Vãn Thanh Thất Thập Niên 3: Giáp Ngọ Chiến Tranh Dữ Mậu Tuất Biến Pháp

Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Minh Oan Cho Trận Chiến Đẫm Máu Hoàng Hải

❊ ❊ ❊

Nhớ lại kỷ niệm một trăm năm chiến tranh Giáp Ngọ, theo lời dặn dò của anh Lưu Thiệu Đường, ngòi bút của tôi đã viết ra mấy vạn chữ Đông kéo Tây kéo, nhưng cho đến nay vẫn chưa vang lên một tiếng súng nào, thế thì còn thành ra chiến tranh gì nữa? Trên thực tế, vấn đề chính là ở chỗ này.

Thế nào gọi là chiến tranh? Người phương Tây có câu: "Chiến tranh" chính là sự tiếp nối của "chính trị". Không hiểu "chính trị" trước "chiến tranh", lại đi bàn suông về "chiến tranh" sau "chính trị", đúng là trò trẻ con. Sách "Hán thư" có câu: "Khu khúc (ống khói — người Nhật cho đến nay vẫn gọi ống khói là yên đột tử) tỉ củi người không nghe ơn trạch, đầu bù trán cháy người làm thượng khách." — Có người nói ống khói nhà hắn quá thẳng, sắp hỏa hoạn rồi, nên dời củi đi chỗ khác, hắn không nghe. Đến lúc xảy ra hỏa hoạn thật, những đội viên cứu hỏa đầu bù trán cháy ấy, ngược lại lại được ăn uống linh đình.

Các nhà chiến lược nước ta cũng nhấn mạnh "miếu mưu"; nhấn mạnh "vận trù trong màn trướng, quyết thắng ngoài ngàn dặm". Gia Cát Khổng Mông trong lúc "quạt lông khăn lụa nói cười", trên sông lớn đã "thuyền buồng tro bay khói diệt". Quan, Trương,Triệu, Mã, Hoàng chạy rã cả chân, cuối cùng vẫn không bằng đại chiến lược gia ngồi trên chiếc thuyền con, nhẹ nhàng phe phẩy quạt lông. — Long Trung đối sách, thiên hạ chia ba, há phải là chuyện ngẫu nhiên sao?!

"Lý nhị tiên sinh" - người gánh trách nhiệm lớn nhất trong thất bại trận Giáp Ngọ, đã bị các ngự sử mắng là "hán gian". Triều đình cũng lột bỏ "tam nhãn hoa linh" của ông, tước đi "hàng mã vàng", cho lưu đảng sát hạch (giữ chức quan để quan sát thêm).

Trong triều không còn ai. Tây Thái hậu bất đắc dĩ, lại phải tìm người em chồng là Cung vương Dịch Hân ra để thu dọn cục diện rối ren. Chẳng bao lâu sau, Cung vương cũng bệnh chết. Lúc Dịch Hân lâm chung, Thái hậu sai người đến hỏi "ai có thể kế nhiệm", từng nhắc đến thầy của vua Quang Tự là Ông Đồng Hòa. Cung vương lắc đầu nói: Lúc hết trúc Nam Sơn, cũng khó viết hết đại lỗi này. Ông trách Ông Đồng Hòa không nên chủ chiến. — Không thể đánh mà lại đánh, đánh một trận là bại, con hổ giấy thuộc nhóm tám cường quốc bị vóc trần, các liệt cường bắt đầu chia cắt "phạm vi thế lực" (spheres of influence) ở Trung Quốc; tiếp theo là "xâu xé dưa hấu Trung Quốc" (cutting the Chinese melon).

Gần đây, lão đồng môn Hoàng Chương Kiện viện sĩ cùng tôi uống cà phê ôn chuyện cũ, nhắc đến "trận Giáp Ngọ", Chương Kiện cũng thở dài mà rằng: Thất bại trận Giáp Ngọ, ảnh hưởng quá lớn rồi. Đại Thanh đế quốc đã sụp đổ ở trận chiến này. Cụ Hoàng là người có uy quyền hàng đầu trong việc nghiên cứu giai đoạn lịch sử "tiếp theo" của trận Giáp Ngọ là "Mậu Tự biến pháp". Nhìn lại "Mậu Tự" (năm 1898) từ "Giáp Ngọ" (năm 1894), thì trận chiến này đúng là bại quá thảm hại. Nó cũng là mấu chốt dẫn đến sự sụp đổ cuối cùng của Đại Thanh đế quốc.

3.1 Phơi quần trên pháo, thái giám duyệt binh

Trận chiến này, đương nhiên cả hai ông Lý và Ông đều không thể chối từ trách nhiệm. Tuy nhiên, xét cho cùng thì hai người họ cũng chỉ là hai cá nhân đơn lẻ. Anh hùng chưa hẳn không thể tạo nên thời thế. Thế nhưng trong dòng chảy khách quan cuồn cuộn, chuyển đổi văn hóa ấy, một số ít anh hùng cá nhân tuyệt đối không thể làm cho "tam hiệp lịch sử" đổi dòng!

Về tình hình cụ thể của tam hiệp lịch sử, người "ở trong núi" như tay chèo, người lái đò ở trong hẻm núi nào có biết đâu. Thế nhưng những nhà sử học của hơn một trăm năm sau, ngồi trên chiếc máy bay nhỏ, bay qua bay lại trên đỉnh Vu Sơn mười hai ngọn, nhìn xuống dòng sông và thế núi, liền thấy rõ trong gang tấc. — Mấy năm trước, khi du ngoạn "Đại hẻm núi" (Grand Canyon) ở miền Tây nước Mỹ, tôi đã ngồi trên một chiếc máy bay nhỏ bay xuyên qua hẻm núi, và có được kinh nghiệm thực tế này. Tam hẻm núi của nước ta cho đến nay vẫn chưa có trang thiết bị bay xuyên hẻm núi. Tôi cũng từng đi qua bằng tàu thủy. Ngồi trên tàu lắc đầu nhìn xung quanh, trước không thấy người xưa, sau chẳng thấy người đến. Ngẩng lên nhìn Thần Nữ, ngồi trong đáy giếng nhìn trời; làm sao biết được toàn cảnh của tam hiệp lịch sử trông như thế nào cơ chứ?

Tôi kém cỏi, từng nhiều lần nhấn mạnh "tính giai đoạn" trong phong trào hiện đại hóa của nước ta. "Giai đoạn thứ nhất" trong phong trào hiện đại hóa của nước ta chính là giai đoạn dương vụ, cũng chính là giai đoạn hiện đại hóa khoa học kỹ thuật; thậm chí còn có thể gượng ép gọi là "giai đoạn tứ hóa", mà nhân vật quan trọng nhất trong giai đoạn này chính là Lý Hồng Chương (1823 - 1902). Thể hiện và thành tích lớn nhất của Lý Hồng Chương khi làm "tứ hóa" chính là đứa con cưng "Hạm đội Bắc Dương" của ông — từ không thành có, lão Lý trong hai mươi năm đã nâng cao đất nước Trung Quốc cổ xưa lạc hậu lên thành "một trong tám cường quốc" thế giới về mặt khoa học kỹ thuật quân sự. Thành tích không tệ đâu chứ!

Bốn mươi năm trước, học trưởng cũ của tôi - Giáo sư Đậu Tông Nhất (Nghi) (xuất bản bởi Hữu Liên Hồng Kông năm 1968), bắt đầu biên soạn "Lý Hồng Chương niên (nhật) phổ", tôi đã đi theo ông học tập, tỉ mỉ không bỏ sót một chi tiết nào, hứng thú vô cùng. Từ đó cuốn sách này đã trở thành "Tam thượng độc phẩm" (sách đọc trên gối, trên toilet, trên xe) của tôi. Ba mươi năm nay, cuốn sách do Tông Nhất tặng đã bị tôi lật giở nhàu nát như một nhúm giấy vụn, nhưng đọc mãi vẫn chưa thôi.

Những năm gần đây, tỉnh nhà An Huy của tôi lại còn thiết lập cơ quan chuyên trách để nghiên cứu về Lý Hồng Chương, đồng thời đang biên soạn và xuất bản "Toàn tập". Tôi cũng thẹn vì được làm "cố vấn", lẽo đẽo đi theo học tập, đồng thời được đọc ké không ít bí tịch chưa từng thấy trước đây. Những năm gần đây lại được Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc (nay là trú tại Mỹ) là vợ chồng Lý Đạo Dự (cháu huyền tôn của Lý Hàn Chương) mời dự yến tiệc không dứt, dần dà trở thành bạn tốt. — Vị Khâm sai đại thần đương nhiệm đầu đội tam nhãn hoa linh, đỉnh đới nhất phẩm này, trên đàn giao tế quốc tế ngày nay, nhờ lập trường cởi mở mà rất được ca ngợi, mang đậm phong thái của nhà họ Lý (văn trung)! Cho nên, Lý Hồng Chương đối với những người nghiên cứu lịch sử cận đại Trung Quốc chúng ta mà nói, vẫn chưa phải là quá xa vời, ảnh hưởng của ông, chạm tay là có thể với tới. Thế nhưng, Lý Hồng Chương suy cho cùng vẫn là một nhân vật bi kịch. Lúc ông qua đời do lao lực vào ngày 7 tháng 11 năm 1901 (ngày 27 tháng 9 âm lịch), có thể nói cả đời sự nghiệp đều đổ xuống sông xuống biển. Nguyên nhân khiến ông ra nông nỗi này, chính là vì ông không may sinh ra làm "tổng thiết kế sư" cho "giai đoạn thứ nhất" này. Trên con đường phát triển lịch sử mang tính giai đoạn cực kỳ nặng nề này, giai đoạn thứ nhất là không thể "thành công" được.

Tục ngữ có câu: "Bác sĩ vận đen chữa giai đoạn đầu của bệnh; bác sĩ vận đỏ chữa giai đoạn cuối của bệnh." Vào cái thời kỳ "giai đoạn đầu của bệnh" mà bệnh càng chữa càng nặng ấy, nếu bạn làm bác sĩ mà không thể "biến nguy thành an", thì bạn đã gặp "vận đen" rồi. Đến khi bệnh nhân đã dần bình phục, vào cái thời kỳ "giai đoạn cuối của bệnh" này, bạn cho một thang thuốc là anh ta lập tức xuống giường chạy nhảy ngay, thế thì bạn chính là Hoa Đà rồi.

Chữa bệnh cho người cũng như chữa bệnh cho nước, Lý Hồng Chương chính là vị bác sĩ xui xẻo ở trường hợp trước; còn Đặng Tiểu Bình chính là vị bác sĩ "gặp vận đỏ" ở trường hợp sau — nhưng hy vọng thầy thuốc Tiểu Bình có được vận may lớn này.

Do đó, Lý Hồng Chương chủ trì "giai đoạn thứ nhất" chuyên làm về khoa học kỹ thuật này, mà lại thiếu sự phối hợp của "cải cách chính trị" ("ngũ hóa" chăng) thuộc "giai đoạn thứ hai" sắp tới, thì khoa học kỹ thuật nhất định sẽ không có lối thoát. — Một chiếc lá rơi biết thu sang, câu chuyện nhỏ nổi tiếng "phơi quần trên pháo" kia, có thể minh họa cho giới hạn trong việc làm tứ hóa của lão Lý. Câu chuyện là thế này:

Ngày 9 tháng 7 năm 1891 (năm Quang Tự thứ 17), theo lời mời của chính phủ Nhật Bản, Lý Hồng Chương đặc phái Đinh Nhữ Xương dẫn đầu các chiến hạm Định Viễn, Trấn Viễn v.v. sáu chiếc chạy thẳng tới vịnh Tokyo để chính thức đáp lễ. Lúc ấy quân dung lừng lẫy, quốc tế đều phải kiêng nể. Sau đó, Nhữ Xương dẫn các hạm trưởng Lưu Bộ Thiềm v.v. dưới sự hộ tống của công sứ tại Nhật là Lý Kinh Phương, vào yết kiến Nhật hoàng, được đón tiếp vô cùng long trọng. Giày kiếm sáng ngời, uy nghi tề chỉnh, thì khỏi phải nói. Lúc bấy giờ, vị tư lệnh hải quân Nhật Bản Ito Yuko (Y Đô Hữu Hanh) và tư lệnh phòng vệ vịnh Tokyo Togo Heihachiro (Đông Hương Bình Bát Lang) ra nghênh đón tiễn đưa và dự ở hàng chót, bỗng trở nên ủ rũ. Togo vốn là bạn học cũ ở Anh của Lưu Bộ Thiềm, nhưng khi Togo nhận lời mời lên chiến hạm chủ lực Định Viễn của Trung Quốc để tham quan, thì ông ta cảm thấy hạm đội Trung Quốc tuy quân dung lừng lẫy nhưng lại không chịu nổi một đòn — ông ta phát hiện thấy các thủy thủ Trung Quốc đang phơi quần áo trên hai ống pháo chính. Pháo chính trên chiến hạm chủ lực là thứ vũ khí trang nghiêm thần thánh biết bao, vậy mà thủy thủ Trung Quốc lại đi phơi quần trên pháo, sự coi thường vũ khí trang bị đến mức độ như vậy; Togo trở về nói với các đồng nghiệp rằng, hải quân Trung Quốc chung quy vẫn không chịu nổi một đòn.

Thực ra những gì Togo nhìn thấy vẫn chỉ là bề ngoài! Bát Lang nào có biết đâu, hải quân Trung Quốc vào năm 1886 lần đầu tiên "đại duyệt binh" trên biển Hoàng Hải, trên đài kiểm duyệt, đứng thẳng giữa hai vị đại thần hải quân là Dịch Hoàn và Lý Hồng Chương, vị quan kiểm duyệt quan trọng nhất lại chính là thái giám Lý Liên Anh! Hải quân là lực lượng vũ trang bảo vệ đất nước mới nhất của Đại Thanh đế quốc lúc bấy giờ, là linh hồn của sự hiện đại hóa Trung Quốc, thế mà vị quan kiểm duyệt quan trọng nhất của nó lại là một tên thái giám hoạn quan trên không râu, dưới không bộ phận sinh dục, thì quả thực là quá quắt lắm rồi.

Có thể đặt một tên thái giám vô tri thối nát lên đài kiểm duyệt hải quân để làm quan kiểm duyệt, thì việc phơi mấy cái quần trên đại pháo của chiến hạm chủ lực, cũng chỉ là chuyện nhỏ không đáng kể mà thôi.

Tóm lại, nói ngắn gọn. Xây dựng hải quân hiện đại, tham gia cuộc chạy đua vũ trang của các liệt cường, không phải là vấn đề khoa học kỹ thuật đơn thuần. Hoa mẫu đơn tuy đẹp, vẫn cần lá xanh vun trồng. Chỉ tiến hành hiện đại hóa khoa học kỹ thuật, mà cấu trúc xã hội, tổ chức chính trị, thói quen sinh hoạt, quan niệm giá trị v.v. của chúng ta cơ bản vẫn giậm chân tại chỗ ở trạng thái lạc hậu của "thời Trung cổ", muốn ông giáo sư khoa học kỹ thuật đơn thương độc mã gánh vác trọng trách cứu nước cứu dân, thì cứu không nổi đâu. Tôn Trung Sơn nói: "Phá hoại khó hơn xây dựng," nhưng không phá thì không lập. Chúng ta nếu không rũ bỏ được di truyền lạc hậu thời Trung cổ ra khỏi người, thì chiếc áo hiện đại hóa sẽ không tài nào mặc lên được. Nói thật lòng, sở dĩ người Nhật thắng chúng ta, chính là vì họ giỏi bắt chước, vứt bỏ triệt để phong tục phương Đông thời Trung cổ, toàn diện Âu hóa, cho nên khoa học kỹ thuật phương Tây đối với họ mà nói chính là vừa vặn, tiếp thu được ngay.

"Phơi quần trên đại pháo" là một trò cười ư? Bạn có thấy cho đến tận ngày nay, khu phố người Hoa (Chinatown, Tàu Phố) của chúng ta, nơi nào mà chẳng thuộc về khu ổ chuột (ghetto area) dơ bẩn nhất lộn xộn nhất (không phải là nghèo nhất) trong các đô thị đó chứ?! Ngày nay vẫn như vậy, huống chi là thời đó. Chỉ là người phương Tây cười thầm, còn chúng ta tự mình không cười mà thôi.

Thực ra cái quần chỉ là một vật nhỏ hình nhi hạ, còn như thứ di truyền lạc hậu hình nhi thượng thì kể sao cho xiết. Hải quân nước ta lúc bấy giờ đã bị con quỷ "chủ nghĩa khu vực" mang tên "tình cảm bản quán" quấn chặt lấy không sao dứt ra được. Đoạn trước đã nói rồi, tướng lĩnh sĩ quan hải quân hồi đó hầu như toàn là người Phúc Kiến. Vị tổng tư lệnh "lang thang giữa các vùng Mân" là người An Huy Đinh Nhữ Xương, có lúc ra lệnh không thông, đành bó tay chịu trói. Vị đại nhân lừng danh muôn thuở Đặng Thế Xương, chính là một người Quảng Đông lang thang giữa các vùng Mân. Bi kịch hy sinh oanh liệt vì nước của ông (xem mục sau), nghe nói cũng có quan hệ trực tiếp với tư tưởng cục bộ địa phương. Tư tưởng cục bộ địa phương là một thứ truyền thống xấu xa độc quyền của Trung Quốc thời Trung cổ. Con ma nhà họ Hứa ấy cho đến nay vẫn chưa tiêu tan, sau này còn gây ra nhiều đại họa nữa đấy! Bạn tôi ơi, đây chính là bối cảnh chính trị và xã hội trong nước trước khi nước ta thất bại trong trận Giáp Ngọ đấy!

3.2 Ba sách lược mưu tính việc Triều Tiên

Ngay lúc Nhật Bản đang rắp tâm xâm lược Triều Tiên, quan hệ Trung - Nhật ngày càng căng thẳng, Tổng lý Yêu môn triều đình Trung Quốc từng có ý tưởng về ba sách lược mưu tính việc Triều Tiên để giải quyết vấn đề Cao Ly. Thứ nhất, họ từng đề xuất phương án "quận huyện hóa". Mưu đồ đổi nước chư hầu Tam Hàn thành quận huyện của Trung Quốc; dời vương nhà Lý ở Hàn vào trong nội địa. Noi theo lệ cũ của con cháu Khổng Tử (như Khổng Đức Thành ngày nay), thiết lập cơ quan kiểu như "Diễn Thánh Công", hậu đãi vua Hàn, thế tập võng thế. Thiết kế này, vào thời thịnh thế Khang - Ung - Càn của nhà Thanh, có lẽ không khó thực hiện. Nhưng gặp lúc nhà Thanh suy thoái, các liệt cường vây quanh, thì đó chỉ là giấc mộng hão huyền.

Thứ hai, dứt khoát mở cửa toàn bộ Tam Hàn, tạo ra cục diện cơ hội bình đẳng, lợi ích san sẻ cho các liệt cường. Họa may có thể lợi dụng thế cân bằng quốc tế, duy trì sự độc lập của Triều Tiên, nhằm đề phòng chủ nghĩa đế quốc Nga - Nhật độc chiếm. Sách lược này không phải là không thể thực hiện, nhưng triều đình nhà Thanh u mê mà tự đại, cũng không thể quyết đoán dứt khoát để thi hành; trong khi triều đình Hàn quốc nhược tiểu cũng không có điều kiện độc lập. Nước tông chủ một khi buông tay, Nhật Bản sẽ lập tức thay thế.

Thứ ba, mặc cho cục diện tự nhiên phát triển, tùy cơ ứng biến. Đây là hạ sách. Nhưng triều đình nhà Thanh vô năng, đành phải phó mặc cho hạ sách này tự nhiên phát triển mà thôi.

Cho đến khi cục diện Triều Tiên ngày càng tồi tệ. Mùa hè tháng 6 năm 1894, theo thỉnh cầu của vua Hàn, triều đình nhà Thanh mới phái Tổng binh Nhiếp Sĩ Thành, tiếp đó phái Đề đốc Diệp Chí Siêu dẫn 1.500 quân sang viện trợ Triều Tiên, giúp dẹp loạn đảng Đông Học. Nhật Bản nhận được tin liền phủ nhận Triều Tiên là nước chư hầu của Đại Thanh, đồng thời xuất binh 8.000 người đến Incheon (Nhân Xuyên), lấy quân Thanh làm mục tiêu, hổm he dòm ngó. — Từ đó, chính phủ Nhật Bản liền không thèm nghe sự hòa giải của phía Trung Quốc và bất kỳ nước thứ ba nào, tự lập đại bản doanh riêng, thiết lập thể chế thời chiến, liên tục tăng viện binh cho Triều Tiên lên đến hơn 3 vạn người. Lấy cớ "cải cách chính trị Triều Tiên", nhưng thực chất là nhắm tới việc trục xuất thế lực của phía Trung Quốc, chấm dứt quan hệ tông chủ - phiên thuộc giữa Trung Quốc và Nhật Bản để thôn tính Triều Tiên.

Đối mặt với thế lực hung hăng ép người này của phía Nhật Bản, triều đình và dân gian Trung Quốc xôn xao bàn tán, thanh nghị miếu đường hầu như đồng thanh chủ chiến. Giữa tháng 7 năm đó, thủ tướng Diệp Chí Siêu - người dẫn hơn ngàn quân Thanh đóng quân trơ trọi ở Asan (Nha Sơn), cũng đánh điện khẩn cấp cho Hồng Chương rằng "Lấy đại quân tiến công là thượng sách. Phái hạm đội rút quân là trung sách. Cố thủ không di động là hạ sách" (xem "Niên (nhật) phổ" trang 261, trích bản điện văn của Lý Văn Trung công). Thế nhưng Hồng Chương tự biết lục hải quân của mình vô năng, trước sau vẫn muốn dùng phương pháp ngoại giao "dùng rợ trị rợ" để kiềm chế Nhật Bản, bèn chuyển điện văn cho Tổng lý Yêm môn đề nghị chấp nhận "trung sách" trong điện của Diệp. Bức điện này của họ Lý đối với phe chủ chiến đang sục sôi lúc bấy giờ chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa. "Hán gian Lý nhị tiên sinh" bỗng chốc trở thành cái đích cho mọi người chỉ trích. Mà giữa tiếng hô hào chủ chiến khắp toàn quốc này, thì vị hoàng đế trẻ tuổi 23 tuổi Quang Tự - người lớn lên trong thâm cung, chỉ có thể nghe lời cận thần, đưa ra quyết định độc đoán của thiên tử - lại càng dữ dội hơn cả. — Cảm xúc chủ chiến của ông ta, sau đó thậm chí còn phát triển đến mức độ kiên quyết là "ban cho Ông Đồng Hòa, Lý Hồng Tảo, Cung vương 'Thượng phương bảo kiếm', ra lệnh đối với kẻ nào bàn chuyện hòa hoãn thì chém trước tấu sau" (xem sách đã dẫn, trang 289, chú thích 502, trích "Thanh thực lục" 352, và "Tự lâm tây báo" trang 862, bản tin điện ngày 23 tháng 11 năm 1894). Cứ như vậy, ngay cả Từ Xi Thái hậu cũng không muốn ủng hộ Hồng Chương, nhẹ nhàng bàn chuyện nghị hòa nữa. — Lúc này tình cảm giữa hai mẹ con họ vẫn còn sâu đậm, mà Cung vương thì vẫn đang phải đứng bên lề.

Năm xưa, tôi từng tra cứu kỹ sắc dụ của vua Đạo Quang thời "Chiến tranh nha phiến" (1839 - 1842), sắc dụ của vua Hàm Phong thời "Liên quân Anh - Pháp" (1858 - 1860), sau đó lại xem sắc dụ của vua Quang Tự thời "Chiến tranh Giáp Ngọ" (1894 - 1895), phát hiện sự phát triển tâm lý của ba đời ông cháu họ khi ứng phó với ba cuộc ngoại chiến nghiêm trọng này, quả thực giống nhau như đúc:

Thứ nhất, vào lúc mới mở chiến tranh, ba vị tổng tư lệnh vạn tuế gia này đều ý chí phơi phới, kiên quyết chủ chiến. Thần dân có kẻ nào nhút nhát chủ hòa thì cứ khép tội chết không tha. Thế nhưng hễ chiến tranh bùng nổ, quân ngoại quốc đánh cho quân Thanh thảm bại tơi bời, thì các vạn tuế gia lại hoảng loạn mất hồn, oán trách những kẻ lúc đầu chủ chiến là lừa dối vua gạt dân, làm hỏng nước hại dân, bắt họ phải mang đầu đến gặp. Cuối cùng đối với yêu cầu của kẻ xâm lược thì răm rắp vâng lời, chỉ hận không thể dốc chén quỳ hầu. Không tiếc bất kỳ điều kiện bán nước cầu vinh nào, chỉ mong bọn đế quốc giơ cao đánh khẽ, đao hạ lưu tình. (Xem lời tựa cuốn sách tiếng Anh "Lịch sử ngoại giao Mỹ - Trung" của tôi)

Do đó, vào lúc chiến tranh Giáp Ngọ mới bùng nổ, lão già họ Lý 72 tuổi đó, đã bị vị tiểu thượng ti 23 tuổi liên tục mắng nhiếc, mắng cho tơi bời hoa lá. Các phần tử chủ chiến như Ông Đồng Hòa, Lý Hồng Tảo thừa cơ hò reo, muốn tiểu hoàng đế cách chức lão Lý, thậm chí còn muốn thỉnh thanh Long Đao chuyên chém tể tướng ở Thái miếu ra để trừng trị lão Lý theo pháp luật. Kháng chiến chống Nhật, do tiểu vạn tuế ngự giá thân chinh.

Thế nhưng Đại Thanh đế quốc lúc bấy giờ, một là không có đại bản doanh hoặc tham mưu bản bộ để vạch kế hoạch tác chiến thủ phòng, vận trù màn chướng; hai là không có thể chế hậu động để điều phối bổ sung. Đế quốc đối phó với chiến tranh kháng Nhật, có thể nói là không có chút chuẩn bị nào. Sở dĩ họ cứ khăng khăng "chủ chiến", chẳng qua là muốn lão già họ Lý đang nắm binh quyền phải cởi trần xông lên; dẫn theo đám "hoài quân" lỗi thời gồm toàn nông dân nghèo khổ ấy; cùng với những chiếc chiến hạm lạc hậu pháo chậm thuyền ì ạch kia, để xông lên chiến đấu một trận với đám tiểu quỷ phương Đông mà thôi. — Thắng thì là phúc của Đại Thanh; thua thì lão Lý bị chặt đầu; đây chính là điều mà Lương Khải Siêu gọi là Lý Hồng Chương "lấy một người mà địch lại cả một nước"!

[Phụ chú] Các tướng lĩnh Hoài quân do Lý Hồng Chương phái sang Triều Tiên năm đó từ Ngô Lượng Độ, Diệp Chí Siêu trở đi, hơn nửa đều không biết chữ. Hầu hết họ đều là nông dân nghèo khổ ở quê tôi (huyện Hợp Phì năm đó). Gặp thời loạn tòng quân, trên người mang đầy "vẹo sẹo dao chém", may mắn không chết. Lúc này đều là những "đại thần nhất phẩm" tuổi chừng năm mươi, sáu mươi, ăn uống mập mạp. Thế nhưng, dù là quan cao chức trọng, họ vẫn không đánh mất bản sắc của những hảo hán anh hùng coi cái chết tựa như không. Hãy nhìn Nhiếp Sĩ Thành xem, trong thời gian liên quân tám nước, ông dùng tư cách một đại quan nhất phẩm đã bị cách chức để chỉ huy kháng chiến ở tiền tuyến, bụng bị đại pháo của quân ngoại quốc bắn thủng, ruột lòi ra cả thước, ông vẫn vung đao xung phong chém giết, sự bi tráng có thể tưởng tượng được. Còn như Diệp ngốc tử (Chí Siêu), tính cách nồng nhiệt, ra trận dũng cảm, lúc còn thơ ấu tôi đã có thể kể lại câu chuyện về ông và ngưỡng mộ khôn nguôi — nhà ông và nhà tôi là hàng xóm gần. Chỉ có điều là những anh hùng kiểu Lương Sơn Bạc này, có đánh được chiến tranh quốc tế hiện đại hóa hay không, lại là một chuyện khác. — Chí Siêu sau đó rơi vào kết cục "trảm giam hậu".

Lý Hồng Chương nhúng chúc việc ngoại vụ đã lâu, há lại không biết rõ điều này. Cho nên dù ông có phụng thánh chỉ liên tục đưa đám quân đội nhà binh này sang Cao Ly, nỗi lo thực sự của ông lại nằm ở hải quân. Mấy chiếc tàu sắt "Hạm đội Bắc Dương" mới chính là cục cưng, là baby của ông cơ mà! — Đến khi chiến tranh Trung - Nhật đã mâm chéo cánh, ông vẫn liên tiếp đánh điện cho công sứ tại Anh là Cung Chiếu Viên, "tìm mọi cách mua chiến hạm tối tân có tốc độ từ 23 hải lý trở lên", đồng thời tranh thủ mua đứt "hai chiếc tàu chiến bọc thép của Chilê" để tăng cường sức mạnh cho quân đội ta (xem sách đã dẫn, trang 262 và 268). Đúng là nước đến chân mới nhảy.

Mặt khác, Hồng Chương bất chấp sự mắng chửi của cả nước, nghiêm lệnh cho Đinh Nhữ Xương bảo vệ tàu bè tránh giao chiến, không được mạo hiểm tuần du sông Đại Đồng. Trong mắt họ Lý, chỉ cần hải quân không bại, thì dù lục quân có trắc trở, miền Bắc Trung Quốc vẫn có thể vô sự, sự an toàn của Kinh - Tấn cuối cùng vẫn được đảm bảo — ông vẫn tin tưởng vào hạm đội hải quân cục cưng của mình, "tấn công thì không đủ, phòng thủ thì dư dả".

Nào ngờ ông vẫn đánh giá quá cao thực lực của Hạm đội Bắc Dương. Đánh một trận hải chiến hiện đại, không thể tấn công thì không thể phòng thủ. Kết quả là một tiếng súng lệnh ở Đại Đông Câu, hải quân Trung Quốc liền không còn cách nào phòng thủ được nữa.

3.3 Phùng Đảo là tiền thân của Trân Châu Cảng

Tiếng súng đầu tiên của "chiến tranh Giáp Ngọ" Trung - Nhật bắt đầu từ vùng biển Phùng Đảo ở bờ biển phía tây Triều Tiên. Tiếp theo mới là trận Nha Sơn, trận Bình Nhưỡng của lục quân, và trận chiến đẫm máu Hoàng Hải của hải quân ở Đại Đông Câu... rồi cứ thế đánh liên tiếp xuống dưới. Bài viết này vì giới hạn về độ dài, nên tạm gác lại chiến sự trên bộ mà chỉ bàn về hải chiến, xem rốt cuộc chân tướng của trận hải chiến này trông như thế nào.

Trước tiên hãy bàn về "trận Phùng Đảo" giữa hải quân Trung - Nhật diễn ra vào ngày 25 tháng 7 năm 1894 (ngày 23 tháng 6 âm lịch).

Trận Phùng Đảo trên thực tế bắt đầu từ cuộc "tập kích" của quân Nhật nhắm vào quân ta. Bản chất cuộc tập kích ấy chẳng khác gì mấy so với cuộc "tập kích Trân Châu Cảng" của quân Nhật 47 năm sau. Bởi vì lúc này quan hệ Trung - Nhật tuy rất căng thẳng, nhưng hai bên vẫn đang đàm phán, chưa bước vào trạng thái chiến tranh, thế mà Nhật Bản lại bất chấp luật pháp quốc tế, bất ngờ tiến hành tập kích, một mẻ đánh chìm tàu chở quân Hăng Xương (Kowshing) của ta, đồng thời bắn chết hơn 700 binh lính của ta trên biển. — Sau đó quen mùi ăn dặm, đến Trân Châu Cảng hắn lại giởn trò cũ. Ở Trân Châu Cảng, quân Mỹ bị tập kích, bị bắn chết và chìm tàu chết đuối thương vong khoảng 3.700 người. Hai lần tập kích, bọn giặc Oa đều đắc thủ mỹ mãn, nhưng kết quả lại trái ngược, đó cũng là quả báo gieo nhân nào gặt quả nấy của lũ xâm lược Nhật Bản vậy!

Quá trình trận Phùng Đảo diễn ra như thế này:

Vào nửa cuối tháng 7 năm 1894, Lý Hồng Chương phụng chỉ tăng viện binh sang Triều Tiên để chuẩn bị chiến tranh. Ngày 22 tháng 7, hạm trưởng tàu Tế Viễn là Phương Bá Khiêm liền phụng mệnh dẫn tàu tuần dương Tế Viễn (nặng 2.300 tấn, 20 đại pháo, tốc độ 15 hải lý/giờ) cùng hai chiếc Uy Viễn (1.268 tấn, vỏ gỗ khung sắt, 12 đại pháo, tốc độ 12 hải lý/giờ) và Quảng Ất (nghìn tấn, vỏ gỗ khung sắt, 3 đại pháo, tốc độ 14 hải lý/giờ), hộ tống quân vận chuyển cùng quân lương hậu cần đi tăng viện cho Nha Sơn, Triều Tiên.

Sau khi đến nơi, hạm trưởng họ Phương thấy tình hình căng thẳng, bèn lệnh cho Uy Viễn chạy về trước vào ban đêm (về Lữ Thuận). Bản thân họ Phương dẫn Tế Viễn, đợi tàu Quảng Ất làm xong việc lai dắt ở cửa sông, vào rạng sáng ngày 25 tháng 7, mới nhổ neo trở về phòng tuyến. Hai chiếc tàu vừa ra khỏi cửa sông Hàn, thì thấy ba chiếc tàu tuần dương vỏ thép của Nhật Bản hùng hổ kéo đến. Ba chiếc chiến hạm Nhật Bản đó lần lượt là:

Cát Dã (Yoshino, nặng 4.150 tấn, giáp dày hai inch, 4 pháo bắn nhanh sáu inch, 8 pháo bắn nhanh 4,7 inch, 5 ống phóng lôi, tốc độ 23 hải lý/giờ)

Lãng Tốc (Naniwa, nặng 3.650 tấn, 8 pháo bắn nhanh các cỡ nòng khác nhau, 4 ống phóng lôi, tốc độ 18,6 hải lý/giờ)

Thu Tân Châu (Akitsushima, nặng 3.150 tấn, 13 pháo bắn nhanh các cỡ nòng khác nhau, 4 ống phóng lôi, tốc độ 19 hải lý/giờ)

Theo lệ quốc tế, trong thời kỳ phi chiến tranh, tàu thuyền hai nước gặp nhau trên hải cõi quốc tế, lẽ ra nên đối mặt gióng pháo hoặc thổi còi "chào nhau" (exchange salute). Thế nhưng lần này chiến hạm Nhật Bản hùng hổ kéo đến, hạm trưởng họ Phương vừa nhìn thấy ý đồ không tốt của chúng, liền hạ lệnh chuẩn bị chiến đấu. Quả nhiên khi chiến hạm Nhật Bản tiến đến cách vạn thước, Cát Dã đột ngột nổ một phát súng lệnh, ba chiếc tàu liền lao thẳng vào Tế Viễn; đạn pháo bắn nhanh như mưa rơi. Tàu ta vội vã nghênh chiến, nhưng mạnh yếu chênh lệch, quân ít địch nhiều, thắng bại thấy rõ ngay lập tức.

Khi cuộc pháo chiến vừa nổ ra, hạm trưởng Phương Bá Khiêm, đại phu Thẩm Thọ Xương (người Thượng Hải) đang đứng song song trên đài quan sát ở đầu cột buồm chính, chỉ huy phản kích. Thoáng cái đầu của đại phu Thẩm trúng đạn trực diện, óc tung tóe, vấy bẩn cả quần áo họ Phương. Phó tham mưu Kha Kiến Chương đứng ở đài quan sát cột buồm trước cũng bị đạn địch bắn trúng, ngực bụng thủng lỗ chỗ. Lúc ấy các tướng sĩ trên tàu thương vong chồng chất, tính ra có 13 người hy sinh trận vong, hơn 40 người bị thương, toàn tàu đẫm máu. Thế nhưng các tướng sĩ của ta vẫn không ngừng phấn đấu... Sau một tiếng quần thảo giằng co, tàu ta liên tiếp bắn ra hơn 40 phát đại pháo. Tàu Lãng Tốc của Nhật Bản thế mà bị ta bắn trúng liên tục nên bị nghiêng và mất tốc độ!

Trong trận giằng co kéo dài một tiếng đồng hồ này, đừng nói là tàu Tế Viễn của ta dùng một tàu địch ba tàu, cho dù là một chọi một, tàu ta cũng không phải là đối thủ của chúng. Tàu Quảng Ất của ta quá nhỏ, ngay từ đầu đã khó tham gia phản kích, lúc vội vã thoát khỏi chiến trường, cuối cùng đè cạn rồi tự thiêu. Quan sĩ Tế Viễn tự biết khó lòng chiến đấu lâu dài, nghe nói từng treo cờ trắng giả vờ, xông ra khỏi vòng vây chạy trốn về hướng Tây Nam. Tàu Cát Dã của Nhật Bản rẽ sóng đuổi theo, không ngờ lại bị pháo đuôi của Tế Viễn bắn trúng yếu huyệt, thương vong chồng chất, Tế Viễn cuối cùng đã thoát khỏi tai họa chìm tàu. (Xem phần bình luận về họ Phương ở mục sau)

Khi Tế Viễn chạy như bay về hướng Tây Nam, vừa vặn gặp chiếc tàu chở quân đi tăng viện cho Triều Tiên của ta là chiếc tàu hơi nước "Hăng Xương" (Kowshing) của công ty Jardine Matheson, đang chở 950 binh lính Hoài quân Thịnh thịnh hành tiến về Nha Sơn. Tế Viễn bèn dùng cờ hiệu thông báo, dặn nó lập tức quay bánh lái quay về hướng Nam. Nào ngờ tàu buôn Hăng Xương có tốc độ hạn chế. Trên con đường quay về hướng Nam của nó, cuối cùng đã bị chiến hạm địch đuổi kịp, ra lệnh thả neo dừng lại. Pháo thuyền "Thao Giang" (nặng 640 tấn) đi theo tàu Hăng Xương liền bị chiến hạm địch bắt giữ.

Sau khi tàu Hăng Xương bị ép phải dừng máy, tướng giặc Nhật bèn ép thuyền trưởng người Anh của tàu Hăng Xương lái tàu đi Incheon hoặc Nhật Bản cùng chiến hạm Nhật Bản, coi số binh lính Trung Quốc trên tàu là tù binh. Thuyền trưởng người Anh buộc phải tuân lệnh, nhưng quân ta trên tàu không chịu, bởi vì Trung Quốc và Nhật Bản chưa tuyên chiến, Nhật Bản há lại có thể cướp tàu đòi tiền chuộc trên hải cõi quốc tế cơ chứ! Các tướng sĩ trên tàu của ta bèn ép thuyền trưởng lái tàu quay về Đại Cô. Trong lúc đôi bên giằng co, chiến hạm Nhật Bản chợt treo cờ đỏ, thông báo cho người phương Tây trên tàu Hăng Xương "rời tàu". Ngay lập tức nổ pháo vào tàu Hăng Xương, quân ta cũng dựa vào tàu dùng súng trường bắn trả. Thế nhưng chỉ trong chớp mắt, tàu Hăng Xương liền nghiêng ngả chìm xuống biển. Tướng sĩ của ta buộc phải nổi lềnh bềnh trên mặt biển, không có chỗ bơi lội trốn chạy, chiến hạm Nhật Bản lại dùng súng máy quét thẳng vào đám đông đang nổi chìm. Dưới tiếng súng tạch tạch, sóng trắng đều nhuốm đỏ, xác chết trôi nổi đầy mặt biển. Chiến hạm Nhật Bản bèn áp tải chiếc Thao Giang của ta, quay đầu mặc kệ rồi bỏ đi.

Trận chiến này, kẻ địch vốn dĩ nhờ gián điệp thám thính được tình báo vận chuyển binh lính của quân ta, có chủ ý "tập kích" mà đến, nắm chắc phần thắng trong tay. Bởi vì lúc ấy chủ soái quân Nhật là Ito Yuko (Y Đô Hữu Hanh), phó soái Togo Heihachiro (Đông Hương Bình Bát Lang), đều có mặt trong quân ngũ, thấy rõ sự kiên quyết trong quyết sách của chúng.

Trận chiến này cũng là trận đánh trầu đầu tiên của hải quân hiện đại mới xây dựng giữa ta và địch. Mới thử tài lưỡi gươm mũi giáo, ưu khuyết điểm của đôi bên đã phơi bày trọn vẹn, mà sự tàn bạo của kẻ địch, cũng chẳng cần đợi đến "Thảm sát Nam Kinh" thì hậu thế mới biết đến.

3.4 Lý Hồng Chương bàn về ưu khuyết điểm giữa địch và ta

Tin tức tàu Hăng Xương chìm truyền đến Bắc Kinh sau đó khiến triều đình chấn động. Mọi người đều bàn tán rằng hải quân ta cũng có mấy chiếc tàu bọc thép, chở binh lính tăng viện, sao không phái đầy đủ hạm đội hộ tống, để dẫn đến cơ sự này? Tổn thất binh tướng, thực sự là do các tướng lĩnh hải quân, đặc biệt là Đinh Nhữ Xương "nhút nhát vô năng, khôn khéo né tránh quân địch" mà ra. Dưới cơn thịnh nộ của vua Quang Tự, sau đó ông thậm chí còn giáng chức "lưu nhiệm" Đinh Nhữ Xương, bắt ông phải "lập công chuộc tội". Các đại thần chủ chiến như Ông Đồng Hòa, Lý Hồng Tảo và Khánh vương Dịch Quãng v.v., thậm chí còn dâng tấu xin cách chức cả Lý Hồng Chương. Vấn đề miền Đông do triều đình trực tiếp chỉ huy. Đáng tiếc là Lý Hồng Chương lúc bấy giờ lại chính là "Chu Ân Lai" trong triều đình nhà Thanh, là một vị tể tướng toàn năng không ai có thể thay thế được. Nay tuy ông là kẻ thù chung của toàn triều, nhưng trách nhiệm thực tế vẫn không thể không do một mình ông gánh vác, đặc biệt là quân Nhật ở Triều Tiên, lúc này đang lấn tới từng tấc. Sau khi chiếm được Nha Sơn (ngày 29 tháng 7), chúng đã tiến dòm ngó Bình Nhưỡng. Triều đình nhà Thanh không chịu kém thế, bèn cùng với Nhật Bản chính thức "tuyên chiến" vào ngày 1 tháng 8. Sau khi tuyên chiến, một mặt triều đình điều động thêm đại quân, tiến viện Bình Nhưỡng; một mặt nghiêm lệnh cho Hạm đội Bắc Dương xuất kích ra Hoàng Hải, quyết chiến với chiến hạm giặc Oa. Lúc này Đinh Nhữ Xương cũng vì liên tục gặp phải oan ức, chịu đựng quá nhiều uất ức, cũng liên tiếp giãi bày với Hồng Chương: Không màng sống chết, ra khơi liều một phen với giặc Oa. Thế nhưng Hồng Chương mưu sâu kế hiểm, biết mình biết người, rốt cuộc không nỡ đem con cưng mà mình dưỡng dục mấy chục năm qua phó mặc một ván bài bực tức. Một mặt ông vẫn nghiêm lệnh cho Nhữ Xương, không cho phép tùy tiện ra khơi tìm địch giao chiến; một mặt mật tấu lên tiểu hoàng đế, hết lời giãi bày đạo lý không nên khinh suất vứt bỏ hải quân. Bức mật tấu đẫm máu tươi và chân tình, lời lẽ khẩn thiết này, vua Quang Tự đọc xong cũng phải động lòng. Kẻ hèn mọn như tôi không tài giỏi, thầm nghĩ độc giả và tác giả chúng ta cũng có giá trị đọc kỹ, xin chép lại toàn văn như sau:

Tra những chiếc Hạm đội Bắc Dương có thể sử dụng được, chỉ có hai chiếc tàu bọc thép Trấn Viễn và Định Viễn, nhưng trọng lượng nặng hành trình chậm, mớn nước quá sâu, không thể vào được nội cảng thủy triều; kế đó là ba chiếc Tế Viễn, Kinh Viễn, Lai Viễn có giáp vòm tuyến nước, nhưng hành trình không nhanh; hai chiếc Trí Viễn, Tĩnh Viễn, khi định đóng trước đây vốn gọi là một tiếng đồng hồ đi được 18 hải lý, gần đây do sử dụng lâu ngày, chỉ còn 15, 16 hải lý. Ngoài ra các tàu khác, càng cũ càng chậm, hải chiến trên biển, có thể di chuyển nhanh nhẹn hay không, nên lấy tốc độ chạy của tàu làm chuẩn. Tốc độ nhanh thì dễ bề đuổi theo trong trận chiến; bại cũng tiện bề tránh né. Nếu tốc độ chênh lệch quá lớn, thì mạnh yếu phân định ngay lập tức, các đại quốc phương Tây chú trọng chính sách tàu thuyền, lấy tàu bọc thép làm chính, nhất định phải lấy tàu cực nhanh làm phụ, đều là đạo lý này cả. Xét kỹ các sách vở hải quân do các nước ấn hành. Trong đó ghi chép các tàu nhanh mới cũ của Nhật Bản được cho là có thể sử dụng tổng cộng 21 chiếc, trong đó có 9 chiếc từ năm Quang Tự thứ 15 (1889) trở về sau, được mua đóng qua các năm, tàu nhanh nhất mỗi giờ đi được 23 hải lý, kém hơn cũng khoảng 20 hải lý. Tàu của ta đặt đóng trước, lúc đó học thuật về máy móc tàu thuyền của người phương Tây chưa tinh chế được đến mức này, mỗi giờ đi được 15 đến 18 hải lý, đã là cực kỳ nhanh rồi. Nay thì đạt tới hơn 20 hải lý. Những năm gần đây triều đình bàn bạc đình chỉ mua sắm tàu thuyền vũ khí. Từ năm Quang Tự thứ 14 (1888) trở về sau, quân ta không tăng thêm một chiếc tàu nào. Đinh Nhữ Xương và các tướng lĩnh nhiều lần xin mua thêm tàu nhanh kiểu mới, thần cúi ngắm thời gian khó khăn kinh phí eo hẹp, không dám tấu xin dâng biểu làm phiền. Thần xin hoàn toàn gánh vác tội lỗi này. Mưu kế của giặc Oa vô cùng quỷ quyệt, nhân lúc ta khó khăn trong việc mua sắm bổ sung, những năm gần đây chúng liên tục trang bị thêm, thần trước đây trong tấu chương trù bị chiến sự từng tấu rằng, giao tranh trên biển, e rằng không có phần thắng chắc chắn, chính là nói vì tàu nhanh không địch nổi. Nếu cùng rong ruổi đại dương, thắng bại thực sự chưa thể biết được. Vạn nhất thất bại, thì dẫu có cách mua thêm cũng không kịp cứu vãn. Chỉ là không nhất định phải cùng đánh đấm liều mạng, lực lượng hải quân ngày nay, dùng để tấn công thì không đủ; dùng để tự thủ vẫn còn dư dả. Đạo dùng binh, quý ở chỗ biết mình biết người, bỏ sở đoản lấy sở trường, đây là điều thần vẫn luôn nơm nớp lo sợ, lấy việc bảo vệ tàu thuyền để chế ngự địch làm trọng, không dám tùy tiện mưu tính một hành động liều lĩnh nào, để mong được người ngoài cuộc thông cảm. Dường như không nên vì không lượng sức mình mà tiến lên một cách khinh suất, rồi lại quay sang trách mắng lẫn nhau. Đinh Nhữ Xương trước đây từng dẹp giặc Quảng, giặc Niệm, từng trải qua đại địch, lập nhiều chiến công. Sau khi lưu lại trực hệ liền lệnh cho thống lãnh thủy sư, nhiều lần đi phương Tây, để dựa vào đó rèn luyện. Đến khi sáng lập hải quân, được cử làm đề đốc, tình hình vô cùng quen thuộc. Hiện tại tài năng hải quân, chưa có ai vượt qua được người này, nếu đổi người khác thì đối với pháp lý máy móc cơ khí hải quân hoàn toàn chưa quen thuộc, tình hình lại phát sinh, càng lo sợ hỏng việc lỡ mất việc lớn, đây là điều thần không dám làm. (Xem "Tấu cảo" 78, trang 53; "Đại Thanh thực lục" 345; "Niên (nhật) phổ", trang 271.)

Bức mật tấu này của Lý Hồng Chương được thảo và gửi đi vào ngày 29 tháng 8 năm 1894 (ngày 29 tháng 7 năm Quang Tự thứ 20 nhà Thanh). Ông tuyệt đối không ngờ rằng, nửa tháng sau, trận chiến Hoàng Hải Trung - Nhật bùng nổ, trải qua bốn tiếng rưỡi chiến đấu đẫm máu, đứa con cưng, hòn ngọc trong tay mà ông đã dày công vun đắp, rốt cuộc vẫn bị "vứt bỏ khinh suất" trong một lần.

3.5 Lời khuyên của những viên chức hải ngoại kém cỏi không đáng tin

Ngày 17 tháng 9 năm 1894, tức ngày 18 tháng 8 năm Giáp Ngọ năm Quang Tự triều Thanh, là một ngày mang tính quyết định trong lịch sử cận đại và hiện đại nước ta. Chiều hôm đó, hạm đội hiện đại đầu tiên của nước ta - đứng thứ tám thế giới lúc bấy giờ - Hạm đội Bắc Dương, trên vùng biển Hoàng Hải, ngoài khơi mặt biển Đại Đông Câu, đã xảy ra trận chạm trán với hạm đội hiện đại đầu tiên của Nhật Bản - Hạm đội Liên hợp. Hai bên chiến đấu đẫm máu bốn tiếng rưỡi mới gióng trống thu quân, chưa phân thắng bại. Đương nhiên tổn thất của phía chúng ta lớn hơn nhiều so với phía địch.

Trận chiến này, đối với cả hai bên đều là lần đầu tiên phá lệ. Trong lịch sử quân sự cận đại của nước ta, có lẽ càng là lần đầu tiên và duy nhất, đánh một trận chiến tranh hiện đại quy mô lớn bằng vũ khí hiện đại, tổ chức hiện đại, nguyên tắc hiện đại. Ngoài điều này ra, ngay cả "trận Đài Nhi Tự" cho đến "chiến trường Ấn - Miến", cũng chỉ có thể gọi là một mớ "chiến trận hỗn độn rối rắm" mà thôi.

Trận chiến này đã được đánh như thế nào? Trăm năm nay sách vở sử gia vô cùng phong phú. Nhưng câu chuyện hầu như đều rập khuôn một giuộc, bôi đen trận chiến Hoàng Hải; biến đại đa số các anh hùng hy sinh vì nước trong hải quân chúng ta thành những kẻ hèn nhát. Người khởi xướng ra luận điệu này vốn là một số sĩ quan người nước ngoài tự cao tự đại trong hải quân thời đó, đặc biệt là kẻ lang thang người Anh Taylor (William Ferdinard Tyler). Taylor từng trải qua trận chiến Hoàng Hải. Hơn nữa trong hồi ký của mình (Pulling Strings in China. London: Constable 1929). Ông ta đã viết một số ký sự thân lịch. Sau đó các nhà sử học liền dựa vào câu chuyện của ông ta, người nọ truyền người kia nói suốt mấy chục năm cho đến tận ngày nay.

Khi còn là học sinh, tôi cũng vô cùng tin sái cổ vào câu chuyện của ông ta. Sau đó sang nước ngoài dạy học, chỉ định hồi ký của ông ta làm sách tham khảo rồi đọc kỹ lại, thì bắt đầu hoài nghi. Cho đến khi sống ở xã hội phương Tây mấy chục năm, thấu hiểu tận gốc rễ sự xấu xa của những nhà thám hiểm phương Tây đến các nước thuộc địa để gây dựng sự nghiệp, tôi liền phủ nhận hoàn toàn câu chuyện của ông ta.

Taylor sinh năm 1865 tại vùng quê nước Anh, ở quê hương mình tiểu học còn chưa tốt nghiệp. Sau đó đến một chiếc tàu buôn làm kỹ thuật viên, mới xin vào hải quân Anh nhận đào tạo "dự bị" trong một năm, thậm chí cả đồng phục cũng phải tự mua. Theo lời tự thuật của ông ta, từng đạt được tư cách "trung úy dự bị" hải quân Anh (sub-lieutenant R.N.R). Năm 1888, ông ta đến Thượng Hải tìm kiếm vận may, muốn mưu một "công việc trong nhà" (indoor staff) tại hải quan Trung Quốc, nhưng phòng nhân sự hải quan lại phân công ông ta ra tàu tuần tra của hải quan để làm một nhân viên nhỏ hoặc thủy thủ. Ở đây ông ta làm việc 5 năm, năm 1895 qua sự giới thiệu của người quen gia nhập chiến hạm chủ lực Định Viễn của hải quân Trung Quốc để làm việc. Chẳng bao lâu sau thì đụng phải trận chiến Hoàng Hải.

Taylor làm công việc gì trên tàu Định Viễn? Trong hồi ký, ông ta nói ông ta là "phó hạm trưởng" (co-commander) của tàu Định Viễn — lời khoác lác này của ông ta thổi phồng quá lớn rồi. Hãy xem những gì đã miêu tả ở trên, Lê Nguyên Hồng - người tốt nghiệp học viện thủy sư Thiên Tân, du học Đức trở về - khi ở trên tàu Định Viễn cũng chỉ làm một viên "pháo binh", ít ra ông ta cũng biết bắn đại pháo chứ! Taylor ngoài mái tóc vàng mắt xanh ra, ông ta biết bắn cái gì cơ chứ?

Không có lửa làm sao có khói, vị nhân viên người Mỹ phục vụ trên tàu Trấn Viễn là McGiffen (Philo McGiffen), vốn là thiếu uý quân đội Mỹ, đến Trung Quốc dạy cách tập luyện. Sau đó cũng tự khoe khoang rằng mình từng là hạm trưởng (commander) của tàu Trấn Viễn cơ đấy! Trên thực tế hai người họ chẳng qua cũng chỉ là hai tên "kẻ ăn bám trại lính" cấp bậc thủy thủ mà thôi.

Không những thế. Sau trận chiến Hoàng Hải, vị cố vấn người Đức mang hàm đề đốc Von Hannecken (Constantin Von Hannecken) từ chức. Lý Hồng Chương lại tìm một người lái tàu lai dắt người Anh là John McClure (Mắc Cách Lộc), để khuyết chỗ trống đó. McClure vốn cũng là một kẻ nát rượu chẳng có tài cán gì, khi nhậm chức Tổng cố vấn mang hàm đề đốc, liền tự cho mình là Phó tư lệnh hải quân Trung Quốc. Taylor cũng thèm thuồng chiếc ghế này. Cho nên vô cùng đố kỵ với họ Mắc, khiến cho hai tên lang thang người Anh này suốt đời bất hòa.

Vấn đề ở đây chính là: Tại sao Lý Hồng Chương lại phải tìm những tên lưu manh này đến quậy phá trong hải quân? Điều này có lẽ là vì trong việc xử lý nội chính và ngoại giao của ông, "nhân viên người nước ngoài" (đặc biệt là người Anh) đều là thứ không thể thiếu. Nhưng ông lại không muốn thuê những người có tài năng thực sự. Người có tài năng thực sự như Lang Uy Lý (William M. Lang), thì nhất định sẽ giành quyền lực. Giành quyền lực trong hải quân, thì trong hải quân lại sắp xuất hiện thêm một ngài Hart (Robert Hart) nữa. Trung Quốc có một ngài Hart đã là quá nhiều rồi, lại thêm một ngài Hart nữa, chẳng phải Trung Quốc sẽ vong quốc hay sao? Cho nên Lang Uy Lý giận dữ bỏ đi. Lão Lý cũng mặc kệ ông ta luôn. — Lang Uy Lý làm sao có thể xây dựng hải quân Trung Quốc chứ? Cùng lắm thì xây dựng hải quân Trung Quốc thành hải quân Ấn Độ mà thôi. Điều này lão Lý hiểu rất rõ. Bạn tôi ơi, Lý Hồng Chương chính là Chu Ân Lai! Giao du với Thủ tướng Chu, chỉ có ông ấy lợi dụng bạn; bạn còn có thể lợi dụng ông ấy sao?

Diên An của Chủ tịch Mao đã bị Hồ Tông Nam đánh chiếm. Mao ngược lại còn bắt "Hồ Tông Nam phải nghe lệnh chỉ huy"! Hồ Tông Nam dám không nghe ư?

Lão Mao sai khiến quát tháo, phân phó Thủ tướng thế này, Thủ tướng thế kia, Thủ tướng không có nào là không cúi đầu tuân lệnh. Lão Mao tự cảm thấy phong quang biết bao. Thế nhưng người thực sự muốn "Mao Trạch Đông nghe lệnh chỉ huy" lại chính là Chu Ân Lai. Lão Mao, chẳng qua chỉ là một kẻ cô độc độc tài mà thôi. Người mất chính vong, có gì đáng nói đâu? Kẻ kế nhiệm tên cô độc độc tài ấy, chính là Chu công. Mao Trạch Đông không nghe chỉ huy, Đặng Tiểu Bình, hừ! Hôm nay có bạn. Kỳ thủ cờ vây, thiên hạ vô địch, kẻ kiến thức nông cạn sao hiểu được sự diệu kỳ của nó chứ? Lý, Chu trong triều, tài lớn tài nhỏ, gà gáy trộm chó, đều là những quân cờ, ăn thông tất cả.

Cho nên McClure, Taylor gì đó, dưới trướng lão Lý, chẳng qua chỉ là vài con tôm tép binh tôm tướng, những quân cờ nhỏ mà thôi, cái thá gì mà "tướng ngoại", "nhân viên ngoại" chứ? Thế nhưng, đem những tên lưu manh này nhét vào quân ngũ, phản ứng của tướng sĩ trong quân đối với bọn chúng lại không giống nhau. Vào thời đại sùng bái phương Tây đó, các tướng sĩ bản địa nói chung bao gồm cả Đinh Nhữ Xương, đối với bọn chúng đều sùng bái kính trọng. Thế nhưng, đối với những người bản thân cũng đã Âu hóa đến mức quá đà, giống như Lưu Bộ Thiềm, Lâm Thái Tăng, Nghiêm Tông Quang, Phương Bá Khiêm v.v., thì sẽ không đời nào coi những tên lưu manh phương Tây chẳng có tài cán gì này vào mắt đâu.

Cho nên, Taylor chen chân vào trong tàu Định Viễn, đối với binh tướng bình thường, ông ta có thể va đập bừa bãi; nhưng trước mặt hạm trưởng Lưu, thì đúng là tiểu quỷ gặp Diêm Vương. Thậm chí ngay cả hội thoại tiếng Anh, văn viết, Lưu Bộ Thiềm có lẽ cũng cao hơn ông ta một bậc — phong cách tiếng Anh của Taylor vốn dĩ rất thấp kém. Hắn vốn dĩ đến tiểu học còn chưa tốt nghiệp cơ mà! Làm sao viết được bài văn hay chứ?

Trong cuốn hồi ký mà Taylor viết sau này, vì thế hắn phải bất chấp tất cả để bôi nhọ Lưu Bộ Thiềm. Tình cảm lộ rõ qua lời văn, nhằm trút bỏ mối hận thù căm phẫn đến nghiến răng nghiến lợi tích tụ bấy lâu. Loại sách như thế này của hắn, các nhà sử học sao có thể coi là sử liệu đáng tin cậy được chứ? Đáng tiếc là, kể từ sau Giáo sư Trương Ấm Lân (1905 - 1942), các nhà sử học, nhà văn nước ta lại u mê tin theo suốt mấy chục năm trời, đây là điều mà kẻ hèn mọn này không tự lượng sức mình, hy vọng dựa vào sự thật để nắn chỉnh lại đôi chút vậy.

3.6 Chân tướng trận chiến đẫm máu Đại Đông Câu

Đoạn trước đã nói qua. Sau trận Phùng Đảo, ưu khuyết điểm đôi bên địch ta đã phơi bày trọn vẹn. Hồng Chương hiểu rõ, nếu quần thảo ác liệt trên đại dương thì hạm đội của ta tuyệt đối không phải là đối thủ của chiến hạm Nhật Bản, cho nên tâm lý tránh giao chiến ngày càng trở nên mãnh liệt. Hạm đội ta tuần du, chỉ cho phép đi từ Uy Hải Vữ, Lữ Thuận đến đường biên miệng sông Áp Lược, không được vượt biên giới ra nghênh địch. Thế nhưng sách lược né tránh của họ Lý rốt cuộc vẫn khó lòng thực thi. Bởi vì hải quân né tránh giao chiến, lục quân liên tiếp thất bại, cuối cùng ắt sẽ dẫn đến bước đường cùng không thể tránh né được nữa. Hơn nữa, triều đình nhà Thanh đã tuyên chiến với Nhật Bản, đường biển có trách nhiệm tăng viện binh cho Triều Tiên, chiến hạm có trách nhiệm hộ tống, lại trốn tránh từ đâu cho đành đây, quả nhiên Nha Sơn đã mất, Bình Nhưỡng nguy cấp, triều đình nhà Thanh tiếp tục điều động 4.000 quân Minh quân của Lưu Thịnh Hưu xuất phát từ Đại Cô vào ngày 16 tháng 9, do Đinh Nhữ Xương dẫn đầu Hạm đội Bắc Dương hộ tống từ nửa đường đi Triều Tiên, tăng viện cho Bình Nhưỡng. Chiến hạm Nhật Bản nhận được tin bến tập trung 12 chiến hạm tinh nhuệ nhất của chúng tại vùng biển Đại Đông Câu ngoài cửa sông Áp Lược, nhân lúc chiến hạm ta quay về, để chặn đánh. Hạm đội ta không thể trốn tránh được nữa. Hai quân chạm trán nhau ở Đại Đông Câu, một trận chiến Hoàng Hải Trung - Nhật bi tráng tàn khốc, đã chính thức bùng nổ vào lúc 12 giờ 50 phút chiều ngày 17 tháng 9.

Trận chiến Hoàng Hải lần này, trăm năm qua sách sử vô cùng phong phú. Các nhà sử học cũng thường có ý kiến khác nhau. Thế nhưng gạt bỏ những lời đồn thổi nhảm nhí, dựa trên sử thực, chọn ra những điểm chính tóm tắt lại, chân tướng đại khái như sau:

Hạm đội hộ tống của phía ta, đến Đại Đông Câu vào ngày 17 tháng 9, tính ra có 18 chiếc. Trong đó hai pháo thuyền Trấn Trung, Trấn Nam (đều nặng 440 tấn), dẫn đầu 4 chiếc tàu lôi, hộ tống quân vào cảng. Hai chiếc Bình Vưởng, Quảng Bính thì thả neo ở ngoài cửa. Mười chiếc còn lại là chủ lực Bắc Dương, thì thả neo ở vùng biển cách cửa 12 hải lý. Trong 10 chiếc bao gồm:

Hai chiến hạm chủ lực Định Viễn (soái hạm), Trấn Viễn, mỗi chiếc nặng 7.000 tấn, mỗi chiếc có giáp dày 14 inch, 4 đại bác khổng lồ 12 inch, tốc độ đều là 14,5 hải lý;

Năm tàu tuần dương vỏ thép Trí Viễn, Tế Viễn, Tĩnh Viễn, Lai Viễn, Kinh Viễn, mỗi chiếc nặng từ 2.300 đến 3.000 tấn, hơn 10 đại bác thép các cỡ nòng, tốc độ đại khái trong khoảng 15 đến 18 hải lý;

Ba pháo thuyền Siêu Dũng, Dương Uy, Quảng Giáp, mỗi chiếc nặng hơn nghìn tấn, mỗi chiếc có hơn 10 đại bác, tốc độ 15 hải lý.

Điểm yếu chí mạng của hạm đội ta lúc này, hóa ra là: (1) Không có tàu mới. Tất cả chiến hạm đều là tàu chiến kiểu cũ hạ thủy trước năm 1888; (2) Tàu ta không có pháo bắn nhanh. 12 khẩu do Lý Hồng Chương cố gắng mua sắm, lúc này vẫn chưa kịp lắp đặt.

Mà lúc này ở bên ngoài Đại Đông Câu, 12 chiến hạm địch đang rình rập chặn đánh tàu ta, bản chất của chúng chính là mặt đối lập của tàu ta. Trong 12 chiếc ấy, bao gồm: (1) 7 chiếc tàu tuần dương 3.000 - 4.000 tấn Cát Dã, Thu Tân Châu, Tùng Đảo (soái hạm), Thiên Đại Điền, Nghiêm Đảo, Kiều Lập, Xích Thành là tàu mới hạ thủy từ sau năm 1888. 5 chiếc như Cát Dã, Tùng Đảo v.v., lại càng là sản phẩm hoàn toàn mới (brand-new) của cuối thế kỷ 19; (2) Tốc độ của các tàu mới đều từ 18 hải lý trở lên. Cát Dã thì tới 23 hải lý; (3) Tàu mới của Nhật Bản đều được trang bị "pháo bắn nhanh"; (4) Tàu kiểu cũ của phía Nhật Bản, ngoại trừ những chiếc đã kể, những chiếc khác như Cao Thiên Tú, Lãng Tốc, Phù Tang, Tây Kinh Hoàn đều là vỏ thép. Tàu không những không cũ, thiết bị lại càng hoàn toàn mới.

Bạn tôi ơi, hải không chiến hiện đại, toàn đánh bằng khoa học kỹ thuật, toàn đánh bằng thời đại. Kỹ thuật cao hơn một bậc, đi trước một năm, là đã bị ép đến đường cùng rồi. Chiến thuật biển người, dũng khí huyết khí, đó là cách đánh thời Trung cổ. Giữa thời kỳ kháng chiến, máy bay Nhật hạ cánh xuống sân bay Thành Đô của ta, cất bức di ảnh của Tôn Tổng thống, để lại chiến thư thách thức không quân ta. Các dũng sĩ của ta không thèm đếm xỉa đến. Thế nhưng cơ quan đầu não tối cao của chúng ta, nhẫn nhịn không nổi nữa, đập bàn nghiêm lệnh nghênh chiến. Kết quả là trận chiến Bích Sơn, chỉ có hai vị đại đội trưởng dẫn đội của ta là nổ súng. Các dũng sĩ khác còn chưa kịp bóp cò súng, đã lần lượt rơi xuống như lá mùa thu rụng. Từ đó về sau, chúng ta ở hậu phương chỉ còn nước ôm đầu chịu bom mà thôi. — Chuyện này tôi nghe được từ các anh hùng tham chiến năm xưa, nghĩ rằng trong hồ sơ cũ của không quân ta, chắc chắn phải có án tích để tra cứu. — Trận hải chiến Hoàng Hải trận Giáp Ngọ, chính là như vậy

Lại nói vào trưa ngày 17 tháng 9, các tướng sĩ hải quân ta trên vùng biển Đại Đông Câu vừa ăn xong bữa trưa, thì còi báo động phát hiện chiến hạm địch ở vùng biển phía Đông Nam. Tàu ta liền nhổ neo, xếp trận hình, nghênh đón xông lên.

Nghe nói, đội hình ban đầu của ta là hai chiến hạm chủ lực song song đi đầu, các tàu còn lại xếp thành hai hàng, theo sau ở phía sau. Thế nhưng hạm đội vừa nhổ neo không lâu, phó soái Lưu Bộ Thiềm bỗng thay đổi truyền lệnh cờ, biến trận hình tàu ban đầu thành một hàng ngang chữ nhất. Giương rộng hai cánh, bao vây tiến lên trận địa địch.

Tại sao họ Lưu lại thay đổi đội hình giữa chừng? Theo lời Taylor thì là do sự hèn nhát và ích kỷ của Lưu. Hắn cố tình phơi bày những chiếc tàu nhỏ ở hai cánh để làm mồi nhử địch. Họa may chiến hạm địch sẽ không tấn công vào chiếc soái hạm mà Lưu ngồi, v.v. Taylor lại càng nhấn mạnh rằng, âm mưu thay đổi đội hình này của Lưu, ngay cả Đinh Nhữ Xương và Hannecken đang quan sát tình hình địch trên cầu treo cũng không hề phát hiện ra, chỉ có một mình hắn - Taylor nhìn ra được. Thế nhưng đại sự đã rồi, không thể sửa đổi lại được nữa, hắn bèn đề nghị với hai vị chủ soái Đinh, Hannecken, sai đầm lầy đi sai đường, ra lệnh cho toàn đội quay phải nghênh chiến. Đinh khen phải. Taylor tự xưng, hắn bèn nhảy vụt về tháp chỉ huy bảo Lưu Bộ Thiềm thay đổi hướng đi, quay phải bốn độ. Lưu ngoài mặt vâng lệnh nhưng trong lòng làm trái, miệng dặn người lái bánh lái rằng "bánh lái quay trái" (port), tức là đổi hướng đi của Định Viễn sang phải. Thế nhưng thoáng cái lại nhỏ giọng dặn người lái bánh lái rằng "khoan đã, khoan đã" (steady.steady), kết quả tàu đứng im bất động. Taylor nói, hắn thấy Lưu Bộ Thiềm chống lệnh thì vô cùng phẫn nộ, lớn tiếng mắng nhiếc Lưu, đồng thời nhảy vọt lên đỉnh tháp chỉ huy, trèo lên cầu treo để báo cáo với Đinh. Lúc này Hannecken đã vì sĩ quan chỉ huy cờ đi nơi khác, chỉ còn một mình Đinh Nhữ Xương ở trên cầu treo, hai người bọn họ nói chuyện không hợp, không thể kịp thời chỉnh sửa sai lầm của Lưu Bộ Thiềm. Đúng vào thời khắc ngàn cân treo sợi tóc này, Lưu Bộ Thiềm đột ngột hạ lệnh nổ súng. Bốn khẩu pháo đồng loạt khai hỏa, thế mà đã chấn động đứt cả cầu treo. Đinh Nhữ Xương ngã xuống đất bị thương, chính hắn ta cũng bị hất văng làm mờ cả hai mắt, bất tỉnh nhân sự...; từ đó đội hình tàu Trung Quốc hỗn loạn, cuối cùng đến mức không thể thu dọn nổi v.v. (Xem tự truyện của Taylor đã dẫn, trang 50)

Đoạn câu chuyện do Taylor miêu tả ở trên, sau đó thậm chí còn được các giáo sư Trương Ấm Lân, Quách Tình Y, và vô số nhà trước tác sau này dẫn chứng làm sử liệu đáng tin cậy về hải chiến, đồng thời tùy tiện phỉ báng nhục mạ Lưu Bộ Thiềm. Bạn tôi Rawlinson sau này khi viết luận án tiến sĩ tại Đại học Harvard (với người hướng dẫn là Giáo sư John K. Fairbank), cũng giữ quan điểm này, tin sái cổ không chút hoài nghi. (Xem cuốn sách đã dẫn của Rawlinson: China’s Struggle for Naval Development, 1839 ~ 1895, pp. 175, 179 ~ 180).

Các bậc hiền đạt độc giả, quý vị có tin vào câu chuyện mà Taylor viết ra sau sự kiện hơn ba mươi năm không? — Cá nhân tôi là lúc đầu thì tin nhưng cuối cùng lại hoài nghi.

Thứ nhất, Taylor chưa từng tham gia hội nghị quân sự trên tàu Định Viễn. Hắn không đủ tư cách! Đây cũng là điều hắn công khai thừa nhận trong sách. Trong hội nghị quân sự mà tất cả các hạm trưởng chắc chắn đều phải tham gia, bàn luận ban đầu có phải là "trận dọc" (line ahead) không? Làm "trận dọc" thì liệu có nhất định không được đổi thành "trận ngang" (line abreast) không? Chi tiết bàn luận ban đầu, người đời sau nào biết được! Taylor lúc bấy giờ không đủ tư cách nhúng tay vào việc này; cho nên, hắn lúc bấy giờ cũng hoàn toàn không biết. Hơn ba mươi năm sau, những nhân vật quan trọng đã chết sạch, hắn mới viết sách bị đặta ra, sơ hở trăm bề. Bọn hậu sinh nghiên cứu lịch sử chúng ta, há có thể thấy chỗ có thể hoài nghi mà lại không hoài nghi cơ chứ?!

[Phụ chú] Trên thực tế lệnh biến trận dọc thành trận ngang này, dựa theo văn kiện gốc của Thích Kỳ Chương, thực chất xuất phát từ khẩu lệnh trực tiếp của Đinh Nhữ Xương. Taylor hoàn toàn không biết gì sất, thực chất chỉ là ăn nói hàm hồ bị đặt mà thôi.

Thứ hai, việc thay đổi trận hình, liên quan đến mười chiến hạm, bên trái bên phải mấy ngàn thước là một đại sự thế nào cơ chứ. Sự thay đổi như thế này, Đinh Nhữ Xương, Hannecken ở ngay gần trên cầu treo đốc chiến, tổng binh (sư trưởng) Lâm Thái Tăng ở gần ngay tàu bên cạnh, thế mà đều không nhìn thấy, chỉ có tên "kẻ ăn bám trại lính", vô công rồi nghề, rảnh rỗi sinh nông nổi này phát hiện ra, để hắn đứng ra đưa ra cảnh báo, rồi ba vị chính phó chủ soái mới nghe theo đề nghị của hắn để vội vã sửa chữa. Hắn là cái thá gì chứ?! Đây rõ ràng là một lời nói nhảm nhí hoang đường!

Thứ ba, Đinh Nhữ Xương không thể chỉ huy thực chiến; Hán Nạp Căn vốn xuất thân kỵ binh, ban đầu là kỹ sư pháo đài, cũng là kẻ ngoại đạo đối với hải quân. Tư lệnh chỉ huy chiến đấu tàu chủ lực vốn là một loại "quan chức kỹ thuật" (technocrat) cấp cao nhất, ngôn ngữ chuyên môn kỹ thuật được sử dụng ở Trung Quốc thời kỳ đầu đều hoàn toàn thuộc về tiếng Anh, Nhật Bản cũng thế (đây cũng là nguyên nhân chính khiến Thái Lặc Nhĩ tự cảm thấy vênh váo). Thế nên trong trận Hoàng Hải Trung - Nhật, tư lệnh thực chỉ huy của cả hai bên đều là phó soái. Về phía chúng ta là phó soái Lưu Bộ Thiêm; về phía Nhật Bản thì là phó soái Đông Hương Bình Bát Lang – hai người bạn học cũ ở Greenwich. Bộ Thiêm cậy tài khinh người, hắn ta ngay cả một tư lệnh hải quân Anh thực thụ là Lang Uy Lý (đại tá) còn coi như không ra gì, hỏi sao hắn có thể cho kẻ lưu manh doanh trại, tiểu thủy thủ tự xưng là "trung úy dự bị" Thái Lặc Nhĩ vào mắt cho được?! Thái Lặc Nhĩ ôm hận trong lòng, cho nên lúc sau viết sách, liền lấy việc chửi mắng Lưu làm trọng trách duy nhất. Sự căm hận sâu sắc và lòng vu khống độc ác đối với Lưu Bộ Thiêm của hắn quả thực khiến người ta không thể tưởng tượng nổi! Tác giả vì bị giới hạn về độ dài, nên không thể dịch thêm nhiều.

Phải biết rằng Định Viễn năm xưa chính là soái hạm của quân ta. Trong doanh trại quân đội trang nghiêm này, binh lính dọc đường gặp chủ soái, là phải "mắt đón tám bước, mắt tiễn tám bước". Thái Lặc Nhĩ trong sách của mình lại tự miêu tả bản thân như một tên hề nhảy nhót. Cả ba vị chủ soái đều phải nghe theo sự chỉ huy của hắn, cuối cùng thậm chí còn lớn tiếng mắng mỏ (curse) vị tư lệnh. Sự tự phụ đến mức độ này, quả thực là vô liêm sỉ đến cực điểm!

Thứ tư, sự ưu liệt của trận hình dọc và trận hình ngang, trong điều lệnh hải quân lúc bấy giờ, vốn dĩ mỗi bên đều có lý lẽ riêng. Còn như việc biến đổi trận hình, cờ lệnh vừa kéo, một động tác đứng nghiêm quay trái (phải), trận hình ngang lập tức cũng có thể biến thành trận hình dọc. Những cái khác như từ hàng đơn đổi thành hàng đôi; từ trận hình vuông đổi thành trận hình tròn; chạy song song hai chiều, lúc trước lúc sau, lúc nhanh lúc chậm, chỉ huy chiến đấu trên biển lớn, căn cứ theo tình hình địch biến đổi mà phán quyết, sự uyển chuyển trong cách vận dụng đều nằm ở tâm trí. Tất cả những điều này đều là trách nhiệm của chủ soái, một tên tiểu tốt mạt hạng thì làm sao có thể hiểu được? Cái tên "lưu manh doanh trại ngoại quốc" Thái Lặc Nhĩ này, dẫu cho lúc về già có viết sách, thì đối với chuyện này vẫn hoàn toàn không biết gì cả. Ấy là vì hắn học tiểu học chưa xong, kiến thức thông thường không đủ vậy. Thế nhưng cái thứ vô lại ngoại quốc này, mở miệng bịa đặt thành cả bài, vậy mà lại lừa gạt giới sử học nước nhà vốn không am hiểu binh sự suốt mấy chục năm trời, cũng thật đáng kinh ngạc.

3.7 Tàu ta xếp hàng một, thuyền địch đột kích hình nêm

Đương nhiên, công tác chỉ huy của chủ soái nhắc đến ở trên, muốn được thuận buồm xuôi gió, sai khiến như cánh tay, thì nhất định phải là tướng sĩ được huấn luyện thuần thục, thiết bị tàu thuyền máy móc mới mẻ, thì mới có thể chế ngự địch từ trước – vào lúc đó tàu thuyền máy móc của quân ta đã lỗi thời, phơi quần áo trên pháo, nhất thời rất khó làm được. Thế nhưng người Nhật lại làm được.

Khi địch và ta giao chiến lúc mười hai giờ năm mươi phút chiều ngày mười bảy, mười chiến thuyền của ta xếp thành một hàng ngang, Định Viễn và Trấn Viễn ở chính giữa. Các chiến hạm bên trái Định Viễn lần lượt theo thứ tự là Tĩnh Viễn, Trí Viễn, Quảng Giáp, Tế Viễn. Bên phải Trấn Viễn là Lai Viễn, Kinh Viễn, Siêu Dũng, Dương Uy. Mười chiến thuyền với tốc độ sáu hải lý một giờ, sắp hàng tiến lên. Thế nhưng tàu ở hai đầu cánh nhỏ, tốc độ chậm hơn, khiến cho chữ "nhất" dần dần cong lại.

Mười hai chiến hạm Nhật Bản lao đến từ phía trước, thì chia làm hai đội trước sau, lấy bốn tàu như Cát Dã (Yoshino) làm đầu làm du kích đội, lấy soái hạm Tùng Đảo làm đầu, tám chiếc còn lại chia làm hai hàng theo sau, ấy là bản đội, với tốc độ mười hải lý một giờ, lao về phía chúng ta.

Khi khoảng cách giữa địch và ta tiệm cận tám ngàn thước. Pháo lớn loạt đầu của ta khai hỏa, do chấn động của pháo làm gãy cầu tàu, Đề đốc Đinh bị hất văng xuống đất, bị thương nặng ở thân thể, miệng hở nước vàng, chân gãy không đi lại được. Thủy thủ bèn khiêng ông vào khoang băng bó, Đinh kiên quyết từ chối không cho, bèn ngồi xuống bên cạnh lối đi trên boong tàu, đốc chiến cho đến cùng. Ông có thể tận mắt chứng kiến tướng sĩ toàn tàu thao tác; tướng sĩ trên mặt boong cũng có thể thường xuyên nhìn thấy nơi chủ soái đang ở.

Lúc này chiến hạm địch đã ở gần ta, bèn dùng pháo lớn bắn trả, đồng thời do Cát Dã dẫn đầu đội đột kích tiên phong, tăng tốc độ lên mười bốn hải lý, ngay sau đó xuyên thẳng qua cánh phải của ta mà đi qua. Hàng chục cỗ pháo bắn nhanh, trái phải cung chiến, đồng thời cùng phát, đạn rơi như mưa. Hai chủ lực Trấn và Định của ta, trực tiếp trúng đạn một trăm mấy chục quả, thương vong chồng chất. Cột buồm, đài quan sát, soái kỳ, cờ lệnh trên boong tàu, cùng với dây thừng treo cờ, đều bị hỏa lực pháo bắn nhanh dày đặc của đối phương oanh tạc hư hại sạch trơn. May mắn là nhờ lớp giáp dày dặn, đạn lớn mười inch của địch cũng chỉ có thể xuyên qua lớp giáp năm inch, khiến cho hai chiếc tàu trước sau có thương tích nhưng không nguy hiểm; đồng thời áp sát chiến hạm địch, phát pháo bắn trả. Chỉ có những chiếc thuyền nhỏ ở cánh phải của ta, đặc biệt là hai chiếc Siêu Dũng và Dương Uy, không chịu nổi gánh nặng. Thân tàu trúng đạn mấy chục quả, gây ra hỏa hoạn lớn. Tướng sĩ quân ta dù liều mạng dập lửa, cuối cùng vẫn khó lòng kiểm soát. Dương Uy vốn ở đầu mút cánh phải, bị ép lái ra ngoài để tránh pháo. Không may bị thương quá nặng, lửa lan tràn, toàn tàu tiêu trụi. Giãy giụa hơn một canh giờ, cuối cùng đành chịu vô phương cứu chữa. Khi toàn quân bỏ tàu, quản hiệu Lâm Lý Trung gieo mình xuống biển tự sát. Sáu mươi lăm người sống sót trên biển, cuối cùng được một chiếc phóng lôi đỉnh của ta chạy đến ứng cứu vớt lên, lái ra khỏi chiến trường.

Đội đột kích tiên phong của đối phương, sau khi dùng tốc độ nhanh và bắn nhanh xuyên qua cánh phải của ta xong, bèn lại phi nhanh sang bên phải, vòng qua phần đuôi của hai chủ lực Trấn, Định của ta, định bụng lại quay phải đánh thọc cánh phải của ta, cùng với tám chiếc thuộc bản đội theo sau, hình thành vòng vây, bao vây tiêu diệt hai chủ lực Định, Viễn và Trấn Viễn của ta để đánh trận tiêu diệt.

Thế nhưng đúng lúc Cát Dã lần thứ hai quẹo phải định từ phía sau đánh thọc cánh trái của ta, tàu Bình Viễn của ta vừa vặn từ phía bắc Đại Đông Cẩu, dẫn đầu bốn chiếc phóng lôi đỉnh chạy đến tham chiến. Cát Dã thấy vậy, bèn bỏ cánh trái của ta, đổi hướng lao đánh Bình Viễn của ta. Quản hiệu Bình Viễn của ta sớm biết Bình Viễn không phải đối thủ của Cát Dã, bèn quay đầu và hạ lệnh lôi đỉnh tản ra né tránh. Cát Dã không thu được chiến quả gì, bèn lại lao về phía chiến hạm của ta, định cùng với bản đội chiến hạm địch theo sau vòng lại bao vây chủ lực của ta, oanh kích chìm tàu phụ trợ của chúng ta.

3.8 Tình bạn thời mạt thế, người không bằng chó

Lúc này địch và ta kịch chiến ác liệt, khói lửa ngút trời trên Đại Đông Cẩu, gió mây đổi sắc.

Khi bản đội chiến hạm địch theo sát đội đột kích của nó, lao về phía cánh phải của ta, định vòng qua chủ lực của ta để bao vây lớn, các chiến hạm cánh phải của ta liều chết kháng cự, cũng phát pháo ầm ầm như sấm. Chỉ có điều lúc này pháo hạm Siêu Dũng của ta đã bị thương nặng, lửa lớn không tắt, thân tàu nghiêng ngả, bản đội địch bèn dùng thuyền nhanh pháo nhanh luân phiên công kích, Siêu Dũng cuối cùng bị đánh chìm. Quản hiệu Hoàng Kiến Huân cùng rơi xuống nước với mọi người. Lúc bấy giờ có người ném dây thừng dài buộc phao cứu sinh để cứu hắn. Hoàng đẩy dây không nhận, bèn cùng Siêu Dũng chìm theo nước tuẫn quốc.

Cánh trái quân ta từ sau khi Cát Dã quay gót, tình hình chiến sự cũng trở nên ác liệt. Tàu Trí Viễn của ta, liều chết kháng chiến, trúng đạn chi chít, thân tàu đã bị thương nặng. Quản hiệu Trí Viễn là Đặng Thế Xương thấy tàu địch hoành hành ngang dọc, dẫn dắt các tàu tiến công, gây tổn hại lớn nhất cho chiến hạm của ta, đích thị là tàu Cát Dã của địch. Nếu loại bỏ được tên đầu sỏ này, thì thế suy của quân ta có lẽ có thể xoay chuyển đôi chút. Bèn thừa cơ tìm góc độ tốt để dùng toàn lực đâm thẳng vào Cát Dã, định dùng việc làm trọng thương tàu ta để cùng chết chung với chiến hạm địch. Khi hai tàu áp sát, việc cùng chìm là điều không thể tránh khỏi, sĩ binh hai bên địch ta đều kinh hãi kêu la lớn. Nào ngờ Trí Viễn giữa đường đã bị ngư lôi của đối phương bắn trúng yếu huyệt, nồi hơi phát nổ, đại nghĩa tan thành mây khói —— mà quả ngư lôi đó mục tiêu ban đầu vốn là soái hạm Định Viễn, giữa đường lại bắn nhầm Trí Viễn, cứu lấy Cát Dã. Cũng là ý trời.

Khi Trí Viễn chìm xuống, quản hiệu Đặng Thế Xương cùng hai trăm năm mươi chiến sĩ toàn tàu đồng thời rơi xuống biển (sau chỉ có bảy người sống sót). Lúc ấy bạn thuyền có người đưa gỗ cứu sinh cho Thế Xương. Thế Xương đẩy gỗ không nhận. Năm xưa tướng sĩ hải quân sinh sống theo lối Tây hóa. Thế Xương trên tàu vốn nuôi hai con chó. Giờ đây con chó đó cũng cùng chủ nhân rơi xuống biển một lúc. Hai con chó này tìm cách cứu Thế Xương, bèn ngoạm lấy cánh tay ông không để chìm xuống. Thế Xương đẩy chúng ra. Con chó này thế mà lại bơi ngược lại ngoạm lấy tóc ông để cứu vớt, Thế Xương cuối cùng ôm lấy chó cùng chìm.

Màn kịch "Nghĩa khuyển cứu chủ" sống động trên biển lớn này, thật khiến người ta cảm thán. Tương lai nếu có một ngày, những tướng sĩ quân ta tuẫn quốc trong trận huyết chiến Hoàng Hải được minh oan, lập bia lật lại án tích, thì hai chú chó nghĩa này, cũng nên được khắc đá tưởng niệm đấy!

Trộm nghĩ con người chúng ta, sinh vào thời mạt thế, đạo đức suy đồi. Mấy chục năm tình bạn thường bị lòng ích kỷ che khuất, bị sự mê hoặc bởi danh lợi nhỏ nhặt bé như hạt cải mà tranh giành không tiếc giậu đổ bìm leo, vứt bỏ trong chốc lát. So với con chó này, quả thực con người không bằng chó, nghĩ đến mà khái thán.

Sự kích phẫn của Thế Xương trước khi chết, có người nói có lẽ cũng ít nhiều liên quan đến tình cảm quê quán. Thế Xương là người Quảng Đông, mà tướng sĩ hải quân lúc bấy giờ phần lớn là người Phúc Kiến. Khi lâm nguy cứu giúp, Thế Xương có lẽ chê người Phúc Kiến có chút thiên vị đối với người Quảng Đông chăng. (Các câu chuyện trên phần lớn được trích từ cuốn sách trước của Rawlinson; Ô Sương Tương và những người khác biên soạn "Trung Quốc cận đại sử luận cung" loại thứ nhất tập thứ sáu, "Giáp Ngọ Trung Quốc hải quân chiến tích khảo"; cuốn sách của Thích Kỳ Chương dẫn trước cùng với một số sử liệu Trung - Tây khác.)

3.9 Án nghi vấn của Tế Viễn và Quảng Giáp

Trí Viễn đã chìm, cánh trái hạm đội ta đột nhiên gãy. Chiến hạm địch bèn dùng hỏa lực ưu thế và tốc độ ưu thế, luân phiên vây công Kinh Viễn của ta. Kinh Viễn chống đỡ không nổi, cuối cùng vào lúc bốn giờ bốn mươi phút chiều đã bị chiến hạm Nhật đánh chìm, quản hiệu Lâm Vĩnh Thăng trận vong. Toàn tàu tử nạn tổng cộng hai trăm bảy mươi hai người. Người sống sót chỉ có mười sáu người. (Xem sách trên)

Sau khi Trí Viễn và Kinh Viễn của ta lần lượt chìm xuống, hai chiếc Tế Viễn và Quảng Giáp còn sót lại, nếu không kịp thời trốn khỏi chiến trường, chắc chắn sẽ bị đánh chìm là cái chắc. Quảng Giáp vốn là thuyền nhỏ vỏ gỗ lõi sắt ngàn tấn tự chế của Phúc Châu ta, vốn không thể chịu nổi một trận chiến. Chỉ là khi Quảng Giáp rút lui, vì quản hiệu Ngô Kính Vinh phán đoán sai lầm nên đã mắc cạn không tiến lên được. Toàn thể thủy thủ đoàn (bao gồm cả Lê Nguyên Hồng) rút lui xong, mãi đến ngày hôm sau mới bị tuần dã hạm của Nhật tiêu hủy.

Còn về án nghi vấn của Tế Viễn, thì đến nay vẫn không thể giải tỏa. Tế Viễn trong trận chiến Hoàng Hải khi chiến tranh chưa kết thúc, đã quay đầu toàn tàu chạy về. Nếu Tế Viễn quay về đích thị là "đào ngũ lâm trận", thì quản hiệu Phương Bá Khiêm của nó sau đó bị "chính pháp" (chém đầu), thực sự là tội đáng phải tội. Thế nhưng nếu chiến hạm ấy là "rút lui khi lực đã cạn kiệt", thì trong cái tình cảnh thông tin trong quân bị cắt đứt, không có đường xin chỉ thị ấy, toàn tàu quay về, theo lý nên được khen thưởng chứ!

Tóm lại, cái chết của quản hiệu Phương, trong quân đội ai nấy đều thương tiếc, người ngoại quốc cũng không phục. Chủ soái quân địch cũng cảm thấy kinh ngạc, phàm là Bá Khiêm trong trận Phụng Đảo, lấy một tàu địch ba tàu, biểu hiện vô cùng xuất sắc. Trận chiến Đại Đông Cẩu, Tế Viễn phát pháo quá nhiều, bàn pháo vì thế mà tan chảy, thế nhưng họ Phương cuối cùng lại bị "chính pháp trước quân", rõ ràng dường như là do Lý lão tổng hoặc Hoàng đế nhỏ nổi giận mà thành. Cái chết của Bá Khiêm, là trong quân không có kỷ cương, chưa hề trải qua "xét xử công bằng" (fair trial). Chủ nhân một nét bút đỏ, đầu tiểu thần rơi xuống đất, chính là phương pháp làm việc thời trung cổ vậy. Dùng phương pháp đế vương thời trung cổ, để đánh chiến tranh quốc tế hiện đại, thảo nào toàn quân bị tiêu diệt hoàn hảo. Bản thân viết vạn chữ, chưa bắn một phát súng, tâm tư riêng muốn làm rõ, chẳng lẽ ở điểm này sao?!

3.10 Lưu Bộ Thiêm chiến tích huy hoàng

Đoạn trước đã nói rồi, trận chiến Hoàng Hải, chủ soái thực chiến chỉ huy chiến đấu chính là Lưu Bộ Thiêm. Bộ Thiêm lúc mới giao chiến, dưới tay vốn có mười chiến thuyền. Trải qua bốn giờ huyết chiến sau đó, phía chúng ta có sáu chiến thuyền hoặc chìm hoặc hỏng hoặc chạy trốn như đã nói ở trên (hai chiếc khác là Bình Viễn và Quảng Bính không tham chiến), thế nhưng tổn thất của sáu chiến thuyền này thực ra là do máy móc tồi tàn gây ra, chứ không phải do chủ soái chỉ huy sai lầm tạo nên. Đặt các thuyền muỗi như Siêu Dũng, Dương Uy, Quảng Giáp ở hai bên cánh, ở đuôi hàng, thì kết quả cũng sẽ không khác gì nhau, vậy thì trận dọc với chả trận ngang cái nỗi gì?

Bốn tiếng rưỡi sau, Bộ Thiêm chỉ còn lại bốn chiếc thuyền – Định Viễn, Trấn Viễn, Lai Viễn, Tĩnh Viễn. Lúc ấy Lai Viễn toàn tàu bốc cháy, cột kèo đều cong vẹo, đã chẳng ra hình thù thuyền nữa, vậy mà vẫn giao chiến pháo với chiến hạm địch không ngừng.

Hai chiến hạm Định Viễn, Trấn Viễn liên tục huyết chiến bốn tiếng rưỡi. Hai tàu tổng cộng trúng đạn pháo hạng nặng hơn ba trăm bảy mươi quả, khắp mình tựa như ma. Theo thống kê của người Nhật, riêng tàu Định Viễn trúng đạn pháo lớn nhỏ cũng không dưới hai nghìn quả. Phàm là huyết chiến từ đầu đến cuối, phía Nhật Bản ngay từ đầu đã lấy hai chiến hạm chủ lực của ta làm trọng tâm công kích. Hai tàu bị phá hủy, thì thế lực của ta tất sẽ toàn quân tiêu diệt, chẳng cần phải đợi đến ba tháng sau ở đảo Lưu Công.

Hai tàu Định, Trấn mỗi chiếc dài ba trăm thước, trong vòng bốn tiếng, mỗi chiếc trúng đạn pháo địch từ ngàn quả trở lên. Như vậy thì sĩ quan binh lính trong tàu gánh chịu ra sao, không khó để hình dung. Thái Lặc Nhĩ chính là màng nhĩ bị chấn vỡ, điếc nặng suốt đời. Màng nhĩ của Đinh Nhữ Xương, Lưu Bộ Thiêm ra sao, chúng ta không hề hay biết.

Hai chiến hạm của chúng ta tổng cộng có tám cỗ pháo lớn mười hai inch. Trong bốn tiếng tổng cộng bắn ra một trăm chín mươi bảy quả đạn mười hai inch. Có mười quả trực tiếp trúng mục tiêu. Không may chiến hạm của ta không có kinh nghiệm chiến trường. Mỗi khẩu pháo chỉ có mười lăm quả "đạn nổ". Trong đó một quả trực tiếp bắn trúng soái hạm Tùng Đảo của địch, chết tám mươi mấy người địch, máy móc bị phá hủy sạch. Y Đô Hựu Hanh buộc phải đổi soái hạm khác. Uy lực của loại đạn nổ mười hai inch này có thể thấy được.

Ngoài đạn nổ ra, tàu của ta phần nhiều là "đạn xuyên giáp", mà chiến hạm địch thì không có giáp nặng. Sức công phá của đạn xuyên giáp tuy mãnh liệt, nhưng quá mạnh thì ngược lại lại vô dụng. Chúng ta có hai quả đạn xuyên giáp trực tiếp bắn trúng chiến hạm "Tây Kinh Hoàn" của địch. Thế nhưng cả hai quả đều xuyên qua tàu, đục cho Tây Kinh Hoàn bốn lỗ thủng, mà toàn tàu vẫn bình an vô sự.

Pháo nhỏ của các chiến hạm chúng ta tổng cộng bắn ra bốn trăm tám mươi hai quả đạn. Có năm mươi tám quả trực tiếp trúng tàu địch. Chiến hạm địch Bỉ Tịnh hiệu bị chúng ta vây công, một mình trúng hai mươi hai quả, gần như bị đánh chìm. Một quả ngư lôi của ta cũng từng bắn thẳng vào tàu địch, ngờ đâu quả lôi này khi áp sát tàu địch lại lẩn xuống dưới đáy tàu, xuyên qua tàu mà đi qua. Toàn tàu địch kinh hãi tột độ, thế nhưng cuối cùng có kinh mà không nguy, cũng là vận nước ta không thông, thần chiến tranh quấy phá vậy.

Tổng kết toàn cục chiến cục, người Nhật pháo nhiều mà nhanh, tỷ lệ trúng đích lên đến mười lăm phần trăm. Pháo của tàu ta ít mà chậm, thế nhưng tỷ lệ trúng đích cũng đạt đến mười phần trăm.

Chiến hạm địch nhanh nhẹn như cá mập, muốn đến thì đến, muốn đi thì đi, muốn đánh thì đánh; không đánh, ta cũng không thể truy kích.

Thế nhưng chiến hạm chủ lực của ta thì nặng nề như rùa biển lớn, mặc cho ngươi đánh đấm, cũng sẽ không chìm. Cá mập cũng đành chịu thua.

Hai bên chém giết, khó phân thắng bại. Cho đến năm rưỡi chiều, đạn lớn mười hai inch của ta chỉ còn lại ba quả, mà Y Đô lại sợ trời tối, phóng lôi đỉnh của ta làm càn, bèn thu quân chuồn thẳng. Lưu Bộ Thiêm cưỡi sóng đuổi theo mấy hải lý, tốc độ không bằng, càng đuổi càng xa. Bèn thu quân trở về. – Chấm dứt trận huyết chiến Hoàng Hải này.

Các vị hiền đạt độc giả, các vị đọc xong những câu chuyện chân thực ở các mục trên, nên biết rằng Lưu Bộ Thiêm, Đinh Nhữ Xương không phải là đồ ăn hại. Đại Thanh không mất, quân ta không bại, thực sự là không có thiên lý, thế nhưng đó không phải là tội của chiến tranh. Bọn chúng ta bình phẩm công lao các bậc tiên liệt tiên hiền, sao có thể không lo lắng chứ? Nguyện cùng các vị độc giả hiền minh cùng cố gắng.

*Hoàn thành bản thảo vào ngày 30 tháng 9 năm 1994 tại Bắc Mỹ

Đăng nguyên bản tại "Phó ký văn học" Đài Bắc tập 65 kỳ 4

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.