Ít lâu sau đó, tin báo truyền tới vua Arthur rằng Ryence, vua xứ Bắc Wales, đang dấy binh phạt vua Leodegrance xứ Camelgard. Arthur nghe xong thì vô cùng phẫn nộ, bởi ngài rất mực yêu mến Leodegrance và căm ghét Ryence. Ngài liền cùng hai vua Ban và Bors thống lĩnh hai vạn quân tiến thẳng tới Camelgard, giải vây cho Leodegrance, chém chết một vạn quân của Ryence và đánh tan tác tàn quân của hắn. Vua Leodegrance bèn mở đại tiệc khoản đãi ba vị vua, chuẩn bị đủ mọi trò vui và yến tiệc hoan lạc khôn cùng. Cũng chính tại nơi đây, lần đầu tiên vua Arthur diện kiến Guinevere, ái nữ của Leodegrance, người mà về sau ngài đã kết duyên cầm sắt như sẽ kể ở các phần sau.

Sau đó, hai vua Ban và Bors cáo từ trở về bờ cõi, nơi vua Claudas đang gây nhiều điều nhiễu loạn. Vua Arthur toan đi cùng, nhưng hai vị vua từ chối mà rằng: “Xin ngài chớ đi chuyến này, bởi ngài còn bao việc lớn phải lo nơi bờ cõi của chính mình; phần chúng tôi, nhờ của cải châu báu ngài ban thưởng, sẽ chiêu mộ thêm nhiều hiệp sĩ kiên trung, và đội ơn Chúa lòng lành, quyết đẩy lùi dã tâm của vua Claudas. Nhược bằng chúng tôi gặp bước ngặt nghèo, tất sẽ sai người cầu viện; và khi nào ngài hữu sự, cứ việc truyền triệu, chúng tôi xin lấy danh dự mà thề sẽ chẳng quản ngại đường xa sang giúp ngay.”
Khi hai vị vua đã rời đi, vua Arthur dong ngựa về Caerleon. Tại đây, Belisent, người chị cùng mẹ khác cha và là vợ vua Lot, đã tìm đến ngài dưới danh nghĩa sứ giả, song thực chất là để dò xét thanh thế. Cùng đi với nàng có cả một đoàn tùy tùng quyền quý và bốn người con trai: Gawain, Gaheris, Agravaine và Gareth. Thế nhưng, khi tận mắt chiêm ngưỡng phong thái cao quý của vua Arthur cùng vẻ uy nghi lộng lẫy của các hiệp sĩ dưới trướng ngài, nàng không nỡ lòng làm nội gián cho kẻ thù nữa, bèn đem toàn bộ mưu mô phản nghịch của chồng tâu hết với Arthur. Nhà vua chẳng hề hay biết nàng là người chị cùng mẹ khác cha của mình, bèn hết mực chiều chuộng, say đắm nhan sắc diễm lệ của nàng đến mức đem lòng yêu thương vô độ, giữ nàng lại Caerleon suốt một thời gian dài. Chính vì cớ ấy mà chồng nàng, vua Lot, càng thêm căm hận vua Arthur tột cùng, mối thù sâu như biển ấy chỉ có cái chết mới xóa nhòa.
Vào dạo ấy, vua Arthur thấy một giấc chiêm bao kỳ quái khiến lòng dạ chẳng yên. Ngài mơ thấy khắp cõi bờ ngập tràn những quái thú đầu ưng mình sư tử và lũ rắn lửa dữ tợn, chúng thiêu rụi và sát hại lê dân khắp chốn; rồi ngài thấy chính mình thân chinh giao chiến với chúng, bị chúng đả thương trầm trọng đến gần kề cõi chết, song rốt cuộc ngài vẫn đập tan và giết sạch toàn bộ lũ quái vật. Tỉnh giấc, ngài bàng hoàng trĩu nặng âu lo, mãi suy ngẫm xem điềm triệu ấy báo trước điều chi. Nhưng nghĩ mãi chẳng ra manh mối, để xua tan nỗi bận lòng, ngài bèn truyền lệnh chuẩn bị một chuyến săn lớn cùng đoàn tùy tùng đông đảo.
Vừa tiến vào cánh rừng sâu, nhà vua chợt thấy một con hươu lớn xuất hiện trước mắt, liền giục ngựa hăm hở đuổi theo. Ngài ruổi ngựa mải miết đến nỗi con tuấn mã kiệt sức, ngã quỵ xuống đất mà chết. Thấy hươu đã chạy mất dạng còn ngựa quý thì đã bỏ mạng, Arthur ngồi xuống bên một bờ suối, lại chìm vào những dòng suy tưởng mông lung. Đang lúc ngồi một mình nơi tĩnh mịch, ngài chợt nghe như có tiếng sủa vang rền của chừng ba mươi cặp chó săn; ngước mắt nhìn lên, ngài kinh ngạc thấy một con quái thú kỳ dị nhất trần đời đang lao tới bên dòng suối uống nước. Nó mang cái đầu của loài rắn, thân mình loài báo, đuôi loài sư tử và móng vuốt của loài hươu; còn tiếng ồn ầm ĩ lại phát ra từ tận bụng nó, hệt như tiếng của ba mươi cặp chó săn đang gầm réo sủa dồn. Trong lúc nó cúi đầu uống nước thì bụng nó im bặt; nhưng vừa uống xong, nó liền rời đi với những âm thanh huyên náo còn dữ dội hơn trước.
Nhà vua vô cùng kinh ngạc trước cảnh tượng ấy; song vì quá mệt mỏi, ngài thiếp đi lúc nào chẳng hay. Không lâu sau, ngài bị đánh thức bởi một hiệp sĩ đi bộ. Người này cất tiếng: “Hỡi hiệp sĩ đang ngủ vùi trong âu lo kia, hãy cho ta biết người có thấy một con thú kỳ lạ đi qua lối này chăng?”
“Ta có thấy một con quái thú như thế,” vua Arthur đáp, “nhưng giờ nó đã đi xa ít nhất hai dặm đường rồi. Ngươi tìm giống vật ấy để làm chi?”
Hiệp sĩ nọ thưa: “Thưa ngài, tôi đã bám đuổi nó từ lâu lắm rồi, đến nỗi ngựa của tôi cũng đã kiệt sức mà chết. Ước gì trời cao ban cho tôi một con ngựa khác để tiếp tục cuộc truy lùng này.”
Đúng lúc ấy, một người hầu cận dắt tới một con tuấn mã khác cho nhà vua. Vừa trông thấy ngựa, viên hiệp sĩ khẩn khoản xin được nhận lấy. “Bởi lẽ,” chàng ta nói, “tôi đã dốc lòng theo đuổi sứ mệnh này ròng rã suốt mười hai tháng qua, và hoặc là tôi phải hoàn thành nó, hoặc là phải đổ đến giọt máu cuối cùng của đời mình.”
Hiệp sĩ ấy chính là vua Pellinore, người bấy giờ đang mải miết săn lùng con Quái thú Gầm réo, song cả hai vị vua đều chẳng hề nhận ra nhau.
Vua Arthur bèn bảo: “Hỡi hiệp sĩ, hãy từ bỏ cuộc săn ấy đi và nhường lại cho ta, ta sẽ theo đuổi nó trong mười hai tháng tới.”
Hiệp sĩ kia cười đáp: “Hỡi kẻ dại dột, ước muốn của ngươi thật hão huyền, vì sứ mệnh này chẳng một ai có thể hoàn thành, ngoại trừ ta hoặc người ruột thịt thân thích nhất của ta.”
Nói đoạn, chàng ta liền lao tới ngựa của nhà vua, nhảy tót lên yên rồi hô lớn: “Đa tạ, con ngựa này nay thuộc về ta!”
Vua Arthur nghiêm giọng: “Được thôi, ngươi cậy sức cướp ngựa của ta, ta chẳng buồn ngăn cản; nhưng chừng nào ta và ngươi chưa phân tài cao thấp trên lưng ngựa, ta quyết chẳng chịu yên lòng.”
Hiệp sĩ nọ đáp: “Bất cứ khi nào muốn, hãy đến tìm ta tại đây, ngươi sẽ thấy ta bên bờ suối này;” dứt lời, người ấy phóng ngựa rời đi.
Vua Arthur ngồi lại trầm ngâm suy nghĩ một hồi lâu, rồi truyền lệnh cho bọn thị tùng mau mau dắt tới một con ngựa khác. Trong lúc bọn họ vừa rời đi để ngài lại một mình, Merlin bèn biến hóa thành một đứa trẻ mười bốn tuổi xuất hiện, cúi chào nhà vua và hỏi cớ sao ngài lại ưu tư trĩu nặng dường ấy.
Arthur đáp: “Ta chẳng âu lo sao được, khi vừa mới tận mắt chứng kiến điều kỳ dị nhất trên đời.”
Merlin tiếp lời: “Điều ấy ta biết rõ lắm chứ, ta thấu suốt chẳng kém gì ngài, và ta cũng hay cả mọi tâm tư của ngài; nhưng ngài thật khờ dại khi cứ chuốc lấy muộn phiền, bởi âu lo chẳng giúp ích được chi. Ta còn biết ngài là ai, và biết rõ cả cha lẫn mẹ của ngài nữa.”
Vua Arthur gạt đi: “Ngươi nói bừa! Ngần ấy tuổi đầu thì làm sao ngươi biết được?”
Merlin điềm nhiên: “Phải, nhưng ta biết rõ gốc tích ngày ngài chào đời hơn cả chính ngài, và hơn bất kỳ kẻ nào đang sống trên đời này.”
“Ta chẳng tin lời con nít,” vua Arthur nổi giận phán.
Merlin liền biến mất, rồi thoắt cái lại hiện ra trong hình hài một cụ già tám mươi tuổi. Thấy cụ già cốt cách thông tuệ, đáng kính, lòng vua nguôi ngoai và lấy làm mừng rỡ. Lão trượng bèn hỏi: “Cớ sao ngài lại sầu muộn đến thế?”
Vua Arthur giải bày: “Bởi muôn vàn lẽ; hôm nay ta đã gặp những chuyện lạ lùng, và mới ban nãy thôi, một đứa trẻ đã nói ra những điều vượt xa sự hiểu biết của lứa tuổi nó.”
Lão trượng ôn tồn: “Quả vậy, nhưng đứa trẻ ấy đã nói thật lòng, và nếu ngài chịu lắng nghe, nó còn có thể tỏ tường nhiều điều hơn nữa. Song ta sẽ nói cho ngài hay duyên cớ ngài buồn bã: gần đây ngài đã phạm phải một tội lỗi khiến Thượng đế phật lòng, và việc ấy là chi thì tận đáy lòng ngài biết rõ, dẫu cho chẳng một ai hay.”
Vua Arthur thất thần đứng bật dậy, mặt mày tái mét: “Ngươi là ai mà dám buông những lời kinh động nhường ấy?”
Lão già đáp: “Ta chính là Merlin, và đứa trẻ ban nãy cũng là ta hóa phép ra đấy thôi.”
Arthur thốt lên: “Than ôi! Ngươi quả là bậc kỳ nhân khiến người ta phải kính sợ, hôm nay ta có bao điều muốn thưa hỏi và tỏ bày cùng ngươi.”
Trong lúc hai người đang trò chuyện, thị tùng dắt ngựa tới. Vua Arthur và Merlin mỗi người cưỡi một con, cùng nhau dong ngựa về Caerleon. Dọc đường, Merlin đã nói trước cho Arthur biết về cái chết tương lai của ngài, và cũng tiên tri luôn cả kết cục của chính mình.
Sau khi đã đánh dẹp tan tác và đè bẹp những vị vua từng bao năm cản trở lễ đăng quang của mình, vua Arthur dồn hết tâm trí vào việc quét sạch quân dị giáo Saxon vốn vẫn đang ra sức tàn phá non sông. Ngài bèn triệu tập các hiệp sĩ cùng toàn thể quân sĩ, thân chinh dẫn đại quân tiến về York, nơi thủ lĩnh Saxon là Colgrin đang đóng một lực lượng hùng hậu; tại đó, một trận kịch chiến đẫm máu kéo dài đã diễn ra, ngài dồn ép Colgrin vào tận trong thành rồi vây hãm nghiêm ngặt. Bấy giờ, Baldulph, em trai của Colgrin, bí mật dẫn sáu ngàn quân đến tập kích vua Arthur hòng giải vây cho anh trai. Song Arthur đã sớm nắm bắt cơ mưu, ngài liền cử sáu trăm kỵ binh cùng ba ngàn bộ binh mai phục đánh úp lại. Đúng như dự liệu, quân Arthur nghênh chiến giữa đêm đen mịt mùng, đánh cho chúng tan tác tơi bời, ai nấy đều phải tháo chạy thảm bại để giữ lấy mạng sống. Nhưng Baldulph, trong nỗi xót xa tuyệt vọng, quyết liều mình chia sẻ hoạn nạn với anh trai; hắn cạo trọc đầu râu, cải trang thành một tên hề ca hát rồi cứ thế gảy đàn hạc đi lọt qua doanh trại của vua Arthur, dần dà tiến sát chân thành, ra hiệu cho người trên bờ tường nhận ra và dùng dây thừng dòng kéo hắn vào trong.
Không lâu sau, đang lúc Arthur siết chặt vòng vây quanh thành, tin dữ truyền về báo rằng có tới sáu trăm chiến thuyền chở theo vô số quân Saxon do Cheldric chỉ huy đã đổ bộ lên bờ biển phía đông. Hay tin, ngài lập tức giải vây, kéo quân thần tốc về London để củng cố lực lượng, rồi cùng các đại thần bàn mưu tính kế nhằm vĩnh viễn quét sạch giặc Saxon khỏi bờ cõi.
Được người cháu là Hoel, vua xứ Armorica, mang đại binh sang hiệp lực, vua Arthur cùng một lực lượng hùng hậu gồm các đại thần, hiệp sĩ và quân sĩ thiện chiến đã rầm rộ tiến về Lincoln, nơi quân Saxon đang vây hãm. Tại đây, ngài đã giáng cho quân thù một trận đòn sấm sét, chém chết hơn sáu ngàn tên giặc, khiến đại quân của chúng phải quay đầu tháo chạy tán loạn. Ngài hạ lệnh ráo riết truy kích chúng vào tận rừng Celidon; tại đó, quân giặc nấp sau những thân cây rậm rạp để tránh tên bắn, kết thành trận thế tử thủ và ngoan cường kháng cự suốt một thời gian dài. Thấy vậy, Arthur bèn hạ lệnh đốn hạ toàn bộ cây cối trong khu vực ấy, phá tan mọi nơi ẩn náu và mai phục; ngài dùng những thân cây và cành lá đắp thành một lũy chướng ngại vật khổng lồ, giam hãm và chặn đứng đường tháo lui của giặc. Sau ba ngày bị vây chặt, đói khát đến cận kề cái chết, quân Saxon đành chịu đầu hàng, xin dâng nộp toàn bộ vàng bạc chiến lợi phẩm, hứa sẽ lập tức rút hết về nước trên những con tàu trống không; đồng thời cam kết sẽ cống nạp cho vua Arthur một khi về tới quê nhà, và để lại con tin làm tin cho tới khi trả đủ.
Vua Arthur ưng thuận lời thỉnh cầu và tha cho chúng rời đi. Thế nhưng ra khơi chưa được mấy canh giờ, chúng lại hối hận vì nỗi nhục tháo chạy, bèn quay mũi tàu trở lại, đổ bộ lên Totnes rồi cướp bóc tàn phá suốt một dải non sông cho tới tận sông Severn, đốt phá chém giết khắp nơi rồi thẳng tiến về thành Bath.
Hay tin lũ giặc tráo trở quay lại, vua Arthur bừng bừng nộ khí, đôi mắt ngài rực cháy như hai ngọn đuốc. Ngài thề một lời thề độc rằng quyết chẳng chịu ngơi nghỉ chừng nào chưa tận diệt những kẻ thù nghịch của Thiên Chúa và loài người này, nhổ tận gốc rễ chúng khỏi mảnh đất Anh quốc. Đoạn ngài hối hả thúc quân đuổi tới Bath, hô lớn trước ba quân: “Lũ man di dị giáo đê hèn này đã dám bội ước với ta, thì nay để giữ trọn lời thề trước Thiên Chúa—Đấng ta đã thề nguyền sẽ chở che và gìn giữ cõi bờ này—ta quyết nội trong ngày hôm nay sẽ bắt chúng phải đền mạng cho máu của toàn thể bá tánh mà chúng đã sát hại nơi đất Britain!”
Tiếp lời ngài, vị đại giám mục đứng trên một ngọn đồi cất tiếng truyền hịch rằng ngày hôm nay ba quân sẽ chiến đấu vì tổ quốc và vì chốn Thiên Đàng: “Bởi chưng,” ngài nói, “hễ ai ngã xuống trong cuộc thánh chiến này, các thiên thần sẽ lập tức đón rước linh hồn kẻ ấy; cái chết vì chính nghĩa này sẽ là sự sám hối và xá sạch mọi tội lỗi!”
Nghe những lời ấy, toàn quân sôi sục căm hờn, ai nấy đều hăm hở xốc tới để nghiền nát lũ mọi rợ.
Bấy giờ vua Arthur khoác lên mình bộ giáp nạm vàng và châu ngọc lấp lánh, đầu đội mũ miện hình rồng vàng, tay cầm chiếc khiên có vẽ hình Đức Mẹ Đồng Trinh hiển linh. Ngài đeo thanh gươm Excalibur bên hông, tay phải nắm chắc ngọn đại giáo Ron, rồi dàn trận và dẫn quân xông thẳng vào kẻ thù, vốn đang dàn đội hình hình nêm quen thuộc án ngữ trên sườn đồi Badon. Trước những đợt tiến công mãnh liệt của vua Arthur và đoàn quân, lũ giặc đã ngoan cường chống trả suốt ngày hôm ấy, rồi đêm xuống chúng rút về cắm trại trên đỉnh đồi.
Sang ngày hôm sau, Arthur lại dẫn quân mở đợt tổng tấn công mới; bằng những đòn chém giết kinh hoàng chưa từng thấy trong lịch sử, ngài dồn ép quân dị giáo lùi dần từng bước, đánh bạt chúng lên sườn dốc cho tới khi ngài cùng những hiệp sĩ kiên cường nhất đặt chân lên đỉnh đồi.
Và rồi, muôn người trông thấy ngài, “đỏ rực như ánh bình minh từ cựa sắt tới chùm lông vũ trên mũ giáp”, giương cao thanh bảo kiếm, quỳ gối hôn lên đốc gươm hình chữ thập; đoạn ngài đứng phắt dậy, cùng toàn thể huynh đệ dốc toàn lực xông thẳng vào quân thù hệt như đàn sư tử gầm vang săn mồi, đuổi đánh chúng như lùa đàn súc vật tan tác khắp cánh đồng, chém giết tới mức tay mỏi rã rời mới thôi.
Trong ngày hôm ấy, chỉ riêng một mình vua Arthur cùng thanh bảo kiếm Excalibur đã tiêu diệt bốn trăm bảy mươi tên dị giáo. Tướng giặc Colgrin cùng em trai Baldulph cũng đều bỏ mạng tại trận tiền.
Sau đó, nhà vua truyền lệnh cho Cador, Công tước xứ Cornwall, truy đuổi tên đầu sỏ Cheldric cùng tàn quân của hắn cho đến cùng trời cuối đất. Cador trước hết cho chiếm lấy hạm đội của giặc, bố trí những binh sĩ tinh nhuệ trấn giữ để đón lõng khi chúng tháo chạy tới bờ biển, rồi ráo riết đuổi cùng giết tận bất cứ kẻ nào rơi vào tầm tay. Lũ giặc dù run rẩy lẩn trốn vào các cánh rừng rậm rạp hay hang hốc hiểm trở trên núi cũng chẳng thể thoát thân, bởi Cador lùng sục giết sạch từng tên một. Rốt cuộc, ông đã bắt và chém đầu Cheldric, giết vô số quân giặc và bắt giữ con tin để buộc số còn lại phải quy hàng hoàn toàn.
Trong khi đó, vua Arthur rời đồi Badon, kéo quân đi giải cứu cho cháu trai Hoel đang bị người Scots và người Pict vây hãm tại Alclud. Đánh tan quân giặc trong ba trận huyết chiến, ngài dồn đuổi chúng tới một bờ hồ—một trong những hồ nước kỳ lạ nhất thế gian, được nuôi dưỡng bởi sáu mươi dòng sông, giữa lòng hồ có sáu mươi hòn đảo, sáu mươi mỏm đá, và trên mỗi đảo lại có sáu mươi tổ chim đại bàng. Vua Arthur điều động một hạm đội lớn tuần tiễu khắp các ngả sông, phong tỏa lũ giặc giữa lòng hồ suốt mười lăm ngày, khiến hàng ngàn tên phải chết đói.
Bấy giờ, vua xứ Ireland đem quân sang tiếp viện; song Arthur lập tức quay mũi giáo, đánh cho đạo quân ấy tan tành manh giáp, buộc hắn phải kinh hãi rút chạy về nước. Đoạn ngài tiếp tục thực hiện mục tiêu diệt tận gốc giống người Pict và Scots, những kẻ từ thuở nào đã luôn là mối hiểm họa gieo rắc bao nỗi kinh hoàng cho người Britain bằng bản tính hung tàn mọi rợ.
Ngài trừng trị chúng khốc liệt đến mức không dung tha cho một ai, khiến các giám mục cùng hàng giáo phẩm của xứ sở khốn khổ ấy phải họp nhau lại, cung nghinh các thánh tích, đi chân đất đến trước mặt nhà vua để xin rủ lòng thương xót lê dân. Vừa được dẫn vào yết kiến, họ liền quỳ rạp xuống đất, khóc lóc van nài ngài tha mạng cho số ít người còn sống sót, xin ngài ban cho một góc đất dung thân để họ được sống trong yên bình. Nghe những lời khẩn thiết ấy và nhận thấy hình phạt giáng xuống đầu chúng đã đủ đích đáng, ngài bèn chấp thuận lời thỉnh cầu, hạ lệnh thu quân và chấm dứt cuộc tàn sát.
Nhà vua bèn kéo quân trở về bờ cõi, đến York đúng vào dịp Giáng sinh và cử hành thánh lễ với nghi thức vô cùng trang trọng. Xót xa trước cảnh nhà thờ và phố xá hoang tàn do cơn cuồng nộ của lũ man di tàn phá, ngài truyền cho tái thiết lại tất cả, trả lại cho thành phố vẻ phồn vinh êm ấm thuở nào.
Một ngày nọ, khi nhà vua đang ngự triều cùng các đại thần, một người hầu cận phi ngựa vào triều, chở theo một hiệp sĩ bị thương nặng sắp lìa đời. Người này tâu với vua rằng sâu trong khu rừng gần đó có một hiệp sĩ dựng trướng bên bờ suối, “và đã sát hại chủ nhân của tôi, một hiệp sĩ dũng cảm tên là Nirles; vì vậy tôi tha thiết xin Bệ hạ cho an táng chủ nhân tôi, và phái một hiệp sĩ tài ba đi báo thù cho ngài.”
Nghe vậy, một tiểu đồng tên là Griflet, tuổi đời còn rất trẻ và trạc tuổi vua Arthur, bèn bước ra thỉnh cầu nhà vua, xin lấy những công lao đã phục vụ bấy lâu để được phong tước hiệp sĩ.
Vua Arthur bảo: “Ngươi còn quá trẻ và non nớt để gánh vác một tước vị cao quý dường này.”
Griflet khẩn khoản: “Bệ hạ, xin hãy phong tước cho thần;” thấy Merlin cũng khuyên nhà vua nên ưng thuận, Arthur bèn nói: “Được rồi, chuẩn y,” rồi lập tức cử hành lễ phong tước cho chàng. Đoạn ngài dặn: “Bởi ta đã ban cho ngươi ân huệ này, nên ngươi cũng phải hứa với ta một điều.”
Sir Griflet đáp: “Bất cứ điều chi Bệ hạ muốn, thần xin tuân mệnh.”
Vua Arthur bảo: “Hãy lấy danh dự mà thề rằng, sau khi giao đấu thương với hiệp sĩ bên bờ suối kia, ngươi phải lập tức quay về gặp ta, trừ phi bị người ta giết chết.”
“Thần xin thề,” Sir Griflet đáp, rồi vội vã thắng ngựa, chỉnh đốn khiên giáp, tay nắm chắc ngọn giáo dài phi như bay tới bờ suối. Tại đó, chàng thấy một túp lều tráng lệ dựng bên bờ nước, một con chiến mã to lớn đã thắng sẵn yên cương đang đứng gần, còn trên cành cây cạnh đó treo một chiếc khiên sặc sỡ cùng một ngọn giáo dài.
Sir Griflet liền lấy chuôi giáo thúc mạnh vào tấm khiên làm nó rơi bộp xuống đất. Ngay lập tức, một hiệp sĩ từ trong trướng bước ra và hỏi: “Hỡi hiệp sĩ tuấn tú, cớ sao lại hất khiên của ta xuống đất?”
Griflet đáp: “Bởi ta muốn giao đấu một trận với ngươi.”
Hiệp sĩ kia bảo: “Tốt hơn hết là đừng; ngươi còn trẻ và mới bước vào hàng hiệp sĩ, sức vóc của ngươi sao sánh được với ta.”
Sir Griflet vẫn khăng khăng: “Dẫu vậy, ta vẫn quyết đọ sức với ngươi.”
Hiệp sĩ nọ đáp: “Ta thật chẳng đành lòng; nhưng nếu ngươi đã quyết thì đành vậy.”
Hai người liền ghìm ngựa lùi xa nhau lấy đà, rồi thúc ngựa lao thẳng vào nhau. Hiệp sĩ lạ mặt đâm vỡ vụn ngọn giáo của Griflet, mũi thương của ông ta xuyên thủng tấm khiên và mạng sườn bên trái, gãy gập cắm ngập vào thân thể Griflet, khiến cả người lẫn ngựa của chàng đều ngã nhào xuống đất. Thấy chàng ngã gục, hiệp sĩ lạ mặt vô cùng ân hận, vội vã nhảy xuống ngựa vì ngỡ mình đã ngộ sát chàng trẻ tuổi. Ông tháo mũ giáp của chàng cho thoáng khí, tận tình chăm sóc cho đến khi chàng tỉnh lại sau cơn ngất lịm; đoạn để nguyên cán giáo gãy găm nơi vết thương, ông đỡ chàng lên ngựa, phó thác chàng cho Chúa chở che và khen rằng chàng là kẻ có lá gan lớn, nếu sống sót ắt sẽ trở thành một hiệp sĩ phi thường. Cứ thế, Sir Griflet gượng cưỡi ngựa về triều; nhờ các danh y tận tâm cứu chữa, chàng đã dần bình phục và giữ được mạng sống.
Cũng vào thời điểm đó, mười hai sứ thần cao niên của Lucius Tiberius, Hoàng đế La Mã, đến yết kiến vua Arthur, đòi ngài phải cống nạp đất nước cho Caesar, bằng không hoàng đế sẽ mang quân san phẳng cả ngài lẫn vương quốc. Vua Arthur thẳng thừng đáp rằng ngài chẳng nợ nần gì hoàng đế La Mã và quyết không cống nạp nửa xu; ngài bảo: “Trên chiến trường sòng phẳng, ta sẽ dâng thứ cống phẩm đích đáng nhất cho hắn—bằng gươm bén giáo nhọn; và ta xin thề trước linh hồn tiên phụ, hắn sẽ phải nhận lấy cống phẩm ấy từ tay ta, dẫu muốn hay không.” Mười hai sứ thần nghe xong tức giận đùng đùng ra về, và vua Arthur cũng phẫn nộ chẳng kém gì họ.
Sáng hôm sau ngày Sir Griflet bị thương, vua Arthur bí mật hạ lệnh đưa ngựa và giáp trụ của ngài ra ngoài tường thành trước lúc mặt trời mọc; ngài thức dậy từ canh khuya trước lúc rạng đông, vận giáp, mang khiên cầm giáo, dặn viên quan hầu phòng ở lại đợi ngài trở về. Lần này ngài không mang theo thanh Excalibur, bởi đã gửi gắm cho cô em gái là Hoàng hậu Morgan le Fay giữ giùm để bảo đảm an toàn. Đang thong thả dong ngựa, ngài bỗng thấy ba tên thảo khấu đang rượt đuổi Merlin, toan xông vào hành hung giết hại ông lão. Ngài liền thúc ngựa lao tới, thét lên bằng giọng kinh thiên động địa: “Lũ tiện nhân kia, mau cút đi hay muốn nộp mạng?” Bọn chúng vừa thấy một hiệp sĩ uy dũng xuất hiện liền cắm đầu cắm cổ tháo chạy như đàn thỏ hoang.
Vua bảo: “Hỡi Merlin, dẫu ngươi có lắm phép thần thông, nhưng nếu không có ta tình cờ đi ngang qua thì phen này ngươi đã mất mạng rồi.”
Merlin đáp: “Đâu phải vậy, nếu muốn, ta tự khắc cứu được mình; người cận kề cái chết hơn chính là ngài đó, bởi nếu không có ơn trời che chở, ngài đang tự dong ngựa bước vào nấm mồ của mình đấy.”
Đang trò chuyện, hai người đã tới bờ suối nơi có túp lều tráng lệ dựng bên cạnh, và thấy viên hiệp sĩ giáp trụ chỉnh tề đang ngồi trên ghế ngay trước cửa lều. Vua Arthur cất tiếng: “Hỡi hiệp sĩ, ngươi ngồi đây làm chi? Phải chăng để giao đấu với bất kỳ hiệp sĩ nào qua đường? Nếu đúng vậy, ta khuyên ngươi hãy bỏ ngay cái thói ấy đi.”
Hiệp sĩ kia đáp: “Cái thói ấy ta đã giữ xưa nay và sẽ tiếp tục giữ, mặc kệ ai nói ngả nói nghiêng; nếu kẻ nào thấy chướng mắt, cứ việc ra tay mà sửa đổi.”
Arthur bảo: “Ta sẽ sửa cho ngươi.”
Hiệp sĩ nọ đáp: “Còn ta thì quyết giữ lấy nó.”
Viên hiệp sĩ lập tức lên ngựa chuẩn bị nghênh chiến; cả hai thúc ngựa lao vào nhau với lực đâm khủng khiếp khiến cả hai ngọn giáo đều vỡ vụn thành từng mảnh. Vua Arthur toan rút gươm, song hiệp sĩ kia hô lớn: “Khoan đã, hãy đấu thêm một hiệp nữa bằng giáo nhọn!”
Vua Arthur đáp: “Ta cũng rất muốn, ngặt nỗi chẳng còn ngọn giáo nào.”
Hiệp sĩ nọ bảo: “Giáo thì ta có thừa,” rồi gọi người hầu mang ra hai ngọn giáo mới toanh, sắc nhọn.
Họ lại thúc ngựa xông vào nhau hết sức bình sinh, làm gãy gập cả hai ngọn giáo cụt ngủn ngay trên tay. Nhà vua lại toan rút gươm, song hiệp sĩ nọ lại kêu lên: “Chớ vội, hãy dừng tay giây lát; ngài quả là tay thương mã cừ khôi nhất ta từng đụng độ; vì danh dự của bậc hiệp sĩ, chúng ta hãy đọ thêm một keo giáo nữa đi.”
Thế là họ lại dốc toàn lực lao vào nhau lần thứ ba; lần này, ngọn giáo của vua Arthur gãy vụn, trong khi giáo của đối phương vẫn nguyên vẹn và húc mạnh tới mức hất văng cả Arthur lẫn chiến mã của ngài ngã nhào xuống đất.
Bẽ mặt và nổi giận, vua Arthur rút phăng gươm ra bảo: “Hỡi hiệp sĩ, giờ ta sẽ đấu bộ với ngươi, bởi trên lưng ngựa ta đã chịu mất danh dự rồi.”
Hiệp sĩ kia nói: “Ta định cưỡi ngựa;” nhưng thấy Arthur đứng dưới đất, ông bèn nhảy xuống vì cho rằng chiếm thế thượng phong như vậy là điều đáng hổ thẹn.
Một trận ác chiến long trời lở đất bùng nổ; họ tung ra những nhát kiếm sấm sét, vung những nhát chém kinh hoàng làm văng những mảnh giáp sắt tung tóe khắp bãi cỏ, máu chảy đầm đìa khiến mặt đất xung quanh nhão nhoét như vũng lầy máu. Họ quần thảo hồi lâu đầy dũng mãnh, rồi sau một thoáng nghỉ lấy hơi lại lao vào nhau như hai con heo rừng điên loạn, xô đẩy đến mức cả hai cùng lăn lông lốc trên mặt đất. Cuối cùng, hai lưỡi gươm va nhau chát chúa, và kiếm của viên hiệp sĩ đã chém gãy đôi thanh gươm của nhà vua.
Viên hiệp sĩ dõng dạc: “Giờ đây tính mạng ngươi nằm trọn trong tay ta, giết hay tha là quyền của ta. Hãy chịu hàng và nhận mình là kẻ hèn nhát chiến bại đi, bằng không ngươi phải chết!”
Vua Arthur khảng khái đáp: “Cái chết ư? Đến thì ta đón nhận; còn bảo ta đầu hàng chịu nhục như một kẻ hèn hạ chỉ vì rủi ro gãy kiếm này, thì ta thà chết vinh còn hơn chịu nhục!”
Dứt lời, ngài chồm tới ôm ngang lưng hiệp sĩ nọ, quật ngã ông ta xuống đất rồi giật phăng mũ giáp ra. Nhưng viên hiệp sĩ vốn là một hộ pháp vạm vỡ, điên cuồng vật lộn chống cự cho tới khi đè ngược được nhà vua xuống, giật tung mũ giáp của ngài ra và toan vung kiếm chém đầu.
Đúng lúc nguy cấp ấy, Merlin xuất hiện và cất tiếng: “Hiệp sĩ kia, hãy dừng tay! Nếu ngươi giết hiệp sĩ ấy, ngươi sẽ đẩy cả vương quốc này vào tai ương và tổn thất lớn hơn bất kỳ vương quốc nào từng gánh chịu; bởi ngài là người mang phẩm giá cao quý hơn muôn phần những gì ngươi có thể tưởng tượng!”
Hiệp sĩ nọ quát hỏi: “Vậy người này là ai?”
Merlin đáp: “Chính là Arthur Pendragon!”
Viên hiệp sĩ nghe danh thì sợ cơn thịnh nộ trừng phạt của nhà vua về sau, bèn toan hạ sát ngài cho tiệt mối họa; nhưng Merlin đã nhanh tay ếm bùa mê khiến ông ta ngã vật ra đất, chìm vào giấc ngủ mê mệt. Đoạn phù thủy đỡ nhà vua dậy, dắt ngựa của viên hiệp sĩ làm ngựa cưỡi cho mình rồi cùng ngài rời đi.
Vua Arthur xót xa: “Hỡi Merlin, ngươi đã làm cái chi vậy? Ngươi dùng tà thuật giết chết một hiệp sĩ tài ba rồi chăng? Đời này chưa từng có hiệp sĩ nào xuất chúng dường ấy; ta thà mất giang sơn một năm còn hơn thấy người này phải bỏ mạng.”
Merlin trấn an: “Bệ hạ đừng lo; ông ta còn lành lặn và khỏe mạnh hơn cả ngài đấy, chỉ đang thiếp đi và ba canh giờ nữa sẽ tự khắc tỉnh lại. Ta đã từng nói cho ngài hay ông ta là bậc dũng sĩ cừ khôi dường nào, và ngài đã suýt mất mạng ra sao. Khắp cõi trần ai chẳng ai sánh kịp ông ta, và mai này ông ta sẽ lập nhiều công lớn phò tá ngài. Danh tính của ông là vua Pellinore, rồi đây ông sẽ sinh được hai người con trai dũng mãnh vô song; ngoài trừ hai anh em họ ra thì chẳng ai bì kịp về tài năng và tâm hồn thuần khiết. Một người sẽ mang tên Percival, và người kia là Lamoracke xứ Wales.”
Hai người cùng nhau dong ngựa trở về Caerleon. Quần thần và các hiệp sĩ nghe tin ngài liều mình đơn thương độc mã dấn thân vào chốn hiểm nguy như thế thì ai nấy đều thảng thốt âu lo. Song họ cũng chẳng giấu nổi niềm hân hoan và tự hào khôn xiết khi được phụng sự một vị minh quân cao quý, người sẵn sàng đem mạng sống của chính mình ra thử lửa chẳng khác chi người hiệp sĩ bình dị nhất trong hàng ngũ ba quân.