Vãn Thanh Thất Thập Niên 3: Giáp Ngọ Chiến Tranh Dữ Mậu Tuất Biến Pháp

Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Từ Hi Thái Hậu Và Di Hòa Viên Của Bà

❊ ❊ ❊

Trong bài viết nhỏ ở phần trước, tác giả từng nhắc tới việc trong gần một trăm năm trở lại đây của Trung Quốc, Lý Hùng Chương thực sự là người nắm quyền sớm nhất, thậm chí là duy nhất, từng lãnh đạo đất nước chúng ta tham gia cuộc đua vũ trang thế giới (World Arm Race).

Chúng ta nên hiểu rằng, từ khi Columbus phát hiện ra châu Mỹ (1492) cho đến khi Thế chiến thứ hai kết thúc (1945), dưới sự thao túng của năm bá bảy hùng thuộc chủ nghĩa đế quốc da trắng (sau này lại cộng thêm chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản), trái đất của chúng ta thực ra là một "thế giới thổ phỉ" (trích một câu nói nổi tiếng động trời của Tổng thống Lý Đăng Huy). Nơi đó chỉ có cường quyền, không có công lý. Cường quyền từ đâu mà ra? Thưa rằng: vũ trang vậy; quân bám vậy. Vào thời đại của Lý Hồng Chương, loài người vẫn chưa phát minh ra máy bay và bom nguyên tử. Các liệt cường muốn hoành hành thế giới, thì chỉ có thể dựa vào hải quân hùng mạnh mà thôi.

Vào thế kỷ 19, hải quân Anh đứng đầu thế giới. Đại đế quốc Anh muốn duy trì uy quyền "mặt trời không bao giờ lặn", về thực lực hải quân còn phải đảm bảo "tiêu chuẩn hai cường quốc" (two-power standard) của họ nữa! Nói cách khác, thực lực hải quân của Đại đế quốc Anh phải vượt qua sức mạnh chiến đấu gộp lại của bất kỳ hai liệt cường nào khác.

Sau năm Đồng Trị thứ chín (1870), Lý Hồng Chương nhậm chức Bắc Dương đại thần, rất hiểu rõ đạo lý này. Ông nhiều lần nói rằng, uy phong của người phương Tây nằm ở chỗ có "tàu bọc thép". Bạn giao du với người phương Tây mà bản thân lại không có tàu bọc thép, thì bạn nên ngậm cái miệng quạ lại.

Lý Hồng Chương là một trong hai nhà ngoại giao lớn hiếm hoi của nước ta trong gần một trăm năm trở lại đây — người còn lại là Chu Ân Lai. Tác giả từng viết vài triệu chữ hồi ký cho ông Cố Duy Quân. Nhưng dù có lật nát các tài liệu công và tư của họ Cố, tôi vẫn cho rằng Cố Vĩnh Đôn chỉ là một "quan chức kỹ thuật", "thủ lĩnh phái tiến sĩ" và "nhân viên ngoại giao da vàng". Anh ta từ đầu đến chí cuối chỉ đang làm thuê cho ông chủ; bản thân không có thực lực chính trị chân chính để quyết định về mặt ngoại giao — Lý Hồng Chương và Chu Ân Lai thì khác.

Lý Hồng Chương cũng là sư tổ của cận đại Trung Quốc trong việc chơi trò "dĩ di chế di" (lấy rợ trị rợ) — chơi trò dĩ di chế di, ngay cả Chu Ân Lai cũng làm không tốt. Lý Hồng Chương dĩ nhiên thành tích cũng kém cỏi. Lý do khiến ông Lý làm không tốt, là vì "tàu bọc thép" của ông đã bị Nhật Bản đánh chìm. Chơi trò dĩ di chế di mà không có "tàu bọc thép" làm hậu thuẫn, thì sẽ biến thành mua không bán không ("tay không bắt giặc"). "Rợ" cũng đâu phải kẻ ngốc! Chuyên chơi bài tay không bắt giặc, sao có thể thông suốt được cơ chứ?! Thế nên trước trận Giáp Ngọ, Lý Hồng Chương từng hạ chí hướng muốn tham gia cuộc đua vũ trang thế giới.

Thành thật mà nói, Đại Thanh đế quốc vào thời kỳ Lý Hồng Chương đảm nhận chức Trực Lệ tổng đốc kiêm Bắc Dương đại thần (1870–1895), việc tham gia cuộc đua vũ trang thế giới là dư dả sức lực. Đại Thanh đế quốc suy cho cùng cũng là một đại đế quốc mà! Nó cũng giống như nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên đất liền Trung Quốc ngày nay, tuy rằng cũng nghèo rớt mồng tơi, nhưng tiềm năng là vô hạn. Trước trận Giáp Ngọ, đừng nói là mua những tuần dương hạm như chiếc "Cát Dã" (Yoshino) của Nhật Bản đã kể trên, cho dù có mua thêm ba năm chiếc chủ lực hạm cấp "Định Viễn", "Trấn Viễn" nữa, cũng là chuyện dễ như trở bàn tay.

Quý vị không thấy một khoản điều ước Mã Quan (1895) chúng ta đã bồi thường tới hai trăm sáu mươi triệu lạng hay sao. Sáu năm sau là điều ước Tân Sửu (1901), chúng ta há lại chẳng bồi thường thêm bốn trăm triệu lạng nữa ư? Tính tổng cộng, trong vòng bảy năm mà bồi thường một mạch sáu trăm sáu mươi triệu lạng! — Chúng ta có từng đó tiền để trả "tiền bồi thường", mà không có tiền mua tàu ư?!

Đương nhiên bốn trăm triệu lạng là trả theo kỳ. Trả nhiều rồi được các chủ nợ trả lại tiền thừa, còn để cho thầy giáo của tôi là Hồ Thích Chi, bạn bè của tôi là Dương Chấn Ninh, Hà Bính Đê... ra nước ngoài du học chứ! Lông cừu xuất phát từ mình cừu, tiền bồi thường mà Thái hậu già của chúng ta ngày trước bỏ ra, một phần nhỏ được trả lại, đến bây giờ chúng ta còn chưa dùng hết đấy! Trước chiến tranh Giáp Ngọ chúng ta không có tiền mua tàu ư? Chúng ta mua thêm năm chiếc (chủ lực hạm cấp Định Viễn), mười chiếc (tuần dương hạm cấp Cát Dã), cũng vẫn dư dả sức lực cơ mà!

Có tiền sao không đi mua tàu, lại đợi đến khi đánh thua trận, rồi mới đi "bồi thường" cơ chứ?!

Bạn bè ạ, đây chính là điều mà bài viết nhỏ phần trước đã nói: chuyên làm "tứ hóa", không làm "ngũ hóa", thì "tứ hóa" thường là công cốc — chỗ này nhấn mạnh hai chữ "thường là". Khoa học xã hội khác với khoa học tự nhiên. Người làm khoa học xã hội không nên nói lời quá "tuyệt đối".

Phải biết rằng, tứ hóa chính là hiện đại hóa khoa học kỹ thuật. Ngũ hóa chính là hiện đại hóa chính trị. "Hiện đại hóa chính trị" không nhất thiết phải làm cái trò "bức tường dân chủ" vớ vẩn nào đó đâu! Nhưng ít ra các vị cũng phải tạo ra một chính phủ hiện đại sạch sẽ và có hiệu quả — ít ra cũng phải giống như nước Đức và nước Nhật thời bấy giờ. Giống như cái đống phân nát dưới thời Thái hậu Từ Hi của chúng ta, suy cho cùng là không đủ tư cách để tham gia cuộc đua vũ trang thế giới đâu — Chủ nghĩa đế quốc tuy đều là "thổ phỉ", "cướp", nhưng cướp cũng có đạo lý của cướp.

Bây giờ hãy tạm xem Trung đường Lý của chúng ta, đã thua trận trong cuộc đua vũ trang thế giới này như thế nào, để rồi sau đó mới đánh thua trận, mới phải bồi thường.

2.1 Nha môn Hải quân là một chiếc "ghế béo bở"

Vào thưở ban đầu hạm đội Bắc Dương thành lập, Lý Hồng Chương đã hết sức chủ trương hai đại dương thống nhất, chia ra xây dựng nhưng hợp lực thao luyện. Chính phủ trung ương nên có một cơ quan tổng quản để nghiên cứu chiến lược, thống nhất chỉ huy, cũng như trù tính ngân sách và bố trí hậu cần. Đây vốn là chuyện thuận nước đẩy thuyền, bất kỳ quốc gia hiện đại nào cũng không thể thiếu, chỉ là tên gọi khác nhau mà thôi. Ví dụ như Bộ Hải quân Anh (Admiralty), "Đại bản doanh" và "Tham mưu bản bộ" của Đức và Nhật; "Lầu Năm Góc" (Pentagon) của Mỹ ngày nay, cho đến các cơ quan như "Uỷ ban quân sự", "Bộ Quốc phòng" ở Bắc Kinh và Đài Bắc hiện nay... Vào cuối đời Thanh, được gọi là "Nha môn sự vụ hải quân" hoặc "Nha môn Hải quân".

Lý Hồng Chương vốn là một nhân tài thực cán vừa ham quyền lực vừa có tinh thần trách nhiệm. Trong thời gian nha môn Hải quân đang được trù ấp, ông vốn dĩ không nhường nhịn ai. Nhưng lần này thì không đến lượt ông quyết định. Ngay khi hải quân nước Đại Thanh được thành lập, những thân quý người Mãn tự coi mình là giai cấp thống trị đã sớm hổ hổ ngó chừng. Vốn dĩ sự quật khởi của quân Tương - Hoài đã khiến họ cảm thấy bị đe dọa sát sườn. Hải quân lại trỗi dậy, họ tuyệt đối không thể để cho người Hán nắm giữ nữa. Không may là, hơn hai năm vinh hoa phú quý và lối sống nhàn rỗi đã sớm làm cho thiểu số dân tộc đứng trên đỉnh cao giai cấp thống trị này mục nát đến mức vô phương cứu chữa. Như phần trên đã thuật lại, hải quân là một binh chủng hiện đại mang tính kỹ thuật cao biết bao nhiêu. Thân quý người Mãn mục nát thế này, sao có thể nhúng tay vào chứ?

Nhưng cái "nha môn Hải quân" lúc này thì khác. Nó là một cơ quan cao ngạo đứng trên cao, đặt ở trong hoàng thành, bề ngoài thoạt nhìn hình như chỉ là một cái "nha môn" lớn chuyên quản lý nhân sự, quản lý hầu bao! Mà kinh phí phòng thủ biển do nha môn này quản lý, động một tí là lên đến hàng triệu. Trong mắt họ, nha môn này là một nha môn mới có nhiều bạc hơn bất kỳ nha môn nào trong Lục bộ Cửu khanh ở triều đình Đại Thanh, hay Đốc phủ ty đạo ở bên ngoài triều đình. Tóm lại, trong quan trường Đại Thanh, nha môn Hải quân là một "chiếc ghế béo bở" nhất, "béo bở" đến cùng cực. Thân quý tuyệt đối không thể bỏ qua!

Vương triều Đại Thanh phát triển đến bước này, cũng có thể nói là "khí số đã tận" rồi nhỉ! Ngay vào thời khắc quan trọng này, Từ An thái hậu - người tương đối hiền lương và biết đại cục, đột ngột lâm bệnh qua đời một cách kỳ lạ vào năm Quang Hữu thứ bảy (1881). Từ An là vị chính cung nương nương mà Từ Hi kính sợ nhất. Từ An chết rồi, Hoàng thái hậu Từ Hi vốn xuất thân từ thϊếp thất, tính tình lại chua ngoa độc ác, nắm trọn đại quyền, dần dần liền lộ rõ nguyên hình.

Ba năm sau (1884), bà ta liền đuổi Cung thân viên Dịch Hân ra khỏi Tổng lý nha môn. Dịch Hân là người sáng lập Tổng lý nha môn (Bộ Ngoại giao đầu tiên của Trung Quốc). Hơn hai mươi năm thương lượng mặc cả với người phương Tây, khiến ông khá am hiểu tình hình bên ngoài, là một nhà chính trị có tư tưởnghơi hướng khai sáng hiếm có lúc bấy giờ ở Trung Quốc, đứng đầu các danh thần thời Đồng Trị trung hưng — không có ông ta, Từ Hi cũng không thể làm Hoàng thái hậu. Cho nên ông cũng vẫn luôn là nhân vật số hai mà Từ Hi kính sợ và ghen ghét (chỉ sau Từ An). Cung vương đi rồi, Từ Hi ở trong triều liền kiêng dè gì nữa mà không tha hồ tung hoành.

Trong cơn triều chính sóng gió ấy, kẻ có tâm địa khó lường lại còn đổ thêm dầu vào lửa chính là quan chức người phương Tây có trọng lượng quyết định Hách Đức (Robert Hart). Hách Đức là một tên gián điệp công khai mà đế quốc Anh cài cắm vào hệ thống quan liêu Trung Quốc (Chinese bureaucracy). Hắn nắm giữ thuế hải quan của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc muốn mua tàu thuyền và đại bác từ nước ngoài, chi phiếu đều phải do Hách Đức ký tên. Hắn không phải là Cổ Đức Nạp của Viên Thế Khải; càng không phải là Đoan Nạp của Tưởng Giới Thạch. Hắn ở trong thể chế quan liêu Trung Quốc, có uy quyền nói một không hai. Lại thêm hắn lăn lộn trong quan trường Trung Quốc mấy chục năm, sớm đã trở thành một con lươn già chính trị. Nịnh hót thổi phồng, tung hoành ngang dọc, không gì là không biết. Với tư cách là kẻ đại diện cho chủ nghĩa đế quốc da trắng trong chính trị Trung Quốc, lại thêm am hiểu bộ sậu quan liêu Trung Quốc, vị đại nhân người Tây này quả thực là "hai tay chộp lấy viên ngọc dưới hàm giao long", là một kiêu hùng hiếm có cả trong lẫn ngoài nước.

Phần trước đã nói qua, lúc hải quân Trung Quốc mới thành lập, hắn đã tìm cách bài xích ảnh hưởng của các liệt cường khác (Mỹ, Đức, Pháp) ở Trung Quốc, mà muốn biến hải quân Trung Quốc thành kẻ phụ thuộc của hải quân Đại Anh. Âm mưu này của hắn, Từ Hi và những người "thân thích" cận huyết của bà ta như Thuần thân vương Dịch Huyên (em rể của Từ Hi, cha ruột của vua Quang Tự) làm sao mà biết được chứ? Thế nhưng Lý Hồng Chương và Cung thân vương Dịch Hân thì nhìn thấu suốt như lửa. Đáng tiếc là Cung vương từ lâu đã là "Lưu Thiếu Kỳ" của Từ Hi, sớm muộn gì cũng phải cuốn gói ra đi. Bản thân ông ta còn khó bảo vệ nổi, cho nên đành mặc kệ chuyện hải quân. Mà Lý Hồng Chương lại là "Chu Ân Lai" của Từ Hi, là một nhân vật không thể thiếu. Ông một là phải trung thành với Đại Thanh, hai là phải tự mình nắm quyền. Ông đối với âm mưu của Hách Đức tất phải cẩn thận đề phòng. Bạn bè ạ, nếu chúng ta giả thiết để Chu Ân Lai và Lý Hồng Chương hoán đổi vị trí cho nhau, thì đường cờ của hai người họ cũng sẽ không có gì khác biệt đâu.

2.2 Lý, Hách bất hòa, nổi bật Thuần thân vương

Để ngăn chặn Hách Đức giở trò quỷ, họ Lý bèn tung ra tuyệt chiêu "dĩ di chế di" của mình, bí mật phái tổng giáo tập nhà máy đóng tàu Mã Vĩ trước đây là người Pháp Nhật Ý Cách (Prosper Giquel) cùng giám đốc hải quan Thiên Tân trước đây là người Đức Đức Thôi Lâm (Gustav Detring) ngấm ngầm giám sát, yêu cầu họ phải mật báo cho mình. Nhận lệnh xong, hai người Nhật và Đức tỏ ra vô cùng trung thành với chức trách. Thế là những báo cáo nhỏ gửi đến từ Berlin và Paris đã lật tẩy từng góc khuất trong mưu kế của Hách Đức (Chu Ân Lai cũng biết chiêu này đấy thôi).

Không những thế. Hồi ấy, theo lệnh của Washington, Tư lệnh hải quân Mỹ Thư Phỉ Đặc (Commodore Robert W. Shufeldt) đến Trung Quốc thương lượng việc mở cửa Triều Tiên, lâu dần cũng trở thành tình báo viên của Lý Hồng Chương. Thư Phỉ Đặc vốn là đi thẳng tới Triều Tiên để bàn chuyện giao dịch, nhưng vua Triều Tiên mở miệng ra là xưng "bổn triều là nước chư hầu của Đại Thanh", việc ngoại giao không tiện tự mình quyết định vân vân. Thư Phỉ Đặc đành phải đến Thiên Tân tìm Lý Hồng Chương. Lý Hồng Chương đối phó với người phương Tây (cũng giống như Chu Ân Lai) có sức hút riêng của ông. Lại thêm người Mỹ lúc bấy giờ rất có cảm tình với Trung Quốc. Cho nên, Thư Phỉ Đặc cũng trở thành cố vấn giúp Lý Hồng Chương đề phòng Hách Đức.

Nhưng Hách Đức há phải là dạng đèn cạn dầu? Ngươi chơi trò dĩ di chế di, hắn cũng biết chơi trò dĩ Hán chế Hán, đặc biệt là lấy người Mãn chế người Hán. Hắn biết Thái hậu muốn người Mãn nắm hải quân; hắn cũng biết "Thất gia" Thuần thân vương Dịch Huyên - người đang tranh giành quyền lực với "Tiểu Lục tử" Cung vương, từ lâu đã thèm thuồng chiếc "ghế béo bở" nha môn Hải quân; hắn lại càng biết lời nói của chính hắn đối với Từ Hi - kẻ vô tri, lộng quyền và sợ người Tây - có uy lực nói một không hai. Nếu hắn phát động để Thuần thân vương ra nắm giữ hải quân, thì kẻ địch chính trị của hắn là Lý Hồng Chương cũng phải giơ cả hai tay tán thành. Thế là, hắn công khai đề nghị cử Thuần thân vương đảm nhận chức Tổng lý đại thần "nha môn Hải quân" — kiến nghị này vừa đưa ra, ngay cả Lý Hồng Chương dẫu có ngậm bồ hòn làm ngọt cũng phải tranh thủ tiến cử trước. Năm 1884 (năm Quang Tự thứ 11), Thuần thân vương Dịch Huyên chính thức được sắc mệnh làm Tổng lý đại thần của "nha môn Hải quân". Thuần vương ngoại đạo mà hách dịch đã làm đại thần hải quân, Lý Hồng Chương đành phải đứng sang một bên; còn Hách Đức nắm giữ hầu bao thì chen chân lên hàng đầu.

Thuần thân vương là thứ gì chứ? Ông ta là:

Con trai thứ bảy của Đạo Quang hoàng đế;

Em ruột của Hàm Phong hoàng đế và Cung thân vương;

Chú ruột của Đồng Trị hoàng đế;

Cha ruột của Quang Tự hoàng đế;

Ông nội của Tuyên Thống hoàng đế;

Và sau này là bố của Nhiếp chính vương Tải Phong.

Nhưng mắt xích quan trọng nhất trong tất cả các mối quan hệ huyết thống này, vẫn là cuộc hôn nhân của ông ta: vợ ông ta là em gái của Từ Hi Hoàng thái hậu. Chỉ vì mối quan hệ thông gia bất bình thường này, ông ta mới được làm bố vua và ông nội vua; còn điều tồi tệ nhất, chính là ông ta dựa vào mối quan hệ này mà hất cẳng Dịch Hân để ngồi lên chiếc ghế Tổng lý đại thần nha môn Hải quân, trở thành cấp trên trực tiếp của Lý Hồng Chương. Từ đó, cục diện chính trị Đại Thanh hoàn toàn thuộc về thiên hạ của đảng phái Thái hậu.

Thuần thân vương - vị đại quý tộc số một, kẻ ăn chơi trác táng hàng đầu trong Đại Thanh đế quốc này, thì hiểu cái quái gì về hải quân chứ? Cho nên, nha môn Hải quân rơi vào tay ông ta, liền không còn ra cái gọi là "Tham mưu bản bộ", "trung tâm thần kinh" hay "Lầu Năm Góc" nữa... Nhưng ngược lại mà nói, "miếng mồi béo bở" này đối với việc phục vụ cho nhu cầu của ông ta, thì quả thực là kể không sao xiết.

Dịch Huyên lúc bấy giờ là thân vương có đời sống xa hoa và trụy lạc nhất trong thành Bắc Kinh. Quả thực có thể gọi là tiêu bạc như nước. Nhưng trừ bỏ những phần thưởng có hạn do cha và anh ông ta ban tặng ra, ông ta lấy đâu ra nhiều bạc đến thế để duy trì thường xuyên lối sống xa hoa trụy lạc của mình? Đành phải dựa vào việc tham ô bằng đủ mọi cách thức khác nhau. Cho nên, cái gọi là phủ họ Thuần lúc bấy giờ là một tên tham quan ô lại lớn nhất mà trong ngoài nước ai cũng biết. Nhưng làm quan tham ô ô lại, rốt cuộc cũng phải có một địa bàn. Cho nên nha môn Hải quân một khi rơi vào tay một tên đại tham quan này, thì thật không dám tưởng tượng nổi.

Không những thế. Phủ họ Thuần đã nắm giữ một "miếng béo bở" lớn như vậy, những con quỷ đói trong đám thân quý người Mãn cũng nhao nhao kéo tới. Hơn thế nữa, phòng kế toán của hoàng tộc có khoản chi tiêu khổng lồ là Nội vụ phủ lúc bấy giờ cũng đang kêu đói. Vị Thái hậu nửa đời người ngày càng trở nên xa hoa kia, lại xót ruột không muốn dùng tiền riêng của mình. Thuần vương và đồng bọn vì để nịnh bọt Thái hậu, đã gom cả rất nhiều khoản chi tiêu lớn nhỏ của bà ta vào các hạng mục hải quân. Một người đắc đạo, gà chó cũng lên trời. Phủ họ Thuần đã vớ được miếng mồi béo bở nha môn Hải quân, đám thân quý không ai là không vui mừng — Thái hậu già cũng cảm thấy vô cùng thỏa mãn.

2.3 Khảo sát bất động sản hoàng thất nhà Thanh

Nếu bạn đọc không phiền phức, chúng ta chi bằng hãy cùng kiểm tra lại đời sống xa hoa mục nát này của đế hậu. Xem rốt cuộc họ sở hữu bao nhiêu bất động sản, cũng như cách thức quản lý những tài sản đó ra sao, rồi mới bàn đến những chuyện khác.

Tạm thời đặt "Hồ sơ cũ Cung điện Cố Cung" sang một bên, chúng ta hãy tạm mang thân phận du khách để đi xem những bất động sản hoàng gia mà họ để lại. Hãy bắt đầu từ Cố Cung.

Bên trong Tử Cấm Thành, họ sở hữu chín nghìn chín trăm chín mươi chín gian cung điện chạm trổ lầu son gác tía. Đây đều là những kiến trúc kết cấu bằng gỗ. Ba năm không tu sửa, thì không tránh khỏi sụp đổ. Khi tôi đi tham quan Cố Cung, gặp một bà già người phương Tây ngạc nhiên nói với tôi rằng: "They are running down!" (Những ngôi nhà này đang sụp đổ kìa!). Tôi an ủi bà ấy rằng: Một vạn gian chỉ thiếu có một gian thôi mà! Muốn tu sửa toàn bộ, Tổng thống Bush của các vị cũng không đủ tiền để trả đâu!

Ngoài các cung điện trong Cấm Thành, còn có "Tam Hải" với vô số lầu đài đình viện. Ngày nay trừ "Trung Hải" do Lý Liên Kiệt làm "cận vệ" ra, những nơi khác cũng đều đang running down cả rồi. Ở đây chúng ta hãy tra cứu lại hồ sơ: Sau khi nha môn Hải quân được thành lập, Lý Hồng Chương vì muốn mua tuần dương hạm tốc độ cao, đã ký công văn xin cấp kinh phí từ Hải quân đại thần Thuần thân vương Dịch Huyên. Thuần thân vương không những không cấp kinh phí, ngược lại còn phê chuẩn rằng "Tam Hải" sắp running down rồi, Thái hậu già không có chỗ hóng mát, lại còn xin Trung đường Lý trích từ khoản mua tàu của hải quân ra một chút kinh phí nhỏ, để tỏ lòng trung hiếu đối với Thánh mẫu Hoàng thái hậu. Lý Hồng Chương quả nhiên là đại thần trung thành, liền trích ra ba mươi vạn lạng, "giúp tu sửa Tam Hải".

Ngoài "Tam Hải" (Trung Hải, Nam Hải, Bắc Hải) ra, còn có Di Hòa Viên đẹp như cõi tiên trần thế. Câu chuyện về Di Hòa Viên thì kể mãi không hết. Xin để lại bàn sau.

Ngoài Di Hòa Viên ra. Ở khu vực ngoại ô phía đông và phía tây Bắc Kinh, mỗi nơi còn có một tòa hoàng lăng nằm sâu trăm dặm về phía Đông và phía Tây. Khoảng trước sau chiến tranh Giáp Ngọ, Từ Hi đang xây dựng lăng mộ của riêng bà là "Phổ Đà Tháp" ở "Đông Lăng" — đây chính là nơi mà sau này Tôn Điện Anh đã đến đào mộ. Tôn Điện Anh không những cho phá tung nó ra, mà còn lôi cả thi thể vẫn chưa phân hủy của Thái hậu già ra ngoài. Lại có những tên binh lính vừa mê tín vừa biến thái tính dục, muốn tiến hành "hiếp dâm tử thi" đối với di thể của bà ta. Thật là không thể tưởng tượng nổi.

Tôi và anh Hà Bính Đê từng có dịp cùng đến thăm Phổ Đà Tháp, nhìn thấy "hưởng đường" của nó loang lổ tiêu điều. Hỏi những người cao tuổi ở đó, mới biết xà nhà và mái vòm của hưởng đường này vốn được dát bằng hàng ngàn lạng vàng. Sau đó lớp vàng dát đã bị binh lính của quân phiệt "cạo" sạch, cho nên mới lộ ra vẻ tiêu điều tàn tạ của nó.

Lại đi chuyến tàu hỏa "Du số 12" (vé tàu chưa tới mười đô la) để đến Thừa Đức, thưởng ngoạn "Tị thử sơn trang" cùng "Ngoại bát miếu" của nó. Giang Nam chốn tái ngoại bên trong sơn trang thì khỏi phải bàn rồi. Chỉ riêng món đồ trang trí bằng vàng trên một mái nhà nào đó trong Ngoại bát miếu thôi, cũng đã tiêu tốn hết một vạn năm nghìn lạng vàng! — Không ngắm nhìn nơi ở của đế hậu, sao biết được sự xa hoa phung phí của đế hậu. Chỉ lật giở "hồ sơ cũ", chẳng khác nào gãi ngứa ngoài giày. Còn như lăng tẩm ở "Phụng Thiên", hành cung ở Giang Nam, thì không cần phải kể nhiều nữa.

Số lượng bất động sản khổng lồ kể trên (xin phép tôi được dùng một thuật ngữ kinh tế thị trường để hình dung về hoàng đế với sự mạo phạm lớn), đều thuộc về duy nhất một mình hoàng đế. Xin hãy chú ý hai chữ "một mình". Trời không hai mặt, dân không hai vua. Hoàng đế chỉ được phép có một người. Ai làm hoàng đế, thì tài sản đó thuộc về một mình người đó. Cha con, chú bác, anh em, chị em của hắn tuyệt đối không có phần — Gia Hoàng đế Ung Chính lên ngôi, những người anh em ruột thịt của hắn là A Kỳ Na, Tắc Tư Hắc... chỉ có thể làm nô tài, và làm nô tài của nô tài. Trong khối bất động sản khổng lồ này, bọn họ ngay cả nửa viên ngói cũng không được chia. Không được chia đủ tài sản hoàng gia, nhưng bọn họ lại vừa không có tiền vừa có quyền, thế là đều biến thành những con quỷ đói thân quý chuyên hút máu mút tủy làm càn làm quấy. Còn như vinh quang, quyền uy và mỹ nhân đi kèm với "hoàng đế", thì lại càng không cần phải bàn tới. Cho nên đồng bào gốc Hoa trong bốn bể ai mà không muốn "làm hoàng đế"? Vì muốn làm hoàng đế, các bậc anh hùng hảo hán không tiếc giết cha hại anh, không từ bất kỳ thủ đoạn nào để đạt được mục đích. Kẻ đã lên làm hoàng đế, điều sợ nhất chính là người khác cũng muốn làm hoàng đế. Ai mà còn muốn làm hoàng đế nữa, thì đó chính là kẻ đứng đầu thập ác, đại nghịch bất đạo, hễ bị bắt được là sẽ bị "lăng trì tùng xẻo", sẽ bị "xử lăng trì cho đến chết".

[Chú thích] Trì (zhé): ① Cổ đại xé xác súc vật để tế thần; ② Một hình phạt tàn khốc thời cổ đại, xé nhỏ các bộ phận cơ thể: hình ~; ③ Một nét bút trong chữ Hán, chính là nét "nát (nà)".

Chủ tịch Mao của chúng ta cũng là người có hứng thú nhất với việc làm hoàng đế. Ông chỉ vào mảnh bất động sản lớn màu vàng đó, nói với Nixon rằng: "Tôi chính là người kế vị của 'bọn họ' (hoàng đế)." Đó là ông cụ đang khoác lác với những tên người Nga vô tri đấy thôi! Xin hỏi trong mảnh bất động sản lớn này, có mảnh ngói vàng nào thuộc về họ Mao nhà ông chứ? Ông cụ cũng quả thực có vinh quang, có quyền uy. Nhưng nếu muốn gần gũi với mỹ nhân, thì cũng chỉ có thể lén lút trộm gà bắt chó, chứ cái cảnh hậu cung giai nhân thành bầy trong "cung xuân" thì đành chịu không được hưởng thụ rồi — khi đã ngồi lên ngai vàng vạn tuế gia mà trên đầu không có nổi nửa mảnh ngói, dưới chân không có nổi một tấc đất để cắm giũa; thích mỹ nhân mà chỉ có thể lén lút trộm gà bắt chó, thì còn ra cái thể thống hoàng đế gì nữa chứ?! Khoác lác cái gì mà làm "người kế vị của bọn họ" chứ căn bản là chả ra sao cả?!

Các bậc hiền đạt độc giả, đây chính là vấn đề "chuyển hình" mà tôi không ngại phiền phức để nói tới. Hoàng đế là một "khuôn hình" không hề thay đổi trong suốt hai ngàn năm lịch sử nước ta. Khuôn hình này sau chiến tranh Nha phiến, đã không thể duy trì nổi nữa, nó bắt đầu "chuyển hình". Nhưng trăm chân rết chết mà chưa cứng đơ. Sau cuộc cách mạng Tân Hợi, lại tiếp tục "chuyển" thêm nửa thế kỷ, mới chuyển ra được một vị "Chủ tịch" họ Mao. Chủ tịch tuy cũng là hoàng đế! Nhưng chỉ có thể coi là "nửa cái hoàng đế", như đã nói ở trên. Đợi đến khi Thượng hoàng Đặng ngự giá "tuần du phương Nam", ông Tiểu Bình chỉ có thể làm "một phần tư cái hoàng đế" mà thôi, mặc dù tờ New York Times vẫn không ngừng tôn kính gọi ông là "hoàng đế". Đến khi Hoàng đế Đặng băng hà, muốn tiếp tục làm một phần tám, một phần mười sáu... e rằng rất khó khăn rồi. Người kế nhiệm nếu có nhãn quan lịch sử, giống như Tường Kinh Quốc vậy, thuận nước đẩy thuyền, một "khuôn hình" mới có thể trường tồn trăm đời, vạn năm không đổi, có lẽ sẽ nhanh chóng xuất hiện. Dự đoán lạc quan này của tác giả tự khắc lấy chế độ chính trị làm giới hạn. Còn như kinh tế xã hội và văn hóa sẽ xuất hiện một khuôn hình khác như thế nào? Cơ duyên ra sao? Tất nhiên là phải bàn đến ở một dịp khác. Khi có cơ hội sẽ nghiên cứu kỹ hơn sau.

2.4 Cuộc sống cung đình tốn kém bốn vạn lạng bạc mỗi ngày

Bây giờ xin quay trở lại chủ đề chính, đưa thời gian lùi lại một trăm năm trước, để xem xét tình hình thực tế cuộc sống cung đình nhà Thanh vào khoảng thời gian trước và sau "Chiến tranh Giáp Ngọ".

Tục ngữ có câu: "Một đôi đũa ngà voi xứng với nhà nghèo." Bởi vì một khi bạn đã có một món đồ xa xỉ, bạn buộc phải dùng một món đồ xa xỉ khác để "phối" cho xứng! Cứ liên hoàn "phối" như thế mãi, thì sẽ chẳng bao giờ có điểm dừng. Hoàng thất cũng chính là như vậy. Các ngươi đã có chín nghìn gian cung điện hoa lệ, các ngươi lại còn phải có những thứ tương xứng như vàng ngọc châu báu, lụa là gấm vóc, sơn hào hải vị, cung nữ cùng hàng vạn thái giám lớn nhỏ để "phối" cho vừa vặn nữa chứ! Và điều này thì cũng chẳng bao giờ có điểm dừng.

Khang Hi hoàng đế từng nói rằng, chi phí trong cung đình của ông một năm, còn không bằng chi phí một ngày trong hoàng cung nhà Minh. Những lời ông cụ nói chỉ là của riêng ông ta mà thôi! Nếu ông ta từ trong quan tài trèo dậy, nhìn thấy sự bày trận của người vợ cháu năm đời của mình là bà họ Hách Lạp Na Lạp, thì ông ta sẽ không dám khoe khoang nữa. Theo hồi ức của Tiểu Đức Trương - kẻ kế nhiệm của Lý Liên Anh và là tổng quản thái giám đời cuối cùng của vương triều Mãn Thanh: Chi phí sinh hoạt một ngày của Từ Hi Hoàng thái hậu hồi đó, đại khái là bốn vạn lạng bạc trắng!

Con số này có nghĩa là gì chứ?! Thử quy đổi nó thành hiện vật thì sẽ rõ ngay thôi. Đó chính là chi phí trong nửa tháng của cung đình, là có thể mua được một chiếc tuần dương hạm cấp Cát Dã. Chi phí trong hai tháng, là có thể mua được một chiếc chủ lực hạm siêu cấp. Chi phí trong một năm, ít nhất có thể trang bị một hạm đội hải quân đứng hàng thứ sáu thứ bảy trên toàn cầu.

Nói ngược lại một cách khác. Để duy trì cuộc sống xa hoa phung phí của mụ già này, trong vòng một năm, cứ nửa tháng là chúng ta phải bán đi một chiếc tuần dương hạm; một năm phải bán đi một hạm đội hải quân, thì mới có thể miễn cưỡng xoay sở qua loa được!

Có người hỏi: Mụ già này sao mà có thể tiêu hết nhiều tiền đến thế cơ chứ? Thưa rằng: Bà cụ có phong cách lớn mà! Không tin thì cứ tính từ chín nghìn gian cung điện lớn đó mà xem. Bốn vạn lạng một ngày thì cũng đâu có tính là nhiều lắm đâu! Hơn nữa, những quan chức lo việc mua sắm còn tham ô ăn chặn nữa chứ! — Phổ Nghi chẳng từng nói rằng, khi mới năm tuổi, một tháng cậu ta phải ăn hết tám trăm mười cân thịt lợn, và hai trăm bốn mươi con gà vịt hay sao (xem cuốn "Nửa đời trước của tôi" do Phổ Nghi chấp bút). Gà vịt của cậu ta đắt đỏ hơn chúng ta ăn rất nhiều đấy nhé!

Theo điều tra của Khang Hữu Vi, mọi khoản chi phí trong cung nhà Thanh đều theo tỷ lệ ba bảy. Tức là trong mười phần báo cáo thì ba phần là chi phí thực tế; bảy phần là tiền chia chác của những người qua tay ở các tầng lớp, đây là lệ quy. Còn như ba phần kia có phải là chi phí thực tế hay không, thì vẫn còn phải xem xét. Ví dụ như Tây Thái hậu thưởng cho các vị vương công đại thần xem kịch ở Di Hòa Viên. Sợ trời quang mây tạnh bất chợt có mưa gió ngoài trời, nên muốn dựng một cái "mái che mưa". Cái mái che mưa này dựng lên tốn mất ba mươi vạn lạng. Theo tỷ lệ ba bảy, thì chi phí thực tế cho cái mái che mưa đó là chín vạn lạng. Một cái mái che mưa mà tốn chín vạn lạng bạc ư? Chợ trời mới biết được chuyện đó.

Tóm lại, tham ô trong cung đình lúc bấy giờ là vô pháp vô thiên; cũng không phải là thứ mà logic thông thường có thể suy đoán được. Ví dụ như Tả Tông Đường lập được đại công ở Tân Cương, trở về kinh đô và được hai cung triệu kiến. Các thái giám đòi Tả Tông Đường phải chi khoản tiền lót tay yết kiến là ba ngàn lạng. Tả Tông Đường - người được ví là "Bành Đức Hoài" này nhất quyết không chịu chi. Thế nhưng Lý Hồng Chương - vị "Thủ tướng Chu" này vì muốn đại cục được toàn vẹn, đã chi trả thay cho ông ta. Sau đó, Tả Tông Đường tấu đối vừa ý vua, Từ An thái hậu vô cùng cảm động, liền ban thưởng cho một cặp kính thủy tinh đen của tiên đế (Hàm Phong), để khen thưởng người có công. Nào ngờ khi các thái giám bưng chỉ dụ tới ban thưởng, theo lệ thường lại đòi vài ngàn lạng tiền quà cáp. Thế nhưng vị "đại tướng quân Bành" tính tình nóng như lửa này, trong cơn tức giận liền vứt luôn "kính của tiên đế", không thèm lấy nữa. Lại là "Thủ tướng Chu" chuyên làm trò dĩ hòa vi quý của chúng ta, vì để đại cục được toàn vẹn, đã trả nửa giá mua lại cặp kính cho xong chuyện (xem "Lý Hồng Chương niên (nhật) phổ").

Bạn bè ạ, con người rốt cuộc vẫn là con người. Vũ khí của nhân loại đã tiến hóa từ rìu đá, cung tên cho đến súng lục hộp. Nhưng "hành vi xã hội" (Social behavior) của con người thì không thay đổi là bao. Khi tôi đọc "Sử ký", "Hán thư", tôi đồng thời cũng đọc lịch sử Trung Quốc cận đại, hiện đại và đương đại. Dấu câu có đánh thế nào đi chăng nữa, thì sự tương đồng giữa văn cổ và văn kim nhiều không kể xiết. Chẳng lẽ tên tiểu tử này lại có tính hay lấy chuyện xưa so sánh với chuyện nay hay sao?

Chu Ân Lai làm "Tể tướng" trọn đời hơn hai mươi năm. Lý Hồng Chương cũng làm "Tổng lý Quốc vụ" trọn đời hơn hai mươi năm. Cả hai đều bị các nhà sử học, chính luận gia mỉa mai là những con lật đật vô đạo đức. Nhưng nếu không có Thủ tướng Chu, làm sao có sự trung hưng của ông Tiểu Bình ngày nay và việc Đường Thụ Lưu Bị sang thăm Đài Loan?! Không có Tể tướng họ Lý, thì trong thời gian liên quân tám nước, đế quốc Đại Thanh đã chẳng có cái kết cục tốt đẹp đó đâu! Tôi từng xúc động nói lên điều này, và từng được người bạn cũ - giáo sư Từ Nãi Lực đồng cảm khen ngợi (xem tập luận văn đã dẫn ở trên, trang 29, 33). Chu Ân Lai nói rằng, ông làm thủ tướng hơn hai mươi năm, không lúc nào, không giây phút nào là không như đi trên băng mỏng vực sâu. Bismarck từng ngầm ẩn ý rằng Lý Hồng Chương chỉ biết đánh nội chiến. Lý Hồng Chương thở dài thườn thượt với vị thiết huyết lão gia rằng: "Cùng làm việc với đàn bà con trẻ, cũng là chuyện bất đắc dĩ thôi." (xem nguồn đã dẫn trên. Chỉ là câu chữ có hơi khác một chút, nhưng tôi cũng nghe được từ lời kể miệng đáng tin cậy hơn của các bậc kỳ cựu quân Hoài). Các nhà sử học khi khen chê "đại thần thời xưa", há có thể không cẩn trọng sao?!

2.5 Thái hậu già không bằng bà A Ba Tang nhỏ

Những điều kể trên tuy chỉ là một ổ câu chuyện nhỏ, nhưng thấy một lá mà biết cả mùa thu, từ việc nhỏ nhìn ra việc lớn, chúng ta cũng có thể biết được vương triều do Thái hậu chủ trì này là cái thứ gì! Nó dù có ở trong Trung Quốc truyền thống thời đại đế quốc đi chăng nữa, thì cũng là một "hiện tượng vong quốc". Cái vương triều mục nát thời trung cổ này mà cũng xứng đáng tranh hùng với các liệt cường trên thế giới "hiện đại" hay sao?!

Đến đây, chúng ta chi bằng hãy nhìn lại kẻ địch của chúng ta rốt cuộc là thế hệ nào. Như đã nói ở phần trước, Thiên hoàng Minh Trị khi lên ngôi vốn không có lấy một binh một tốt. Nhật Bản khi đó là một quốc gia nông nghiệp nhỏ bé, lạc hậu vô cùng, chẳng có mấy lạng bạc để mà trù tính. Thế nhưng sau cuộc Duy tân, hướng ánh nhìn ra đại lục, toàn quốc tâm tư trù tính lo toan, cả triều đình nằm gai nếm mật, hạ chí hướng phải cướp lấy giang sơn gấm vóc của Đại Thanh chúng ta. Bạc để mua tàu "Cát Dã" không đủ, Hoàng hậu Minh Trị đã quyên góp tất cả số trang sức ít ỏi mà bà có!! Bà A Ba Tang nhỏ bé này, làm sao có thể so sánh với Thái hậu già được, bà ta có mấy món trang sức đâu cơ chứ!

Sau đó, chúng ta hễ bồi thường là mất ngay hai trăm triệu lạng. Mụ đàn bà nước Nhật nhỏ bé này, vốn một vốn bốn mươi lời, chẳng lẽ là chuyện ngẫu nhiên hay sao? Chẳng lẽ là chuyện ngẫu nhiên hay sao? Còn như những vị tướng lĩnh hải quân đã đánh bại quân đội ta của bệ hạ Thiên hoàng, như Y Đông Hữu Hanh và Đông Hương Bình Bát Lang (Togo Heikachiro, 1848–1934) đều xuất thân từ tầng lớp "phiên sĩ" (vốn là "võ sĩ") tự coi mình là siêu việt!! Những tử sĩ mà Tôn tổng thống già của chúng ta khâm phục nhất là "không thành công, ức thành nhân". Đông Hương cũng là một người thuộc đảo Greenwich nhỏ. Ở trường hải quân Anh và trong hải quân suốt bảy năm ròng rã, là bạn học cùng khóa với Nghiêm Phục, Lưu Bộ Đạm. Đoạn sau nếu có chỗ trống, tôi sẽ bổ sung thuật lại.

Tóm lại, địch ta so sánh với nhau, tương lai của cuộc chiến tranh Thanh - Nhật sẽ ra sao, lúc bấy giờ nếu có máy tính, chỉ cần ấn một nút điện, thì cần gì phải bói mai rùa chứ?! Tôn Tử nói: Người giỏi đánh trận là phải "khuất phục được binh lính của người mà không cần đánh". Nào ngờ kẻ giỏi thua trận, còn chưa giáp chiến đã sớm đại bại tan tành từ lâu rồi. Cần gì phải đợi tiếng súng nổ cơ chứ?!

Lại có tiến thêm một bước nữa, thanh triều thối nát, Từ Hi Thái hậu chẳng qua chỉ là đỉnh của tảng băng trôi mà thôi. Dưới Thái hậu, còn có thân quý cận chi, tông thất viễn chi, cho tới toàn bộ giai cấp thống trị ăn lương không đánh giặc được cấu thành từ người Mãn, và cả hệ thống quan liêu vô năng, hôn ám hách dịch vô cùng to lớn có phần của cả người Hán nữa!

Trước hết hãy nhìn vào cái gọi là người Kỳ nhân. Năm 1644, khi Ngô Tam Quế dẫn quân Thanh vào ải, Bát kỳ quân Mãn cùng Bát kỳ quân Hán và Bát kỳ quân Mông, toàn dân đều là lính, nam nữ già trẻ (ngày nay gọi là người nhà quân nhân) có chừng hơn ba mươi vạn người. Lại dùng một danh từ của ĐCSTQ, nhu yếu phẩm quân nhu của họ thực hiện một thứ gọi là "chế độ cung cấp" — Bát kỳ được giải phóng của ĐCSTQ trước khi tiến vào thành cũng làm như vậy.

Hồi đó vì tất cả "Kỳ nhân" đều là lính, cho nên tất cả Kỳ nhân đều "ăn lương". Về sau lại qua tay những kẻ Hán gian có tâm địa không lành mạnh hiến kế giúp sức, người Mãn dù không làm lính thì vẫn được ăn lương y như cũ. Cho nên may mắn sinh ra là người Kỳ nhân, từ lúc cất tiếng khóc chào đời là bắt đầu được lĩnh tiền hưu trí, tiền dưỡng lão. Lĩnh hết năm này qua năm khác suốt hơn hai trăm năm, cuối cùng đã biến phần lớn một dân tộc biên giới chăm chỉ thượng võ thành những kẻ "lãn mãn" (không phải kẻ lười biếng) chuyên ăn chơi trác táng, lêu lổng ở các đô thị lớn. Nhưng tiền sinh hoạt của những kẻ lười Mãn này lấy từ đâu ra chứ? Liền phải dựa vào "Nội vụ phủ" vốn là bộ tổng tư lệnh hậu cần của đại quân Bát kỳ rồi.

Cho nên cái hầu bao do Nội vụ phủ thời Mãn Thanh quản lý, thường là dày dặn hơn nhiều so với cái quản lý bởi "Hộ bộ" (Bộ Tài chính quốc gia). Đối với bên trên, nó là phòng kế toán, phủ riêng của Hoàng đế và hậu phi. Quản lý chuyện ăn mặc ở đi lại và vui chơi giải trí của hoàng thất. Đối với những kẻ vô nghiệp du dân người Mãn (và Kỳ nhân) ở bên dưới mà nói, thì đó chính là cha mẹ nuôi dưỡng họ. Hãy nhìn xem nhà văn vĩ đại nhất của Trung Quốc cận đại chúng ta, tác giả cuốn "Hồng lâu mộng" - Tào Tuyết Cần, những năm cuối đời cũng là một Kỳ nhân vô nghiệp sống nhờ vào Nội vụ phủ (mối quan hệ giữa Tào Chiêm và Nội vụ phủ, các nhà nghiên cứu Hồng học vẫn còn nhiều điều có thể khai thác đấy nhé).

Nhưng Hộ bộ vốn dĩ có "thu nhập quốc khố" đến từ các khoản thuế thu khác nhau: Thế tiền của Nội vụ phủ lại từ đâu mà ra chứ? Đây vốn là vấn đề chưa được giải đáp hoàn toàn trong lịch sử nhà Thanh. Nhưng tóm lại mà nói, trước khi quân Thanh tiến vào ải vào năm 1644, nó vốn là cơ quan quân nhu của Bát kỳ mà! Sau khi vào ải, quy mô lớn dần lên, nhà Thanh noi theo chế độ nhà Minh, về mặt tài chính, Nội vụ phủ hầu như chia đôi thiên hạ với Hộ bộ. Đinh ngân (thuế đầu người), địa ngân (thuế ruộng đất) đều quy về Hộ bộ, nhưng Nội vụ phủ đôi khi cũng có một phần! Các khoản thuế đặc thù như Việt hải quan, Hổ thụ quan, một số thuế trà muối lụa sứ có các khoản được phân bổ trực tiếp cho Nội vụ phủ. Ngoài ra, sau khi người Mãn vào ải đã trực tiếp kế thừa đất đai Hoàng trang của nhà Minh, còn vô hạn khoanh đất (khoanh đất vô chủ và có chủ) làm tài sản riêng của Hoàng đế. Cho nên Hoàng đế Đại Thanh cũng là địa chủ số một bên trong Đại Thanh đế quốc. Nhưng dẫu cho là địa chủ lớn đến đâu thì tiền tô thuế đất đai cũng không nuôi nổi một vị hoàng đế, cho nên một nguồn thu lớn nhất khác của Hoàng đế, chính là "làm quan phát tài".

2.6 Công khai bán quan bán tước

Làm quan dưới triều nhà Thanh (cho dù là quan thanh liêm), cũng có những "lậu quy" (luật bất thành văn) có thể giúp bạn phát tài. Quan tham thì khỏi phải bàn nữa rồi. Bọn chúng nhìn vào các "khuyết" (chỗ trống chức vụ), khuyết càng "béo bở" thì tiền càng nhiều.

Làm hoàng đế cũng có lậu quy. Cho dù là vị hoàng đế tốt đến mấy, như Đường Thái tông, như Khang Hi, lậu quy (như cống phẩm của quan địa phương) cũng có thể khiến bạn giàu nứt đố đổ vách. Hoàng đế "tham" thì lại càng không phải bàn nữa rồi. Hắn có thể công khai bán quan bán tước. Quan bàn theo "khuyết", khuyết càng "béo bở" thì giá càng cao. Tục ngữ có câu: "Một nhiệm kỳ tri phủ thanh liêm, mười vạn lạng bạc tuyết." Thế nhưng một nhiệm kỳ "tri phủ tham nhũng", thì có lẽ có thể kiếm được vài chục vạn thậm chí hàng triệu lạng. Hoàng đế hoặc Thái hậu muốn đem cái "quan" của "khuyết béo bở" mấy triệu lạng này bán cho kẻ có chí làm "tri phủ tham nhũng", thì giá cả chắc phải vài vạn lạng nhỉ!

Việc bán quan bán tước vào cuối thời nhà Thanh không phân lớn nhỏ; nó cũng dựa theo nguyên tắc kinh tế thị trường, giao dịch công khai, cạnh tranh tự do. Vừa rồi nhắc đến Nghiêm Phục, học viện thủy sư không làm nổi nữa, nổi giận liền đi "quyên" một suất Giám sinh (tú tài), tham gia kỳ thi hương, thi đỗ cử nhân. Cái gọi là "quyên" tức là "quyên tiền cứu nước" vậy; là "quyên góp kinh phí quân đội" vậy. Nghiêm Phục đại khái "quyên" khoảng mấy ngàn lạng bạc hoặc vài trăm gánh chè (gọi là "trà quyên") nhỉ! Chính phủ trung ương nước đại gia chúng ta, làm cái giao dịch này, là bắt đầu từ thời nhà Hán, để đánh đám Hung Nô khốn khiếp đó đấy! Thời niên thiếu tôi cũng từng hào phóng "quyên tiền cứu nước, dâng máy bay chúc thọ", "quyên" năm đồng Đại Đầu Viên, để mua máy bay đi đánh đám giặc Oa khốn kiếp đó. Mặc dù tôi không phải vì một tấm bằng tiểu học (Giám sinh) mà quyên, nhưng việc quyên thì vẫn là một dạng như thế. Quyên có thể quyên cho quốc gia; quyên cũng có thể quyên vào túi riêng.

Trên đây là ván bài lật ngửa. Ngoài ra còn có ván bài úp.

“Lưu Lục Ma Tử (Minh Truyền) đánh Đài Loan”, lập được đại công. Sau khi chết, triều đình ban cho thụy hiệu. Bộ phận chủ trì của Bộ Lễ liền ngầm hỏi gia thuộc của người chết, nếu chịu chi thêm vạn lượng bạc, thì có thể để vị công thần đã khuất “đội” thêm một chiếc “mũ cỏ”. Nhà họ Lưu cho rằng chiếc mũ này quá đắt nên không chịu chi, thế là Lưu Minh Truyền liền trở thành “Lưu Tráng Túc công”; chịu chi tiền, ông ta sẽ trở thành “Lưu Trang Túc công”. Sự khác biệt giữa “Tráng Túc” và “Trang Túc” nằm ở đâu, độc giả trẻ tuổi nếu không biết sự huyền diệu của nó, hãy đi hỏi giáo viên ngữ văn (Đài Loan) hoặc giáo viên cổ văn (Trung Quốc đại lục), thì sẽ hiểu ngay thôi.

Vào thời đại đế vương chuyên chế đó, cái gọi là “thụy pháp”, chính là một loại “huân chương” được truy tặng cho công thần đã khuất. Ngay cả huân chương của người chết, cũng phải bán lấy tiền theo cấp bậc, thì điều mà Mạnh Tử gọi là “trên dưới tranh nhau giành lợi mà quốc gia sẽ lâm vào cảnh nguy nan”, cũng đã phát triển đến mức đỉnh điểm rồi.

2.7 Thân quý "đảng chấp chính" là hạt nhân của sự mục nát

Tóm lại, vương triều Đại Thanh phát triển đến bước này thì thực sự là "khí số đã tận". Bộ máy nhà nước của nó đã hoàn toàn rỉ sét thành một đống phế thiết, mà kẻ vẫn còn đang thao túng nắm giữ trong đống phế thiết đó, chính là hoàng thất Ái Tân Đại Giác La và đám thân quý người Mãn.

Phải biết rằng, khi người Mãn vào ải, để vỗ về ràng buộc người Hán, từng có quy định bất thành văn rằng, chức quan cao lộc hậu trong toàn quốc, người Mãn và người Hán mỗi bên chia nửa. Nhưng tỷ lệ dân số giữa người Hán và người Mãn, ít nhất là hai nghìn vạn với ba mươi vạn đấy nhé! Với một nước Trung Quốc rộng lớn như vậy, số lượng chức quan cao lộc hậu nhiều biết bao nhiêu, người Mãn chỉ có ba mươi vạn dân số thế mà lại chiếm một nửa, vậy thì trong số người Mãn những kẻ có tri thức có năng lực, không một ai là không làm quan. Cho nên nếu chúng ta coi tập đoàn người Mãn được hưởng đặc quyền này, cả một "tộc", như một đảng chấp chính chuyên chính một đảng, thì mỗi một "người Mãn", và những kẻ "nô bọc hèn hạ" người Hán phụ thuộc vào họ cùng cái gọi là "người thuộc kỳ" người Mãn nào đó, bất kể hiền ngu, đều là "đảng viên" được hưởng đặc quyền. Chỉ có điều tư cách "đảng viên", "vào đảng làm quan" của họ là do trời phú mà thôi. Chẳng cần phải làm ra "thể hiện", lại càng không cần phải đi cửa sau nữa vậy.

[Chú thích] Ki (jī) mi (mí): Cương, dây cương ngựa; mi, thừng xỏ mũi trâu. Ví với việc liên kết, duy trì.

Thế nhưng sự việc đã đến nước này, đảng chấp chính là đế quốc Đại Thanh này, chuyên chính hơn hai trăm năm, bây giờ đã thối nát đến tận gốc rễ rồi!! Vào thời khắc cấp bách khi quốc gia cực kỳ cần hiện đại hóa, đặc biệt là "hiện đại hóa quốc phòng", bọn họ lại biến thành thế lực phản động lớn nhất. Căn cứ địa quan trọng nhất của thế lực phản động này, chính là "miếng béo bở lớn nhất" này, cái "nha môn Hải quân" bị Thuần thân vương chiếm cứ.

Nhưng nói đi cũng phải nói lại, làm cuộc Trợng Trị trung hưng, làm phong trào tự cường, những danh thần cuối đời Thanh xuất thân từ khoa giáp chính thống từ Lâm Văn Trung công trở xuống như Tăng, Tả, Lý, Hồ (Lâm Dực), Thẩm, Trương (Chi Động), Văn (Tường), Trần (Bảo Sâm), Lưu (Khôn Hôn) v.v., đều không hổ là những bậc đại tài kiệt xuất. Thành thật mà nói, những cán bộ cao cấp trong hai đảng Quốc - Cộng mà chúng ta sau này tận mắt nhìn thấy, có mấy ai có thể so sánh với đám nhân vật hệ chữ "Văn" trong số đông đảo các vị hàn lâm tiến sĩ này. — Hệ chữ Văn ở đây là chỉ những vị cán bộ cao cấp có chữ "Văn" được khảm vào thụy hiệu của họ, như Lâm "Văn" Trung, Tăng "Văn" Chính, Tả "Văn" Tương, Trương "Văn" Tương, Lý "Văn" Trung v.v.

Phải biết rằng, nhóm nhân vật hệ chữ Văn này, đều là những tinh hoa được đào tạo ra trong "khuôn hình" hệ thống văn quan ưu việt, nằm trong phạm vi văn minh Hoa Hạ của chúng ta. Sự bất hạnh và thất bại của họ đã được Thượng đế an bài; là kết quả của sự biến đổi thời đại — "Khuôn hình" của họ là một hình thái đang chờ "báo phế". Lại thêm "vua là giềng mối của bối tôi", giềng mối vương triều tan rã, họ dù có bản lĩnh tày trời, và đạo đức công tư tối cao đi chăng nữa: nhưng thế mạnh hơn người, mọi nỗ lực cũng chỉ là công cốc.

Còn như các cán bộ cao cấp của hai đảng Quốc - Cộng chúng ta thì sao (bao gồm cả bản thân ông Mao ông Tưởng nữa)?! Bọn họ phần lớn đều là những quan liêu mang tính quá độ ở một, hai giai đoạn nào đó trong "tam hiệp lịch sử", họ không thuộc về bất kỳ một "khuôn hình" nào cả; cũng chẳng có "khuôn hình" nào để mà thuộc về. Trong số họ có những kẻ vẫn mở miệng ra là Khổng Mạnh. Nhưng Khổng Mạnh của họ cũng thiếu đi một "khuôn hình". Vừa không thuộc về hình thái loại hệ chữ Văn kể trên; cũng không thuộc về loại "hậu phương Tây" (Post-Western) theo kiểu Đỗ Duy Minh, mà thuộc về "hình thái quá độ" (transitional pattern) chưa được định hình. Trong số họ cũng có những kẻ mở miệng ra là dân chủ, có thể bao gồm toàn bộ những người vận động dân chủ hải ngoại hiện nay. Kỳ thực họ chỉ khao khát dân chủ mà thôi. Khao khát dân chủ theo truyền thống Anh Mỹ (Anglo-American tradition). Hình thái dân chủ thuộc về chính họ vẫn chưa xuất hiện đâu! Ngoài ra, vẫn còn những vị quan chức cao cấp đang hô hào chủ nghĩa xã hội. Sư tổ của họ là Lênin, Mao Trạch Đông kiên trì suốt mấy chục năm, cuối cùng chẳng phải cũng bị con cháu đời sau "mở cửa" đó sao. Bây giờ làm sao đến lượt họ phản bội lần nữa, để làm những kẻ cô thần nghiệt tử cơ chứ? Những điều này đương nhiên chỉ là dăm ba lời bàn ngoài lề có chút liên quan, tương lai lịch sử tự có định luận khách quan, không cần phải lải nhải thêm.

2.8 Mở "Học đường hải quân" trong "Côn Minh hồ"

Bây giờ hãy cứ bàn về Thái hậu già và "Di Hòa Viên" của bà.

Người ta nói rằng, vào đầu triều Đồng Trị, khi hai cung thùy liêm (buông rèm nhiếp chính), hai góa phụ trẻ tuổi chừng đôi mươi, có lẽ vì trong cung cấm thâm sâu quá mức ngột ngạt, từng đến phế tích Viên Minh Viên sau cơn hoạ kiếp để viếng thăm tưởng niệm. Tây hậu nhìn vật nhớ tình, từng rơi lệ trước cảnh đó, và có ý định muốn sửa sang khôi phục lại. Việc này đã bị Cung vương ngăn cản. Đang lúc nội chiến bùng nổ ác liệt, ngoại hoạn chưa dứt, lấy đâu ra tiền nhàn rỗi để đi xây dựng lại hoa viên chứ!

Đến khi vua Đồng Trị băng hà (1874), Từ An cũng qua đời (1881), Cung vương bị phế truất (1884), Tây hậu năm mươi tuổi nắm trọn đại quyền, dưới những lời nịnh hót xu nịnh của các vương công đại thần đứng đầu là tân Hải quân đại thần Thuần thân vương Dịch Huyên, bà ta liền một mình quyết định trọng tu danh viên làm nơi du ngoạn vùng ngoại ô.

Ý định ban đầu của Tây hậu là xây dựng lại Viên Minh Viên. Nhưng Viên Minh Viên đã bị lính phương Tây thiêu rụi thành một bãi hoang tàn. Xây dựng lại từ đầu, cần tới ba ức lạng bạc, mới có thể khôi phục lại diện mạo ban đầu. Đã phải xây dựng lại từ đầu tất cả, thì hà cớ gì phải câu nệ cố chấp vào địa điểm cũ của Viên Minh Viên chứ? Tây hậu qua sự bàn bạc của các đại thần, chuyển hướng chú ý sang "Thanh Y Viên" mặc dù đã bị lính phương Tây thiêu rụi, nhưng vẫn còn lại một số phế tích sót lại. Dẫu sao cũng đều là làm lại từ đầu, điều kiện của Thanh Y Viên còn tốt hơn so với Viên Minh Viên. Tây hậu liền quyết định đổi tên Thanh Y Viên thành Di Hòa Viên, tiến hành gia công mở rộng cải tạo. Ngân sách giai đoạn đầu của việc cải tạo là một ức lạng bạc trắng!

Ngân sách này khiến người ta cảm thán ở chỗ, nó có thể dùng để xây dựng thêm mười hạm đội Bắc Dương mà vẫn còn dư. Nhưng "Bắc Dương" đối với một mụ góa phụ vô tri và chua ngoa, suy cho cùng là quá xa vời. Xây một cái viên lâm để giải tỏa nỗi buồn thủ giá trong cung cấm, mới là việc gấp rút cần làm trước mắt!

Công trình Di Hòa Viên chính thức bắt đầu vào năm 1884. Lúc này vua Quang Tự Tải Tấn đã mười ba tuổi. Dự tính của Tây hậu rõ ràng là, năm năm sau công trình viên lâm có thể hoàn thành, mà Quang Tự mười tám tuổi thân chính, bà ta có thể lần thứ hai (lần thứ nhất vào năm 1873 khi vua Đồng Trị thân chính) kết thúc việc thùy liêm. Giao triều chính hằng ngày cho con trai quản lý, bản thân bà ta có thể sống lâu dài trong viên lâm, ngoài việc điều khiển từ xa các đại sự quân quốc ra, bình thường thì có thể dưỡng bệnh an nhảnh thảnh thơi. Nói cách khác, mục đích xây dựng viên lâm này là tính toán cho cuộc sống sau khi "về hưu" (lại dùng một danh từ trên đại lục) của bà ta. Bản thân Từ Hi vốn có tính tình xa hoa. Bà ta vốn dĩ là một di thếp được sủng ái trong Viên Minh Viên hào nhoáng kia. Bây giờ làm Thái hậu, mang thân phận nữ chủ nhân Đại Thanh, hô ứng từ xa với Nữ hoàng Victoria của Đại đế quốc Anh. Cuộc sống tự nhiên không thể kém hơn so với thời kỳ làm Ý Quý phi năm xưa, cho nên bà ta muốn dốc toàn lực lượng của cả quốc gia, để xây dựng cho mình viên lâm Di Hòa Viên!

Từ Hi vốn là một Vương Phượng Thư tinh ranh tháo vát. Vào những năm 60 của thế kỷ 19 lúc mới bắt đầu thùy liêm, bà ta đã bán quan bán tước, tích lũy tiền riêng. Tục ngữ có câu: "Kẻ cô độc thì không thể giàu, quả phụ thì không thể nghèo." Góa phụ này đương nhiên chỉ những "góa phụ giàu có" mà thôi. Hách Lạp Na Lạp thị lúc bấy giờ là góa phụ giàu có nhất toàn Trung Quốc. Trải qua hơn hai mươi năm (1861–1884) công khai hoặc ngầm kiếm tiền liều mạng, nghe nói vào những năm đầu thời Quang Tự, bà ta đã tích lũy được hai ức lạng tiền riêng!! Đây là ước tính của những người phương Tây cao cấp ở Trung Quốc lúc bấy giờ. Phải biết rằng tin tức của người phương Tây (như Hách Đức, như Lý Đề Mô Thái, như Đinh Vĩ Lương v.v. những "ông thông Trung Quốc" này) thường là thông thạo hơn so với người Trung Quốc ngoài cuộc. Bởi vì vòng giao thiệp của người phương Tây có thể đi thẳng đến tầng lớp của Cung vương, Văn Tường, Ông Đồng Hòa. Một đám văn nhân sĩ tử Trung Quốc, còn chưa với tới tầng lớp cao như thế. Lại thêm văn bạch thoại vẫn chưa ra đời, trong xã hội Trung Quốc vẫn chưa có cái gọi là truyền thông đại chúng, mà người phương Tây ở Trung Quốc thì đã có từ lâu. (Tham khảo Archie Bell "I'll take those 50 million dollars" in Ladies Home Journal Feb. 1919. P15, 28 and Carroll Brown Malone History of the Peking Summer Palace under the Ch'ing Dynasty. University of Illinois Press, 1934. The last chapter.)

Bạn đọc có lẽ sẽ hỏi: Tây hậu thùy liêm hai mươi mấy năm, làm sao có thể tham ô được nhiều tiền đến thế? Nhưng chúng ta chỉ cần nhìn vào người quả phụ Philippines Imelda có ba nghìn đôi giày cao gót, đại khái sẽ không cảm thấy kinh ngạc nữa. Tiền riêng của mụ Imelda có lẽ gấp mười lần Từ Hi đấy! Mà Philippines sao có thể so sánh với Đại đế quốc Đại Thanh được chứ cơ chứ?! Huống chi mụ Imelda còn không hề nắm quyền chính.

Theo lý thì Tây hậu vốn có thể tự xây dựng viên lâm của mình, nhưng góa phụ càng giàu có, lại càng không chịu tiêu tiền của chính mình. Huống chi Thuần thân vương vừa vớ được chiếc ghế béo bở, đang dốc sức tìm cách báo đáp công ơn! Đối với phủ Thuần mà nói, nhân cơ hội báo đáp này, cũng vừa hay có thể tự kiếm chác một mẻ lớn chứ sao! Cứ như vậy, Thuần vương bắt đầu chuyển dời kinh phí hải quân để xây dựng viên lâm cho Thái hậu. Lúc này vị Thái hậu ngày ngày lo toan việc nước, bận rộn trăm công nghìn việc cũng ngày một già đi. Năm 1884 Giáp Thân là sinh nhật năm mươi tuổi của Thái hậu; mười năm sau nữa vào năm 1894 Giáp Ngọ chính là lễ mừng thọ hoa giáp (sáu mươi tuổi) của Thái hậu. Hoa giáp là đại lễ lớn nhất đối với các gia đình giàu sang phú quý thời đó, đặc biệt là hoàng thất. Ăn mừng lễ hoa giáp thế nào, thời Khang Hi, Càn Long trong sử sách đều có tiền lệ. Thái hậu già muốn chiếu theo lệ mà làm. Các vị vương công đại thần nịnh bọt, lại càng muốn dệt hoa trên gấm.

Vì để "mừng thọ" vì để "xây dựng viên lâm", Dịch Huyên đã biển thủ bao nhiêu kinh phí hải quân, mỗi người nói một phách; chẳng ai biết rõ chi tiết. Đại khái ít nhất cũng là một ngàn vạn, nhiều tới ba ngàn vạn cũng không có gì là bất ngờ. Còn như việc lợi dụng cái "nha môn" mang tên "Hải quân" và danh nghĩa "hải quân" để kiếm chác thêm tiền bạc, thì hoàn toàn không có cách nào ước tính được.

[Chú thích] Vấn (wù) tiền: Kiếm tiền, làm tiền (phương ngữ).

Nói chung, trăm quan vì để trung thành với Thái hậu, "quyên bổng lộc" một phần tư, là chủ trương mà phủ Thuần khởi xướng đối với cấp dưới lúc bấy giờ. Còn như dùng danh nghĩa hải quân, để "xây dựng quân đội mừng thọ" (giống như việc "dâng máy bay mừng thọ" của chúng ta), đào "Côn Minh hồ", để "mở học đường hải quân", đã quyên góp bao nhiêu tiền, thì ngay cả quỷ thần cũng không biết được.

Thời niên thiếu tôi lớn lên trong "thôn gia đình quân nhân" của quân Hoài cũ và quân phiệt mới (hệ phái Hoàn) (Vương Ấp Đường ban đầu là thầy dạy học gia đình nhà tôi, được tiên tổ tài trợ ba lần thi đỗ, du học Nhật Bản, sau khi về nước mang cả hai thân phận "tiến sĩ" Tây lẫn ta, cuối cùng ngồi lên chiếc ghế số hai của hệ phái Hoàn rồi cuối cùng sa sút thành một đại Hán gian), chuyện xưa về "Học đường hải quân Côn Minh hồ" hồi đó tôi nghe đến mòn cả tai. Tôi vẫn luôn coi đó là một câu chuyện có thật, cho đến khi ngồi nghe lớp học cận đại sử Trung Quốc của thầy Quách Đình Dĩ tại phòng học Sa Bình Bá, mới biết đó là một trò lừa bịp lớn, lòng căm phẫn khôn nguôi.

Nhà chúng ta ngày ấy hẳn đều từng quyên góp rất nhiều tiền để "kiến quân cứu quốc". Các bậc tổ tiên có lẽ cũng không rõ đầu đuôi sự tình. Bởi vì khi Thuần Thân vương phát động cú lừa bịp này, ngay cả Lý Hồng Sảng cũng không dám vạch trần. Về phần Thuần Thân vương vì cái hải quân ở hồ Côn Minh này, cưỡng ép quyên góp, rốt cuộc vơ vét được bao nhiêu tiền, thì chỉ có Thượng đế mới biết được.

Ngày nay vẫn còn một số khoản có thể khảo cứu được, tính riêng trong những bức thư qua lại rải rác giữa Lý Hồng Sảng và Tăng Quốc Thuyên mà tra ra được thì: tiền quyên góp từ Giang Tô, Giang Ninh, Lưỡng Hoài là bảy mươi vạn lạng; Giang Tây mười vạn lạng; Trực Lệ, Tứ Xuyên mỗi nơi hai vạn lạng [chú thích: bản gốc là hai mươi vạn]; Lưỡng Quảng (khi đó Tổng đốc Lưỡng Quảng là anh của Hồng Sảng là Lý Hãn Chương) một triệu lạng; Cục Chiêu thương mười vạn lạng v.v., tính ra đã là trên hai triệu lạng.…… Về phần tiền quyên góp toàn quốc dâng trực tiếp cho Hải quân nha môn và các con đường khác là bao nhiêu? Từ một triệu lạng đến ba triệu lạng, tóm lại đều không gọi là quá vô lý chứ nhỉ?!

2.9 Năm phút bắn một phát, một phút bắn năm phát

Ngay lúc xây vườn, mừng thọ, lại rầm rộ lập ra "Hải quân học đường hồ Côn Minh" ấy, quan hệ Trung - Nhật vô cùng căng thẳng, chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản với mục tiêu xâm lược Trung Quốc đặt lên hàng đầu, đang điên cuồng mở rộng quân bị chuẩn bị chiến tranh. Vào đêm trước chiến tranh Giáp Ngọ, hải quân Nhật đã sở hữu hai mươi mốt chiến hạm kiểu mới. Trong đó chín chiếc là tuần dương hạm tốc độ cao kiểu mới nhất chế tạo từ Anh Đức bắt đầu hoàn thành hạ thủy từ sau năm 1889, được trang bị mấy chục khẩu pháo bắn nhanh cỡ nòng tầm mười inch. Con tuần dương hạm tốc độ nhanh nhất thế giới được nói đến ở tiết trước (tốc độ hai mươi ba hải lý/giờ) chiếc Cát Dã chính là một lực lượng sinh lực mang tính quyết định. Lúc bấy giờ cạnh tranh quân bị thế giới vô cùng khốc liệt, sự phát triển nhanh chóng của hải quân Nhật đủ khiến Âu Mỹ kinh hoàng! Nó từ vị trí chót vọt thế giới nhanh chóng vươn lên vị trí thứ mười một; lúc tiếng pháo Hoàng Hải vang lên, sức chiến đấu của nó sớm đã vượt qua quân ta rồi.

Dưới sự phát triển quân bị quốc tế này, phản ứng khi ấy của ta lại ra sao, người nhạy cảm đầu tiên đương nhiên là các tướng lĩnh hải quân phải gánh chịu đầu sóng ngọn gió rồi. Đinh Nhữ Xương không phải là quan lại lờ mờ hồ đồ như người đời sau tưởng tượng. Ông là một chiến tướng và "tử sĩ" lập chí hiến thân vì đất nước. Ông tuy xuất thân từ thủy sư kiểu cũ, nhưng trên đại dương bao la, mười sáu năm tôi luyện không ngừng, đã giúp ông nắm rõ như lòng bàn tay về tình hình quốc tế và chiến lược hải quân mới (Đinh Nhữ Xương từng mấy lần sang châu Âu và Nhật Bản, Nam Dương v.v. thăm dò khảo sát). Huống chi các viên quản đái và đại phu v.v. dưới quyền ông, đều là những tướng lĩnh hải quân đẳng cấp thế giới hạng nhất được huấn luyện nghiêm ngặt, tinh thông ngoại ngữ. Cộng thêm vô số "sĩ quan nước ngoài" đi theo phục vụ trên chiến hạm.

Họ trơ mắt nhìn hải quân Nhật Bản là kẻ địch giả định đang ép người quá đáng, ngày qua ngày vượt qua chính mình; các tướng không phải gỗ đá, đứng đầu sóng ngọn gió, sao có thể không nóng ruột như lửa đốt, họ đều là quân nhân chuyên nghiệp, biết rằng chiến đấu trên đại dương mênh mông, dùng con tàu chậm với tốc độ mười lăm hải lý mỗi giờ, đối kháng với tàu cao tốc tốc độ hai mươi ba hải lý mỗi giờ, thì bản thân chỉ có con đường bị ăn đòn. Đánh thua, không thể trốn tránh. Cho dù đánh thắng, cũng không thể truy kích. Chế ngự địch giành chiến thắng, quý ở biết mình biết người, Lý Hồng Sảng trong các tấu chương của mình, cũng lặp đi lặp lại chuyển lời như vậy.

Họ càng biết rõ, trong trận chiến pháo trên biển, sự khác biệt giữa năm phút bắn một phát và một phút bắn năm phát. Kẻ địch dùng tàu nhanh pháo nhanh, lướt đến như chớp. Chỉ trong chớp mắt. Đạn địch như gió mưa sà xuống từ không trung. Lại thêm một thoáng chốc, chiến hạm địch đã trốn mất tăm mất dạng từ bao giờ. Ngươi với tốc độ mười lăm hải lý mỗi giờ; cái sức ì năm phút một phát, đúng là công đỡ không có, sức trả đòn lại càng không. Rùa đấu với cá mập, làm sao chế ngự địch giành chiến thắng?!

Không may là chuyên môn "tứ hóa" đỉnh chóp mà họ sở hữu lại hoàn toàn bị cô lập trong đống rác quan lại u mê vô tri, tham nhũng hủ bại kia — người ở dưới thì ruột gan nóng như lửa đốt; kẻ ở trên lại dửng dưng vô cảm.

Cả hai vị tể tướng Lý và Chu đều là những cao thủ thái cực quyền trải đời quan lộ lâu năm. Hai người họ trước sau như một, há lại thích hòa nước đục ư? Tình thế mạnh hơn người, cũng là điều bất đắc dĩ thôi. Huống chi ngoài bạo chúa ra, triều đình của mỗi bên cũng đều có một "băng đảng bốn tên" (băng đảng bốn tên của Tây Thái Hậu, tác giả từng có bài viết riêng chuyên môn thuật lại chi tiết). Lại thêm bè phái chèn ép, thừa nước đục thả câu, cho nên Lý Hồng Sảng đối với yêu cầu của bộ hạ mình, có lúc đến việc chuyển tấu cũng chẳng dám chuyển tấu một tiếng. Do đó, hải quân của Đại Thanh đế quốc vào lúc mới sáng lập, tuy từng có một dạo náo nhiệt, đẩy "tứ hóa" (khoa học kỹ thuật) lên đỉnh cao, chen chân vào hàng ngũ tám cường quốc; nhưng vì "ngũ hóa" (chính trị) không thể phối hợp, sự phát triển khoa học kỹ thuật tất yếu sẽ bước vào ngõ cụt. Kế từ sau năm Quang Tự thứ mười bốn (1888), đúng vào lúc hải quân Nhật Bản toàn lực tiến về phía trước, hải quân Trung Quốc vậy mà "không mua một chiếc chiến hạm nào"!

Không chỉ thế thôi đâu. Ngay lúc song phương Trung - Nhật đều đã giương cung bạt kiếm, Hộ bộ lại đạt được sự đồng thuận của Hải quân nha môn, vào năm 1892 chính thức tuyên bố vì cần tiền mừng thọ vạn thọ của Thái hậu, hải quân ngừng mua chiến hạm hai năm! Đây chính là thời điểm đêm trước chiến tranh Giáp Ngọ đấy!

Tàu nhanh không mua được, chí ít pháo nhanh cũng nên mua thêm vài cỗ chứ nhỉ? Tình hình bán đảo Triều Tiên căng thẳng, Lý Hồng Sảng theo lời thỉnh cầu của bộ hạ, muốn Hải quân nha môn cấp sáu mươi vạn, mua hai mươi cỗ pháo nhanh, để thay thế pháo chậm trên các chiến hạm chủ lực, thế mà cả Hộ bộ và Hải quân nha môn đều keo kiệt không nhổ ra một xu. Lý thị bất đắc dĩ, đành trích từ tiền lương thảo sinh hoạt hỏa thực hàng ngày của hải quân ra hai mươi vạn lạng, mua tạm mười hai cỗ pháo nhanh hạng hai, để xoa dịu nỗi uất ức tích tụ bấy lâu của quan binh trên chiến hạm.

Chính quyền hủ nát này đã kéo sụp hải quân mới nổi, các tướng sĩ giương cung bạt kiếm ở tiền tuyến, há lại không có lý nào không biết? Đã biết rồi, trong lòng lại phản ứng ra sao đây?

Bạn tôi ơi, chúng ta đọc sử và viết sử, chi bằng đặt mình vào hoàn cảnh đó mà suy ngẫm cho kỹ: Giả sử tôi và bạn cũng là một thành viên của tướng sĩ hải quân khi ấy, chúng ta có cảm tưởng gì nào? Theo ghi chép Trung - Tây, Đinh đề đốc khi đó lòng tràn đầy lo lắng. Ông đã làm sẵn tâm lý chuẩn bị, chết mới thôi.

Lưu Bộ Thiêm, Lâm Thái Tăng, Đặng Thế Xương... các tướng lĩnh thì ra sao nhỉ? — Cả ba người bọn họ sau này đều tự sát để tuẫn tiết. Theo hồi ức sau sự việc của các "sĩ quan nước ngoài" đi theo chiến hạm lúc bấy giờ, trước chiến tranh Giáp Ngọ, các thủy thủ thanh niên trên khắp các chiến hạm (bao gồm cả Lê Nguyên Hồng chứ), sĩ khí cực cao, ai nấy đều mài đao sức sẻ, chuẩn bị giao tranh; thế nhưng các tướng lĩnh cao cấp trên chiến hạm thì ai nấy đều mang vẻ mặt lo âu. Hiện tượng này do đó khiến cho những sĩ quan nước ngoài đứng xem bàng quan cho rằng, binh lính thủy thủ chiến sĩ cấp dưới của Trung Quốc, vừa đáng yêu vừa đáng kính; còn các tướng lĩnh cấp trên của họ thì ai nấy đều nhát gan vô năng, hèn nhát đáng chém (xem chi tiết ở tiết sau).

[CHÚ THÍCH] Xương (xǐ), sợ hãi, e dè.

Dựa trên ghi chép duy nhất của những nhân chứng sĩ quan nước ngoài này (ghi chép chữ Hán cực ít, hầu như không có), các nhà lịch sử học và nhà văn báo chí đời sau của nước ta, hầu như đều đồng thanh chê bai các tướng lĩnh tuẫn quốc từ Đinh Nhữ Xương, Lưu Bộ Thiêm trở xuống không ra gì. Há thật sự là như thế sao?! Ở đây lại muốn dùng sự thật lịch sử, cùng độc giả của bài viết này, bình tâm suy ngẫm lại.

2.10 Lý già, Tưởng già đã đắc tội với "anh hùng thiên hạ"

Sĩ khí của các sĩ quan cấp dưới, chiến sĩ thủy thủ pháo thủ trong Bắc Dương hạm đội cao như thế nào là điều có thể hiểu được. Hải quân khi ấy là lực lượng vũ trang hiện đại hóa duy nhất của nước ta. Các chiến sĩ thanh niên tận thân tham gia vào lực lượng vũ trang kiểu mới này, không ai là không cảm thấy vinh quang và tự hào. Tình hình của nó hoàn toàn giống như không quân của nước ta trước kháng chiến, cũng như thời kỳ đầu kháng chiến, thanh niên có chí hướng thực sự đổ xô tới như vịt. Bản thân người viết trong thời thanh niên, rất hướng tới không quân. Từng có kinh nghiệm bi tráng thi ba lần rớt cả ba. Lúc đó tận mắt nhìn thấy bạn bè thanh niên, thông qua khám sức khỏe, hiến thân cho không quân. Tình cảm ngưỡng mộ của tôi đối với họ, đến nay vẫn khó quên — những người bạn này phần lớn đều một đi không trở lại. Đem sinh mạng thanh niên tươi đẹp vô hạn của họ, hiến dâng cho tổ quốc!

Sĩ khí của không quân nước ta năm xưa cao biết bao, tác chiến dũng cảm biết bao, hy sinh lớn biết bao, sử sách ghi rõ rành rành, cũng là điều ai nấy đều tận mắt chứng kiến, không cần nói nhiều thêm — hải quân Đại Thanh đế quốc năm xưa, chính là như thế.

Chiến sĩ cấp dưới, mặc giáp cầm vũ khí, khí phách ngút trời, họ là biết mình mà không biết địch.

Tướng lĩnh cao cấp thì không như vậy. Họ là biết địch biết mình. Trơ mắt nhìn quân bị của kẻ địch, sớm đã vượt qua chúng ta; thế mà đám tham quan ô lại trong triều đình chúng ta, bỏ mặc Hoàng Hải không màng, lại còn muốn đục "thuyền đá", làm "hải quân" ngay trong Di Hoà Viên. Trơ mắt nhìn người Nhật ép sát từng bước, đại chiến đến nơi kề cận, mà pháo của quân ta thì chậm tàu thì ì, vừa thiếu công phu đỡ đòn, lại càng không có sức trả đòn, làm sao chịu nổi đây? Ngày đêm nghĩ đến, há chẳng đau đứt từng khúc ruột sao?!

Bạn tôi ơi, nếu anh và tôi rơi vào nghịch cảnh này, làm sao phấn chấn nổi, huống chi ngự sử ngôn quan vô tri năm xưa, bọn họ vừa không dám chỉ trích Thái hậu, cũng chẳng dám mắng mỏ Thuần Thân vương. Cả ngày chỉ ôm lấy một vị tướng lĩnh hải quân Đinh Nhữ Xương, Lưu Bộ Thiêm mà họ vốn chẳng hiểu rõ, để làm đối tượng mắng mỏ và châm chọc, xét theo tình lý, há có thể gọi là công bằng? (Trong "Luận văn tập" dẫn trên, bài viết hoành tráng của tiên sinh Trang Cát Phát trang 167~194, rất đáng để đọc. Cũng rất có thể khơi gợi tư duy cho người ta.)

Hơn nữa, lúc đó hoàng đế trẻ tuổi vừa mới tập tễnh "thân chính", tân quan lên nhậm chức ba ngọn lửa, đối với thế giới ngoài tường cung, vốn không hiểu cho lắm, nhưng dưới ảnh hưởng của ông thầy Ông Đồng Hòa và một nhóm cận thần, cũng đã trở thành lực lượng nòng cốt chủ chiến. Hoàng thượng có điều không biết, vấn đề cơ bản của Đại Thanh đế quốc khi ấy, đều cắm rễ ở sâu trong tường cung. Vấn đề trong tường cung không giải quyết được, thì bất kỳ cuộc duy tân biến pháp nào ngoài tường cung, đều là nông cạn, là trị phần ngọn. Vạn tuế gia hãy còn ở tuổi thơ dại, tầm nhìn không với tới được. Ngài tung hoành ở trong đó, liền từ từ hình thành một "Đế đảng" lấy Ông Đồng Hòa làm trung tâm. Mà chính địch chính yếu của Đế đảng, chính là "Hậu đảng" lấy Lý Hồng Sảng làm đầu. Giữa Đế và Hậu chèn ép lẫn nhau, kẻ gặp vận đen chính là quốc gia và nhân dân. Một số văn sĩ lúc bấy giờ làm ra những câu vè tương đối tao nhã (giống như ngày nay), đại khái nói rằng "Tể tướng Hợp Phì thiên hạ gầy, Tư nông Thường Thúc thế gian hoang", chính là ám chỉ sự tranh giành giữa Đế Hậu và Ông Lý này. Lý Hồng Sảng tự biết lục hải quân của mình bất tài, không dám mở miệng dễ dàng nói chuyện chiến tranh với Nhật Bản. Vấn đề Triều Tiên xảy ra, ông ta một lòng cầu xin hai nước đế quốc Nga, Anh ra mặt điều giải. Lý Hồng Sảng của Hậu đảng càng hèn nhát chủ hòa; Ông Đồng Hòa của Đế đảng lại càng kiên quyết chủ chiến. Dưới tình hình này, lão Thái hậu cũng tin rằng hải quân Đại Thanh dẫu sao cũng là một trong tám cường quốc thế giới, đánh không lại man rợ tóc đỏ, chí ít cũng đánh lại quỷ Đông Dương. Cho nên bà cụ ngược lại không có vẻ nhút nhát sợ sệt như Tể tướng Lý. Người Đông Dương muốn đánh thì đánh thôi, bà chủ muốn đánh, tên đầy tôm nam nhi sao có thể kháng lệnh, hai vị giáo sư Vương Gia Kiệm, Vương Nhĩ Mẫn đều có những luận điểm rất chính đáng về Lý già.

Về phía Đế đảng, vị tiểu hoàng đế còn chưa tốt nghiệp tiểu học ấy, sự chủ chiến của ngài lại không hề thua kém sư phụ (Ông hàn lâm) của mình — Ông chính là thầy giáo của ngài. Đối với thái độ nhát gan sợ đủ thứ của lão quan lại Lý Hồng Sảng, ngài vô cùng bất đồng ý kiến. Lời của thầy giáo từ đó lại càng có sức nặng hơn.

Hơn nữa tranh chấp giữa Ông và Lý, còn có thêm một lớp ân oán cá nhân.

Hóa ra vào thời kỳ loạn Thái Bình Thiên Quốc, Hoài quân phụng mệnh tăng viện Tô Hàng. Đám Trần Thắng, Ngô Quảng chỉ muốn "chúm mũ đỏ" không sợ "cổ đỏ" [chú thích: đỉnh tử hồng / cổ tử hồng] này, một khi đã đánh vào "thiên đường", Trư Bát Giới du lịch Thượng Hải, quậy phá một trận tơi bời, là điều có thể tưởng tượng được. Người chịu họa sâu sắc nhất khi ấy đương nhiên chính là tầng lớp địa chủ hào sơn vùng Tô Thường rồi.

Thế nhưng tầng lớp địa chủ hào sơn này, vốn đều là những kẻ tự bảo vệ gia định thân nhân dưới thời gian dài cai trị của giặc dài [chú thích: Trường Mao]. Giặc dài há lại là đèn cạn dầu? — Đây cũng là đặc tính của người Trung Quốc chúng ta mà! Đối với kẻ thống trị tự khắc sẽ nịnh nọt lấy lòng. Cho nên những địa chủ hào sơn này, đối với giặc dài cũng ca tụng công đức. Những tấm "bia đức chính" này cho dù có chậm đến tận ngày nay, vẫn có những tấm sừng sững trên đường phố. Tên khắc trên bia tự nhiên đều là những nhân vật có máu mặt ở khắp nơi, công nông không có phần trong đó. Thế nhưng một khi chính quyền cách mạng giặc dài sụp đổ, những nhân vật có máu mặt lưu tên trên bia này, liền mang hiềm nghi "thông phỉ" và "gián điệp phỉ". Do vụ án "thông phỉ" hoặc "gián điệp phỉ" mà bị cảnh tổng lục soát nhà, ngươi lại có thể đi đâu mà "bấm chuông khởi kiện" đây? Giặc dài sụp đổ, Hoài dũng (Tương dũng) phát tài, kẻ gặp vận đen đương nhiên đều là bách tính trăm họ, đặc biệt là những gia đình thế phiệt "cha con tể tướng, chú cháu trạng nguyên" cùng với tông thân họ hàng thân thích của họ. Nhưng ngậm đắng nuốt cay, có khổ không thể nói. Điều này phản ánh lên triều đình, liền biến thành tình kết cá nhân Ông - Lý bất hòa rồi! Sư phụ họ Ông đối với Tể tướng Lý là chỉ sợ thiên hạ không loạn.

Cho nên gần một trăm năm nay, mưu đồ đối với nước ta của giặc lùn Nhật Bản, có thể nói là dùng đủ mọi thủ đoạn. Thế nhưng trong trận doanh kháng Nhật của chúng ta, lại không đơn giản như vậy. Đối với các nhà lãnh đạo tầng lớp cao nhất mà nói, "kháng Nhật" thường biến thành một quả bóng chính trị, để bọn họ đá qua đá lại.

Độc giả thanh tráng niên ngày nay nào biết rõ chi tiết? Thế nhưng đám ông già tụi ta là những người từng trải, hồi tưởng lại năm xưa, vốn biết rằng ngoài đám học sinh thanh thiếu niên và quân nhân tụi ta khi ấy, hô khẩu khẩu hiệu xuất phát từ đáy lòng, có mấy tên quan lại chính trị gia đảng quan và văn nhân thất ý (ngoại trừ "tuổi trẻ không hiểu chuyện" để rồi sau đó ngồi tù năm mươi năm là Trương Thiếu soái), có mấy kẻ hô khẩu hiệu kháng Nhật, không phải là vì "lật đổ Tưởng" (hoặc đánh quật Tưởng)? — Đưa ra bài toán khó để Tưởng già sống không yên đây mà! "Không thể đánh mà cứ đánh, để làm mất nước..." (bác đại thâm thù nổi tiếng của Trần Bố Lôi); làm mất Tưởng già trước, để mọi người trút được cục tức rồi tính sau.

Điều này ở cuối thời nhà Thanh, đành phải để Lý già gánh cái nồi đen này vậy — đánh thua trận, dẫu sao cũng là trách nhiệm của một mình Lý già!

Vì sao lại tạo nên cục diện này? Ngoại trừ căn tính liệt căn dân tộc ra, chính là xã hội thời mạt thế trong giai đoạn chuyển hình, chẳng có quy củ mực thước nào mà nói cả. Nói tiếp nữa, thì ngay cả Lý già Tưởng già cũng chẳng phải là thứ tốt lành gì. Bọn họ tung hoành ngang dọc, tranh đoạt quyền lực; hưởng vinh hoa, nhận phú quý; vun vén vây cánh kết bè kết phái, thâu tóm triều chính... đã đắc tội với "anh hùng thiên hạ" rồi!

Về phương diện này, vị tể tướng Chu hòa nước đục kia, lại được lòng người hơn Lý và Tưởng rất nhiều. Sự ra đi của họ Chu, từng khiến cho các anh hùng, anh thư thiên hạ, rơi một giọt nước mắt đồng tình. Nữ sĩ Băng Tâm ca ngợi Chu là "người hoàn hảo bậc nhất thế kỷ 20", quả thực có hơi quá đáng; một số bạn bè của tôi mắng Chu có "hành vi thiếp phụ" [chú thích: hèn mọn luồn cúi], cũng có phần thiên vị quá rồi. Khi Chu công qua đời, người viết cũng từng làm thơ điếu rằng: "Hư ưu bang quốc thành cô phẫn? Rốt cuộc vì kiềm lê nhục thử thân!" Chịu nhục chui háng, làm hành vi thiếp phụ, vì là để bảo vệ sinh mệnh thân gia của hàng ngàn hàng vạn người vô tội, vì là để ngửa cổ kêu gào, mấy trăm triệu sinh linh đang mưu cầu được cứu giúp, vậy ta không xuống địa ngục, thì ai xuống địa ngục? Dùng thân xác thịt, xả thân để cho hổ ăn, vốn cũng là hành vi của đại trượng phu vậy. Khổng Tử nói: "Đức lớn không tổn hại, tiểu tiết có ra vào cũng được." Vậy nên nhà sử học khen chê người đương thời, không thể chỉ chăm chú vào "đánh giá cô độc" nhỏ nhen. "Công luận" xã hội có phải trái rạch ròi mà chúng ta đối với, cũng nên được đưa vào cân nhắc.

*Hoàn thành bản thảo vào ngày 27 tháng 8 năm 1994 tại Nam Cảng, Đài Bắc.

Đăng lần đầu trên "Truyền ký văn học" tập 65 kỳ 3 tại Đài Bắc.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.