưng cô đã xích ghế ra, đứng lên và chạy ào ra khỏi phòng. Julian ngồi im mồm há hốc.

“Cậu không dám cười à?” Macon hỏi anh ta.

Julian không phản ứng gì, cứ ngồi nguyên như thế.

“Thậm chí cậu cũng không cần nhắc gì à?”

Julian nuốt nước bọt. Anh ta hỏi, “Ông anh có nghĩ là tôi nên theo đuổi cô ấy không?”

“Không,” Macon nói.

“Nhưng cô ấy dường như thật là...”

“Nó ổn mà! Nó cực kỳ ổn.”

“Ồ.”

“Giờ ai muốn dùng món khoai tây bỏ lò nào?”

Có tiếng rì rầm quanh bàn; mọi người trông có vẻ không vui. Thật là một cô gái tốt bụng tội nghiệp,” bà Barrett nói. “Tôi thấy tệ quá.”

“Cháu cũng vậy,” Susan nói.

“Julian?” Macon hỏi, gõ gõ muỗng. “Khoai tây chứ?”

“Tôi dùng món gà tây,” Julian nói với giọng cương quyết.

Ngay lúc đó, Macon bỗng thấy hơi thích anh chàng này.

❀ ❀ ❀

“Chính việc có con đã khiến cuộc hôn nhân của chúng tôi tan vỡ,” Muriel nói. “Anh nghĩ mà xem, buồn cười thật đấy chứ. Trước tiên chúng tôi lấy nhau là vì đứa bé và rồi chúng tôi bỏ nhau cũng vì đứa bé ấy, và thêm nữa, đứa bé còn là đề tài chính trong các cuộc cãi cọ của chúng tôi. Norman không thể hiểu tại sao lúc nào tôi cũng có mặt ở bệnh viện nhi nơi Alexander được chăm sóc. ‘Nó có biết em ở bên nó đâu, sao phải thế chứ?’ anh ấy bảo vậy. Tôi đến bệnh viện từ sáng tinh mơ, rồi lẩn quẩn ở đấy, đến tận tối tôi mới về nhà, y tá ở đấy rất tử tế. Norman nói, ‘Muriel, chúng ta sẽ không thể trở về cuộc sống bình thường như trước đây nữa phải không?’ À, anh có thể thấy quan điểm của anh ấy rồi đấy, tôi đoán vậy. Kiểu như là tâm trí tôi bây giờ chỉ dồn cả vào Alexander. Mà thằng bé cứ ở bệnh viện như thế suốt hàng tháng trời, hàng tháng trời thật đấy; thằng bé chẳng thể thích nghi được với bất kỳ thứ gì trên đời này. Anh phải xem các hóa đơn thuốc thì mới biết. Chúng tôi chỉ đóng bảo hiểm một phần mà tập hóa đơn thì ngày càng dày lên, hàng ngàn hàng ngàn đô la. Cuối cùng, tôi đã xin việc tại bệnh viện. Tôi hỏi liệu tôi có thể làm gì đó trong phòng trẻ sơ sinh không nhưng họ bảo không, thế nên tôi làm công việc của người giúp việc, lau rửa phòng bệnh nhân và những việc tương tự. Đổ rác, chùi rửa sàn nhà.”

Cô và Macon đang đi dạo dọc theo đường Dempsey cùng với Edward, hy vọng tình cờ gặp được một người đi xe đạp. Muriel cầm sợi dây. Cô bảo nếu gặp một người đi xe đạp trên đường mà Edward nhào tới hoặc có phản ứng gì đó dù nhỏ nhất, cô cũng sẽ giật sợi dây mạnh đến độ nó không bao giờ biết được cái gì làm nó đau đến thế. Cô cảnh báo Macon như vậy trước khi họ ra ngoài đi dạo. Cô nói tốt hơn cả anh không nên phản đối vì điều này chỉ có lợi cho bản thân Edward mà thôi. Macon hy vọng anh có thể nhớ được điều ấy khi chuyện xảy ra.

Hôm nay là thứ Sáu sau lễ Tạ ơn, tuyết đã lác đác rơi sớm hơn mọi năm, nhưng vẫn chưa thấy giá buốt thực sự và các vỉa hè mới chỉ hơi ẩm thôi. Bầu trời nặng trĩu như thể chỉ đang ở cách đầu họ chưa tới một mét.

“Có một bệnh nhân, bà Brimm, rất quý tôi,” Muriel kể. “Bà ấy bảo tôi là người duy nhất chịu khó nói chuyện với bà. Tôi vào phòng và kể chuyện về Alexander cho bà ấy nghe. Tôi kể cho bà ấy nghe những điều bác sĩ nói, họ đã không cho thằng bé cơ hội như thế nào và ai đó thậm chí còn tự hỏi liệu chúng tôi có muốn một cơ hội không, khi mà thằng bé chẳng thể thích nghi được với bất kỳ thứ gì trên đời này. Tôi kể cho bà ấy nghe về tôi và Norman và cách hành xử của anh ấy, và bà ấy bảo nghe giống hệt câu chuyện trong một tạp chí nào đấy.

Đến khi bác sĩ cho xuất viện bà ấy muốn tôi về cùng, nhận công việc chăm sóc bà ấy tại nhà, nhưng tôi không thể vì còn phải lo cho Alexander.”

Một người đi xe đạp xuất hiện ở cuối con đường, một cô gái mặc đồng phục của cửa hàng kem Baskin-Robbins, với chiếc jacket khoác bên ngoài. Edward vểnh cả hai tai lên. “Nào, giờ hãy làm như chúng ta không hề nghĩ gì đến rắc rối sẽ xảy ra,” Muriel bảo Macon, “cứ đi, cứ đi bình thường, thậm chí cũng đừng nhìn theo hướng con Edward.”

Cô gái đạp xe về phía họ, gương mặt cô nhỏ xíu nghiêm nghị. Khi cô lướt qua, hương kem chocolate ngào ngạt sực vào mũi họ. Edward khịt khịt mũi nhưng rồi tiếp tục đi.

“Ồ, Edward, mày được đấy!” Macon bảo nó.

Muriel chỉ toóc lưỡi. Có vẻ như cô công nhận cách hành xử đúng mực của Edward.

“Rồi dù gì thì,” cô nói. “Rốt cuộc họ cũng cho Alexander xuất viện. Nhưng thằng bé cũng vẫn chưa to hơn lúc mới sinh là bao. Da dẻ nhăn nheo hết cả lại trông cứ như người già vậy. Khóc thì hệt như tiếng mèo ngao. Thở thì khó nhọc. Còn Norman thì thôi, khỏi nói, chẳng giúp được gì cả. Tôi chắc là anh ấy ghen tị. Trông anh toát lên vẻ ương ngạnh mỗi khi tôi phải làm gì, hâm bình sữa hay gì gì đó. Anh ấy thường gặng hỏi, ‘Em bỏ đi đâu đấy? Em không muốn xem phần cuối chương trình à?’ Lúc tôi đang đứng bên nôi Alexander ngắm nhìn thằng bé cố hít thở thì Norman gọi í ới, ‘Muriel, chương trình quảng cáo vừa hết rồi đấy!’ Lại còn chuyện này nữa, mẹ anh ấy đứng ở bầu cửa lèm bèm bảo thằng bé không phải con anh ấy.”

“Cái gì? Còn vậy nữa!” Macon nói.

“Anh có tin được không? Đứng ở bậu cửa với vẻ mặt trông thật hả hê. ‘Không phải con anh ấy ư?’ tôi nói, ‘Vậy thì con ai?’ ‘À, làm sao tôi biết được,’ bà nói, ‘tôi ngờ là cả cô cũng còn không biết nữa ấy chứ. Nhưng tôi báo cho cô biết: Nếu cô không chịu ly hôn con trai tôi và miễn cho nó mọi yêu sách về tài chính, đích thân tôi sẽ nhờ Dana Scully và bạn bè của nó ra tòa để làm chứng việc cô là một con đàn bà lăng loàn có tiếng và đứa trẻ kia có thể là con của ai đó trong số bọn chúng. Rõ ràng nó không phải là con của Norman; Norman là một đứa bé đáng yêu.’ Thế đấy. Đợi cho đến khi Norman đi làm về, tôi nói, ‘Anh có biết mẹ anh nói gì với em không?’ Thế rồi nhìn nét mặt anh ấy tôi biết câu trả lời là có. Vậy là chắc bà đã từng nói với anh ấy sau lưng tôi, có trời mới biết từ bao lâu rồi, và cài vào đầu anh mối ngờ vực ấy. Tôi nói, ‘Norman?’ Anh chỉ lắp ba lắp bắp. Tôi nói, ‘Norman, mẹ nói dối, đó không phải là sự thật, em đã không còn đi lại với bọn con trai đó từ khi gặp anh! Tất cả đã là quá khứ!’ Anh ấy nói, ‘Anh không biết nghĩ thế nào nữa.’ Tôi nói, ‘Nào anh!’ Anh ấy nói, ‘Anh không biết.’ Anh ấy đi xuống nhà bếp và bắt đầu sửa chữa tấm kính cửa sổ lâu nay tôi cằn nhằn mãi mà vẫn chưa chịu sửa, tấm kính đang được tháo ra nửa chừng mặc dù bữa tối đã sẵn sàng trên bàn. Tôi đã nấu cho anh bữa tối đặc biệt này. Tôi đi theo sau anh và nói, ‘Norman. Dana và bọn họ hết quen với em đã lâu lắm rồi. Đứa bé không thể là con họ được.’ Anh cố lèn một bên tấm kính vào khung nhưng không được, anh chuyển sang phía bên kia và bị đứt tay, thế là anh òa lên khóc và tháo tung mọi thứ ra khỏi cửa sổ rồi ném cật lực ra xa. Rồi ngay ngày hôm sau, mẹ anh ấy đến giúp sắp xếp quần áo và anh ấy cứ thế bỏ tôi mà đi.”

“Chúa ơi,” Macon nói. Anh thấy sốc, như thể chính anh đã từng biết Norman.

Vậy nên tôi nghĩ về việc cần phải làm gì lúc đó, tôi biết tôi không thể trở về với người thân của mình được nữa. Rốt cuộc tôi gọi cho bà Brimm hỏi liệu bà ấy có còn muốn tôi đến nhà chăm sóc bà nữa hay không, và bà nói có, bà cần; người hiện đang chăm sóc cho bà chẳng làm gì ra hồn cả. Thế nên tôi nói tôi sẽ đến chăm sóc cho bà, đổi lại tôi có được chỗ ăn ở, rồi hỏi liệu tôi có thể mang theo đứa bé không và bà nói được, tốt thôi. Bà ấy có một cái nhà nhỏ xíu nằm trong một dãy nhà liền vách nhau dưới phố và có một chiếc giường dự trữ cho tôi với Alexander ngủ. Đó là cách tôi xoay sở để có thể tiếp tục sống.”

Họ đã đi qua nhiều dãy nhà rồi nhưng không có vẻ gì là cô muốn quay lại. Cô cầm sợi xích lỏng tay hơn và Edward vênh váo đi bên cạnh cô, không lỡ một nhịp nào. “Tôi may đấy chứ nhỉ, phải không,” cô nói. “Nếu không nhờ có bà Brimm tôi không biết mình ra sao nữa. Và công việc cũng không nhiều nhặn gì mấy. Chỉ giữ cho nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp, giúp bà ăn, rồi đi loanh quanh. Bà ấy bị chứng tê thấp nên đi đứng rất khó khăn, bù lại bà rất kiên cường! Nên thật sự tôi cũng không phải săn sóc bà mấy.”

Cô đi chậm lại rồi dừng hẳn. Edward, thở một hơi đánh thượt, ngồi xuống bên chân trái cô. “Anh cứ thử nghĩ mà xem, buồn cười thật đấy,” cô nói. “Cả cái quãng thời gian Alexander nằm viện dường như thật kinh khủng, dường như nó sẽ cứ thế mãi mãi, nhưng giờ đây khi nhìn lại, tôi lại thấy nhơ nhớ. Ý tôi là có gì đó rất ấm áp mỗi khi hồi tưởng về thời gian ấy. Tôi nghĩ về những cô y tá nói chuyện phiếm trong phòng dành cho y tá và cả bao nhiêu là dãy dài những em bé sơ sinh đang thiêm thiếp ngủ. Ấy là mùa đông và có đôi khi tôi đứng nơi cửa sổ nhìn ra bên ngoài để rồi thấy mình thật hạnh phúc vì đang ở một nơi ấm áp và an toàn. Tôi nhìn xuống lối vào phòng cấp cứu và quan sát những chiếc xe cứu thương chạy vào. Anh có bao giờ tự hỏi rằng một người sao Hỏa sẽ nghĩ gì nếu anh ta tình cờ đáp đĩa bay xuống gần một phòng cấp cứu chưa? Anh ta sẽ thấy xe cứu thương chạy vèo tới và mọi người hối hả chạy ra đón nó, mở toang cửa, chộp lấy cái cáng, nhốn nháo quanh cái xe ấy. ‘Ồ,’ anh ta nói, ‘thật là một hành tinh tốt bụng, thật là những sinh vật tử tế và tốt bụng.’ Anh ta không bao giờ đoán biết được rằng chúng ta không phải luôn như vậy; rằng chúng ta phải, ồ, dẹp những cái tôi thiên tư qua một bên để làm điều ấy. ‘Thật là một giống người tốt bụng,’ một người sao Hỏa có thể nói như vậy. Chẳng lẽ anh lại không nghĩ thế?”

Rồi cô ngước lên nhìn anh. Trong anh bỗng cuộn lên một cảm giác gì đấy. Anh thấy mình cần làm gì đó, cần có một sự kết nối, thế là khi cô ngước mặt lên anh cúi xuống hôn đôi môi nứt nẻ và thô ráp của cô mặc dù đó không phải kiểu kết nối anh định làm. Cái nắm tay của cô, sợi dây nắm chặt mắc kẹt giữa họ, giống hệt như một phiến đá. Có gì đó quyết liệt nơi cô - một sự nài nỉ gần như thúc ép. Macon lùi lại. “À...” anh nói.

Cô tiếp tục ngước nhìn anh.

“Xin lỗi,” anh nói.

Rồi họ quay lại và cùng Edward về nhà.

❀ ❀ ❀

Danny bỏ ra cả kỳ nghỉ để tập tành đỗ xe sao cho ngay ngắn, đúng vạch quy định, tới tới lùi lùi trước nhà trong chiếc xe của mẹ nó mà không biết mệt mỏi. Còn Liberty nướng bánh với Rose. Nhưng Susan thì không có việc gì để làm cả, Rose bảo thế, và vì Macon đang chuẩn bị cho chuyến đi đến Philadelphia, sao anh không nghĩ đến việc mang nó theo nhỉ? “Chỉ toàn là khách sạn và nhà hàng không thôi,” Macon nói. “Với lại anh chỉ đi trong ngày, sáng sớm đi tối khuya về...”

“Nó đi với anh cho vui,” Rose bảo anh.

Nói thế thôi chứ Susan ngủ ngay khi tàu vừa rời Baltimore, và con bé cứ ngủ thế trên suốt chuyến đi, cả người lọt thỏm trong chiếc áo khoác như một chú chim nhỏ mệt nhọc đậu trên một nhánh cây. Macon ngồi bên cạnh đọc cuốn tạp chí rock lấy ra từ một trong mấy cái túi áo của con bé. Anh đọc thấy có những bài viết về chuyện lực lượng cảnh sát đang trải qua những xung đột nhân cách, về David Bowie đang lo lắng với căn bệnh tâm thần, về cái áo sơ mi đen của Billy Idol có vẻ như bị rách toạc đến nửa thân người anh ta. Rõ ràng là những người này có cuộc sống hết sức khó khăn; anh không biết bọn họ là ai cả. Anh cuộn tròn cuốn tạp chí và nhét trở lại túi áo Susan.

Nếu Ethan còn sống, liệu nó có ngồi ngay chỗ Susan đang ngồi đây không nhỉ? Nó không hay đi du lịch cùng Macon. Những chuyến đi nước ngoài quá tốn kém, còn những chuyến nội địa thì thật tẻ nhạt. Có một lần nó đi với Macon đến New York, và lên cơn đau bụng cứ như bị viêm ruột thừa vậy. Macon vẫn còn nhớ như in khi anh điên cuồng chạy đi tìm bác sĩ, ruột anh cũng quặn theo vì thương con, anh thở phào nhẹ nhõm khi bác sĩ bảo nó chẳng bị gì nghiêm trọng, chỉ là do ăn sáng quá nhiều. Sau đận ấy, anh không đưa Ethan đi đâu nữa. Chỉ đến bãi biển Bethany mỗi kỳ nghỉ hè thôi, cũng chẳng giống một chuyến đi xa gì mấy, y như ở nhà vậy thôi, Sarah cũng tắm nắng còn Ethan cũng nhập vô đám con trai Baltimore đùa nghịch, và cũng như ở nhà, Macon cặm cụi siết lại mấy cái núm cửa của nhà nghỉ họ thuê hoặc lau chùi cửa sổ hoặc - có năm nào đó - anh còn sửa cả ống nước nữa, một công việc không mấy dễ dàng.

Đến Philadelphia, Susan thức dậy càu nhàu gì đó và loạng choạng bước xuống tàu, Macon đi sau con bé. Con bé phàn nàn về nhà ga. “Lớn quá đi,” nó bảo. “Mấy cái loa phóng thanh vang dữ quá nên chẳng ai nghe được họ nói cái gì hết. Nhà ga ở Baltimore còn tốt hơn.”

“Ừ, cháu hoàn toàn đúng,” Macon nói.

Hai chú cháu vào ăn sáng tại một tiệm ăn nhẹ đã quá quen thuộc với anh, nhưng không may cái tiệm này dường như đang rơi vào thời kỳ khốn khó. Những mảng nhỏ thạch cao trần nhà chốc chốc lại rơi lả tả vào cốc cà phê của anh. Anh gạch tên tiệm ra khỏi cuốn cẩm nang. Kế đó hai chú cháu đến tiệm ăn do một độc giả gợi ý, và Susan kêu món bánh quế nhân quả óc chó. Con bé bảo bánh ngon tuyệt. “Chú có định đưa tên cháu vào không đấy?” con bé hỏi. “Chú sẽ đưa tên cháu vào cuốn sách của chú và ghi là chính cháu gợi ý món bánh quế chứ?

“Đó không phải cuốn sách thông thường đâu,” anh bảo.

Hãy coi cháu là bạn đồng hành đi. Đó là cách các nhà phê bình nhà hàng làm mà. ‘Bạn đồng hành của tôi, Susan Leary, cho biết bánh nhân quế thật hảo hạng.’”

Macon cười phá lên và vẫy phục vụ lấy hóa đơn.

Sau bữa ăn thứ tư, cả hai bắt đầu thăm thú khách sạn. Susan thấy mất hứng thú dần, mặc dù Macon cố gắng lôi kéo sự chú ý của con bé. Anh bảo người quản lý, “Người bạn đường của tôi đây là chuyên gia về phòng tắm đấy.” Nhưng Susan chỉ mở cửa tủ đựng đồ tắm, ngáp, và nói, “Chỉ toàn là Camay thôi.”

“Thế thì sao, có gì không ổn hả?”

“Khi mẹ đi hưởng tuần trăng mật về có mang cho tụi cháu mấy bánh xà phòng thơm ghê lắm. Cháu một bánh, Danny một bánh, trong hộp nhựa nhỏ xíu có cái máng rút nước nữa cơ đấy.”

“Tôi nghĩ Camay là được rồi,” Macon nói vói người quản lý lúc này nét mặt trông thật lo lắng.

Đến chiều muộn, Susan bắt đầu thấy đói bụng; thế nên họ lại đi ăn tiếp hai chỗ nữa. Rồi hai chú cháu đến Tòa nhà Độc lập. (Macon thấy rằng họ nên làm gì đó mang tính giáo dục một chút.) “Cháu có thể nói với thầy giáo dạy giáo dục công dân,” anh nói. Con bé tròn mắt và tiếp lời, “Những vấn đề liên quan đến xã hội.”

“Bất cứ điều gì.”

Thời tiết đang cơn giá buốt, trong sảnh không khí thật lạnh lẽo và ảm đạm. Macon để ý thấy Susan đang cố tiếp thu mớ kiến thức lịch sử từ tay hướng dẫn viên du lịch không giúp người nghe hào hứng mấy với bài thuyết trình của mình; thế nên anh cúi xuống con bé và thì thầm, “Hãy tưởng tượng xem. George Washington đã từng ngồi trên chính chiếc ghế kia kìa.”

“Cháu không vào nổi cái ông George Washington ấy đâu chú Macon.”

“Cháu người chỉ có thể đi ‘vào’[3] nhà, xe hơi, và quan tài thôi, Susan à.”

“Gì chứ?”

“Không có gì.”

Họ theo đám đông lên lầu, đi xuyên qua mấy phòng nữa, nhưng Susan thấy kiệt sức đến độ nó chẳng còn muốn đùa cợt chút nào. “Nếu không nhờ những điều được quyết định trong tòa nhà này,” Macon bảo con bé, “chú và cháu hẳn đã có thể phải sống dưới chế độ độc tài rồi.”

“Chúng ta là vậy đó chớ.”

“Sao hả?”

“Chớ chú thật sự nghĩ là chú mới lại cháu có quyền lực gì sao?”

“Chú và cháu, cưng ạ.”

“Chỉ là có quyền tự do ngôn luận thôi, hết. Ta có thể nói bất cứ điều gì ta muốn, còn chính phủ thì vẫn cứ tiếp tục như thế, vẫn cứ làm những gì mang đến thỏa mãn cho họ. Chú gọi đó là dân chủ sao? Giống như chúng ta đang đi trên một con tàu, hướng đến nơi nào đó thật kinh khủng, một người khác nào đấy đang lái và hành khách không thể nhảy xuống được.”

“Sao không ăn tối nhỉ?” Macon nói. Anh thấy chan chán.

Anh đưa con bé đến một quán ăn nhỏ cách đó mấy con đường. Trời thậm chí còn chưa tối hẳn, và hai chú cháu là khách mở hàng. Một phụ nữ mặc váy dài kiểu thuộc địa bảo họ phải đợi một vài phút. Cô đưa họ vào một căn phòng nhỏ nhưng ngăn nắp gọn gàng có lò sưởi, và một cô phục vụ hỏi họ muốn dùng rượu rum bơ hay rượu táo nóng. “Cháu muốn rum bơ,” Susan nói và cởi chiếc áo khoác ra.

Macon nói, “Ừ, Susan.”

Con bé liếc nhìn anh.

“Ồ, cho hai cốc,” anh bảo cô phục vụ. Anh nghĩ một chút rượu mạnh chắc chẳng sao.

Thế nhưng hẳn là loại rượu này phải mạnh lắm - nếu không thì chắc chắn là Susan phải cực kỳ dễ say rượu. Kiểu gì thì kiểu, chỉ sau hai ngụm nhỏ Susan đã say ngả say nghiêng, đổ người về phía anh. “Thật là vui,” con bé nói. “Chú biết không, chú Macon, cháu thích chú nhiều hơn cháu tưởng đấy.”

“Thế à, cảm ơn cháu.”

“Cháu từng nghĩ chú là kiểu người gì đó quá tỉ mỉ và cầu kỳ. Ethan đã khiến tụi cháu cười nắc nẻ khi chỉ vào đĩa artichoke của chú.”

“Đĩa artichoke của chú.”

Con bé che miệng bằng mấy đầu ngón tay. “Cháu xin lỗi,” nó bảo.

“Vì điều gì?”

“Cháu không định nói về em ấy.”

“Cháu có thể nói về nó mà.”

“Cháu không muốn,” nó bảo.

Nó lia mắt nhìn khắp phòng. Macon, dõi theo hướng nó nhìn, chỉ thấy mỗi một chiếc đàn clavico. Anh nhìn sang và thấy cằm nó run run.

Chưa bao giờ trong đầu anh lóe lên ý nghĩ rằng mấy đứa anh chị họ của Ethan cũng nhớ nó biết bao.

Sau chừng một phút, Susan bê cốc lên và làm liên tục nhiều ngụm lớn. Nó quẹt mũi bằng mu bàn tay. “Nóng,” con bé phân trần. Đúng là nó có vẻ đã tỉnh.

Macon bảo, “Có gì buồn cười với món artichoke của chú vậy?”

“Ồ, đâu có gì.”

“Chú sẽ không sao đâu. Nó buồn cười lắm à?”

“À, giống như trong tiết hình học vậy đó. Khi chú dùng xong, các bẹ bông được tách ra nằm xung quanh đĩa thành một hình tròn ơi là tròn, không chê vào đâu được.”

“Chú rõ rồi.”

“Cậu ấy cười với chú, không phải nhạo chú,” Susan nói, áy náy nhìn sát vào mặt anh.

“À, vì chú đâu có tự cười nhạo mình, nên câu đó có vẻ thiếu chính xác đấy. Nhưng nếu ý cháu là nó không cười nhạo thì chú tin cháu.”

Con bé thở đánh thượt và uống thêm một chút rum nữa.

“Không ai nói chuyện về nó cả,” Macon nói. “Không một ai nhà mình đả động đến tên của nó nữa.”

“Bọn cháu vẫn nói về Ethan khi không có chú,” Susan nói.

“Các cháu nói về Ethan ư?”

Bọn cháu nói về việc liệu Ethan sẽ nghĩ gì, chú biết không. Ví dụ như khi Danny đậu được bằng lái xe, hoặc khi cháu có một cuộc hẹn cho buổi khiêu vũ lễ Halloween. Ý cháu là chúng cháu đã từng cười đùa rất nhiều về những chuyện của người lớn. Và Ethan là đứa nhộn nhất; cậu ấy luôn khiến bọn cháu cười lăn cười bò mới thôi. Rồi giờ đây bọn cháu cũng đang trở thành người lớn. Bọn cháu cứ tự hỏi Ethan sẽ nghĩ gì nếu cậu ấy có thể sống trở lại và nhìn thấy bọn cháu. Bọn cháu tự hỏi liệu cậu ấy có cười nhạo chúng cháu không. Hoặc liệu cậu ấy có cảm thấy... bị bỏ rơi không. Giống như bọn cháu cứ tiếp tục đi còn Ethan thì bị bỏ tụt lại đằng sau vậy.”

Người phụ nữ mặc chiếc đầm dài kiểu thuộc địa bước vào đưa họ đến bàn ngồi. Macon mang theo cốc rượu của anh; còn Susan đã nốc sạch cốc của nó rồi. Con bé hơi loạng choạng. Khi cô phục vụ hỏi họ có muốn xem thực đơn rượu không, Susan sáng mắt lên nhìn anh nhưng Macon cương quyết gạt đi, “Không. Tôi nghĩ chúng tôi bắt đầu dùng xúp được rồi.” Anh nghĩ xúp có thể giải được rượu.

Nhưng Susan cứ huyên thuyên chẳng ra đầu ra đũa hết chuyện này đến chuyện kia suốt cả lúc ăn món xúp, và món chính, đến hai món tráng miệng thì con bé không thể quyết định được sẽ dùng món nào nên rốt cuộc Macon gọi cho nó một cốc cà phê đen đậm đặc. Con bé kể về một cậu trai nó thích, cái cậu ấy có thể cũng thích Susan mà cũng có thể là thích một cô bé khác tên Sissy Pace hơn. Con bé kể về buổi khiêu vũ Halloween nơi nó - một đứa học lớp tám - nhảy múa tưng bừng theo những điệu nhạc phát ra từ máy hát âm thanh nổi. Con bé nói rằng khi Danny mười tám tuổi, cả ba chúng nó sẽ chuyển đến sống tại một căn hộ riêng của tụi nó vì giờ mẹ nó đang có mang (Macon không hề biết chuyện ấy), mẹ nó thậm chí sẽ chẳng biết rằng bọn chúng đã đi. “Không đúng đâu,” Macon nói với nó. “Mẹ cháu sẽ cảm thấy kinh khủng nếu cả ba bỏ đi như vậy.” Susan ngồi nghẹo đầu sang một bên, tay đỡ má. Tóc con bé rối bù cả lên giống như một người mới bị điện giật. Macon lóng ngóng mặc lại chiếc áo khoác cho con bé, và anh phải đỡ phía sau cổ nó khi hai chú cháu đứng đợi taxi.

Tại nhà ga trông con bé thật đờ đẫn, gà gật và ngay khi lên tàu nó ngả đầu tựa vào cửa toa ngủ luôn. Đến Baltimore, khi anh đánh thức nó dậy, nó bảo, “Chú không nghĩ rằng cậu ấy phát điên lên với bọn cháu chứ, chú Macon?”

“Ai cơ?”

“Chú có nghĩ là cậu ấy phát điên lên vì bọn cháu đang dần quên mất cậu ấy không.”

“Ồ, không đâu, cháu yêu. Chú chắc là nó không thấy vậy đâu.”

Con bé lại ngủ suốt từ đấy đến khi về nhà, anh cố lái thật êm để không làm nó giật mình tỉnh giấc. Khi hai chú cháu về đến nhà, Rose bảo trông như thể anh đã mài đứa bé tội nghiệp kia đến tơi tả cả ra.

❀ ❀ ❀

“Ta muốn con chó lúc nào cũng để tâm đến mệnh lệnh của mình,” Muriel nói, “ngay cả nơi đông người. Ta muốn để nó bên ngoài một nơi công cộng nào đấy và khi trở lại vẫn thấy nó đợi ở đó. Đó là việc chúng ta phải làm hôm nay. Chúng ta sẽ bắt đầu với việc khiến nó đợi ngay tại hiên nhà anh. Bài học kế tiếp ta sẽ đến các cửa hiệu hay đi đâu đó.”

Cô nhặt sợi dây lên và họ bước ra ngoài sân. Trời đang mưa, nhưng họ không bị ướt nhờ mái hiên che trên đầu. Macon bảo, “Chờ một chút, tôi muốn cho cô xem cái này.”

“Gì thế?”

Anh dậm chân hai cái. Con Edward trông có vẻ không được thoải mái; nó đưa mắt nhìn về phía con đường và sủa khục lên một tiếng. Rồi thật chậm, thật chậm, một chân trước khuỵu xuống. Rồi chân kia. Nó từ từ hạ mình cho đến khi nằm hẳn xuống nền.

“Tốt! Ngoan đấy!” Muriel nói. Cô toóc lưỡi.

Edward vểnh ngược hai tai ra phía sau mong chờ một cái vỗ âu yếm.

“Tôi đã cho nó tập hầu như suốt cả ngày hôm qua đấy,” Macon nói. “Hôm qua Chủ nhật nên tôi chẳng có việc gì làm. Thế rồi khi mấy đưa nhỏ con ông anh lục tục chuẩn bị về thì Edward lại gừ lên như cách nó vẫn thường làm; vậy nên tôi dậm chân và nó nằm xuống.”

“Tôi tự hào về cả hai đấy.”

Cô nói với Edward và giơ một tay ra, “Ở yên đó nhé,” rồi đi vào nhà. “Nào, Macon, anh cũng vào luôn đi.”

Họ đóng cửa trước lại. Muriel vén tấm rèm có diềm đăng ten ghé mắt nhìn ra. “Tốt, nó nằm yên đó nãy giờ,” cô thông báo.

Cô xoay lưng về phía cửa, săm soi mấy cái móng tay của mình và tặc lưỡi. Mấy giọt mưa nhỏ xíu chảy thành dòng xuống áo khoác, và tóc cô - phản ứng với sự ẩm ướt - đơ ra thành những đường xoan ốc. “Một ngày nào đó, tôi phải tới chỗ thợ chuyên nghiệp làm móng mới được,” cô nói.

Macon cố nhìn ra phía sau cô; anh không chắc là Edward chịu nằm yên.

“Có bao giờ anh làm nghề cắt móng tay chưa?”

“Tôi? Chúa ơi, chưa.”

“À, có vài người đàn ông làm nghề này đấy.”

“Không phải tôi.”

“Tôi muốn dù chỉ một lần thôi được tới chỗ thợ chuyên nghiệp. Làm móng tay này, chăm sóc da này... Bạn tôi đến một nơi có dịch vụ làm sạch da. Họ hút sạch tất tật lỗ chân lông cho khách, cô bạn tôi bảo vậy. Tôi thích một ngày nào đó được đến chỗ ấy. Và tôi muốn sơn màu. Tôi hợp với những màu nào nhỉ. Những màu nào không hợp với tôi? Màu nào thì hợp với tôi nhất?”

Cô ngước lên nhìn anh. Ngay lập tức, Macon có cảm tưởng rằng cô không nói về màu sắc mà là một điều gì đó khác. Cô dùng từ ngữ như một thứ nhạc nền. Anh lùi ra một bước. Cô nói, “Anh không cần phải xin lỗi gì cả, về ngày hôm đó ấy mà.”

“Xin lỗi?”

Mặc dù anh thừa biết cô đang đề cập đến chuyện gì.

Hình như cô đoán biết điều ấy. Cô không giải thích gì cả.

“Ừ, tôi không nhớ đã nói rõ với cô chưa,” Macon nói, “nhưng thậm chí tôi chưa ra tòa ly hôn.”

“Thì sao?”

“Tôi chỉ, nói sao được nhỉ, ly thân.”

“Vậy hả? Thì sao?”

Anh muốn nói, Muriel, tha lỗi cho tôi, nhưng từ khi con trai tôi chết, sex đã... biến đổi. (Giống như sữa biến đổi mùi; ấy là cách anh nghĩ về nó. Giống như sữa thay đổi trạng thái tự nhiên của nó và chuyển sang vị chua.) Tôi thực sự không nghĩ về nó nữa. Thú thật là như vậy. Tôi không tài nào hình dung nổi cái chuyện ấy là như thế nào nữa. Giờ đây với tôi chuyện ấy dường như không đáng để tâm.

Thế nhưng anh lại nói khác đi, “Tôi e là người đưa thư sắp đến rồi.”

Cô nhìn anh một lúc lâu hơn, rồi mở cửa cho Edward vào.

❀ ❀ ❀

Rose đang cặm cụi đan cho Julian một chiếc áo len chui cổ làm quà Giáng sinh. “Xong chưa?” Macon hỏi. “Mới vừa qua lễ Tạ ơn thôi mà.”

“Vâng, nhưng cái mẫu này khó lắm nên em muốn làm ngay.”

Macon quan sát đôi que đan lên xuống lấp lóa. “Thật ra,” anh nói, “em có bao giờ để ý rằng Julian chỉ mặc toàn áo len có cài cúc trước không?”

“Vâng, em nghĩ chắc vậy,” cô nói.

Nhưng cô vẫn tiếp tục cặm cụi đan áo chui cổ.

Cô đang dùng len màu xám trắng, anh chắc rằng loại len này được gọi là len Ragg. Macon và hai ông anh đều có áo len màu đó. Nhưng Julian lại mặc màu chì hoặc xanh hải quân. Julian ăn mặc như người đi chơi gôn vậy. “Anh ta có xu hướng thích áo cổ chữ V,” Macon bảo Rose.

“Điều đó không có nghĩa là anh ấy sẽ không mặc áo cổ tròn nếu có một cái.”

“Này,” Macon nói. “Anh nghĩ việc anh đang...”

Đôi que đan vẫn lên xuống đều đặn.

“Cậu ta thật sự là tay chơi đấy,” anh nói. “Anh không biết liệu em có nhận ra điều đó không. Và thêm nữa, cậu ta ít tuổi hơn.”

“Hai tuổi,” cô nói.

“Nhưng cậu ta có lối sống, anh không biết nữa, trẻ trung hơn. Những người độc thân này, căn hộ này, vân vân và vân vân.”

“Anh ấy bảo anh ấy ngấy tất thảy mọi thứ đó rồi.”

“Ôi, Chúa ơi.”

“Anh ấy bảo anh ấy thích được sống trong cảnh gia đình. Anh ấy thưởng thức những món em nấu. Anh ấy không thể tin được em đang đan cho anh ấy một cái áo len thế này.”

“Không, anh chắc là không phải vậy,” Macon dứt khoát nói.

“Đừng cố gắng làm hỏng chuyện này, anh Macon.”

“Em à, anh chỉ muốn bảo vệ em thôi mà. Em biết đấy, những gì em nói vào lễ Tạ ơn là không đúng. Tình yêu không phải là tất cả. Còn có nhiều điều khác cần phải cân nhắc, tất cả những vấn đế khác.”

“Anh ấy dùng món gà tây của em mà đâu có bị đau bụng. Mà hai suất lớn cơ đấy,” Rose nói.

Macon lầm bầm gì đó và bứt bứt tóc.

❀ ❀ ❀

“Trước tiên chúng ta sẽ cho nó tập trên một con đường thật yên tĩnh,” Muriel nói. “Một nơi công cộng nào đó, nhưng không quá đông người. Một cửa hiệu nhỏ nằm xa đường lớn hay một nơi tương tự thế.”

Cô đang lái chiếc xe hơi dài màu xám của mình. Macon ngồi ghế trước bên cạnh cô, con Edward ngồi sau, hai tai giỏng lên tỏ vẻ thích chí. Edward lúc nào cũng háo hức khi được chở trên xe hơi thế này, tuy nhiên chẳng mấy chốc nó trở nên hết hứng thú. (“Còn bao nhiêu lâu nữa đây?” gần như có thể nghe thấy nó rên rỉ như vậy.) Thật may là họ chẳng đi xa mấy.

“Tôi mua chiếc xe này là do nó có cái cốp tuy hơi cũ một tí nhưng được cái rộng rãi,” Muriel nói. Cô cua xe đánh vèo quanh góc đường. “Tôi cần nó cho công việc chạy vặt. Anh đoán xem bao nhiêu?”

“Ưm...”

“Chỉ hai trăm đô thôi. Vì là cần phải sửa chữa rồi mới chạy được mà, nhưng tôi đã mang nó đến cho một cậu bé sống cùng phố. Tôi bảo, ‘Ta thỏa thuận thế này nhé. Em sửa xe cho tôi, tôi sẽ cho em toàn quyền sử dụng nó ba đêm một tuần và cả ngày Chủ nhật nữa. Ấy chẳng phải là ý hay sao?”

“Có óc sáng tạo đấy,” Macon bảo.

“Tôi buộc phải sáng tạo chứ sao. Cuộc sống của tôi là cóp nhặt và xin xỏ, cãi cọ và ẩu đả kể từ khi Norman bỏ ra đi,” cô nói. Cô cho xe chạy vào khoảng trống trước một trung tâm mua sắm nhỏ, nhưng không có vẻ gì là muốn ra khỏi xe. “Tôi cứ thức chong chong như thế, chao ôi, nhiều đêm, căng đầu mà cố nặn ra cách kiếm tiền. Chỗ ở không tốn xu nào đã chật vật thế rồi, nhưng mọi việc còn tệ hơn sau khi bà Brimm chết; ngôi nhà được để lại cho con trai bà và tôi phải trả cho anh ta tiền thuê nhà. Con trai bà là một thằng cha kẹt xỉn. Cứ liên tục đòi tăng tiền nhà. Tôi bảo, ‘Thế này được không? Anh cứ giữ nguyên giá như thế còn tôi sẽ không phiền anh chuyện bảo dưỡng. Tôi sẽ tự xoay xở được. Anh sẽ không phải bận tâm nhiều về chuyện đó.’ Vậy là anh ta cũng chịu và giờ anh có thể thấy những rắc rối tôi phải đương đầu, nhiều thứ bị hư hỏng tôi không thể chữa được, vậy nên hai mẹ con tôi cứ để nguyên thế mà sống. Nào là trần nhà dột, bồn rửa bị tắc, vòi nước nóng thì cứ rỉ nước suốt khiến hóa đơn tiền điện hàng tháng cao đến chóng mặt, nhưng bù lại dù sao đi nữa tôi cũng đã giữ được mức tiền thuê như cũ. Và tôi làm đủ thứ việc, nếu chịu khó đếm chắc cũng lên đến năm mươi đấy. Anh có thể cho rằng tôi may mắn; tôi thật giỏi giang trong việc nắm bắt cơ hội. Giống như mấy bài học ở Doggie, Do, hay một lần khác tại một khóa học về massage ở trung tâm Y. Khóa học massage coi như bỏ đi - chẳng ích gì, cứ như ta phải có được cái bằng và chỉ thế thôi vậy, nhưng tôi dám chắc rằng Doggie, Do làm ăn rất hiệu quả. Và tôi cũng đang cố bắt đầu dịch vụ nghiên cứu nữa; đó là nhờ vào tất cả những kinh nghiệm thu nhặt được khi làm công việc phụ giúp cho cô thủ thư ở trường. Viết lên các tấm card màu hồng phát đi khắp Towson State: Chúng Tôi Tìm Kiếm Nghiên Cứu. Sao chụp các tờ rơi và gửi chúng đến mọi địa chỉ có trong danh bạ điện thoại của các nhà văn sống ở bang Maryland. Hỡi các văn sĩ! Quý vị có muốn biết về một căn bệnh tiến triển chậm khiến nhân vật chết dần chết mòn mà không hề thấy chút biểu hiện nào bên ngoài không? Cho đến lúc này chưa thấy ai hồi âm cả nhưng tôi vẫn hy vọng. Đã hai lần tôi phải bỏ tiền túi cho cả kỳ nghỉ ở Ocean City chỉ để đi từ đầu bãi đến cuối bãi biển mời chào những hộp đồ ăn trưa mà tôi và Alexander đã cặm cụi chuẩn bị ở phòng trọ vào mỗi buổi sáng. Chúng tôi cho tất cả vào chiếc xe đẩy thức ăn màu đỏ của Alexander; tôi rao to, ‘Đồ uống lạnh đây! Bánh sandwich đây! Mua đi, mua đi!’ Và công việc này thậm chí không được tính vào những công việc đều đặn đâu, giống như làm ở Meow- Bow, hay trước đây ở Rapid-Eze cũng thế. Công việc ở Rapid- Eze thật chán chết đi được; họ cho tôi đem theo Alexander nhưng không có việc gì làm ngoài copy tài liệu và những công việc tẻ nhạt kiểu thế, séc và hóa đơn bị huỷ, những công việc thật vặt vãnh. Tôi chưa bao giờ thấy choáng đến thế trong đời.”

Macon cựa người và nói, “Ý cô là chán phải không?”

“Ừ đúng thế. Anh sẽ không như vậy sao? Copy thư từ này, copy các bài thi, copy các bài báo về việc làm thế nào để mua sắm bằng cầm cố. Những hướng dẫn về cách đan len bằng que rồi thì bằng kim móc, tất thảy trôi ra khỏi máy photo, lừ đừ và trịnh trọng cứ như thể chúng là cái gì ghê gớm lắm. Cuối cùng tôi nghỉ việc. Khi được tập huấn tại Doggie, Do, tôi nói, ‘Tôi nghỉ việc. Vậy là quá đủ rồi!’ Sao ta không thử với quầy tạp phẩm nhỉ.”

Macon bối rối mất một giây. Rồi anh nói, “Ồ. Được thôi.”

“Anh đi vào quầy tạp phẩm, cứ để Edward nằm chờ bên ngoài. Tôi sẽ ngồi lại trong xe xem thái độ của nó thế nào.”

“Được.”

Anh bước ra khỏi xe và mở cửa sau cho Edward xuống. Anh dắt nó đi về phía quầy tạp phẩm. Anh dậm chân hai cái. Xem chừng Edward chẳng muốn tí nào nhưng nó vẫn chịu nằm xuống. Có còn nhân tính nữa không khi mà vỉa hè đang vẫn còn ẩm ướt đến thế này cơ chứ? Với vẻ cực chẳng đã, Macon bước vào quầy tạp phẩm. Trong cửa hàng sực mùi bao giấy nâu kiểu cũ. Khi anh ngoái lại nhìn, trông Edward thật tội nghiệp. Nó như đang nở một nụ cười bối rối, âu lo và cứ thế nhìn chằm chằm vào cánh cửa.

Macon men theo lối đi nhỏ hai bên chất đầy trái cây và rau củ. Anh nhặt lên một quả táo, săm soi rồi đặt xuống. Sau đó anh quay ngược trở lại và đi ra ngoài. Edward vẫn nằm yên chỗ cũ. Muriel đã ra khỏi xe, đứng dựa vào thanh chắn bùn, và đang dặm lại phấn trên mặt với một hộp phấn vỏ nhựa màu nâu. “Hãy khen nó nhiều vào!” cô nói to, đậy hộp phấn lại. Macon toóc lưỡi và vỗ vỗ lên đầu nó.

Kế đến là cửa hàng dược mỹ phẩm. “Lần này cả hai chúng ta sẽ vào,” Muriel nói.

“Liệu có ổn không?”

“Sớm muộn gì chúng ta cũng phải làm việc này mà.”

Họ dạo suốt chiều dài của dãy hàng chăm sóc tóc, rồi quay lại với dãy hàng mỹ phẩm, Muriel dừng lại để thử một cây son. Trong đầu Macon xuất hiện hình ảnh Edward ngoác miệng ra ngáp, đứng dậy, và bỏ đi. Muriel nói, “Hồng quá.” Cô lấy ra một tờ khăn giấy từ chiếc ví mang theo và chùi đi lớp son mới bôi lên. Lớp son cũ vẫn không phai, hình như nó không những là màu của những năm 1940 mà còn là công thức của những năm đó nữa - không bóng, có chất giữ cho son không trôi, thứ chất được sử dụng trong việc vẽ trên bao gối, khăn ăn, và quanh vành cốc cà phê. Cô nói, “Anh định làm gì cho bữa tối ngày mai?”

“Để...?”

“Đến nhà tôi ăn tối đi.”

Anh chớp mắt.

“Nào. Sẽ vui đấy.”

“Ừm...”

“Chỉ ăn tối thôi mà, anh, tôi và Alexander. Sáu giờ nhé. Số mười sáu đường Singleton. Anh biết chỗ đấy không?”

“Ồ, tôi chả biết có rảnh không nữa,” Macon nói.

“Suy nghĩ đi,” cô bảo anh.

Họ đi ra. Edward vẫn còn ở đó nhưng nó đã đứng dậy, lông dựng hết cả lên, mắt hướng về một con chó săn giống Chesapeake Bay cách đó một dãy nhà. “Nào,” Muriel nói. “Chúng ta sẽ đến một nơi.” Cô khiến nó nằm xuống trở lại. Rồi cho nó đứng lên và cả ba đi tiếp. Macon tự hỏi bao lâu nữa anh có thể nhã nhặn mà bảo với cô rằng anh đã nghĩ thật kỹ rồi và giờ thì nhớ ra mình đã nhận một lời mời khác từ trước. Họ đi vòng qua một góc đường. “Ồ, nhìn này, một cửa hiệu đồ cũ này!” Muriel thốt lên. “Luôn khiến tôi không tài nào bỏ đi cho được.” Cô dậm chân yêu cầu Edward nằm xuống. “Lần này tôi sẽ vào,” cô nói. “Tôi muốn xem trong ấy bày bán gì. Anh lùi lại phía sau một chút và trông chừng để nó không đứng lên như lần trước nhé.”

Cô bước vào cửa hiệu trong khi Macon đợi, lẩn lút bên mấy cái máy thu tiền đậu xe cố không cho Edward nhìn thấy. Dẫu vậy, Edward vẫn biết anh ở đó. Nó cứ quay đầu lại và nhìn về phía Macon với ánh mắt cầu khẩn.

Macon nhìn thấy Muriel ngay trước cửa hiệu, cầm lên đặt xuống những chiếc tách mạ vàng mất quai cầm, những lọ hoa thủy tinh màu xanh sứt mẻ, những chiếc trâm cài đầu thô kệch bằng thiếc to ngang cái gạt tàn. Rồi anh trông thấy cô lẩn nhanh xuống phía sau nơi bày bán quần áo. Cô thoắt ẩn thoắt hiện giống như một con cá đang bơi lờ lững trong một thứ nước đen ngòm. Rồi đột ngột cô lại xuất hiện ở cửa, giơ lên một chiếc mũ. “Macon? Anh nghĩ sao?” cô nói to. Ấy là một chiếc mũ không vành màu be bám đầy bụi với một viên đá đính ở chính giữa, một viên ngọc giả to bằng con mắt.

“Được đấy,” Macon nói. Anh bắt đầu thấy lạnh.

Muriel lại biến mất vào trong, Edward thở dài và gác mõm lên hai chân trước.

Một cô gái trẻ đi ngang qua - một kiểu con gái tinh nghịch với váy xếp nhiều tầng và chiếc ba lô bằng xa tanh tím có đính biểu tượng ban nhạc Grateful Dead. Edward trở nên căng thẳng.

Nó dõi theo từng bước chân cô nhỏ kia; nó sửa lại thế nằm sao cho có thể nhìn được cô nhỏ khi cô đi ngang qua. Nhưng nó không sủa tiếng nào, và Macon - vốn cũng căng thẳng chẳng kém gì – thấy nhẹ nhõm nhưng lại có chút gì đó như thất vọng. Anh đã sẵn sàng để hành động. Ngay lập tức sự yên lặng tưởng như sâu hun hút một cách bất thường; không một ai đi ngang qua nữa. Anh thấy mình đang chìm trong một thứ ảo giác âm thanh mà có lúc anh đã trải qua khi đi máy bay hoặc tàu lửa. Anh nghe thấy giọng nói của Muriel, mỏng thé và chả chớt. “Khi nghe tiếng chuông, giờ đồng hồ sẽ là...,” cô nói rồi cô hát, “Bạn sẽ tìm thấy tình yêu nơi...” và rồi cô hét to, “Đồ uống lạnh đây! Bánh sandwich đây! Mua đi, mua đi!” Dường như những câu chuyện của cô ám vào tâm trí anh chằng chịt, xoắn anh vào dòng đời của cô từ trước tới giờ - tuổi ấu thơ quần áo tóc tai giống hệt Shirley Temper, thời con gái vô vị nhạt nhẽo, Norman quăng tấm kính ra ngoài cửa sổ, Alexander khóc eo éo hệt như mèo con mới sinh, Muriel cưỡi trên những con chó giống Doberman và đi phân phát những tấm thiệp màu hồng cam và lao nhanh xuống bãi biển, tóc bay tung cả lên, kéo một chiếc xe đẩy nhỏ màu đỏ trên chất cả núi hộp đồ ăn trưa.

Rồi cô bước ra khỏi hiệu đồ cũ. “Thật đắt không chịu nổi,” cô bảo Macon. “Chó ngoan,” cô nói, và bật ngón tay đánh tách ra hiệu Edward đứng dậy. “Giờ còn một bài kiểm tra nữa.” Cô đi thẳng về phía chiếc xe. “Chúng ta sẽ thử lại một lần nữa nhé, cả hai sẽ cùng đi vào phòng khám bác sĩ.”

“Phòng khám bác sĩ nào?”

“Bác sĩ Snell. Tôi đến đó đón Alexander; tôi sẽ đưa nó về trường sau khi thả anh xuống.”

“Có lâu không?”

“Ồ, không đâu.”

Xe chạy về hướng Nam, tiếng động cơ nổ nghe lọc xọc lọc xọc mà thoạt đầu Macon không để ý. Trước một tòa nhà trên đường Cold Spring, Muriel đỗ xe rồi bước xuống. Macon và Edward đi theo sau cô. “Nào, tôi không biết liệu cu cậu sẵn sàng hay chưa,” cô nói. “Nhưng nếu chưa thì cũng tốt thôi; vì Edward sẽ có thêm thời gian luyện tập.”

“Tôi tưởng cô nói không lâu đâu.”

Cô không có vẻ gì là nghe thấy anh nói.

Hai người bỏ Edward lại trên bậc tam cấp và đi vào phòng đợi. Nhân viên tiếp tân là một phụ nữ có mái tóc màu xám, đôi kính treo lủng lẳng trước ngực bằng một sợi dây được kết từ những con bọ hung giả. Muriel hỏi cô ta, “Alexander xong chưa cô?”

“Ít phút nữa thôi, thưa chị.”

Muriel với lấy tờ tạp chí rồi ngồi xuống nhưng Macon vẫn đứng. Anh vén một tấm mành lên và ghé mắt ra trông chừng Edward. Người đàn ông ngồi ghế bên cạnh ném sang anh một tia nhìn ngờ vực. Macon cảm thấy giống như ai đó đến từ một bộ phim gangster - kiểu nhân vật ám muội thường giật phắt tấm rèm ra để đảm bảo rằng bờ biển không một bóng người. Anh thả tấm mành xuống. Muriel đang đọc một bài báo có tên “Cách trang điểm mắt sẫm màu kiểu mới!” Có mấy bức ảnh những cô người mẫu khác nhau nhưng nét mặt ai cũng hao hao như nhau - không một chút biểu cảm.

“Cô nói Alexander mấy tuổi nhỉ?” Macon hỏi.

Muriel đưa mắt nhìn lên. Đôi mắt của chính cô, không trang điểm, cứ để mộc như thế, chẳng giống chút nào với những cô người mẫu trong cuốn tạp chí.

“Nó bảy tuổi,” cô nói.

Bảy.

Lúc lên bảy Ethan bắt đầu tập đi xe đạp.

Trong anh bỗng dưng dấy lên một kỷ niệm trong vô vàn kỷ niệm khiến cơ thể anh lâng lâng. Anh cảm nhận được chiếc yên xe đạp của Ethan ấn vào tay anh khi cái chân chống phía sau được gạt xuống để giữ cho chiếc xe không đổ. Anh cảm thấy nền đường đập dội lên đế giày khi anh chạy. Anh cảm thấy mình cứ thế đi, rồi đi chậm lại, hai tay chống nạnh và kêu rõ to, “Con làm được rồi! Con làm được rồi đấy!” Và Ethan đạp xe thật nhanh ra xa chỗ anh đang đứng, mạnh mẽ và kiêu hãnh, mái tóc nó ánh lên trong nắng cho đến khi thằng bé đạp xe dưới bóng râm của cây sồi.

Macon ngồi xuống cạnh Muriel. Cô nhìn anh lom lom và hỏi, “Anh nghĩ chưa đấy?”

“Hả?”

“Anh đã cân nhắc việc đến nhà tôi dùng cơm tối chưa?”

“Ồ,” anh nói. Và rồi anh tiếp, “À, tôi sẽ đến. Nếu chỉ là để ăn tối thôi.”

“Chứ anh nghĩ vì cái gì khác nữa?” cô nói rồi cười với anh và hất tóc ngược ra phía sau.

Cô nhân viên tiếp tân nói, “Cậu ta đây rồi.”

Cô đang nói về một cậu bé èo uột xanh xao với cái đầu như được cạo nhẵn thín. Trông cậu có vẻ không có đủ da cho khuôn mặt; da bị kéo căng, miệng cũng bị kéo căng tới một kích cỡ rộng đến khó chịu, và chính những chỗ xương và sụn nhô ra mới khiến người ta biết được đấy là cái miệng. Mắt cậu màu xanh nhạt và không có lông mi, hơi sưng, thâm hồng xung quanh, lồi ra sau đôi kính to trong suốt với cái gọng mà thật đáng tiếc là cũng có màu phớt hồng. Cậu ta mặc sơ mi với quần tây cực kỳ tông xuyệt tông giống như chính mẹ cậu đã ướm sẵn cho cậu vậy.

“Sao rồi con?” Muriel hỏi nó.

“Ổn.”

“Con yêu, đây là chú Macon. Con chào chú đi. Mẹ đang huấn luyện chó của chú ấy.”

Macon đứng dậy và chìa tay ra. Sau một lúc, Alexander mới đáp lại. Cầm những ngón tay của nó giống như cầm mấy quả đậu tây khô quéo. Nó lại rụt tay về và bảo mẹ nó, “Mẹ phải sắp xếp một cuộc hẹn khác nữa đó.”

“Chắc phải vậy rồi.”

Cô đi lại chỗ cô nhân viên lễ tân, để Macon và Alexander đứng đó. Macon cảm thấy chẳng biết nói điều quái quỷ gì với thằng nhóc này cả. Anh khảy một chiếc lá ra khỏi tay áo, kéo hai ống tay xuống. Anh bảo, “Cháu còn khá nhỏ để có thể đi khám bác sĩ mà không cần mẹ bên cạnh đấy.”

Alexander không trả lời, nhưng Muriel - đang chờ cô nhân viên lễ tân xem lại lịch hẹn - quay lại trả lời hộ nó. “Cháu nó quen với chuyện đó rồi,” cô nói, “vì cháu nó phải đi như vậy suốt. Cháu bị dị ứng đủ thứ.”

“Tôi hiểu,” Macon nói.

Phải, anh cũng là người hay bị dị ứng.

“Cháu dị ứng với đồ biển, sữa, trái cây tất cả các loại, lúa mì, trứng, và hầu hết mọi thứ rau củ,” Muriel kể lể. Cô đón lầy một tấm card từ cô nhân viên lễ tân và thả vào trong ví. Cô tiếp tục kể lể khi họ đi ra ngoài, “Cháu dị ứng với bụi và phấn hoa rồi sơn nữa, và có thể còn dị ứng với cả không khí. Bất cứ khi nào ở bên ngoài hơi lâu một tí thể nào người cháu cũng nổi mề đay lên ở mấy chỗ hở ra khỏi áo quần.”

Cô toóc lưỡi và bật ngón tay đánh tách ra hiệu cho Edward đứng dậy. Nó nhảy cẫng lên, sủa vống. “Đừng vỗ nó,” cô bảo Alexander. “Con không biết lông chó sẽ khiến con thế nào à.”

Họ lên xe. Macon ngồi ghế sau để Alexander ngồi ghế trước, cách Edward càng xa càng tốt. Họ phải mở tất cả các cửa kính xe xuống để Alexander khỏi bị khó thở. Muriel cố nói to át đi luồng gió ào vào trong xe, “Cháu bị hen xuyễn, chàm bội nhiễm, và chảy máu cam. Cháu phải chích thuốc suốt đấy. Nếu có con ong nào chích cho cháu một phát mà cháu chưa được chích những mũi thuốc ấy thì cháu có thể chết chỉ trong vòng độ nửa giờ thôi.”

Alexander chậm rãi xoay đầu ra phía sau nhìn Macon chằm chằm. Nét mặt cu cậu nghiêm trang và khắt khe.

Khi họ về đến trước cửa nhà, Muriel nói, “À, để coi. Ngày mai tôi làm việc cả ngày ở Meow-Bow...” Cô luồn một bàn tay vào mớ tóc khô xác rối tung của mình. “Thế nên chắc là đến bữa tối mới gặp anh được,” cô nói.

Macon không thể nghĩ ra cách gì cho cô biết điều này, nhưng sự thật là anh không bao giờ có thể dùng bữa tối ấy. Anh thấy nhớ vợ. Anh thấy nhớ con. Hai mẹ con là những người duy nhất dường như có thật đối với anh. Chẳng ích gì để đi tìm người thay thế.

❀ ❀ ❀

[1] Emily Dickinson (1830-1886): nhà thơ Mỹ.

[2] Nguyên văn là “it” - đại từ chỉ đồ vật, trong khi thông thường phải dùng đại từ “he” (thằng bé).

[3] Susan dùng tiếng lóng “be into something/someone” có nghĩa là thực sự thích cái gì/thích ai. Nhưng Macon vốn quen dùng tiếng Anh chuẩn nên không chấp nhận dùng “into” theo cách như thế, “into” phải được dùng với động từ “go” để biểu thị nghĩa đi vào cái gì đó.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anne Tyler

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.