Truyền Thuyết Về Vua Arthur Và Các Hiệp Sĩ

Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Những Lời Tiên Tri Của Merlin Và Sự Ra Đời Của Arthur

❊ ❊ ❊

Kẻ cướp ngôi, vua Vortigern, đang ngự trên ngai vàng tại London, thì bất thình lình vào một ngày nọ, một sứ giả hớt hải chạy xộc vào, thở không ra hơi mà kêu lớn—

“Khởi bẩm Đức Vua, hãy đứng lên, kẻ thù đã tới nơi rồi! Chính là Ambrosius và Uther, những kẻ mà ngài đang chiếm đoạt ngai vị—đi cùng chúng là hai vạn quân binh—và chúng đã lập đại thệ, tâu Chúa thượng, rằng quyết lấy mạng ngài trước khi năm nay kết thúc; ngay lúc này đây, chúng đang tiến thẳng về phía ngài, nhanh và buốt giá tựa cơn gió bấc mùa đông.”

Nghe những lời ấy, mặt Vortigern cắt không còn hột máu; hoảng loạn và bối rối đứng bật dậy, ngài lập tức truyền triệu toàn bộ những thợ cả, nghệ nhân và thợ cơ khí tài giỏi nhất, rồi giận dữ hạ lệnh bắt họ phải lập tức tới miền viễn tây của vương quốc mà xây một tòa lâu đài thật đồ sộ và kiên cố. Đó sẽ là nơi ngài trốn chạy tìm chỗ nương thân hòng thoát khỏi ngọn lửa báo thù của các con trai tiên vương—“và hơn nữa,” ngài thét lên, “công trình này phải xong trong vòng một trăm ngày kể từ hôm nay, bằng không ta quyết chẳng tha mạng cho bất kỳ kẻ nào trong số các ngươi!”

Trước cơn thịnh nộ đe dọa đến tính mạng, đám thợ bèn tìm một địa điểm thích hợp để dựng tháp rồi hối hả đặt những viên đá móng đầu tiên. Thế nhưng tường thành cứ hễ xây nhô lên khỏi mặt đất thì đêm đến lại bị đánh sập và san phẳng bởi một bàn tay vô hình, tuyệt nhiên chẳng ai hay biết bằng cách nào, do ai, hay bởi thứ gì gây ra. Sự việc cứ thế lặp đi lặp lại nhiều lần, đám thợ kinh hồn bạt vía bèn tìm đến trước mặt nhà vua, phục rạp mình van xin ngài can thiệp cứu giúp hoặc giải thoát cho họ khỏi công việc kinh hoàng này.

Vừa căm phẫn vừa sợ hãi, nhà vua liền triệu các chiêm tinh gia và pháp sư tới để bàn thảo xem căn nguyên sự tình là do đâu và làm cách nào để hóa giải. Các pháp sư bày đủ bùa phép cùng các nghi lễ trừ tà, rốt cuộc tuyên bố rằng chỉ có máu của một thiếu niên sinh ra mà không có cha nơi cõi trần, đem vấy lên nền móng lâu đài, mới có thể giúp công trình đứng vững. Vậy là lính truyền tin lập tức được phái đi khắp mọi miền đất nước để lùng sục cho bằng được một đứa trẻ như thế, nếu quả thật có tồn tại. Khi mấy viên sứ giả đi qua một con đường làng nọ, họ thấy một lũ nhóc đang đánh nhau cãi vã kịch liệt, và nghe chúng quát tháo một đứa trẻ rằng—“Xéo đi, đồ tiểu quỷ!—xéo ngay! Đồ không cha nơi cõi trần! Đi mà tìm bố mày, để cho bọn tao yên!”

Nghe thấy vậy, các sứ giả chăm chú nhìn kỹ cậu bé rồi gặng hỏi lai lịch. Kẻ thì bảo nó tên là Merlin; kẻ khác lại nói chẳng ai rõ gốc tích cùng cha mẹ nó là ai; người thứ ba lại quả quyết rằng chính quỷ dữ mới là cha của nó. Nghe được những lời ấy, đám lính bèn bắt giữ Merlin rồi áp giải cậu về trước mặt nhà vua bằng vũ lực.

Nhưng vừa bị điệu tới nơi, cậu đã lớn tiếng chất vấn cớ sao mình lại bị bắt trói giải đến chốn này?

“Các pháp sư của ta,” Vortigern đáp, “bảo ta phải tìm một kẻ không có người cha phàm trần, rồi lấy máu kẻ đó vẩy lên lâu đài của ta, có vậy nó mới đứng vững được.”

“Xin bệ hạ hãy truyền lệnh gọi đám pháp sư đó ra đây đối chất,” Merlin nói, “rồi thần sẽ vạch trần lời dối trá của chúng.”

Nhà vua vô cùng kinh ngạc trước lời lẽ ấy, song vẫn lệnh cho đám phù thủy tiến vào ngồi trước mặt Merlin. Cậu bèn cất tiếng mắng chúng—

“Chính vì các ngươi chẳng hề biết thứ gì đang cản trở việc dựng móng lâu đài, nên mới xúi giục lấy máu ta làm vữa trát, cứ như thể làm vậy là xong chuyện; nhưng giờ hãy thử nói ta nghe xem bên dưới mảnh đất kia có gì, bởi ắt phải có thứ gì đó nằm bên dưới khiến cho tòa tháp không thể nào đứng vững?”

Đám pháp sư nghe những lời này thì bắt đầu run sợ, chẳng thốt nên lời. Đoạn Merlin quay sang tâu với nhà vua—

“Thần xin Chúa thượng hãy truyền cho thợ đào thật sâu xuống lòng đất, cho tới khi chạm đến một hồ nước lớn.”

Lệnh được thi hành, và quả nhiên người ta phát hiện ra một hồ nước nằm sâu hun hút dưới lòng đất.

Bấy giờ, lại quay về phía đám phù thủy, Merlin nói: “Giờ thì nói đi, hỡi lũ nịnh thần dối trá, dưới đáy hồ kia có thứ chi?”—nhưng bọn chúng vẫn câm như hến. Merlin bèn tâu với vua: “Xin bệ hạ hãy hạ lệnh tháo cạn hồ nước này, dưới đáy sẽ lộ ra hai con rồng khổng lồ đang say ngủ, nhưng cứ hễ đêm về là chúng lại thức giấc, cắn xé và quần thảo lẫn nhau. Trận chiến dữ dội của chúng làm rung chuyển cả đất trời, khiến cho các tòa tháp của ngài sụp đổ, đó là lý do vì sao công trình chưa bao giờ tìm được nền móng vững chắc.”

Nhà vua hết đỗi kinh ngạc trước những lời ấy, nhưng vẫn lệnh tát cạn nước trong hồ; và chẳng mấy chốc, người ta quả nhiên nhìn thấy dưới đáy hồ có hai con rồng đang ngủ say sưa, y hệt như lời Merlin đã phán.

Vortigern bèn ngồi bên bờ hồ đợi tới đêm để xem sự thể diễn tiến ra sao.

Khi màn đêm buông xuống, hai con rồng—một con màu trắng, một con màu đỏ—bừng tỉnh rồi tiến lại gần nhau, bắt đầu lao vào một trận kịch chiến kinh thiên động địa, miệng phun ra những luồng lửa đỏ rực. Rồng trắng dần chiếm thế thượng phong, rượt đuổi rồng đỏ tới tận mép hồ. Nhưng rồng đỏ, vì uất ức trước cảnh tháo chạy, đã quay đầu phản kích kẻ thù, khơi lại cuộc huyết chiến và bức đối thủ phải thoái lui. Dẫu vậy, cuối cùng rồng đỏ vẫn bại trận, còn rồng trắng thì biến mất tăm hơi, không ai hay biết đã đi đâu.

Trận chiến tàn cuộc, nhà vua yêu cầu Merlin giải thích ý nghĩa của điềm triệu này. Nghe vậy, Merlin bật khóc nức nở, rồi cất giọng đọc lời sấm truyền đầu tiên báo trước sự xuất hiện của Vua Arthur.

“Khốn thay cho con rồng đỏ, tượng trưng cho dân tộc Britain, bởi ngày lưu đày của nó đã cận kề; hang ổ ẩn náu của nó sẽ bị đoạt lấy bởi con rồng trắng—chính là tộc Saxon mà ngài, hỡi Đức Vua, đã rước vào mảnh đất này. Núi non sẽ bị san phẳng như thung lũng, và sông ngòi nơi lũng sâu sẽ chảy tràn máu đỏ; các thành thị sẽ bị thiêu rụi, và thánh đường sẽ thành đống tro tàn; cho đến khi những kẻ bị áp bức vùng lên trong một thời khắc và đánh bại quân xâm lược. Bởi một Con Heo Rừng xứ Cornwall sẽ trỗi dậy xé xác chúng, giẫm đạp cổ chúng dưới chân mình. Hòn đảo này sẽ quy phục quyền uy của ngài, và ngài sẽ đoạt lấy những cánh rừng xứ Gaul. Hậu duệ của Romulus sẽ phải kinh hồn bạt vía—cả thế gian sẽ khiếp sợ ngài—và chẳng một ai tường tận hồi kết của ngài; ngài sẽ bất tử nơi cửa miệng người đời, và chiến công của ngài sẽ là nguồn nuôi dưỡng tâm hồn cho những ai kể lại.

“Còn về phần ngài, hỡi Vortigern, hãy trốn chạy các con trai của Constantine đi, bởi họ sẽ thiêu sống ngài ngay trong tòa tháp của ngài. Chính sự phản bội của ngài đối với cha họ, cùng việc ngài dẫn lũ dị giáo Saxon vào xứ sở này, đã tự chuốc lấy sự diệt vong cho ngài. Aurelius và Uther lúc này đã kề cận để báo thù cho cái chết của vua cha; và bầy đàn của rồng trắng sẽ tàn phá xứ sở ngài, rồi liếm láp máu ngài. Cứ việc tìm nơi ẩn náu nếu ngài muốn! Nhưng ai có thể thoát khỏi bản án của Thượng Đế?”

Nghe hết những lời này, nhà vua run rẩy tột cùng; biết mình mang trọng tội, ngài chẳng thể nói được nửa lời. Ngài chỉ còn biết ngày đêm hối thúc thợ thuyền xây tháp, chẳng dám ngơi nghỉ giây phút nào cho tới khi trốn vào được bên trong.

Trong khi đó, Aurelius, vị vua chính thống, được người dân Britain hân hoan chào đón; họ nườm nượp kéo đến tụ hội dưới ngọn cờ của ngài, tha thiết xin được dẫn đường đi đánh đuổi giặc Saxon. Thế nhưng, chừng nào chưa lấy được mạng Vortigern, ngài quyết không phát động bất kỳ cuộc chiến nào khác. Bởi thế, ngài dẫn quân tới Cambria, áp sát tòa tháp mà kẻ soán ngôi đã dựng nên. Đoạn, ngài thét lớn với toàn thể các hiệp sĩ của mình: “Hãy báo thù kẻ đã tàn phá Britain, kẻ đã sát hại phụ vương ta và cũng là vị vua của các ngươi!” rồi cùng hàng vạn binh sĩ xông lên phá thành. Tuy nhiên, sau nhiều lần bị đánh bật trở lại, cuối cùng ngài nghĩ ra kế dùng hỏa công, bèn hạ lệnh ném những ngọn đuốc cháy rực vào tòa lâu đài từ khắp bốn phía. Gặp đúng vật liệu dễ cháy, lửa bén nhanh và cuồng nộ bốc cao, chẳng mấy chốc biến thành một trận đại hỏa hoạn, thiêu rụi cả tòa tháp cùng Vortigern bên trong.

Kế đó, Aurelius dồn toàn lực đánh Hengist cùng quân Saxon; liên tiếp đánh bại chúng ở nhiều nơi, ngài đã làm suy yếu nhuệ khí của chúng suốt một thời gian dài, mang lại nền thái bình cho xứ sở.

Ít lâu sau, nhà vua bận rộn xuôi ngược khắp nơi, cho trùng tu các giáo đường đổ nát và tái lập trật tự kỷ cương; ngài đặt chân tới một tu viện gần Salisbury, nơi chôn cất tất cả các hiệp sĩ Britain đã ngã xuống bởi sự phản trắc của Hengist. Số là trước kia, Hengist từng ký kết một hòa ước long trọng với Vortigern, hẹn gặp mặt trong hòa bình để định ra các điều khoản rút toàn bộ quân Saxon khỏi Britain; thế nhưng lính Saxon ai nấy đều giấu một con dao găm dài trong vạt áo, rồi đợi đúng ám hiệu là đồng loạt xông vào tàn sát người Britain, đoạt mạng gần năm trăm nhân mạng.

Tận mắt nhìn thấy nơi an nghỉ của những người đã khuất, Aurelius không khỏi xót xa thương cảm; ngài trăn trở suy nghĩ cách dựng một lăng mộ xứng tầm để tưởng nhớ biết bao vị liệt sĩ cao quý đã xả thân vì tổ quốc.

Sau khi tham vấn nhiều thợ cả và kiến trúc sư mà chẳng đi đến đâu, nghe theo lời khuyên của vị tổng giám mục, ngài bèn cho triệu Merlin tới để hỏi kế sách. Merlin đáp: “Nếu bệ hạ muốn tôn vinh nơi an nghỉ của những con người này bằng một đài tưởng niệm trường tồn muôn thuở, hãy phái người đi thỉnh ‘Điệu Vũ Của Người Khổng Lồ’ ở Killaraus, một ngọn núi bên xứ Ireland; bởi nơi ấy có một công trình bằng đá mà thời nay không một ai có thể dựng nổi nếu không am tường nghệ thuật tuyệt đỉnh. Đó là những tảng đá khổng lồ mang đặc tính kỳ diệu; nếu có thể đem về dựng xung quanh mảnh đất này đúng như cách chúng đang đứng nơi đó, chúng sẽ sừng sững tồn tại đến muôn đời.”

Nghe Merlin nói vậy, Aurelius bật cười bảo rằng: “Làm sao có thể dời những khối đá khổng lồ như thế từ một khoảng cách xa xôi nhường ấy, chẳng lẽ đất Britain này lại thiếu đá thích hợp để làm việc đó sao?”

Merlin tâu: “Xin bệ hạ chớ vội cười cợt hoài công; những gì thần nói hoàn toàn là sự thật, bởi các phiến đá đó ẩn chứa sự huyền bí và có khả năng chữa lành. Người khổng lồ thời xa xưa đã mang chúng từ bờ cõi xa xôi tận châu Phi về dựng ở Ireland trong thời gian họ sinh sống tại xứ ấy; mục đích của họ là tạo thành những bể tắm dùng khi mắc phải bạo bệnh. Bởi nếu người ta cọ rửa đá rồi cho người bệnh ngâm mình vào dòng nước ấy, bệnh tật ắt sẽ tiêu trừ, ngay cả những binh sĩ mang thương tích ngoài chiến trường cũng được chữa lành; và chẳng một hòn đá nào trong số đó lại không lưu giữ thứ quyền năng nhiệm màu ấy cho đến tận hôm nay.”

Người Britain nghe vậy liền quyết tâm xuất quân đi lấy đá về, sẵn sàng khai chiến với người Ireland nếu họ dám cản trở. Thế rồi, sau khi tôn Uther, hoàng đệ của nhà vua, lên làm thống lĩnh, đoàn quân gồm một vạn năm ngàn người giương buồm trực chỉ Ireland. Tới nơi, vua Gillomanius kịch liệt chống cự; phải trải qua một trận chiến khốc liệt, quân Britain mới tiếp cận được “Điệu Vũ Của Người Khổng Lồ”, cảnh tượng tráng lệ ấy khiến họ vô cùng hoan hỉ và thán phục. Tuy nhiên, khi họ tìm cách xê dịch các khối đá, thì dẫu dồn hết sức lực của cả đạo quân cũng hoàn toàn bất lực; mãi đến khi Merlin, vừa bật cười trước sự bế tắc của họ, vừa chế ra những cỗ máy khéo léo đến kỳ tài, các khối đá mới được dỡ xuống một cách dễ dàng rồi đưa lên thuyền.

Khi toàn bộ số đá đã được vận chuyển về Salisbury, Aurelius đầu đội vương miện, cử hành lễ Hiện Xuống suốt bốn ngày ròng với vẻ uy nghi vương giả; giữa sự chứng kiến của toàn thể tăng lữ cùng bách tính, Merlin đã dựng các phiến đá lên, xếp chúng bao quanh lăng mộ của các hiệp sĩ và quý tộc, y hệt như thế đứng của chúng trên ngọn núi xứ Ireland thuở nào.

Từ đó, đài tưởng niệm được gọi tên là “Stonehenge”, công trình mà như mọi người đều biết, vẫn sừng sững đứng trên đồng bằng Salisbury cho tới tận ngày nay.

Ít lâu sau, tai họa ập đến khi Aurelius bị đầu độc sát hại tại Winchester, và chính ngài cũng được an táng bên trong “Điệu Vũ Của Người Khổng Lồ”.

Cùng thời điểm đó, trên bầu trời xuất hiện một ngôi sao chổi sáng rực rỡ với kích thước kinh người, phóng ra một luồng sáng, nơi đuôi luồng sáng ấy kết thành một vệt mây lửa mang hình hài một con rồng; từ miệng rồng tỏa ra hai tia sáng, một tia rọi thẳng tới xứ Gaul, tia còn lại tẽ ra thành bảy tia sáng nhỏ hơn quét qua biển Irish.

Trước sự xuất hiện của vì sao lạ, nỗi kinh hoàng bao trùm khắp toàn dân, còn Uther, lúc bấy giờ đang hành quân vào Cambria để thảo phạt con trai của Vortigern, cũng vô cùng hoang mang không rõ điềm báo này mang ý nghĩa gì. Bấy giờ Merlin được triệu tới trước mặt ngài, bèn cất tiếng than lớn: “Hỡi sự mất mát lớn lao xiết bao! Hỡi xứ Britain đau thương tan nát! Than ôi! Vị minh quân vĩ đại đã rời bỏ chúng ta rồi. Aurelius Ambrosius đã băng hà, cái chết của ngài rồi cũng sẽ là của chúng ta, trừ phi có Thượng Đế chở che hộ trì. Bởi thế, hỡi Uther cao quý, hãy mau chóng tiêu diệt quân thù; chiến thắng ắt thuộc về ngài, và ngài sẽ trở thành đấng quân vương của toàn cõi Britain. Vì ngôi sao cùng rồng lửa kia chính là biểu trưng cho ngài; còn tia sáng rọi tới xứ Gaul báo trước rằng ngài sẽ sinh được một người con trai vô cùng dũng mãnh, kẻ mà tất thảy các vương quốc nằm dưới bóng tia sáng ấy đều sẽ phải cúi đầu quy phục.”

Đó là lần thứ hai Merlin tiên tri về sự xuất hiện của Vua Arthur. Đến khi lên ngôi báu, Uther ghi nhớ lời Merlin, liền sai người đúc hai con rồng bằng vàng phỏng theo hình dáng con rồng ngài từng thấy nơi ngôi sao chổi. Một con ngài dâng tặng cho Giáo đường Winchester, con còn lại luôn được rước đi trước mặt ngài trong mọi cuộc viễn chinh, cũng bởi cớ đó mà người đời sau mãi gọi ngài là Uther Pendragon, nghĩa là “Đầu Rồng”.

Bấy giờ, sau khi Uther Pendragon đã kinh lý khắp đất nước, thiết lập nền an định—thậm chí còn tiến quân sang tận cõi bờ của người Scot, thuần phục sự hung tợn của bộ tộc phản loạn ấy—ngài trở về London để chấp chính và thực thi công lý. Đúng vào dịp đại yến và ngày hội lớn mà nhà vua mở ra nhân tiết Phục Sinh, có sự hiện diện của đông đảo các bá tước và quý tộc, trong đó có Gorloïs, Công tước xứ Cornwall, cùng phu nhân là Igerna, người được xưng tụng là tuyệt sắc giai nhân số một cõi Britain. Chẳng bao lâu sau, Gorloïs tử trận nơi sa trường, Uther bèn quyết tâm cưới Igerna làm vợ. Song để thực hiện được điều này và có thể tiếp cận nàng—bởi bấy giờ nàng đang bị giam lỏng trong tòa lâu đài Tintagil kiên cố ngất trời nơi bờ cõi xa xôi nhất của Cornwall—nhà vua bèn cho triệu Merlin tới để bàn kế và cầu xin sự giúp đỡ. Merlin ưng thuận tương trợ với một điều kiện duy nhất—đó là nhà vua phải giao đứa con trai đầu lòng do cuộc hôn nhân này sinh ra cho ông. Bởi nhờ pháp thuật của mình, Merlin đã biết trước rằng đứa con đầu lòng ấy chính là vị hoàng tử mà muôn dân hằng mong đợi, Vua Arthur tương lai.

Bởi vậy, khi Uther rốt cuộc đã thành hôn êm ấm, một hôm nọ Merlin đến lâu đài và nói: “Thưa bệ hạ, nay ngài phải chuẩn bị việc nuôi nấng giọt máu của mình.”

Nhà vua chẳng chút nghi ngại, đáp: “Cứ theo ý ông mà làm.”

Merlin nói: “Thần biết một vị lãnh chúa dưới trướng bệ hạ tại xứ này, một người vừa chính trực lại vừa trung thành; hãy giao đứa trẻ cho người ấy dưỡng dục. Tên ngài ấy là Hiệp sĩ Ector, sở hữu nhiều thái ấp trù phú ở cả Anh quốc lẫn xứ Wales. Vậy nên, khi đứa trẻ chào đời, hãy trao nó cho thần ngay tại cánh cổng hậu đằng kia trước khi làm phép rửa tội, rồi thần sẽ đem gửi gắm nó cho vị hiệp sĩ nhân đức này chăm sóc.”

Bởi thế, khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời, nhà vua liền sai hai hiệp sĩ cùng hai quý phu nhân bọc hài nhi trong gấm vóc dát vàng lộng lẫy, đem trao cho một người nghèo khổ mà họ sẽ gặp nơi cổng hậu. Đứa trẻ được trao tận tay Merlin—người bấy giờ đã tự hóa trang thành một kẻ khốn cùng—rồi được ông bế tới gặp một vị linh mục đạo hạnh để làm lễ rửa tội với cái tên Arthur, sau đó đưa tới tư dinh của Hiệp sĩ Ector và được nuôi nấng bằng chính dòng sữa mẹ của phu nhân Ector. Suốt nhiều năm ròng, cậu bé sống kín đáo tại mái nhà ấy, tuyệt nhiên không một ai hay biết tông tích cậu ở đâu, ngoại trừ Merlin và nhà vua.

Ít lâu sau, nhà vua chẳng may lâm trọng bệnh dai dẳng; lũ dị giáo Saxon chớp lấy thời cơ liền từ bên kia bờ biển tràn sang như ong vỡ tổ, dùng gươm giáo và lửa đỏ tàn phá khắp chốn. Nghe tin dữ, Uther nổi cơn lôi đình vượt quá sức chịu đựng của thân thể ốm yếu; ngài triệu tập toàn thể triều thần tới để mắng mỏ tội hèn nhát của họ. Sau khi quở trách họ một trận gay gắt và dữ dội, ngài thề rằng dẫu bản thân đang cận kề cái chết, ngài vẫn sẽ đích thân dẫn quân ra nghênh địch. Đoạn, ngài truyền làm một chiếc cáng do ngựa kéo để có thể nằm trên đó mà đi—bởi ngài đã quá suy kiệt chẳng thể ngồi vững trên lưng ngựa—rồi cùng toàn quân tức tốc tiến đánh giặc Saxon.

Thế nhưng quân Saxon, khi nghe tin Uther nằm cáng ra trận, lại tỏ vẻ khinh miệt không thèm giao chiến; chúng bảo rằng những kẻ dũng cảm mà lại đi đánh nhau với một người nửa sống nửa chết thì quả là điều nhục nhã. Chúng bèn rút lui vào thành lũy; và như để thách thức hiểm nguy, chúng mở toang các cánh cổng thành. Uther lập tức hạ lệnh cho quân sĩ công thành; binh lính không chậm trễ một giây, ùa tới áp sát chân thành. Đến lúc này, quân Saxon mới hối hận vì thói kiêu căng ngạo mạn thì đã quá muộn, vội vã ùa ra nghênh chiến. Trận chiến diễn ra ác liệt cho tới tận đêm khuya và lại tiếp tục bùng lên vào ngày hôm sau; rốt cuộc, hai thủ lĩnh của chúng là Octa và Eosa đều bị tiêu diệt, tàn quân Saxon bèn quay đầu tháo chạy thảm hại, dâng trọn chiến thắng vang dội cho người Britain.

Thắng trận, nhà vua mừng rỡ khôn xiết; trước kia ngài khó lòng gượng dậy nếu không có người đỡ, thế mà nay ngài đã có thể tự mình ngồi thẳng trên cáng, nét mặt rạng rỡ tươi cười bảo rằng: “Chúng gọi ta là ông vua nửa sống nửa chết, quả thực chẳng sai; nhưng với ta, một kẻ nửa sống nửa chết giành được chiến thắng còn vinh quang hơn vạn lần việc thất trận mà thân thể lành lặn khỏe mạnh. Bởi chết trong danh dự thì tốt hơn nhiều so với việc sống trong nỗi ô nhục.”

Dẫu vậy, quân Saxon dù bại trận nhưng vẫn nung nấu ý đồ gây chiến. Uther toan truy kích đến cùng; song bệnh tình của ngài lúc này đã trở nặng đến mức các hiệp sĩ và quý tộc phải hết lời can ngăn. Thấy thế, quân thù lấy lại nhuệ khí, không từ thủ đoạn tàn phá xứ sở; cuối cùng, chúng dùng đến mưu hèn kế bẩn tột cùng là quyết định ám hại nhà vua bằng thuốc độc.

Để thực hiện mưu đồ này, nhân lúc ngài đang dưỡng bệnh tại Verulam, chúng bí mật phái người bỏ độc vào một mạch suối nước trong lành—nơi ngài vẫn thường lấy nước uống hàng ngày; và thế là ngay ngày hôm sau, ngài quằn quại trong cơn đau thập tử nhất sinh. Tiếp sau ngài, hàng trăm người khác cũng chịu chung số phận trước khi âm mưu bỉ ổi bị phát giác và người ta phải xúc từng đống đất lấp kín miệng giếng.

Các hiệp sĩ và quý tộc vô cùng đau xót, bèn cùng nhau bàn bạc rồi tìm đến Merlin nhờ giúp đỡ để lắng nghe di nguyện của nhà vua trước lúc lâm chung, bởi khi ấy ngài đã không còn cất nên lời. Merlin nói: “Hỡi các ngài, chẳng còn phương thuốc nào cứu vãn được nữa, và ý trời thì phải thuận theo; nhưng ngày mai, tất thảy các ngài hãy tề tựu trước mặt bệ hạ, bởi Thượng Đế sẽ ban cho ngài khả năng cất tiếng nói trước lúc nhắm mắt xuôi tay.”

Bởi vậy, sáng hôm sau, toàn thể các quý tộc cùng Merlin tề tựu vây quanh long sàng của nhà vua; Merlin cất cao giọng hỏi Uther: “Tâu Chúa thượng, liệu con trai ngài là Arthur có phải là người kế thừa ngai vàng cai trị toàn cõi vương quốc này sau khi ngài băng hà chăng?”

Uther Pendragon bấy giờ xoay người lại, cất giọng cho toàn thể mọi người cùng nghe: “Nguyện xin phúc lành của Thượng Đế và của ta ngự trên người nó. Ta mong nó hãy cầu nguyện cho linh hồn ta, và dặn nó phải đòi lại vương miện của ta, bằng không nó sẽ mất hết mọi phước lành ta ban;” và dứt lời, ngài trút hơi thở cuối cùng.

Bấy giờ, toàn thể các giám mục, hàng giáo phẩm cùng đông đảo muôn dân tề tựu đông đủ, khóc thương tiễn biệt nhà vua; đoạn, họ rước thi hài ngài về tu viện Ambrius, rồi an táng ngài bên cạnh phần mộ của người anh trai, ngay bên trong “Điệu Vũ Của Người Khổng Lồ”.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.