Những kiến thức "Tây học" mà Khang Yêu Vi truyền thụ bên trong "Vạn Mộc Thảo Tường", bao gồm cả môn thể dục khai thiên lập địa trong lịch sử giáo dục cận đại Trung Quốc, đều là những thứ khai trí nguyên thủy, không đáng tốn nhiều bút mực, cho nên ở phần trên sau khi nhắc đến đầu tiên thì đã lướt qua nhanh chóng.
Trọng điểm các môn học trong "Vạn Mộc Thảo Tường" chính là học phái "Kim văn học" Nho giáo, và hai cuốn sách giáo khoa do họ Khang phát triển dựa trên quan điểm Kim văn học là "Khổng Tử cải chế khảo" và "Tân học ngụy kinh khảo". Cho nên Kim văn học thực ra chính là nền tảng "ý thức hệ" (ideology) cho cuộc biến pháp của họ Khang.
Khang Yêu Vi là nhà cải cách đầu tiên ở Trung Quốc cận đại đứng dậy tiến hành cải cách chính trị dưới sự thách thức của Tây học. Sự hiểu biết của ông đối với tư tưởng học thuật và chế độ chính trị xã hội truyền thống của Trung Quốc đạt đến tầm vóc tông sư, dù cho những gì ông làm rốt cuộc vẫn chỉ là nhánh rẽ của tư tưởng Trung Quốc. Thế nhưng ông lại có thể dùng nhánh rẽ Trung học phát triển đến đỉnh cao này kết hợp với nhận thức Tây học non nớt nhất, tạo ra một bộ tư tưởng Khang Yêu Vi của riêng mình, đồng thời phác thảo ra bản đồ chính trị về đại cương kiến thiết quốc gia "lấy quân quyền thực thi dân quyền". Sau đó lại theo phương thức "ép thiên tử để ra lệnh chư hầu" mà triển khai đẩy mạnh. Kết quả khiến cho đầu rơi máu chảy, thất bại thảm hại. Thế nhưng sự thăng trầm của họ Khang cũng đánh dấu một giai đoạn quan trọng mang tính kế thừa và phát triển trong phong trào hiện đại hóa của Trung Quốc. Nếu chúng ta không hiểu rõ Khang Yêu Vi, thì chúng ta cũng rất khó hiểu được Tôn Trung Sơn, Trần Độc Tú, Hu Shih, Mao Trạch Đông cho đến Đặng Tiểu Bình và những "người đấu tranh vì dân chủ" ngày nay. Nền tảng "ý thức hệ" của Khang Yêu Vi vốn là "Kim văn học" trong Nho thuật truyền thống; thế nhưng Kim văn học rốt cuộc là thứ gì, hai tác phẩm lớn của họ Khang giảng giải những nội dung gì, xin lược qua một vài nét để làm bài dẫn luận cho các bậc đại gia sau thời họ Khang; cũng là để làm tài liệu tham khảo cho độc giả nói chung.
6.1 Bàn sơ về "Kim văn học"
Nhắc đến "Kim văn học", chúng ta buộc phải bắt đầu từ mấy sự kiện lớn về mặt văn hóa mà Tần Thủy Hoàng đã làm sau khi thống nhất Trung Quốc vào năm 221 trước Công nguyên (năm Thủy Hoàng thứ 26). Sự kiện đầu tiên chính là "cải cách chữ viết", tức cái gọi là "thư đồng văn". Đại lục Trung Quốc trước khi thống nhất là bảy nước khác nhau về chữ viết; Tề (Sơn Đông), Sở (An Huy, Hồ Bắc, Hồ Nam) khác nhau về tiếng nói; mà văn tự nước Tần và văn tự sáu nước lại càng cách biệt lớn. Trước khi thống nhất (cũng giống như "trước ngày giải phóng" ngày nay), người Tần dùng chữ đại triện, tiểu triện và chữ giản thể chữ lệ thư của họ. Sau khi thống nhất bèn phế bỏ toàn bộ đại triện và tiểu triện (bao gồm cả chữ "trụ văn" cổ mà người Tần chuyên dùng), đổi sang dùng "lệ thư" do triều đình định chuẩn. Sáu nước đã bị Tần thống nhất, chính quyền nhà Tần cũng phế sạch chữ cổ của sáu nước, đồng loạt đổi sang dùng lệ thư — đây là "cuộc đại cải cách chữ viết" chưa từng có trong lịch sử loài người. Nó cũng là cuộc cải cách chữ viết thành công nhất trong lịch sử văn hóa toàn nhân loại.
Văn minh phương Đông trên đại lục Đông Á vốn có tính nhất quán của nó. Nhưng kể từ khi Chu Bình Vương dời đô về phương Đông (năm 771 trước Công nguyên) cho đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất các nước (năm 221 trước Công nguyên), sự phát triển riêng rẽ của nền văn minh bảy nước đã kéo dài tới 550 năm. Do chữ viết của các nước khác nhau, ngôn ngữ khác nhau, lại thêm phong tục tập quán và thói quen sinh hoạt cũng có sự khác biệt khá lớn: Đúng như câu nói của Án Tử "sinh ở Hoài Nam thì thành cam, sinh ở Hoài Bắc thì thành quít". Cho nên các nước tuy cùng chung các sách "Kinh Thi", "Kinh Thư", "Quốc ngữ" và học thuật bách gia chư tử, nhưng giữa họ với nhau, "đại đồng" vốn dĩ có, mà "tiểu dị" cũng rất nhiều. (Xin tham khảo sự tương đồng và khác biệt giữa các nước châu Âu của người da trắng thời hiện đại).
Điều đáng chú ý là: "Tiểu dị" không chỉ khác biệt về mặt văn tự thư pháp, mà giữa ý lý với nhau cũng thường có sự phân định nghiêm ngặt. Nay phế bỏ hoàn toàn "cổ văn" vốn có của các nước, mà dùng "kim văn" (lệ thư) do người Tần chuyên dùng để viết lại, thống nhất lại, thì sự khác biệt giữa các phiên bản "kim" và "cổ" lập tức phơi bày rõ ràng. Đúng là đúng, sai là sai. Cho nên sau "cuộc cải cách chữ viết" của Tần Thủy Hoàng, cuộc tranh luận giữa kim văn và cổ văn vốn dĩ đã trực chờ bùng nổ! Tình huống này, ở châu Âu thời Trung Cổ, và trong "Thánh kinh học" của Đông Tây La Mã, cũng đã xảy ra rất dữ dội. Nực cười nhất là cuộc tranh luận giữa hai đảng Quốc và Cộng ngày nay. Ngoài tranh chấp chính trị ra, họ dần dần còn khơi mào thêm cuộc tranh chữ "phồn thể", chữ "giản thể". Bản thân tôi ở đại lục từng nghe câu chuyện cười về "đại biểu đại biểu". Ngày nay nếu không làm rõ, thì 550 năm sau, "phái văn phồn" ắt sẽ được giải thích là "đại biểu của đại biểu"; còn "phái văn giản" sẽ phải giải thích là "đại biểu mang theo đồng hồ".
Văn hóa vốn dĩ cũng không phải là mời khách ăn tiệc. Anh cứ phiền phức kiểu của anh, tôi phiền phức kiểu của tôi; nước sông không phạm nước giếng, mỗi bên tự chịu phiền phức là được. Nhưng nếu sự phiền phức ấy liên quan đến vấn đề chính quyền, vấn đề bát cơm, vấn đề chém đầu, thì vấn đề sẽ trở nên lớn chuyện.
Tần Thủy Hoàng làm chuyện "thư đồng văn", vốn là chuyện tốt. Thế nhưng bệ hạ của ông ta vào năm thứ tám sau khi thống nhất (năm 213 trước Công nguyên), đột nhiên giở ra trò "đốt sách chôn nho" lại còn ban hành "lệnh cấm giấu sách". Trăm họ nếu lén lút giấu sách, tùy theo mức độ nặng nhẹ của tình tiết, sẽ bị "kém chữ lên mặt đày đi lao động cải tạo" (kình vi thành đán), chém đầu, thậm chí là "tru di cửu tộc". Cú này lập tức khiến đại lục Đông Á thụt lùi trở về thời kỳ đồ đá. Dân gian muốn làm chút học vấn, đành phải dựa vào truyền miệng ghi âm.
Mức hình phạt cao nhất lên tới tội tru di cửu tộc là "lệnh cấm giấu sách" ấy, không vì nhà Tần mất mà lơi lỏng đôi chút. Nhà Hãn nối tiếp chế độ nhà Tần, lệnh cấm sách vẫn chưa được gỡ bỏ. Cho đến năm thứ tư thời Hán Huệ Đế (năm 191 trước Công nguyên), bộ đại pháp mang án tử hình này mới bị bãi bỏ, nó kéo dài suốt 22 năm trời. Sau khi lệnh cấm được dỡ bỏ, những thứ lưu hành phổ biến trong xã hội toàn là "lệ thư" dùng "chữ giản thể". Trước khi cấm sách, các loại "chữ phồn thể" bao gồm cổ văn của bảy nước, nào là "đại triện", "tiểu triện" và "cổ văn trụ thư", thì rất ít người còn thông thạo nữa. Thế nhưng khi lệnh cấm sách đã được dỡ bỏ, thì những "sách sót lại sau lửa thiêu" (bao gồm những cuốn do Tần Thủy Hoàng đốt và do Hạng Vũ đốt), cùng với những sách được cất giấu (như sách giấu trong nhà Phục Sinh và vách tường nhà Khổng Tử), thường đều xuất hiện trở lại. Dưới sự khuyến khích của triều đình, Thư viện trung ương quốc gia (trung bí thư) cũng chất đầy những cuộn tre đứt đoạn, trang sách rách nát. Để chỉnh lý những sách rách và bản thảo truyền miệng này, mọi người đành phải sử dụng hoàn toàn chữ giản thể (lệ thư), đó chính là cái gọi là dùng kim văn để đọc cổ văn. "Dùng kim văn (lệ thư) đọc cổ văn (triện, trụ)" trên thực tế cũng là một công việc dịch thuật. Các dịch giả khác nhau cùng làm một bản dịch giống nhau, kết quả thường không giống nhau. Huống chi cổ văn bảy nước, mỗi nước lại có "dị văn" riêng của mình, mà người truyền miệng như cụ già họ Phục lại không biết nói "quốc ngữ chuẩn", thế là vấn đề lớn bèn phát sinh. —— Quý vị chưa từng thấy bạn tôi Bá Dương dùng "bạch thoại" để dịch "văn ngôn" (Tư trị thông giám) hay sao? Lại chưa từng thấy, "Quảng trường Thông giám" cùng rất nhiều phương tiện truyền thông, mỗi người một vẻ chĩa gậy vào cụ Bá hay sao? Đây chính là phiên bản hiện đại của "cuộc tranh luận kim cổ văn" xảy ra từ hai ngàn năm trước. Hiểu được sự bực bội của Bá Dương những năm gần đây, thì cuộc tranh luận kim cổ văn trong hai ngàn năm qua, có thể ngẫm ra được hơn một nửa.
6.2 Từ Đổng Trọng Thư, Lưu Hâm đến sự lãnh đạo của Đảng
Hai ngàn năm qua, những người bàn về cuộc tranh luận kim cổ văn có đến hàng chục hàng trăm nhà, bài viết nông cạn này của tôi phần lớn tiếp thu quan điểm khá sâu sắc của Vương Quốc Vi. Ghi chú lại như vậy là để không nhận vơ công lao của người khác. Cuộc tranh luận học thuật xảy ra từ hơn hai ngàn năm trước này, cũng giống như cuộc tranh luận về "Hải Thụy bãi quan" xảy ra từ hơn hai thập kỷ trước. Nếu chiếu theo cách làm của Thị trưởng Bắc Kinh Bành Chân trong "Đề cương tháng Hai", giới hạn nó trong các bộ môn giáo dục văn hóa thì cũng coi như xong chuyện. Khổ nỗi tri thức Trung Quốc đại đa số đều là loài cầm thú vì danh lợi. Bất cứ chuyện nhỏ nào liên quan đến văn hóa, cũng đều muốn lôi lên võ đài chính trị. Mục đích là để vào đảng làm quan, có quyền là có tất cả. Muốn cướp lợi, trước tiên phải tranh quyền. Thế là việc này liên quan đến hai nhân vật then chốt là Đổng Trọng Thư và Lưu Hâm.
Mọi người đều biết Đổng Trọng Thư là một chính khách Nho gia chủ trương "bãi truất bách gia, tôn sùng một mình Nho thuật". Ông đã thuyết phục Hán Vũ Đề thiết lập "Ngũ kinh bác sĩ" và "Thái học" trung ương quốc gia, mà làm "thái học sinh" (tức là cái gọi là "bác sĩ đệ tử") chính là con đường tắt để bước vào triều làm quan.
Đổng Trọng Thư (179 TCN – 104 TCN) chuyên nghiên cứu "Xuân Thu Công Dương truyện", có thể coi là ông tổ của phái Kim văn. Ngôi "Thái học" mà ông đề nghị thành lập, tự nhiên cũng là một trường đại học Kim văn; Ngũ kinh bác sĩ truyền thụ tự nhiên cũng là Ngũ kinh bản kim văn. Nhóm "những người theo chủ nghĩa Stalin" như Đổng Trọng Thư này, đã nắm giữ trường đảng, chi phối "ý thức hệ" của đảng, thao túng "con đường làm quan" vào đảng suốt mấy chốc thế mà vẫn chưa đủ. Nào ngờ nửa đường lại xuất hiện một "phái Trotsky". Thủ lĩnh của phái Trotsky này, chính là Lưu Hâm (53 TCN – 23 Công nguyên), người nhận lệnh chỉnh lý những mảnh tàn dư bị đốt phá trong Thư viện trung ương quốc gia.
Lưu Hâm và cha ông là Lưu Hướng (77 TCN – 6 TCN), ban đầu đều là nhân viên biên tập và quản lý trong Thư viện trung ương. Cả hai người đều viết không ít cuốn sách nổi tiếng về "thư mục học" — đó cũng là thư mục học xuất hiện sớm nhất trong lịch sử văn hóa nhân loại. Lưu Hâm rõ ràng có học vấn cao hơn bố mình và cũng nghịch ngợm hơn. Trong những cuộn sách tàn rách ấy, anh ta lại cứ nhắm trúng một tác phẩm "cổ văn" nổi tiếng chấn động thế gian là "Xuân Thu Tả thị truyện".
Đầu nhà Hán, các nhà Kim văn học nghiên cứu "Kinh Xuân Thu" vốn chỉ có hai "truyện" là "Công Dương" và "Cốc Lương" ("Truyện" trong "Thánh kinh học" của phương Tây gọi là commentaries). Lưu Hướng vốn cũng là "nhà Kim văn" chuyên công nghiên cứu "Cốc Lương". Nay con trai ông đột nhiên từ đâu moi ra được kinh cổ văn "Xuân Thu Tả thị truyện"; mà nội dung sử học, ánh sáng văn học và ý lý triết học của "Tả thị truyện" này lại cao minh hơn hẳn hai truyện chua chát "Công" và "Cốc". Người phát hiện ra ban đầu là Lưu Hâm bèn dâng tấu lên hoàng đế (Hán Ai Đế), đưa "Tả truyện" cùng với các kinh cổ văn tương tự như nó là "Chu lễ", "Mao thi", "Cổ văn Thượng thư" v.v. vào Thái học, thành lập khoa ngành chính thức, thiết lập "Bác sĩ" chuyên khoa, tuyển thu "bác sĩ đệ tử", đứng ngang hàng với khoa ngành kim văn. Hán Ai Đế lúc bấy giờ đối với "Xuân Thu tam truyện" và cuộc tranh luận kim cổ văn, ngược lại có những luận điểm khá trung lập, nhưng dẫu là hoàng đế thì cũng không đấu lại được với bọn quan liêu phái Kim văn vốn nắm giữ trường đảng và chi phối triều chính. Họ kiên quyết phản đối đưa kinh cổ văn vào làm quan học, lại còn nói kinh cổ văn, đặc biệt là "Tả truyện", là do Lưu Hâm ngụy tạo. Cho nên suốt thời nhà Hán, quan học trước sau vẫn do "phái Kim văn" nắm giữ; "phái cổ văn" chỉ có thể ở chốn núi rừng lập các trường đại học tư thục, không thể vào đảng làm quan. — Nào ngờ Lưu Hâm, vị tổ sư gia của phái cổ văn này lại gặp vận xui. Vào năm thứ 9 Công nguyên, vương triều Tây Hán đã bị Vương Mãng soán ngôi. Sau khi Vương Mãng soán Hán, ông ta thiết lập đế quốc Đại Tân của riêng mình. Vương Mãng và Lưu Hâm là bạn thân thời thiếu niên, lại là một vị hoàng đế mới của triều đại mới mang sở thích hoài cổ đến mức mê muội, ông ta muốn thay đổi mọi văn vật chế độ của triều đại cũ, bao gồm cả chế độ học tập trong Thái học. Do đó ông ta trọng dụng Hâm làm "Quốc sư", để thực hiện một cuộc lật đổ lớn về kinh học. Đuổi sạch tất cả các "kinh sư kim văn" đi, thay vào đó bằng "kinh sư cổ văn". Khỏi phải nói, "Xuân Thu Tả thị truyện", "Mao thi", "Cổ văn Thượng thư" v.v. thảy đều biến thành quan học của triều đại mới. Các khoa ngành còn lại tự nhiên lại càng là cổ kim song song nhưng lấy cổ văn làm chủ. Những kinh cổ văn này, đặc biệt là "Tả truyện", chính là cái gọi là "Tân học ngụy kinh" mà Khang Yêu Vi đã nói: "lấy Chu Công soán Khổng Tử". (Tác phẩm "Tân học ngụy kinh khảo" của họ Khang chính là dùng toàn lực để chứng minh "Tả truyện" là "ngụy kinh" do Lưu Hâm chắp vá nên).
Đáng tiếc vui chẳng tày gang, "triều đại mới" của Vương Mãng chỉ cặm cụi được hơn chục năm thì mất nước. Năm 24 Công nguyên, sau khi Lưu Tú thiết lập chính quyền Đông Hán, những nghi thức cũ trong cung Hán được khôi phục toàn bộ. Mọi kiến thiết của tân triều nhà Mãng do đó đều bị bãi cấm. Cho nên trong 200 năm Đông Hán, văn hóa giáo dục do nhà nước điều hành vẫn là cục diện "kinh kim văn" độc bá.
Nhưng lý do khiến "Kim văn học" có thể độc bá đàn hoàn suốt bốn trăm năm nhà Hán, thực sự là do "chính trị lên tiếng hàng đầu" tạo nên. Nó đã biến thành cha mẹ nuôi sống, công cụ danh lợi của bọn chính khách và lưu manh đảng phái, cho nên "Kim văn học" cũng giống như "Mao tuyển" và "di giáo" hiện nay, càng ngày càng rời xa học thuật. Còn phái "Cổ văn học" những đại học giả tâm huyết với học vấn, có tác phong giữ gìn đạo đức như Mã Dung, Trịnh Huyền v.v. tổ chức ra các trường đại học tư thục, ngược lại đã trở thành trung tâm học thuật và những người dân chủ quy tụ danh tiếng thanh cao, được cả nước noi theo, độc tôn một cõi. Thời gian trôi qua, cuối cùng họ đã độc quyền cái tên gọi "Hán học". Người đời sau nghiên cứu cổ điển gọi là "Hán học", "Tống học", thì cái trước thực ra chỉ đích xác học thuật của Mã Dung, Trịnh Huyền, Phục Kiền, Giả Khuy, Hứa Thận thời Đông Hán. "Kim văn học" do quan phương hai nhà Hán kiên trì không nằm trong số đó. Cho nên trong giới học thuật không biết nặng nhẹ mà cứ khăng khăng đòi theo đuổi sự kiên trì của đảng, đọc sách của tôi, hãy suy ngẫm kỹ điều này. Cổ sử chưa hẳn không thể dùng cho hiện tại.
6.3 "Tiên sư" và "Tố vương"
Cuộc tranh luận kim cổ văn thời nhà Hán ở nước ta, phái kim văn hoành hành bốn trăm năm, quay đầu lại hóa ra lại bị phái cổ văn chiếm thế thượng phong. Tóm lại trong một câu, đây chính là mối quan hệ giữa "học thuật" và "chính trị". Vẻ vang khi làm chính trị chỉ là nhất thời; thành tựu khi làm học thuật mới là vĩnh hằng. Căn bệnh của vương triều Đông Hán chính là chia rẽ học thuật và chính trị ra làm hai. Những kẻ làm "ý thức hệ" đều chỉ là một đám kẻ hữu dũng vô mưu.
Kinh học cổ văn đã bị đuổi khỏi điền địa chính trị, cắt đứt duyên nợ với danh lợi, trải qua hơn ba trăm năm diễn biến, cuối cùng đã khiến nó biến thành một nghiên cứu mang tính "học thuật thuần túy". Những ông thầy đồ đầu bạc nghiên cứu kinh điển đến cùng đường, cứ hết người này đến người khác tiếp nối con đường "cùng cực" ấy, đã khai sào ra dòng học thuật chủ lưu gồm chú sớ tiêm chứng, huấn cổ khảo cứ trong học thuật cổ điển nước ta. Đúng thì là đúng, sai thì là sai; "Có một phần bằng chứng nói một phần lời, có chín phần bằng chứng không thể nói mười phần lời." Thái độ "phòng thí nghiệm khoa học" này, sau này thậm chí đã thu nạp cả đại sư quốc học coi trời bằng vung Chương Thái Viêm, và Hu Shih "tinh hoa cả Tây học lẫn Trung học" vào trong đội ngũ của "phái cổ văn".
Còn các nhà "phác học" đầu đời Thanh, "Hán học" thời Càn Long – Gia Khánh, tự nhiên lại càng là truyền nhân chính cống của phái cổ văn. Bản thân họ tìm sự thật từ thực tế, không một chút cẩu thả. Chuyện cổ hủ thì có thừa, chứ qua loa đại khái thì tuyệt đối không cho phép. Bản thân họ là như vậy, từ đó họ xác định rằng người thầy khai sơn của họ, vị thánh nhân Khổng Khâu từng san định Thi Thư, định đoạt Lễ Nhạc cũng là như vậy. Cho nên trong học phái của phái "cổ văn", Khổng Tử được tôn kính như một "Tiên sư" thuần túy là học giả.
Phái Kim văn thì không phải như vậy. Họ vốn khởi nghiệp từ việc "sự lãnh đạo của Đảng", "một lời nói là pháp lệnh", "bãi truất bách gia". Làm việc gì cũng phải "chính trị lên hàng đầu", "học thuật phải phục vụ cho chính trị". Thế nhưng làm chính trị thì rốt cuộc là vì cái gì? Đáp rằng: Làm chính trị là để duy trì "sự lãnh đạo của Đảng", "lấy đảng trị quốc", "phục vụ nhân dân", "mục đích của nó là mưu cầu tự do bình đẳng cho Trung Quốc". "Hiểu sâu sắc rằng muốn đạt được mục đích này, bắt buộc phải thức tỉnh quần chúng", đi ủng hộ cách mạng, tham gia cách mạng và hoàn thành cách mạng. Trình trình tự hoàn thành cách mạng có ba đại giai đoạn, Quốc phụ gọi là: "quân chính", "huấn chính", "hiến chính". Kỳ thực tất cả những ngôn luận chủ trương làm chính trị tập quyền đều đại đồng tiểu dị. Phái Kim văn làm chuyện trị quốc, bình thiên hạ (khi ấy "thiên hạ" chính là bản bộ Trung Quốc) cũng có ba đại giai đoạn, gọi là: "đại loạn thế", "thăng bình thế", "thai bình thế". Cho nên trong mắt họ, làm học vấn, viết lịch sử, đều không nên là "vì học vấn mà làm học vấn". Chúng phải là "có mục đích mà làm". Cho nên cái gọi là "huấn cổ từ chương, khảo cứ chú sớ", cái gọi là "mạo hiểm giả thiết, cẩn thận chứng thực", thảy đều là những "thứ học vụ dụng trong mấy trăm năm" (lời Khang Yêu Vi). Chủ tịch Mao chẳng phải cũng từng nói sao, "đây là vấn đề nguyên tắc"; "đây là vấn đề 'vì ai phục vụ!'" (xem "Bài phát biểu tại hội nghị tọa đàm văn nghệ Diên An"). Cho nên trị kinh điển, nhượng lịch sử, làm văn nghệ trọng ở việc hiểu rõ "ý lý". Ý lý đã rõ, viết lịch sử thì nên "lấy lý luận dẫn dắt lịch sử", thậm chí là "lấy lý luận thay thế lịch sử". Còn về mặt sự thật lịch sử, dẫu viết ra "bảy phần thật ba phần giả" (giáo điều của Bè lũ bốn tên), thì có hại gì đâu? Khổng Tử chẳng phải cũng từng nói: "Bậc đại nhân lời nói ra nhất định phải giữ tín nghĩa, chỉ có nghĩa ở đâu thì ở đó" sao?
Bản thân phái Kim văn đã có ý niệm này, vị tổ sư gia Khổng Tử trong lòng họ, tự nhiên cũng là nhà chính trị cứu thế cứu dân, học đi đôi với hành như thế, chứ không phải là "Tiên sư" làm "học thuật thuần túy". Trong nhận thức của phái Kim văn, Khổng Tử không chỉ là vị tổng biên tập từng "san định" Thi Thư, "định đoạt" Ngũ kinh. Cụ chính là tác giả của Lục kinh. "Lục kinh" ("Kinh Dịch", "Kinh Thư", "Kinh Thi", "Kinh Lễ", "Kinh Nhạc", "Kinh Xuân Thu") chính là "tuyển tập" và "phương lược kiến thiết quốc gia", "đại cương kiến thiết quốc gia" của chính Khổng Tử. Khổng Tử muốn dựa vào bản đồ này để biến pháp đổi chế, để chấn hưng lại thời đại Đông Châu suy vi "vương cương đứt gãy". Nhưng chẳng phải cháu nội của cụ đã nói ông nội mình "tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chương Văn Vũ" (xem "Trung dung") hay sao? Bản thân cụ chẳng phải cũng nói: "Nhà Ân theo lễ nhà Hạ... nhà Châu theo lễ nhà Ân" (xem "Luận ngữ: Vi chính"), tất cả văn vật chế độ đều là "kế thừa" trước sau hay sao? Là "diễn biến hòa bình" mà! Biến pháp đổi chế cái con khỉ gì chứ? Đại sư Kim văn nói: Khổng Tử chỉ là thường dân áo vải. Áo vải muốn đổi vương chế, nói thì dễ hơn làm. Cho nên cụ sợ những người cùng thời không tin bộ chế độ mới của mình, cho nên cụ mới ngụy "thác" các bậc thánh vương đời "cổ", để "cải" biến "chế" độ đấy thôi! Phu tử là bậc "thánh biết uyển chuyển theo thời đại". Chúng ta sao có thể vì chút tiểu tiết "ngụy trợ" mà câu nệ hạn hẹp vị chính trị gia vĩ đại ấy chứ?
Cho nên phái Kim văn cho rằng Khổng Tử không phải là kẻ hủ nho hay "tiên sư" gì đó làm "học vấn vô dụng". Ngài là một nhà chính trị cứu nước cứu dân bằng xương bằng thịt, ngày đêm bận rộn bôn ba hành động. Đáng tiếc ngài không tại vị, nhưng đúng như lời đại đệ tử Tử Hạ của ngài đã nói, ngài là một vị "Tố vương"! "Vị vương không đội mão" (nhà báo)!
6.4 "Học thuật Càn Giàu" của "người An Huy chúng ta"
Thế nhưng loại "Kim văn học" chỉ coi trọng "ý lý" triết học mà coi thường sự "thật giả" của sử học này, sau thời nhà Hán liền thất thế, bởi vì nó đã mất đi chỗ dựa trên chính trị. Giữa thời Tùy Đường, người ta chuộng thi văn, kinh học suy tàn. Kim văn học lại càng tỏ ra ảm đạm. Thế nhưng tính học thuật bản thân của Kim văn học vẫn có giá trị khách quan của nó. Tinh thần nội dung trọng ý lý, khinh sử thực của nó vào thời Tống Minh, lại được các nhà Nho đời Tống kế thừa. Chỉ có điều "Đạo học" của hai thời Tống bị ảnh hưởng bởi tư tưởng Ấn Độ mà hình thành. Những "ông thầy Đạo học" chủ trương "từ Phật quay về Nho" đặc biệt tôn sùng "Đại học", "Trung dung" (hai bài văn ngắn trong "Kinh Lễ"), chú trọng vào việc "tu thân dưỡng tính" và "minh tâm kiến tính" của cá nhân. Đối với bộ "tôn Tố vương, trương Tam thế" của "phái Kim văn", trong lòng thì không thừa nhận mà ngoài miệng cũng chê bai. Quan điểm của họ đối với Khổng Tử, vẫn tương đối gần gũi với chủ trương của "phái cổ văn", "Chí thánh tiên sư"! Vương (Dương Minh) học đời Minh tuy nối tiếp Lục (Cửu Phiên) mà phản đối Tống (Hi), nhưng xét về các đại phái triết học lớn ở Trung Quốc, Trình Chu, Lục Vương cơ bản thuộc phạm vi lớn mang tên "Lý học".
Thời đại phát triển đến đầu đời Thanh, do dị tộc nhập chủ, văn luật nghiêm ngặt, các học giả đầu đời Thanh không còn dám tùy tiện động đến những đại đại lý luận về ý lý như phân biệt Hoa - Di, quân - thần nữa. Hơn nữa thời đại từ nhà Hạ Thương Châu đến nay không có sự thịnh vượng như thế, các triều đại "chư hạ chi quân" lại thua xa "vương triều Di Địch hiện tại", cho nên họ cũng có thể sống chung hòa bình với sự cai trị của người Mãn Châu. Tiếp tục làm loại học vấn như "Minh di đãi phỏng lục" (do di lão đời Thanh là Hoàng Tông Xi soạn) thì hoàn toàn không cần thiết phải mạo hiểm mất đầu. Tư tưởng đã được đả thông, các học giả đầu đời Thanh bèn vứt bỏ "Lý học", mà lao đầu vào đống giấy cũ, đại lực phát triển "Hán học" của họ (họ gọi là "Phác học"). Giai đoạn này từ thời Càn Long (1736 – 1795), Gia Khánh (1796 – 1820) thì trở nên hưng thịnh lớn, nhân tài lớp lớp xuất hiện, phong trào học thuật cực kỳ thịnh vượng. Đợi đến khi Giang Vĩnh ở Vụ Nguyên (1681 – 1762) và Đái Chấn ở Hưu Ninh (1723 – 1777) cùng nhau dẫn dắt trào lưu, "Học thuật Càn Giàu" từng thịnh vượng tột đỉnh, suýt chút nữa đã biến thành "Huy học" của "người An Huy chúng ta" (câu cửa miệng của Hu Shih). Chịu ảnh hưởng cực lớn từ người đồng hương Đái Chấn, vị nhà cổ văn trẻ tuổi "ba phần hàng ngoại, bảy phần truyền thống" Hu Shih (1891 – 1962), vào thời đại Ngũ Tứ đã muốn dùng "phương pháp" của Đái Chấn để "chỉnh lý quốc cố, tái tạo văn minh".
Thầy Hu vì thế mà vào những năm thập niên 30 trong giới tư tưởng đã tỏ ra "hôi hủ" và "mang tiếng xấu" — đây là lời đánh giá của đại đệ tử của ông, cũng là Giáo sư Thiên Gia Ly Long Cố, người đang nắm giữ kinh tế học xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nguyên nhân chủ yếu nhất chính là Hu Shih chui vào đống giấy vụn của phái cổ văn, làm "người chọn tướng" cho "tư tưởng mới" (có lẽ cũng là nhà Kim văn hiện đại).
Trong thời đại đổi ngôi thay triều vào thập niên 40, 50 ấy, hàng trăm triệu người vì thế mà cửa nát nhà tan. Thanh niên Hoa kiều tàn sát lẫn nhau, máu chảy thành sông. Một bộ phận thanh niên trí thức, hoặc buồn hoặc vui. Phần lớn thanh niên trí thức thì không biết lựa chọn thế nào. Đạo đức vốn có, văn hóa vốn có của họ, đã vứt sạch sành sanh, mà trong "tư tưởng mới" liên quan đến sự sống còn của quốc tộc, cũng không tìm được đáp án. Nhưng đồng thời với đó, họ lại phát hiện ra "đại sư khai trí" mà họ ngưỡng vọng, tổ sư gia của ý lý tư tưởng mới, lại đang mải mê nghiên cứu "Kinh thủy chú". Mà sự hiểu biết của vị lão nhân gia ấy đối với "dân chủ pháp trị và nhân quyền tự do" v.v., thà nói đó là "nhận thức khoa học", chi bằng nói đó là "tín ngưỡng tôn giáo". — "Kinh thủy chú" là cái thá gì chứ? "Là thứ học vụ dụng trong mấy trăm năm", cũng đáng để dốc sức làm lớn như vậy sao? Tâm trạng này cũng giúp chúng ta hiểu được, vì sao Lương Khải Siêu chỉ trong một đêm, lại biến thành tín đồ của Khang Yêu Vi. Nó cũng giúp chúng ta hiểu được, vì sao "Kim văn kinh học" trong quốc cố học, sau khi chết cứng hai năm ngàn năm, vào cuối nhà Thanh lại bỗng nhiên sống lại? Vì sao việc "chỉnh lý quốc cố, tái tạo văn minh" của Hu Shih trước sau vẫn không tạo ra được khí thế gì? Mà chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông ngược lại có thể đảo điên thanh niên, chi phối chính quốc!
6.5 Tông sư của Kim văn học hiện đại
Sự chấn hưng trở lại của Kim văn kinh học vào cuối nhà Thanh, thực ra bắt đầu từ các đại gia Lưu Phùng Lộc (1776 – 1828), Cung Tự Trân (1792 – 1841) và Ngụy Nguyên (1794 – 1857). Cung, Ngụy đều từng tận mắt trải qua nỗi đau của cuộc Chiến tranh Nha phiến. Định Am (tên tự của Cung Tự Trân) nhấn mạnh "từ xưa đến nay, pháp luật không có cái nào là không thay đổi". Ngụy Nguyên thì cho rằng "biết" xuất phát từ "hành", chủ trương "học kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài để kiềm chế nước ngoài". Học lý của họ, chính là bối cảnh tư tưởng của Khang Yêu Vi. Khang vốn là người nghiên cứu "Lý học". Việc ông từ Lý học chuyển sang nghiên cứu "Công Dương", chính là chịu ảnh hưởng trực tiếp từ một lão người Tứ Xuyên tên là Liêu Bình (1852 – 1932); mà Liêu Bình lại là học trò của Vương Phong Vận ở Tương Đàm (1833 – 1916), từng là tay chân dưới trướng Tăng Quốc Phán. Liêu Bình là kẻ vô hạnh, học thức thay đổi sáu lần. Nhưng các bài viết như , của ông, chính là nguồn gốc của hai tác phẩm lý luận lớn của Khang Yêu Vi. Lương Khải Siêu nói: "Trung tâm của phong trào văn học gọi là Nam Hải Khang Yêu Vi, nhưng Yêu Vi thực chất là người tập đại thành của học phái này, chứ không phải là người sáng lập ra nó. Yêu Vi thời trẻ cực kỳ yêu thích 'Chu lễ', từng nghiên cứu thông suốt, viết tác phẩm 'Chính học thông nghị'. Sau đó thấy sách do Liêu Bình viết, bèn vứt bỏ toàn bộ những thuyết cũ của mình." (Xem tác phẩm "Khái luận học thuật đời Thanh" của Lương Khải Siêu).
Vốn dĩ là thế! Bất kỳ học thuyết tư tưởng nào, cũng không phải từ trên trời rơi xuống. Nó là sự kế thừa tiếp nối, được các nhà tư tưởng trước sau từ từ phát triển mà thành. Nguồn gốc tư tưởng của Yêu Vi tuy xuất phát từ Liêu Bình, nhưng học vấn của ông lớn hơn Liêu Bình; năng lực lĩnh hội cũng vượt trội hơn Liêu Bình, thậm chí cả mấy vị Cung, Ngụy. Sức ảnh hưởng của ông cũng lớn hơn nhiều so với các bậc tiền bối gần đây. Cho nên nếu chúng ta muốn khẳng định một vị tông sư của Kim văn học thời cận đại – hiện đại cuối nhà Thanh đầu Trung Hoa Dân Quốc, thì không thể không nhắc đến người Nam Hải. — Đây chính là địa vị của Khang Yêu Vi trong giới học thuật Trung Quốc hiện đại.
6.6 "Trưởng" hơn "Tố vương", "vượt Hồi", "cưỡi Mạnh"
Kim văn kinh học đã là ý thức hệ chỉ đạo Khang Yêu Vi tiến hành duy tân biến pháp, cho nên trước khi liệt kê những hành động thực tế biến pháp của Yêu Vi, tốt nhất chúng ta nên tóm tắt lại những đại ý trọng yếu của Kim văn học do họ Khang thấm nhuần Tây học non nớt này một cách khái quát. Lương Khải Siêu nói rất hay: "Mậu Thúy duy tân, tuy thời gian cực ngắn, hiệu quả hiện thực cực ít, nhưng thực chất lại là chương thứ nhất mở đầu ý nghĩa trọng đại của lịch sử Trung Quốc mới thế kỷ XX." (Lời trong "Khang Yêu Vi truyện", đăng trong "Ẩm Băng Sách văn tập"). Quả thực, nếu chúng ta không làm rõ "ý thức hệ" của "Cuộc biến pháp Mậu Tuất" mang tính "khai tông minh nghĩa" trước, thì những sự việc tiếp nối theo sau như "Cách mạng Tân Hợi", "Phong trào Ngũ Tứ", "Liên Xô dung hợp cộng sản", "Phong trào phát xít", "Phong trào giải phóng", "Phản hữu đại nhảy vọt", "Cách mạng Văn hóa" cho đến "Mở cửa và phong trào dân chủ" ngày nay, đều không dễ gì nói cho rõ ràng được. Bởi vì chúng đều xảy ra trên cùng một dòng Tam Hiệp, chỉ là mỗi giai đoạn có những điểm khác nhau mà thôi. — Chúng ta phải coi Tam Hiệp là một đơn vị địa lý hoàn chỉnh. Phản ứng dây chuyền của các giai đoạn, (cho phép tôi mượn một danh từ thời thượng) cũng chính là một loại "phát triển biện chứng" không thể tách rời mà thôi.
Ý nghĩa trọng yếu thứ nhất của kinh học Kim văn phái họ Khang chính là sự tự khoe khoang tiếp nối tuyệt học cho các bậc thánh nhân đời trước. Khang cho rằng chính thống của văn minh phương Đông là Nho giáo; chính thống của Nho giáo là Kim văn học, mà Kim văn học từ sau thời Đông Hán suốt hai ngàn năm qua đều bị "ngụy kinh" soán đoạt. May thay trời không tuyệt đường Trung Quốc, nay lại xuất hiện một vị Khang thánh nhân để khôi phục chân lý thánh giáo, dùng phương thức "dùng rợ trị rợ". Sự tự tin của Khang Yêu Vi đối với việc tiếp nối tuyệt học này đã phát triển đến mức độ tẩu hỏa nhập ma. Thời kỳ ở Vạn Mộc Thảo Tường, Yêu Vi thậm chí tự xưng là "Khang Trưởng Tố". "Trưởng Tố" có nghĩa là "vượt trội" hơn "Tố vương". Khổng thánh nhân sao có thể sánh bằng "Khang thánh nhân" chứ?
Khang Yêu Vi không chỉ tự phong mình là thân vương thời nay, mà năm vị đệ tử chân truyền của ông cũng có những danh hiệu vượt qua cả "Mười triết nhân" cửa Khổng. Xin liệt kê như sau:
Trần Tử Thu hiệu "Siêu Hồi" — Vượt qua Nhan Hồi.
Lương Khải Siêu hiệu "Dật Tứ" — Dật nghĩa là siêu việt. Khải Siêu vượt qua Tử Cống.
Mạch Mạnh Hoa hiệu "Cưỡi Mạnh" — Cưỡi lên đầu Mạnh Tử.
Tào Thái hiệu "Việt Cấp" — Khổng Cấp (Tử Tư) sao có thể so sánh với họ Tào.
Văn Cử hiệu "Thừa Tham" — Biến Tăng Tử thành ngựa để cưỡi.
Cái tên Năm triết nhân cửa Khổng này (xem "Cách mạng dật sử" của Phùng Tự Do) nếu thực sự do chính Khang thánh nhân tự đặt, thì chứng bệnh megalomania (hoang tưởng tự đại) của ông ta cũng có thể tưởng tượng được. Cho nên Lương Khải Siêu mới nói Khang "tiên sinh là người vô cùng tự tin. Chủ nghĩa mà ông chấp nhận, bất kỳ ai cũng không thể lay chuyển được. Trong học thuật cũng vậy; trong việc trị sự cũng vậy. Không chịu uyển chuyển theo chủ nghĩa để chiều theo sự vật, mà luôn nhào nặn sự vật để hỗ trợ cho chủ nghĩa của mình. Thường mang phong thái Lục kinh đều là chú giải cho ta, muôn núi đều là kẻ hầu người hạ của ta." (Xem sách đã dẫn).
6.7 "Lãnh đạo tối cao" đều là những kẻ độc tài
Thoạt nghe qua, chúng ta sẽ cảm thấy Khang Yêu Vi đã mắc chứng hoang tưởng tự đại. Kỳ thực không phải vậy. Đây là căn bệnh chung của trí thức truyền thống nước ta. Nho sinh truyền thống khi học hành có được sự tự tin, thường có tâm lý tự đại "lấy thiên hạ làm trách nhiệm của mình" — một thứ chủ nghĩa anh hùng cá nhân "nếu không phải ta thì là ai". Trí thức Trung Quốc chúng ta hầu như toàn là những "hộ kinh doanh độc lập" mang chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Họ thực sự muốn "tại vị", trúng giải độc đắc, làm "tổng thống", "chủ tịch", "đại nguyên sú", "lãnh đạo tối cao" v.v., thì không ai là không trở thành "kẻ độc tài". Không trúng giải, chết đi mà hoài bão chưa thành, cũng không cam lòng chôn vùi cùng cỏ cây. Họ vẫn cứ tự xưng là "thầy của đế vương". Ai nấy đều có hoài bão "nếu không phải ta thì là ai"; chẳng ai nghĩ đến chuyện "lấy thiên hạ làm của chung". Cửu Viêm Võ nói "thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách"; Tôn Văn nói "thiên hạ vi công"; Mao Trạch Đông nói "phục vụ nhân dân". Những lời này kỳ thực cũng đều là những danh ngôn châm ngôn mang tính "nếu không phải ta thì là ai". Tiên sinh Lương Thấu Minh mới qua đời gần đây, người được ca tụng là "cột sống của Trung Quốc", chính là một Nho sinh truyền thống tiêu chuẩn "lấy thiên hạ làm trách nhiệm của mình". Khổ nỗi cái cột sống "nếu không phải ta thì là ai" này của ông lại đụng phải một cái đầu "duy ngã độc tôn", cho nên cụ Thấu bị mắng đến mức nổi danh thiên hạ. Nhìn lại bốn mươi năm qua, những vị đại sư được gọi là "Ba thánh bảy hiền" trốn tránh tai họa ra nước ngoài, và các đệ tử của đại sư, ai lại không vượt Hồi cưỡi Mạnh, tự coi mình là "cột sống"? Chỉ là không có duyên trời ban này, nên mới bị mắng chửi ở điện vàng mà thôi. Kỳ thực những đại sư này và đệ tử của họ quả thực có tài năng "trị quốc bình thiên hạ", chỉ là thời đại không giống nhau mà thôi. Họ và những vị tổng thống chủ tịch ấy nếu sinh sớm hơn hai trăm năm, đều không mất đi phong thái của minh quân hiền tướng. Bởi vì vào thời kỳ đó, làm minh quân, làm hiền tướng, tự có những khuôn khổ cố định để tuân theo. Khuôn khổ này là trí tuệ và kinh nghiệm của hàng ức vạn người lao động và vô số minh quân hiền tướng qua hàng ngàn năm từ từ tích lũy lại. Minh quân hiền tướng chỉ cần tuân thủ chặt chẽ khuôn khổ, đánh bài theo lý, lại đọc thêm "nửa bộ Luận ngữ", là cũng có thể qua quýt trị quốc bình thiên hạ rồi. Khổ nỗi họ lại sinh ra vào thời đại của chúng ta, thời đại chịu sự "xâm lược văn hóa" (lời Tôn Trung Sơn) và "ô nhiễm văn hóa" (lời Đặng Tiểu Bình) của phương Tây, muốn đi làm cái gọi là "Năm điều biết" của Trương Văn Tương Công (xem "Khuyến học thiên"), thì không đơn giản chút nào. "Năm điều biết" đó là:
Một, biết nhấu hổ thẹn — thẹn vì không bằng Nhật Bản...
Quả hai, biết sợ hãi — sợ Ấn Độ, sợ Ai Cập...
Ba, biết thay đổi — không thay đổi thói quen thì không thể thay đổi pháp luật...
Bốn, biết điểm cốt lõi — kỹ nghệ phương Tây không phải cốt lõi, chính trị phương Tây mới là cốt lõi... (Đặng Tiểu Bình nên đọc lại câu này ba lần!)
Năm, biết gốc gác — ở hải ngoại không quên quốc gia, thấy phong tục khác lạ không quên thân tộc, nhiều trí khôn mẹo mực không quên thánh hiền...
Luận điểm cao siêu "Trung học vi thể, Tây học vi dụng" này của Trương Chi Đôn, dùng một danh từ mới hiện nay để gọi, thì gọi là "dung hợp văn hóa" (acculturation) — tức là sự lấy chỗ dài bù chỗ ngắn giữa các nền văn hóa khác nhau. Nhưng Công chúa Thiết Kính nói rất hay: "Phò mã gia, ngài bảo tôi phải 'dài' thế nào, 'ngắn' ra sao đây?" Muốn "biết" được điểm "dài" điểm "ngắn" giữa văn hóa Trung và Tây, không chỉ phò mã gia không đủ tư cách, Khang Yêu Vi, Trương Chi Đôn cũng không có điều kiện để "biết", Đặng Tiểu Bình, Trần Vân cũng sẽ ngớ người ra. Ngay cả Hu Shih "tinh hoa cả Tây học lẫn Trung học" dẫu có biết sơ sơ điểm dài điểm ngắn của nó, cũng không biết làm thế nào để "dung hợp", bởi vì acculturation không chỉ là vấn đề "trí tuệ" (wisdom); nó liên quan đến sự hội tụ của nhiều điều kiện như "thực nghiệm" (experimentation), "thời cơ" (timing) thậm chí là "cơ vận" (chances). Đây là sự vận hành lâu dài của toàn bộ xã hội; ngôn từ nhà Phật gọi là "phúc huệ song tu", không thể một bước mà đạt được. Cho nên bớt nói lời to tát, làm chút chuyện "mèo đen mèo trắng", bắt đầu lại từ đầu, chưa hẳn không phải là con đường giải quyết.
Nói như vậy, thì những gì Khang Yêu Vi làm không những không phải là acculturation, mà ngược lại là một thứ cultural division (sự chia rẽ văn hóa). Ông ta lôi những vấn đề học thuật vốn không thành vấn đề, cái gọi là giáo điều (dogmatism) "kim cổ văn" ra để cãi nhau với người khác, khiến nó trở thành vật cản đường cho biến pháp duy tân, chính là đảo lộn gốc ngọn.
Lịch sử không lặp lại, nhưng vết xe đổ có thể dùng làm gương. Ngày nay đại lục rốt cuộc trời không diệt Trung Quốc, đã nhốt một vị đại chuyên gia giáo điều vào quan tài bằng kính rồi. Còn những kẻ chuyên gia giáo điều nhỏ nhức nhối nối tiếp phía sau, vẫn đang chơi trò chủ nghĩa suông "họ Tư hay họ Xã" mà bản thân chúng cũng mù tịt, khiến tôi phải gấp sách lại mà thở dài.
Khi Khang Yêu Vi vào năm 1895 làm "công xa thượng thư" và lập "Cường học hội", cả nước hùa theo, ngay cả Lý Hồng Chương, Trương Chi Đôn, Viên Thế Khải v.v. cũng đều vui lòng bám theo đuôi ngựa, khí thế biết bao nhiêu?! Thế nhưng việc ông ta lụi tàn chớp nhoáng, cũng chính là vì bàn suông về chủ nghĩa, lấy sự nông cạn để rước lấy thất bại. Độc giả nếu không phiền, phần sau sẽ đưa ra kết luận.
*Vốn đăng trên "Truyện ký văn học" Đài Bắc, tập 60, kỳ 5