9.1 Triệu kiến Khang Hữu Vi, quyết tâm biến pháp
Bây giờ hãy nhìn lại cặp mẹ con Từ Hi và Quang Tự, xem họ đã trở nên căng thẳng như thế nào.
Vào đầu mùa xuân năm 1898 (năm Quang Tự thứ 24), khi cuộc khủng hoảng các nước đế quốc xâu xé Trung Quốc đang đến cận kề, vị hoàng đế trẻ tuổi đầy cá tính và hết lòng yêu nước của chúng ta không thể tiếp tục im lặng được nữa. Thông qua người chú họ là Khánh Thân vương Dịch Khuống – người giữ chức Quân cơ đại nhân, nhà vua đã tâu lên Thái hậu rằng ngài không thể làm vị quân chủ của một đất nước vong quốc. Nếu Thái hậu không tiếp tục ủy quyền cho ngài cải cách, ngài đành nguyện “nhường ngôi” vạn phúc. Nghe nói Tây Thái hậu nghe xong câu này vô cùng phẫn nộ, liền nói: "Hắn đã không muốn ngồi chiếc ngai này, ta từ lâu cũng đã không muốn hắn ngồi." Sau đó, nhờ Dịch Khuống hết sức khuyên can, bà mới nói: "Tùy hắn đi làm, đợi khi làm không ra ngô ra khoai gì rồi tính sau." Nhưng khi Dịch Khuống phục mệnh, ông không dám nói nhiều, chỉ nói nhẹ nhàng với Hoàng đế rằng Thái hậu không cấm Hoàng đế làm việc. Vị Hoàng đế Quang Tự thành thật và thiếu sự đời nghe được những lời truyền đạt này, liền thực sự bắt tay vào làm rầm rộ.
Bước đầu tiên trong hành động thực tế của ngài chính là ban hành bản "Định quốc thị chiếu", công khai tuyên bố quyết tâm "biến pháp cải chế". Khi đó là ngày 23 tháng 4 năm Mậu Tuất, tức ngày 11 tháng 6 dương lịch. Đây chính là ngày đầu tiên của "Bách nhật duy tân" đầy bi thảm này. Ngay tiếp theo đó chính là việc triệu kiến Khang Hữu Vi. Bởi vì Khang chính là mưu sĩ và là nguồn gốc lý luận cải chế của ngài. Thế nhưng Quang Tự chưa từng đọc qua các tác phẩm "Khổng Tử cải chế khảo" hay "Tân học ngụy kinh khảo" do Khang Hữu Vi trước tác. Những gì ngài coi trọng về việc cải chế hiển nhiên chỉ giới hạn ở mô hình Nhật Bản, hoặc mô hình Sa hoàng Peter Đại đế của Nga.
Thời gian Quang Tự triệu kiến Khang Hữu Vi là vào sáng sớm từ 5 giờ đến 7 giờ ngày 28 tháng 4 năm Mậu Tuất (ngày 16 tháng 6 dương lịch). Địa điểm là điện Nhân Thọ ở "Di Hòa Viên". Bởi vì lúc bấy giờ Tây Thái hậu tuy đã xưng là "quy chính" nhưng vẫn ở lại lâu dài tại Di Hòa Viên. Tuy nhiên, khi quốc gia có đại sự, Hoàng đế vẫn phải đích thân đến Di Hòa Viên để thỉnh thị Thái hậu. Lần này Quang Tự đã đến viên trú tất (dừng chân ngự giá tại viên) trước hai ngày. Việc ngài triệu kiến Khang Hữu Vi hiển nhiên đã được sự cho phép ngầm của Tây Thái hậu.
Di Hòa Viên ngày nay là một thắng cảnh du lịch nổi tiếng thế giới. Điện Nhân Thọ đối với rất nhiều độc giả và tác giả đều không xa lạ gì. Khang Hữu Vi năm xưa đã yết kiến Quang Tự trong căn phòng này như thế nào? Chắc rằng các độc giả cũng giống như tác giả, đều có chung vài phần hứng thú. Nay xin chép lại một số chi tiết thực tế khi hai quân thần gặp gỡ lúc bấy giờ. Dưới đây là những lời chính Khang Tữu Vi kể lại cho các nhà báo trong lúc chạy trốn:
Ngày 16 tháng 6, Hoàng đế từng triệu kiến tôi một lần. Lần triệu kiến này diễn ra tại Nhân Thọ Cung (Điện) ở trong cung (viên), kéo dài suốt hai tiếng đồng hồ từ lúc rạng sáng năm giờ. Lúc bấy giờ vừa đúng thời điểm người Nga chiếm đóng Lữ Thuận và Đại Liên Vạn không lâu, thế nên Hoàng đế mang vẻ mặt lo âu. Thân hình Hoàng đế tuy gầy nhưng rõ ràng là khỏe mạnh. Sống mũi ngài ngay thẳng, trán đầy đặn, ánh mắt hiền hòa, râu được cạo rất sạch sẽ, nhưng sắc mặt khá tái nhợt. Vóc dáng ngài tầm trung, bàn tay dài và gầy, dung mạo tinh anh. Thái độ ôn hòa của ngài không chỉ hiếm thấy ở người Mãn Châu, mà ngay cả ở người Hán cũng không có. Ngài mặc triều phục bình thường, nhưng trước ngực không phải là đóa hoa thêu hình vuông lớn, mà là một hình rồng cuộn tròn, bên cạnh đó ở trên hai bên vai cũng có thêm mỗi bên một đóa hoa nhỏ thêu chỉ vàng. Chiếc mũ ngài đội cũng là mũ quan bình thường. Khi bước vào, đi đầu là mấy vị thái giám, sau đó ngài ngồi lên một chiếc ngai vàng có đệm tựa màu vàng lớn, hai chân bắt chéo. Sau khi ngồi vững, ngài ra lệnh cho tất cả người hầu hạ đều phải lui ra ngoài. Trong suốt cuộc trò chuyện của chúng tôi, mắt ngài thỉnh thoảng lại chú ý nhìn ra ngoài cửa sổ như thể đang đề phòng có người nghe lén. Trước mặt ngài có một chiếc bàn dài, trên đó có hai cây nến, còn tôi thì quỳ ở một góc bàn, bởi vì chiếc đệm quỳ phía trước chiếc bàn đó là để dành cho các quan lại cấp cao quỳ. Trong suốt thời gian đó, tôi vẫn luôn quỳ. Cuộc trò chuyện của chúng tôi dùng tiếng Bắc Kinh. (Xem Trung Quốc sử học hợp biên "Mậu Tuất biến pháp" tập ba, trang 506. Bản gốc đăng trên "Trung Quốc Bưu báo" Hồng Kông ngày 7 tháng 10 năm 1898)
Trên đây là lần gặp mặt đầu tiên giữa Quang Tự và Khang Hữu Vi, đồng thời cũng là lần duy nhất giữa hai quân thần bọn họ. Khang Hữu Vi đứng trước chủ thượng của mình đương nhiên đã nói những chủ trương biến pháp như bỏ bát cổ, luyện dương binh, "biến nhỏ không bằng biến lớn", "biến chậm không bằng biến gấp". Kỳ thực những lời này đều là thừa thãi. Quang Tự lúc này đã quyết định dựa theo bản tấu chương của Khang để biến pháp cải chế. Việc triệu kiến chẳng qua chỉ là một hình thức mà thôi. —— Ngài có ý định để Khang Hữu Vi điều hành "Chế độ cục".
Chủ trương cụ thể về các bước đi biến pháp của thầy trò Khang Hữu Vi lúc bấy giờ có thể khái quát lại là: thay đổi về chất nhưng hình thức không đổi. Họ sợ phe bảo thủ e ngại mất quyền mất vị mà phản báng tân chính, bèn kiến nghị với nhà vua rằng: về mặt bề ngoài, tất cả danh vị bổng lộc cao sang của các bậc vương công đại thần và chức trách của họ đều được giữ lại hoàn toàn không động chạm; nhưng đồng thời lại trọng dụng các quan chức cấp thấp, nắm giữ thực chính để thúc đẩy cải cách. Ví dụ như cắt giảm quan viên dư thừa, bãi bỏ các nha môn không có chức năng, bãi bỏ văn bát cổ, thi sách luận, mở trường học, luyện tân quân, cắt bỏ các khoản thuế tạp dịch và phí vận chuyển đường thủy, bình đẳng Mãn Hán, người dân tộc Mãn tự mưu sinh v.v., đó đều là những "tân chính".
Cùng lúc đó, vua Quang Tự cũng thực sự bỏ qua các đại thần để trọng dụng các quan chức cấp thấp. Người đầu tiên đương nhiên là Khang Hữu Vi. Khang từ chức Công bộ chủ sự, được thăng lên Tổng lý Các quốc sự vụ nha môn, "tại Chương kinh thượng hành tẩu" (hành tẩu nghĩa là có việc thì làm, không việc thì đi vậy). Mặc dù vẫn chỉ là một vị quan nhỏ tr phẩm ngũ, nhưng Khang Hữu Vi có thể trực tiếp dâng tấu chương, trở thành cận thần của thiên tử — trở thành một nhân vật thực sự nắm quyền khiến cả triều đình phải liếc mắt kiêng dè.
Không lâu sau đó, vua Quang Tự lại cất nhắc Đàm Tự Đồng, Dương Duệ, Lâm Húc, Lưu Quang Đệ là bốn vị quan trẻ tuổi, giữ chức "Tứ phẩm khanh hàm tại Quân cơ chương kinh thượng hành tẩu"; phò tá thiên tử, xử lý chính vụ hàng ngày. —— Việc thăng chức vượt bậc này không chỉ khiến cho Quân cơ xứ và Tổng lý nha môn đều bị "gác xép" (qua mặt); ngay cả Khang Hữu Vi – người không còn cơ hội gặp lại hoàng đế – cũng có cảm giác chua chè như nho xanh. Khang nói bốn người họ trên thực tế đã cư ngơi ở ngôi tể tướng, thế nhưng diện mạo của bốn người lại mỏng manh, không có uy nghi, nhìn vào không giống tể tướng, vân vân. Khang thị còn có cảm giác như thế, thì thói ghen tuông của văn võ bá quan trong triều cũng có thể tưởng tượng được. Mà những nhân vật phái tân học cũng khó tránh khỏi sự bồng bột và khí thế khi đắc chí lúc tuổi trẻ. —— Bọn họ thậm chí còn công khai bàn luận chức nào nên bãi bỏ, quan nào cần cách chức. Làm cho văn võ bá quan trong triều (đặc biệt là người Mãn tộc) hoang mang lo sợ.
9.2 "Gác xép chính trị" trước có cổ nhân, sau có người đến
Phương pháp trọng dụng quan nhỏ, gác xép đại thần này, cả Khang và Lương đều cho rằng đó là phát minh mới của họ. Kỳ thực "gác xép chính trị" trong lịch sử chính trị Trung Quốc là thứ trước có cổ nhân, sau có người đến.
Các đại thần trung ương sau thời Tùy Đường ở nước ta, không có gì tôn quý hơn danh hiệu "Thượng thư". Kỳ thực chức vụ "Thượng thư" trong chế độ quan lại thời Tần Hán vốn là một trong "Ngũ thượng" hoặc "Lục thượng" ở trong hoàng cung — nào là Thượng cung, Thượng tẩm, Thượng thực, Thượng y, Thượng thư (có lẽ còn có Thượng xí nữa chứ) v.v.. Đó đều là những hoạn quan cửa vàng chuyên hầu hạ hoàng đế và hậu phi. Chỉ có cung nữ và thái giám mới có thể đảm nhiệm. Nam giới muốn làm Thượng thư, trước tiên phải bị hoạn thiến, mới có thể vào cung. Thế nhưng vào thời Hán Vũ Đế, Hán Thành Đế, hoàng quyền dâng cao. Vị quan nhỏ Thượng thư vốn do hoạn quan cửa vàng đảm nhiệm này, bởi vì là cận thần của thiên tử, dần dần trở nên quan trọng. Đến cuối thời Đông Hán, thời kỳ Thập thường thị lộng quyền, những vị Thượng thư này đã đem "Tam công cửu khanh" trong triều gác xép lên cả. Kiểu chính trị gác xép này, qua thời Ngụy Tấn Lục triều, đã trở thành hiện tượng kỳ lạ là Cửu khanh chỉ để bù nhìn, còn Thượng thư nắm quyền. Đến khi Tùy Văn Đế thống nhất thiên hạ, cải cách chế độ quan lại, liền dứt khoát phế bỏ Cửu khanh hoàn toàn, đổi thành "Lục bộ Thượng thư". Đương nhiên "Thượng thư" sau đời Tùy Đường thì thái giám không còn phần nữa rồi.
Thế nhưng phép thuật gác xép chính trị ấy, lại không vì việc Thượng thư được đưa lên chính vị mà tiêu diệt. Minh Thái Tổ phế bỏ tể tướng, thay vào đó bằng Nội các học sĩ, há chẳng phải là sự lặp lại của phép thuật đó sao? Cho đến khi Nội các đại học sĩ lại trở thành tể tướng rồi, Ung Chính hoàng đế muốn gác xép họ, bèn dùng các quan nhỏ để thiết lập Quân cơ xứ nhằm thay thế. Bây giờ Quân cơ lại có quyền lực; thầy trò Khang, Lương bèn thiết kế cho vua Quang Tự dùng bốn vị "Chương kinh" là quan nhỏ tứ phẩm để gác xép các đại thần Quân cơ vốn có vị thế cao hơn một phẩm.
Không chỉ thế thôi. Đến thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc với hai triều Quốc, Cộng, nghệ thuật này vẫn được hai ông Tưởng, Mao kế thừa.
Vào đầu thập niên 30, khi Uông Tinh Vệ nắm quyền điều hành Viện Hành chính, còn Tưởng công giữ chức Ủy viên trưởng Ủy ban Quân sự, thì tầm quan trọng của "Phòng thị tùng Ủy viên trưởng" – nơi có đủ cả sáu bộ – há chẳng phải còn nằm trên cả "Viện Hành chính" hay sao? Trên thực tế, tên gọi của cơ quan "Phòng thị tùng" này đã mang hơi hướng nội đình trong vương thất phong kiến rồi. "Chủ nhiệm Phòng thị tùng" cùng với các vị tổ trưởng dưới quyền và các quan nhỏ khác, nếu sinh vào thời nhà Hán, đều là những kẻ đáng lẽ phải bị hoạn thiến đấy nhé!
Đến thời kỳ Chính phủ Nhân dân vào những năm cuối đời Mao Trạch Đông, "Bè lũ bốn tên" có quyền lực thấu triệt triều dã ấy, thực chất há chẳng phải là "Thập thường thị" trưởng thành từ trong nội đình hay sao? Những nam thanh nữ tú như Mao Viễn Tân, Vương Hải Dung – những kẻ thay mặt Mao công truyền đạt "chỉ thị tối cao" – há chẳng phải cũng là những kẻ "hành tẩu trên Chương kinh" hay sao? Vương Hồng Văn chẳng phải muốn gác xép Chu Thủ tướng đó sao? Ngay cả một cung nữ nhỏ bé là Trương Ngọc Phượng chẳng phải cũng hưởng lương của thư ký cơ mật Ban Bí thư Trung ương, mà ăn trọn cả "Ngũ thượng" đó sao? Khi ấy Đặng Tiểu Bình làm "Hiệp biện đại học sĩ" ở Quốc vụ viện, làm sao có thể so sánh với họ được chứ? Cho nên thứ nghệ thuật gác xép này chính là quốc bảo suốt ba nghìn năm nay của Trung Hoa chúng ta. Thầy trò Khang, Lương tự tô điểm cho mặt mình — đây há phải là do hai người họ phát minh ra đâu chứ?
Thế nhưng, để chơi cái trò nghệ thuật chính trị dùng các quan nhỏ, quan cận thần để gác xép các đại thần, quyền thần này, lại có một điều kiện tiên quyết — kẻ chủ sử việc gác xép nhất định phải là những đại độc tài có "quyền quyết định cuối cùng" như Hán Vũ Đế, Minh Thái Tổ, Ung Chính hoàng đế, Ủy viên trưởng Tưởng, Chủ tịch Mao. Còn một vị vua trẻ con hễ nhìn thấy mẹ là run rẩy thì tuyệt đối không thể làm được. Bất hạnh thay, Quang Tự – người chủ trì biến pháp cải chế lúc bấy giờ – lại chính là một vị "vua con" như thế. Dùng "quan nhỏ" của vua con để gác xép "quan thần" của lão Thái hậu, thì sự thành bại há cần phải bói toán bằng cỏ thi mới biết được sao? —— Sự biến động của cục diện chính trị như thế, những nhà sử học đời sau chúng ta đọc nhuyễn "Thông giám" đều thấy rõ như ban ngày, thế mà một kẻ tinh anh mẫn tiếu như Khang, Lương lại hoàn toàn không hay biết, ấy chẳng qua là vì thân làm "quan nhỏ" ham thành tích nóng vội, cho nên mới u mê trong cuộc mà thôi.
9.3 Một trăm ngày không thể duy tân, không thể biến pháp
Mùa hè năm Mậu Tuất, cái thành Bắc Kinh "trời nắng thì giống lò hương, trời mưa thì giống vại tương" ấy, nóng bức đến mức khó chịu. Thế nhưng mùa ấy lại chính là lúc vị hoàng đế trẻ tuổi đáng kính đáng yêu, cũng đầy đáng tiếc đáng thương của chúng ta vì quốc gia vì dân tộc mà lao tâm khổ tứ đến mức bận rộn ngược xuôi. Để thúc đẩy công cuộc biến pháp cải chế của mình, cứ cách ba bốn ngày ngài lại phải từ cấm thành khi ấy, tức Cố cung ngày nay, vội vã chạy đến Di Hòa Viên để thỉnh thị Thái hậu. (Quang Tự gia đáng thương làm gì có xe ô tô bật điều hòa.)
Hơn nữa, việc thi hành tân chính và các bước đi tất nhiên cũng có những khó khăn vốn có của nó. Lấy chính sách thi cử "bãi bỏ văn bát cổ đổi thành thi sách luận" để nói đi, văn bát cổ là lời nói sáo rỗng, thế thì sách luận chẳng lẽ không phải là lời nói sáo rỗng sao? Nhưng viết văn bát cổ thì phải đọc sách thánh hiền, vẫn còn có "thiếp khoát" (tiếng Anh gọi là format) để mà nương theo. Viết sách luận kiểu "bát cổ đảng" thì đến cái đó cũng chẳng có luôn. Cho nên vào mùa hè năm Mậu Tuất có một vị Học chính Chiết Giang thật thà tên là Trần Học Phấn dâng tấu nói rằng: "Đổi sang thi sách luận, việc chấm bài vô cùng khó khăn, không dễ dàng như văn bát cổ." Quang Tự xem tấu xong không vui liền nói: "Trần Học Phấn đã không biết xem bài sách luận, vậy miễn cho việc đi coi thi đi", rồi cách chức ông ta luôn. Kỳ thực nếu thả Khang Hữu Vi ra làm học chính, với chút kiến thức gọi là Tây học ít ỏi đó của ông ta, e rằng việc chấm các bài thi sách luận của ông ta cũng chẳng có tiêu chuẩn nào để mà lấy hay bỏ cả!
Lương Khải Siêu nói, những đại quan khai minh và hiểu rõ thời thế như Trương Chi Đôn cũng hiểu sâu sắc rằng việc bãi bỏ văn bát cổ là việc lớn đầu tiên của biến pháp; thế nhưng Trương thị cũng không dám lớn tiếng nói chuyện hủy bỏ văn bát cổ. Bởi vì ông ta vô cùng "sợ chọc giận hàng trăm vị hàn lâm, hàng ngàn tiến sĩ, hàng vạn cử nhân, hàng chục vạn tú tài, hàng triệu đồng sinh. Sợ họ hợp lực lại để gièm pha mình và bài xích chèn ép mình" (những điều trên đều xem trong cuốn "Mậu Tuất chính biến ký" do Lương Khải Siêu trước tác). Đây vốn dĩ là một "vấn đề" lớn liên quan đến vận mệnh và tương lai của hàng triệu trí thức trong nước, làm sao có thể giải quyết được bằng cách bàn suông về "chủ nghĩa" biến pháp chứ? Bất luận là "mèo đen mèo trắng, bắt được chuột mới là mèo ngoan" (lời của Đặng Tiểu Bình). Việc bãi bỏ văn bát cổ đổi thành sách luận — một thứ "tân chính" chỉ chuốc lấy "vấn đề" mà không giải quyết được "vấn đề" — rốt cuộc có thể dùng vào tích sự gì chứ?
Lại nói chuyện đập phá đền chùa để lập trường học đi! Vào lúc bấy giờ, mấy chục vạn ngôi đền chùa ấy, hàng triệu hàng triệu nhân viên tôn giáo của các giáo phái Phật và Đạo, cũng đều không phải là những kẻ tầm thường. Làm sao có thể chỉ dựa vào một tờ thượng luận, hai trang công văn là có thể đuổi họ ra khỏi cửa đền, bắt hoàn tục lấy vợ sinh con chứ? Cho dù có thể phế bỏ đền chùa để lập trường học, thì kinh phí, sư tư, chương trình học, học trò lấy ở đâu ra, cũng tuyệt đối không phải là công việc có thể làm xong trong một sớm một chiều. Đến như "việc thực hiện tự trị địa phương" mà Khang thị tưởng tượng ra, lại càng là lâu đài trên không trung. Quý vị không thấy đó sao, đảng Quốc và đảng Cộng của nước ta làm tự trị địa phương, làm suốt hơn nửa thế kỷ, chẳng phải vẫn chưa làm ra nổi một cái "tự trị" nửa vời nào hay sao? Vua Quang Tự muốn trong vòng một trăm ngày mà có thể đổi cũ lấy mới, làm ra một kỳ tích, há chẳng phải là nằm mộng giữa ban ngày sao?
Tóm lại, nói ngắn gọn lại, lịch sử dân tộc chúng ta khi bước vào thời kỳ Mậu Tuất cuối nhà Thanh, đã tích tụ quá sâu không thể quay đầu. Bộ máy nhà nước của chúng ta đã rỉ sét toàn bộ, không thể sửa chữa nổi. Xã hội của chúng ta cũng đã đến giai đoạn cuối của bệnh ung thư; bệnh nặng nhập cao hoang, thuốc thang vô hiệu. Cho nên trong mắt nhiều chí sĩ nhiệt huyết, phương thức giải quyết triệt để chính là người chết bệnh dứt gốc; thương xót làm gì để rồi bắn súng là xong. —— Những kẻ theo sau đó, tin tưởng vào "thuyết một lần cách mạng" cả hai đảng Quốc và đảng Cộng, đều là những chuyên gia bắn súng chủ trương "không phá thì không xây". Tôn Trung Sơn tiên sinh từng nói: "Phá hoại khó hơn xây dựng", chính là ý này. Chỉ tiếc là lão nhân gia ông phá hoại chưa thành mà thân đã chết, khiến cho các bậc anh hùng mãi rơi lệ đẫm khăn. Đến khi Đảng Cộng sản xuất hiện, lão Mao đập phá cướp bóc ngọc đá lẫn lộn, việc phá hoại quả là triệt để (những kẻ giặc cướp thời cổ đại có tác dụng phá hoại phát sinh trong lịch sử chính là như thế này); ông ta m mỹ gọi đó là "dời đi ba ngọn núi lớn". Kỳ thực ông ta cũng giống như người đồng hương Chu Nguyên Chương của bần đạo, đến một ngọn núi lớn cũng chẳng dời đi nổi, lại còn dựng thêm một ngọn núi mới nữa. Cái phong trào dời núi tạo núi này, không giải quyết được những vấn đề cũ của Trung Quốc; cũng chẳng đuổi kịp được các "quốc gia tiên tiến". Cho nên Đặng Tiểu Bình ngày nay vẫn còn đang lẩn quẩn hết trước núi sau núi, chẳng biết sẽ đi về đâu? —— Những điều này đều là chuyện nói sau, tương lai sẽ từ từ kể lại sau.
9.4 Lòng bàn tay của Lão Phật gia
Hãy xem cùng lúc đó, vị lão Thái hậu Từ Hi đang tránh nóng hóng mát ở trong Di Hòa Viên lại đang làm những gì? Lão nhân gia bà không hề nhàn rỗi. Thân ở trong viên nhưng lòng ở trong cung, đặc vụ của bà rải khắp nơi, mật thám đầy triều, tiểu báo bay về ngày đêm; đại thần tộc Mãn, nịnh thần tộc Hán, kẻ cầu ơn người xin xỏ, lúc nào cũng quỳ chật ních xung quanh. Mọi cử động của vua Quang Tự đều nằm dưới sự giám sát chặt chẽ của bà.
Tây Thái hậu vốn là một mụ đàn bà đanh đá hiểm độc tàn nhẫn, ai thù oán nhỏ nhặt gì cũng nhất định trả thù, mặt ngoài thì như cáo nhưng trong lòng là hổ sói. Thế nhưng bà cũng là một nữ chủ tinh anh cường tráng, mưu mô thâm sâu lại giỏi tung hoành thủ đoạn, ân uy song hành. Đối với tình địch và chính địch của mình (bao gồm cả hai đứa con trai của bà), bà đều có thể thản nhiên bày ra cạm bẫy để chờ cơ hội bắt giết. Loại cá tính phức tạp này, các nghệ sĩ trên sân khấu không diễn tả nổi. Bà không đáng yêu như Lưu Hiểu Khảnh trên màn ảnh đâu.
Từ lâu trước thời kỳ Mậu Tuất, bà đối với đứa con nuôi Tải Điềm – kẻ ngày càng lớn khôn và có khá nhiều cá tính cùng tính khí – đã sớm có ý định phế lập. Điều này xuất phát từ tâm lý đố kỵ thuần túy — một hiện tượng tâm thần rất thông thường kiểu "giường bên cạnh không dung kẻ khác ngáy ngủ". Thế nhưng bà một là sợ người ngoại quốc can thiệp, hai là sợ các quan biên cương không phục, ba là sợ người chú họ (Cung Thân vương) không đồng ý. Đồng thời đối tượng mà bà nhắm tới cũng không dám gánh vác. Cho nên bà mới nhẫn nhịn chưa phát tác.
Đến cuối mùa xuân năm Mậu Tuất, khi Tải Điềm yêu cầu ủy quyền biến pháp, bà đương nhiên lại càng không thể dung thứ. Nhưng Từ Hi là một con cáo già. Dù bà có muốn kết thúc việc nghỉ hưu, trở về cung huấn chính đi nữa, bà cũng phải bày trí ra một cục diện và thời điểm thích hợp. Thứ nhất là Tôn Hành Giả không thể nhảy thoát khỏi lòng bàn tay của Lão Phật gia; thứ hai là vẫn phải giữ thể diện. —— Việc bà tái xuất là theo lời thỉnh cầu của các quan lại bách tính (trong chính trị Mỹ gọi là draft, tức là bắt ép phải nhận), bất đắc dĩ mới phải làm như vậy. Cho nên trong khoảng mùa xuân mùa hạ năm Mậu Tuất, bà đã làm mấy sự sắp xếp quan trọng:
Trước tiên bà bãi chức Ôn Đồng Hề, đuổi ông ra khỏi vòng tròn chính trị. Ôn là mưu sĩ của vua Quang Tự, người được hưởng quyền "độc đối" (một mình đối thoại với vua). Vị đại thần lớn tuổi đỗ trạng nguyên có tiếng tăm thanh bạch này cũng là người đứng đầu phái khai minh trong triều; càng là gia trưởng và người bảo hộ của phái cấp tiến như Khang, Lương. Một khi Ôn thị bị phế truất, Quang Tự sẽ mất đi một mưu sĩ hàng đầu, một nhịp cầu ở giữa và một người gia trưởng che chở cho đảng tân chính. Một mũi tên trúng ba đích, Ôn Đồng Hề liền bị "cách chức về quê" vào ngày 15 tháng 6. Vua con cũng liền bị cô lập hoàn toàn.
Thứ hai, bà phải duy trì sự an toàn tuyệt đối của khu vực Kinh Tân và Hoa Bắc trong cuộc tranh chấp nội bộ. Vì mục đích này, vào đúng ngày Ôn Đồng Hề bị cách chức, Tây Thái hậu liền cất nhắc tổng đầu sỏ hậu đảng là Vinh Lộc lên làm quyền Tổng đốc Trực Lệ; chẳng bao lâu sau thì chính thức nhậm chức Đại thần Bắc Kinh. Thống lĩnh Đổng Phúc Tường (Cam quân), Tống Khánh (Nghị quân), Nhiếp Sĩ Thành (Võ Nghị quân) cùng Viên Thế Khải (Tân kiến lục quân) và vài vạn quân kỳ binh kinh kỳ, để bảo vệ kinh sư cùng các cửa ngõ giao thông hiểm yếu. Có sự bố trí quân sự này, tuy không đủ để chống giặc ngoại xâm, nhưng (như các vương công tộc Mãn nói) trong việc phòng bị "giặc nhà" thì khu vực Kinh Tân có thể nói là vững như thành đồng vách sắt. Đến như Di Hòa Viên nơi Thái hậu cư ngụ lại càng canh gác nghiêm ngặt. Mệnh phụ thợ thuyền vào yết kiến đều phải bị khám người. So sánh lại, Quang Tự ngoại trừ một số ít thái giám hầu cận ra, các biện pháp an toàn thực sự là muốn sao được vậy từ người khác; chính bản thân ngài chẳng có lấy một thứ gì.
Tôi nhớ người bạn của tôi là Tướng Lý Tông Nhân, năm xưa từng được chỉ định nhậm chức "Quyền Tổng thống". Ông không phục, làm mình làm mẩy đòi làm "Chính Tổng thống". Trong lúc đang cãi vã, Ngô Trung Tín nhắc nhở ông rằng, "Vệ binh của anh đều là người của Tưởng tiên sinh, anh còn cãi cái gì là 'Quyền Tổng thống', 'Chính Tổng thống' nữa chứ?" Lý thị nghe xong đại ngộ, liền quyết định không cãi nữa.
Tương tự như vậy, khi "Bè lũ bốn tên" bị bắt, Hoa Quốc Phong, Vua Đông Hưng chẳng phải đều là "Ủy viên Bộ Chính trị" đó sao? "Đội 8341" bị điều khỏi Bắc Kinh đi đổi phòng tuyến rồi, hai người Hoa và Vua chẳng phải cũng lần lượt được đổi phòng tuyến để dưỡng bệnh đó sao?
Cho nên đối sách của Tây Thái hậu là thản nhiên không động tĩnh, bày sẵn cạm bẫy, mặc cho Quang Tự và đảng tân chính của ngài "quậy phá mấy tháng". Lúc này Cung Vương đã chết, không ai can thiệp nữa. Đợi đến khi "thiên hạ căm phẫn", Thái hậu có lý lẽ đường hoàng trong tay, chỉ cần sắc mặt bà thay đổi một cái, thì vị Vạn tuế gia đang quỳ dưới đất run lẩy bẩy đến mức không còn chút sắc máu trên mặt tự khắc sẽ biết rằng "Long vị của trẫm khó giữ". Cần gì phải đợi đến mùa thu (như lời đồn đại lúc bấy giờ) mới đến Thiên Tân duyệt binh rồi mới tiến hành việc phế lập cơ chứ?
Quả nhiên sự việc phát triển đến giữa tháng chín, khi vua Quang Tự vẫn còn đang bận rộn muốn mở Mậu Cần Điện, để khuyến khích thần dân trực tiếp tiến cử người hiền tài và dâng lời can gián với triều đình, thì sắc mặt Tây Thái hậu đột ngột thay đổi. Quang Tự liền lập tức cảm nhận được đại họa lâm đầu, hoàng vị khó giữ. Để bảo vệ ngai vàng bảo vệ tính mạng, vị hoàng đế ngài lúc này mới ôm chân Phật tạm thời, vào ngày 13 tháng 9 tức ngày 28 tháng 7 âm lịch (có thuyết nói là ngày 14 tháng 9) đã ban mật chiếu cho Khang Hữu Vi cùng bốn vị Chương kinh "thỏa đáng nhanh chóng mật nghị, tìm cách cứu viện". Một mặt lại ra lệnh khác cho Khang Hữu Vi "đốc biện quan báo... nhanh chóng ra ngoài, không được chậm trễ". Điều nực cười là lúc bấy giờ vị Khang thánh nhân này hoàn toàn không có chút cảnh giác nào, ông ta còn tưởng rằng Hoàng đế thực sự muốn mình đến Thượng Hải để làm báo cơ đấy! Liền hiên ngang đường hoàng, thong thả bước chân lên xe lửa đi Đường Cô, đáp tàu thủy đi về phía nam. Lúc bấy giờ nếu ông ta không nổi danh là thân Anh, khiến cho người Anh có tai mắt linh thông phái chiến hạm đặc biệt chạy thẳng ra ngoài cửa khẩu Ngô Tống, giải cứu ông ta thoát hiểm, thì dẫu lão Khang có mọc thêm mười cái đầu đi nữa, cũng đều phải chuyển nhà cả rồi. —— Khang đại thánh nhân sở dĩ có thể nhảy thoát ra khỏi lòng bàn tay của Lão Phật gia mà bảo toàn được cái đầu, không vì gì khác, cho phép tôi mượn một câu nói bằng tiếng Tứ Xuyên của Đặng công Tiểu Bình khi thoát khỏi ma chưởng: "Mạng lớn!"
Mùa thu năm 1987, khi đi ngang qua Thanh Đảo, tôi từng đến viếng ngôi mộ mới của Khang công. Được người đồng chí cùng đi hướng dẫn cho biết, trong mộ lão Khang đã không còn cái đầu nữa. Cái đầu của ông ta được làm giả bằng thép không gỉ. Hóa ra Khang công tuy trốn thoát khỏi tay "Lão Phật gia", nhưng lại không trốn thoát khỏi "Mặt trời đỏ". Ngôi mộ cũ của ông ta bị Hồng vệ binh đào lên để quật mồ thột xác. Cái đầu của ông ta cũng bị Hồng vệ binh đem đi triển lãm, rồi chẳng biết trôi dạt đi đâu mất. Về sau Đặng Tiểu Bình thay mặt ông ta lật lại bản án, cải táng xây mộ mới, nhưng lại không tìm được hộp sọ. Các vị thủ lĩnh khu vực Thanh Đảo bèn dùng thép không gỉ làm một cái. Tôi nghe xong không khỏi thở dài. Đây chắc cũng là số mệnh của lão Khang đi!
9.5 Viên Thế Khải mật báo
Vào khoảng giữa tháng chín năm Mậu Tuất, khi Khang thánh nhân thong thả rời kinh đô đi về phương nam, thì Đàm Tự Đồng cùng bốn vị Chương kinh ở lại trong triều lúc này bắt đầu căng thẳng. Bọn họ và Quang Tự có lẽ đã có những cuộc mật nghị và đạt được ý kiến thống nhất rằng, phương pháp duy nhất có thể vãn hồi cục diện nguy cấp, xoay chuyển càn khôn, chính là thuyết phục Viên Thế Khải, cất binh cần vương. Nếu Viên có thể trung thành với Hoàng đế, thì đại sự may ra còn có thể làm được.
Viên Thế Khải khi ấy thống lĩnh hơn bảy ngàn quân "Tân kiến lục quân", binh lực đứng đầu các quân, quả thực là một phái có thực lực. Tác phong và tư tưởng của ông ta cũng cho thấy ông ta là một nhân vật thuộc phái tân học. Thế nhưng chức quan chính thức của ông ta lúc đó chỉ là "Trực Lệ án sát sứ", là một viên quan cấp trung ở cấp tỉnh "tòng tam phẩm" dưới quyền Vinh Lộc, thường gọi là "Nhiếp đài". Viên có được địa vị này phần lớn là nhờ sự "tri ngộ" của Vinh Lộc; đương nhiên ông ta câu kết rất chặt chẽ với Vinh Lộc, mà Vinh Lộc lại là tâm phúc của Thái hậu, tương lai của bản thân ông ta vì thế cũng vô lượng vô biên. Ngày nay Quang Tự muốn ông ta rời bỏ Vinh Lộc, vứt bỏ Thái hậu để quay sang đầu quân cho phe đế đảng bù nhìn không có chút thực lực nào, điều này đối với tiền đồ làm quan, thậm chí cả tính mạng gia đình của Viên Thế Khải mà nói, chính là một ván cược vô cùng lớn. —— Trong cuộc xung đột giữa đế và hậu này, ông ta chỉ cần án binh bất động, thì đế đảng nhất định sẽ bị chém đầu ngồi tù, toàn quân bị tiêu hủy. Nếu ông ta mạo muội gia nhập đế đảng, cất binh cần vương, bảy ngàn tử sĩ dưới quyền của ông ta chưa chắc đã cứu được Hoàng đế, mà cái đầu của chính mình ngược lại rất có thể sẽ phải chuyển nhà. Viên Thế Khải là một năng thần trong thời bình, kiêu hùng trong thời loạn. Giữa vòng lợi hại, ông ta nhìn rõ như ban ngày.
Lại nói từ góc độ phân biệt phải trái mà xét! Lão tứ họ Viên nếu thực sự có tấm lòng son trẻ, giống như vị "Thiếu soái Trương" bồng bột nọ, ông ta có lẽ đã chẳng màng đến lợi hại và hậu quả, chơi một ván "khổ nhục kế" yêu nước. Bất hạnh thay Viên thị lại là một con cáo già còn cáo già hơn cả cáo già, ông ta tuyệt đối sẽ không mắc mưu lũ vua tôi yêu nước đó đâu. —— Màn kịch chính trị này đối với những nhà quan sát có chút ít đầu óc chính trị vào thời điểm bấy giờ đều có thể nắm rõ như lòng bàn tay, nào cần gì phải đợi đến một trăm năm sau các nhà sử học mới đến bắn pháo sau lưng chứ?
Thế nhưng những nhân vật cốt cán trong đế đảng lúc bấy giờ đã phải đối mặt với tai họa bất ngờ; tinh thần cũng đã bị dồn ép đến mức độ cuồng loạn, đành phải coi ngựa chết như ngựa sống, chẳng còn màng được nhiều nữa. Ngày 14 tháng 9 (ngày 28 tháng 7 âm lịch), Viên Thế Khải phụng chiếu vào kinh; ngày 16 yết kiến thánh giá tại Di Hòa Viên, được vua Quang Tự hết lời úy luyến động viên. Viên thị ngay sau đó phụng sắc chỉ, "cách chức Án sát sứ"; ban cho chức "Thị lang hậu bổ, chuyên biện luyện binh sự vụ, kiêm tùy thời cụ tấu ứng biện sự nghi". Cứ thế Viên Thế Khải từ một viên quan địa phương cấp trung "tòng nhị phẩm", được cất nhắc thăng chức thành một đại thần trung ương "chính nhị phẩm". Theo chế độ nhà Thanh, "Thị lang" và "Thượng thư" các bộ đều được gọi chung là "Đường quan", hầu như bình đẳng làm việc. Viên là một người tinh anh cường tráng (không giống như Khang Hữu Vi kiểu đần độn). Ông ta biết việc mình được thăng chức có nguyên nhân sâu xa bên trong, đặc biệt là lúc "tạ ơn", Hoàng đế có thánh dụ miệng yêu cầu ông ta cùng Vinh Lộc "mỗi người lo việc người nấy".
Lúc này Vinh Lộc đã nhận được tình báo, hắn một mặt điều động binh lực bố trí phòng thủ để đề phòng bất trắc; một mặt tung tin đồn giả Anh Nga khai chiến. Lại phái người chuyên trách hỏa tốc giục Viên Thế Khải trở về Thiên Tân. Khi Viên thị đang lúc tiến thoái lưỡng nan, thì xảy ra sự kiện nhạy cảm là "Quân cơ" Đàm đến yết kiến vào lúc nửa đêm. Theo "Mậu Tuất nhật ký" được tiết lộ sau khi Viên qua đời ghi lại: Ngày 18 tháng 9 (ngày mùng 3 tháng 8 âm lịch) Đàm Tự Đồng lén lút đến thăm vào ban đêm, và đi thẳng vào vấn đề nói cho ông ta biết, Tây Thái hậu và Vinh Lộc có âm mưu sát hại vua và phế lập. Hoàng đế hy vọng Viên thị hộ giá, dẫn binh tru diệt Vinh Lộc và bao vây Di Hòa Viên. Viên hỏi xử lý Tây Thái hậu thế nào, Đàm nói ông ta đã thuê sẵn mấy chục tráng sĩ; "loại bỏ ông lão bà già này, giao cho tôi là được, không cần dùng đến công" vân vân. Viên ghi trong nhật ký của mình rằng ông ta nghe xong "hồn bay lên tận mây xanh", nhưng Tự Đồng lúc này đã "tương tự như điên cuồng", lại là "cận thần của thiên tử", ông ta không dám không qua loa ứng phó. Phải mất bao nhiêu sức lực mới tiễn được Đàm rời đi.
Đoạn trên đã kể rõ rồi, Viên Thế Khải tuyệt đối sẽ không chấp nhận mưu kế bí mật của Đàm Tự Đồng. Hai ngày sau, khi trở về Thiên Tân, ông ta liền đem kế hoạch của Đàm bán đứng hoàn toàn cho Vinh Lộc. Kỳ thực kế hoạch cơ mật này của Tự Đồng, Tây Thái hậu và Vinh Lộc từ lâu đã biết rõ, cũng từ lâu đã có hành động rồi — Từ Hi đã về cung từ Di Hòa Viên vào ngày 19 (ngày mùng 4 tháng 8). Ngày 21 chính thức lâm triều "huấn chính", đồng thời hạ lệnh giới nghiêm kinh sư, tàu hỏa ngừng chạy. Ngay sau đó giam lỏng Hoàng đế, bắt bớ đảng tân; phế bỏ hoàn toàn tân chính, khôi phục pháp cũ. Đây chính là cái gọi là "Mậu Tuất chính biến" rồi. —— Tây Thái hậu nổi giận uy phong một trận, đảng tân và tân chính từ đó cũng tan thành mây khói; Hoàng đế cũng bị giam vào Doanh Đài.
9.6 Bia đảng nhân Mậu Tuất
Khi chính biến bất ngờ bùng nổ, nhân vật trọng tội đầu tiên bị phong tỏa thành phố vây bắt, đương nhiên chính là Khang Hữu Vi. Nào ngờ Khang lại có thể đường hoàng bước chân ra khỏi thành vào ngay ngày hôm trước. Đại đệ tử số một của Khang là Lương Khải Siêu, may mắn là ngày thường cũng có những lời nói và hành động thân Nhật. Lúc này được bạn bè người Nhật bảo vệ trốn vào sứ quán, giả trang trốn thoát. Những người khác có liên quan đến tân chính tân đảng, chạy trốn không kịp, hoặc không muốn trốn mà bị bắt bớ có tới vài chục người. Trong số đó những nhân vật chủ chốt chính là cái gọi là "Lục quân tử" — Đàm Tự Đồng, Dương Duệ, Lâm Húc, Lưu Quang Đệ, Dương Thâm Tú và Khang Quảng Nhân. Sáu người này không qua xét xử đã bị sát hại tại Thái Thị Khẩu ở Bắc Kinh vào ngày 28 tháng 9 dương lịch tức hai ngày trước tết Trung thu, do đại đầu sỏ phe bảo thủ là Cương Nghị "giám trảm" — Cương Nghị (1837–1900) chính là vị Mãn tộc Hiệp bản đại học sĩ đã nói ra cái câu hỗn láo nổi tiếng đại loại như "Thà tặng cho ngoại bang, quyết không ban cho nô bộc nhà" — một tên ngốc nghếch.
Trong số sáu người tuẫn đạo, người có tinh thần tuẫn đạo nhất tính ra phải kể đến Đàm Tự Đồng (1865–1898). Lẽ ra ông có thể trốn thoát. Thế nhưng ông cảm thấy mình là người tiên phong của tân chính; tân chính thất bại ông có nghĩa vụ phải tuẫn nạn. Tự Đồng nói với người bạn khuyên mình trốn chạy rằng, biến pháp tất định sẽ đổ máu; muốn đổ máu, thì nên bắt đầu từ ông. Cho nên ông đã ung dung chịu nghĩa. Tự Đồng là một người yêu nước vô tư, một vị chân quân tử; một trang nam nhi tốt của dân tộc Trung Hoa.
Dương Thâm Tú (1849–1898) cũng là một vị ngự sử hào hiệp giữ mình ngay thẳng không chịu khuất phục, coi nhẹ cái chết xem trọng nghĩa khí. Mặc dù ông cũng là phái duy tân, thế nhưng khi chính biến đã thành sự thật, Tây Thái hậu chính thức "huấn chính". Hoàng đế bị giam lỏng, triều đình chiến rẫy sợ hãi, lúc ấy ông hoàn toàn có thể ngậm miệng để tránh cái chết. Thế nhưng ông lại cứ muốn đứng ra ngẩng cao đầu, chất vấn lý do Quang Tự bị phế truất, lại dâng tấu kiên quyết thỉnh cầu Từ Hi quy chính, để rồi bị bắt và chịu nghĩa. Chúng ta thử tra cứu hàng trăm hàng ngàn vị ngự sử qua hai đời Minh, Thanh, và những vị gọi là quan chức giám sát chuyên bắt ruồi bợ đỡ nịnh hót trong hai đảng Quốc, Cộng xem có được mấy người như Dương Thâm Tú, Tôn Trung Sơn chính là coi trọng những vị quan ngôn luận như Dương ngự sử này, nên mới kiên quyết đòi thực hiện hiến pháp "Ngũ quyền" đấy!
Trong sáu quân tử, người chết oan uổng nhất tính ra phải là Khang Quảng Nhân (1847–1898) mới tròn 31 tuổi. Quảng Nhân không làm quan, cũng chưa từng đảm nhận chức cán bộ quan trọng nào trong phong trào duy tân. Cho nên sau khi biến pháp thất bại, ông không có ý định tránh nạn, cũng chẳng trốn chạy. Bởi vì ông thực sự không có tội trạng gì để đáng phải bị giết. Thế nhưng cuối cùng ông lại phơi thây ở Thái Thị Khẩu, chỉ vì một cái lý lịch — ông là "em trai của Khang Hữu Vi". Cho nên trước khi bị giết, ở trong ngục ông đã lấy đầu đập vào tường, bi thiết hô hoán, quả thực cũng là vô cùng thảm liệt.
Các liệt sĩ đã chết rồi, lực lượng nòng cốt trong tân đảng hoặc ẩn trốn, hoặc bị giam cầm, hoặc bị lưu đày, trong chốc lát đều tiêu tán sạch. Những vị đại thần khai minh vốn có cùng chí hướng, cùng chung tiếng nói với họ, hoặc bị phế truất (như Ôn Đồng Hề), hoặc bị cản trở (như Trương Chi Đôn), hoặc ngậm miệng tự bảo vệ mình, đứng sang một bên (như Lý Hồng Thượng, Lưu Khôn Nhất, Tôn Gia Đỉnh)... Trong triều không còn ai, quyền quyết định đại quyền nội chính ngoại giao của đại thanh đế quốc liền nằm trong tay một đám quan liêu ích kỷ ngu dốt cổ hũ tối tăm do Tây Thái hậu đứng đầu. Cứ như thế triều chính về sau ngày càng tồi tệ hơn, cuối cùng dẫn đến họa "Nghĩa Hòa Quyền" và "Liên quân tám nước", đó cũng chính là sự phát triển tất yếu mà thôi.
9.7 Trong cái tất yếu có cái ngẫu nhiên
“Mậu Tuất biến pháp” là một trong số ít phong trào biến pháp kinh thiên động địa trong lịch sử ba nghìn năm của nước ta, đứng sau Thương Ưởng (390–338 TCN), Vương Mãng (32 TCN–23 CN), Vương An Thạch (1021–1086), và trước Đặng Tiểu Bình (1903–1997).
Thương Ưởng "tự làm luật rồi chết vì luật" cuối cùng chuốc lấy kết cục "xa liệt" (năm sáu cỗ xe ngựa hoặc xe bò kéo xé thân thể thành từng khúc thịt), chết thảm thương nhất. Vương Mãng cổ hủ không biết biến thông, theo đuổi chủ nghĩa giáo điều, kết quả cũng bị chém đầu. Vương An Thạch dùng bình cũ rượu mới, dùng bộ máy nhà nước đã rỉ sét để cải tạo căn bệnh xã hội thâm căn cố đế. Ông ta có thể bảo toàn được cái đầu, cũng có thể coi là "mạng lớn".
Đặng Tiểu Bình là người có tuổi đời lớn nhất, địa vị cao nhất (cao hơn cả Vương Mãng một bậc), vóc dáng nhỏ nhất (thấp hơn cả Napoleon vài phân), mà lại còn là trường hợp vợ con cả nhà tổng động viên trong số các chuyên gia biến pháp của dân tộc chúng ta. Ông ta cũng mang một con số bất phàm là "ba lên ba xuống". Làm quan làm đảng, phải trải qua ba lên ba xuống; cải cách thể chế, biến pháp duy tân, chẳng lẽ cũng phải trải qua ba lên ba xuống nữa hay sao? Thiên cơ không thể tiết lộ, hiện tại không ai biết cả. Chúng ta đứng bên bờ ngắm lửa, chỉ biết rằng ông ta đã trải qua hai lên hai xuống rồi. Từ nay về sau liệu có thể ba lên mà không xuống, đại cát đại lợi giống như việc làm quan của ông ta hay không, các nhà quan sát ở ba bờ đại dương mỗi người nói một phách. Kỳ thực những chuyên gia học giả lắc đầu lè lưỡi ngày nay, những vua không đội mão ồn ào náo động, truyền thông cảng đài, thậm chí cả Trương Bán Tiên, Lý Thiết Chủy và vô số thầy bói khác, bao gồm cả người viết bài này ngồi nhà tự tưởng tượng, đều đang nói nhảm cả thôi. —— Tương lai khi đáp án được mở ra, các vị đoán sai, vốn dĩ là đáng đời; các vị đoán đúng, cũng chỉ là sự trùng hợp mà thôi. Nếu nói quẻ sáu hào bát quái của Gia Cát Lượng thực sự có thể thông thấu quỷ thần, biết trước quá khứ tương lai, thì đó chỉ là Tam Quốc Diễn Nghĩa mà thôi. Hoàng Dược Sư nói rất hay: "Việc sau này ắt phải hỏi người sau." Sau kỳ thi lớn, điểm số được niêm yết, những người thầy trong tương lai tự khắc sẽ có những đánh giá công bằng.
Còn về cuộc biến pháp Mậu Tuất của Khang Hữu Vi, thì lại khác. Mậu Tuất cách ngày nay chưa xa, sử liệu đầy đủ. Trong quả cầu thủy tinh, sự việc rõ ràng mồn một; mà Tải Điềm, Khang Lương, Từ Hi, Vinh Lộc, uy quyền từ lâu đã tiêu tan, ân oán đã dứt. Các nhà sử học ngày nay, nếu quen thuộc sử thực, gạt bỏ thành kiến, không phải là không thể đưa ra những lời định luận, để làm sáng tỏ sử tích mà cảnh cáo người đời sau. Người viết không tự lượng sức mình, thử có suy nghĩ này, từng dành ra bốn chương cho vụ án này, tổng cộng mấy vạn chữ, để thấu hiểu tận cùng ngõ ngách của nó. Tóm lại cho ngắn gọn, xin hỏi biến pháp Mậu Tuất trong lịch sử rốt cuộc nên được định vị trí như thế nào?
Chương đầu đã nói rồi, lịch sử cận đại Trung Quốc kéo dài hơn một trăm rưỡi năm, về bản chất phát triển xã hội vốn là một "lịch sử chuyển hình" — chuyển từ xã hội kiểu phương Đông trung cổ sang xã hội kiểu phương Tây hiện đại. Sự chuyển hình này bắt đầu từ Chiến tranh Nha phiến, cho đến tận ngày nay chúng ta vẫn còn quanh quẩn ở rìa trung cổ của "Thế giới thứ ba". Công cuộc gian lao khó nhọc ấy, có thể tưởng tượng được. Thế nhưng vua Quang Tự lúc bấy giờ lại muốn đem cái "hình" khó thay đổi trong trăm năm ấy mà thay đổi ngay trong tầm tay, sự thất bại tất yếu của nó thực sự không cần phải tốn quá nhiều bút mực. "Khái niệm hóa" hiện tượng này lại một chút, chúng ta có thể nói: "Sự thất bại của biến pháp Mậu Tuất" là một sự "tất yếu" trong lịch sử.
Thế nhưng "tất yếu" trong lịch sử, thường lại bị chi phối bởi "ngẫu nhiên". Bởi vì thời gian, không gian, toàn diện hay cục bộ, trình tự và phương hướng, phương thức và ảnh hưởng của sự thất bại... tất cả đều do các nhân tố "ngẫu nhiên" quyết định. Những sự "ngẫu nhiên" này đôi khi lại "tất yếu" trở thành "gen" (gene hoặc cause) phát triển lịch sử của giai đoạn tiếp theo.
Ví dụ như: "Thất bại hoàn toàn" và "thất bại cục bộ" cả hai đều là "ngẫu nhiên"; thế nhưng không gian khác nhau của hai điều đó đối với gen của giai đoạn lịch sử tiếp theo lại hoàn toàn khác nhau. Lại ví dụ như: thất bại trong "một trăm ngày" và thất bại trong "mười năm", cũng đều là "ngẫu nhiên" do nhân tố con người gây ra; thế nhưng khoảng thời gian dài ngắn khác nhau này, đối với sự phát triển gen của giai đoạn tiếp theo, "tất yếu" sẽ có ảnh hưởng mang tính quyết định.
Nghiên cứu biến pháp Mậu Tuất, nguyên nhân khiến chúng ta phải dùng hai độ dài thiên phúc để mổ xẻ một mình Khang Hữu Vi chính là vì "ngẫu nhiên" lớn nhất chi phối cái "tất yếu" lịch sử này, chính là "nhân cách" (personification) của Khang Hữu Vi. Nếu đổi Khang Hữu Vi thành Khang Vô Vi, thì quá trình lịch sử thất bại của đoạn "Mậu Tuất biến pháp" này, và tác dụng gen mà nó tạo ra đối với giai đoạn tiếp theo, có lẽ sẽ hoàn toàn khác biệt.
9.8 Thấu hiểu biến hóa cổ kim, nhận biết sở trường Trung Tây
Trong giai đoạn lịch sử này, vai trò mà Khang thị đóng vai trò nên là nhà lý luận, nhà tư tưởng và nhà chính trị. Bất hạnh thay Khang Hữu Vi về ba mặt này, đến điều kiện tối thiểu nhất cũng không hề có đủ. Bởi vì sinh ra làm một nhà lý luận và nhà tư tưởng của Trung Quốc hiện đại, kiến thức và sự tu dưỡng của ông thực sự nên vắt ngang qua cả hai thời đại cổ kim, và hai kiểu Trung Tây. Nhận thức thô thiển nông cạn của Khang thị đối với Tây học không chỉ không vượt qua nổi hai hố sâu này, ông ta lại còn cái dốt mà hay nói chữ, vừa vặn đủ để gây họa. —— Mao Trạch Đông làm "Đại nhảy vọt", khiến hai lăm triệu nông dân chết đói, chính là một ví dụ lịch sử đau đớn nhất, cái dốt mà hay nói chữ tương tự như vậy.
Còn về Hán học của Khang Hữu Vi, trình độ của ông ta e rằng vẫn còn nằm dưới Lương Thấu Minh, Tiền Tân Tứ. Bất hạnh thay ông ta tự mãn giậm chân tại chỗ, bị tẩu hỏa nhập ma, phạm phải sai lầm lớn của chủ nghĩa giáo điều. Khang làm thơ rằng: "Lương sử mạc vô lưỡng tư mã, truyền kinh duy hữu nhất công dương." Hai nghìn năm sử cũ đều không đuổi kịp Lư Tư Mã, có lẽ là sự thật. Truyền kinh chỉ có một Công Dương, xuất phát từ quan điểm của phái văn học kim văn, cũng chẳng ai có thể ngăn cản ông ta nói như thế cả. Trăm nhà đua tiếng vốn dĩ là việc lớn tốt đẹp. Điều ông ta ngàn không nên vạn không nên, chính là không nên thực sự đi làm cái trò thông kinh trí dụng, dùng giáo điều cứng nhắc để bài xích tất cả mọi thứ. Nếu ông ta không theo chủ nghĩa giáo điều, mà có thể khiêm tốn rộng lượng hợp tác với phái khai minh đứng đầu là Trương Chi Đôn, Ôn Đồng Hề, thì biến pháp duy tân cũng có tính kiến thiết của nó, chứ không đến nỗi bước lên cục diện độc đại của phe bảo thủ sau này. Chủ nghĩa giáo điều gây họa cho Trung Quốc, Khang Hữu Vi chính là kẻ khởi xướng đầu tiên. —— Đây cũng là một sự "ngẫu nhiên" của lịch sử.
Không làm được nhà lý luận, nhà tư tưởng thì thôi vậy, Khang Hữu Vi chí ít cũng có thể làm một nhà chính trị có lòng thương người yêu vật, lồng ngực phóng khoáng chứ nhỉ! Đáng tiếc là Khang thị cũng chẳng có thiên bẩm của một nhà chính trị. Bản tính sinh ra ông ta đã là một kẻ ngạo mạn không hòa nhập với ai, đần độn lập dị, lại còn là một trí thức bảo thủ nóng nảy vội vàng. Ông ta kết hôn năm mươi chín tuổi; phong tục cũ nghìn năm của nước ta, vào đêm động phòng hoa chúc, họ hàng bạn bè náo nhiệt một phen, náo động phòng tân hôn cũng là chuyện thường tình. Thế nhưng cái tên tân lang lập dị này lại không cho phép náo động phòng, khiến cho tình cảm thân hữu mất đi không ít. Khi ấy Hữu Vi vô cùng sủng tín Chu Lễ, mọi thứ đều phải hành sự theo "lễ". Cho nên vào ngày ông nội qua đời, ông ta cũng túc trực lập lều cỏ bên quan tài, mặc áo vải thô đeo khăn tang trắng không rời thân, suốt cả năm không ăn thịt. Ông tự ghi lại rằng: "Lúc bấy giờ đọc tang lễ, nhân đó khảo cứu học thuật tam lễ, lúc nào cũng tuân thủ lễ pháp cổ xưa, nghiêm túc đứng đắn kính cẩn, không đi lệch một bước." Thế nhưng bản thân ông ta cũng nói, làm như vậy "người ta đều chê cười ông là kẻ hủ Nho". Thế mà ông ta lại tự khoe "tuổi trẻ cương nghị, thủ tiết quá mức đại loại là như thế". Ông ta cứ đi theo con đường của mình, mặc kệ người khác phê bình ra sao chứ!
Tôi nhớ bút ký người Thanh cũng từng ghi chép lại có một ông nọ, vì quá tin vào thuyết "chính tâm thành ý", nên ông ta "đêm qua ân ái với vợ già một lần", cũng phải ghi lại một cách "chính tâm thành ý" trong nhật ký. Khang Hữu Vi chính là một kẻ đần độn lập dị như thế.
Loại thanh niên tri thức kiểu Khang Hữu Vi thời trẻ này, trong số bạn học chung lớp trung học đại học của chúng ta, thực sự không biết có bao nhiêu người. Mỗi người có một cá tính và phong cách sống khác nhau, vốn dĩ không nên ép buộc lẫn nhau. Thế nhưng loại người này lại không thể làm "công khai", chơi "P.R.", đặc biệt là không thể làm đảng thủ của một chính đảng.
Hữu Vi trong thời kỳ thanh niên, dưới tâm trạng thất vọng "thi hương nhiều lần không đậu", cũng từng tập thiền ngồi tĩnh tâm, tụng đọc kinh điển Phật Đạo để tự giải sầu. Có lúc thậm chí còn làm đến mức "khóc cười thất thường". Điều này cũng dựa theo lời tự bạch của chính ông ta (tự biên soạn niên biểu). "Khóc cười thất thường" là hiện tượng tâm thần thời kỳ đầu. Theo lời các bác sĩ tâm lý, bản thân bệnh nhân nếu biết hiện tượng này là không bình thường mà đi tìm bác sĩ, thì bệnh tình của họ sẽ không đến nỗi trầm trọng sâu sắc. Nếu bệnh nhân coi đó là "giả điên" để tự hào, thì rất có thể sẽ biến thành "kẻ điên". Làm kẻ điên vẫn có thể làm đại học giả như Chương Thái Viêm. Thế nhưng làm một "Chương kẻ điên" thì không thể làm nhà chính trị được.
Theo phong tục cũ của hai đời Minh, Thanh ở nước ta, các sĩ tử đi thi vào học hoặc đỗ cử nhân điểm tiến sĩ, đều phải bái chủ khảo quan làm "phòng sư", để báo đáp sự thưởng thức của chủ khảo quan đối với tài năng và học vấn của mình. Thế nhưng Khang thị kiêu ngạo thành tính. Ông ta muốn Tôn Trung Sơn bái mình làm thầy; còn bản thân thì từ chối bái chủ khảo quan của mình làm thầy, khiến cho cái tiếng cuồng ngạo vang dội khắp thiên hạ. Cuối cùng dưới sự khuyên can của bạn bè, Khang thị rốt cuộc cũng bái chủ khảo quan kỳ thi hương của mình là Hứa Ứng Ký (sau giữ chức "Lễ bộ Thượng thư") làm phòng sư. Thế nhưng mối quan hệ thầy trò của họ lại bị biến thành nước với lửa. Sau đó trong thời kỳ duy tân, người cảm thấy đau đớn khắc cốt ghi tâm đối với Khang thị, và dâng tấu tham hặc dữ dội nhất chính là Hứa thị. Hứa thị hặc Khang, nói là do mâu thuẫn thâm căn cố đế thì chi bằng nói là do bối rối tình cảm thì hơn. Nghe nói Khang cũng xúi giục ngự sử quay lại hặc ngược lại, đánh một ván văn chương đổ thêm dầu vào lửa trước mặt hoàng đế. Quang Tự bao che cho Khang cách chức Hứa. Đây là lần đầu tiên các đại thần bị phế truất thăng giận sau khi vua Quang Tự thân chính. Sau đó phe đế hậu nước với lửa, lại càng không thể thu xếp nổi nữa.
Nghe nói Khang Hữu Vi vào ngày 16 tháng 6 khi vua Quang Tự triệu kiến, đã tình cờ gặp Vinh Lộc ở "triều phòng" (nơi chờ đợi triệu kiến). Hai người nói chuyện về biến pháp. Vinh nói: "Pháp là nên biến, nhưng pháp cũ một hai trăm năm, làm sao có thể biến trong thời gian ngắn được chứ?" Hữu Vi phẫn nộ đáp rằng: "Giết mấy vị đại thần nhất phẩm, pháp là có thể biến được rồi."
Chúng ta nhìn lại tình hình chính trị Mậu Tuất từ một trăm năm sau, vốn biết rằng Vinh Lộc khi ấy có đủ lực lượng để giết Khang; mà Khang hoàn toàn không có lực lượng để tru diệt Vinh. Lúc trăm ngày duy tân mới mở màn này, Khang lại nói những lời phẫn uất kích động hoàn toàn không cần thiết đối với đầu sỏ số một của phe bảo thủ, cũng có thể tưởng tượng được sự thiên lệch trong cách đối nhân xử thế và sự đần độn trong chính trị của ông ta.
Tóm lại, "Mậu Tuất biến pháp" thực sự là phong trào "hiện đại hóa chính trị" đầu tiên (cũng có thể coi là "hiện đại hóa thứ năm" cuối thời nhà Thanh) tiếp nối sau "hiện đại hóa khoa học kỹ thuật" (hoặc "bốn hiện đại hóa") trong lịch sử cận đại nước ta, thế nhưng phong trào này không những không thể dẫn dắt thể chế chính trị của chúng ta tiến lên một bước, trái lại còn thụt lùi mấy chục năm. Tại sao lại như vậy chứ?
Chúng ta đều biết người thúc đẩy chính của biến pháp Mậu Tuất là vua Quang Tự. Nếu lấy tiêu chuẩn của sách "Xuân Thu" để làm "luận tâm", xuất phát từ động cơ vì nước vì dân, hy sinh cái nhỏ vì cái chung, vị hoàng đế trẻ tuổi yêu nước này thực sự là một vị "vua Nghiêu vua Thuấn" cực kỳ hiếm thấy trong lịch sử nước ta. Thế nhưng vua Quang Tự rốt cuộc cũng chỉ là một vị vua con lớn lên trong thâm cung, chịu sự kìm kẹp của vị mẫu hậu độc ác mà vô tri. Kinh nghiệm không đủ, chỉ có lòng tốt không thôi thì không thể tự hành động được. Lẽ ra ngài nên từ từ xây dựng nền tảng quyền lực của chính mình trước — giống như Tưởng Kinh Quốc vậy — rồi sau đó mới có thể thử nghiệm biến pháp. Cho dù thời điểm phát triển đến lúc pháp có thể biến, thì cũng nên chia thành nhẹ nặng gấp chậm thi hành theo thứ tự. Chiếu thư ban xuống một ngày mấy lần, triều dã không biết phải theo đâu, cũng không phải là một cách hay. Bất hạnh thay vị hoàng đế trẻ tuổi này rõ ràng cảm thấy quốc vong chẳng còn bao lâu, cho nên nóng lòng không chờ đợi được. Thế nhưng quân sư mưu sĩ của ngài lẽ ra phải nhìn thấy điều này. Bất hạnh thay Khang thị đần độn cố chấp, kiến thức không đủ; mà lại nôn nóng bốc đồng, thậm chí còn hơn cả vị vua thơ ấu. —— Nghĩ đến đây, chúng ta không thể không nói Khang Hữu Vi thực sự chỉ là một tên quân sư quạt giấy. Ông ta không thể gánh vác trọng trách to lớn trời giao để đẩy mạnh hiện đại hóa chính trị, mà lại cho lùi xe chạy ngược chiều.
Vào thời kỳ chuyển hình chưa từng có trong hai nghìn năm này, sai một ly đi một dặm. Những kẻ có tâm muốn nắm tay lái, đều nên hiểu sơ qua về biến hóa cổ kim, nắm bắt đại khái sở trường Trung Tây. Khiêm tốn rộng lượng, thận trọng trong mọi việc. Người quân tử làm hỏng việc nước, tai hại của họ còn lớn hơn cả kẻ tiểu nhân. Há có thể không cẩn trọng sao?
Lấy xưa soi nay, nhìn việc cũ biết việc tương lai. Xoa dịu sử cũ, lướt qua thời văn. Ném bút lên bàn, ta muốn nói điều gì đây?
* Bản gốc đăng trên "Truyền ký văn học" Đài Bắc tập 61 kỳ 3