Truyền Thuyết Về Vua Arthur Và Các Hiệp Sĩ

Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
Những Cuộc Phiêu Lưu Của Hiệp Sĩ Tristram Xứ Lyonesse

❊ ❊ ❊

Vua Arthur lại mở đại tiệc tại Caerleon vào lễ Hiện Xuống, quy tụ quanh mình toàn thể các hiệp sĩ Bàn Tròn; và như lệ thường, ngài ngồi chờ xem có biến cố phiêu lưu nào xảy đến, hoặc có hiệp sĩ nào trở về triều để thuật lại những chiến công cùng bao nỗi hiểm nguy đã trải qua.

Chẳng bao lâu, ngài thấy Sir Lancelot cùng một đoàn hiệp sĩ bước qua cửa lớn, dẫn theo ở giữa một hiệp sĩ uy dũng phi thường là Sir Tristram. Vừa thoáng thấy chàng, vua Arthur liền đứng dậy, rảo bước qua nửa gian đại sảnh, dang rộng hai tay và cất tiếng: “Nhiệt liệt chào đón khanh, hỡi Sir Tristram hào hiệp! Khanh được chào đón chẳng kém bất kỳ hiệp sĩ nào từng đặt chân tới triều đình này. Trẫm đã mong mỏi có khanh gia nhập hàng ngũ hiệp sĩ của trẫm tự bấy lâu.” Bấy giờ, tất cả các hiệp sĩ cùng các quý tộc đều đồng thanh đứng dậy, vây quanh và cất tiếng hoan hô: “Nhiệt liệt đón mừng!” Vương hậu Guinevere cũng cùng nhiều vị phu nhân bước tới, và tất thảy đều cất chung một lời chúc tụng.

Đoạn, nhà vua nắm tay Sir Tristram dẫn tới Bàn Tròn và phán: “Một lần nữa nhiệt liệt đón mừng một trong những hiệp sĩ tài ba và cao thượng bậc nhất trần gian; đệ nhất tướng nơi sa trường, bậc hiền tài thời thái bình, tay cự phách giữa chốn rừng sâu nội cỏ, kẻ phong nhã nơi khuê phòng các lệnh bà — hết lòng đón mừng khanh tới triều đình này, cầu chúc khanh sẽ gắn bó dài lâu.”

Phán xong lời ấy, ngài nhìn qua từng chiếc ghế còn trống cho tới khi bước đến chỗ từng là của Sir Marhaus; tại đó, ngài thấy những dòng chữ dát vàng hiện lên: “Đây là chỗ ngồi của hiệp sĩ cao quý, Sir Tristram.” Trong niềm hoan hỷ và hân hoan khôn xiết, họ đã đón nhận chàng trở thành một Hiệp sĩ Bàn Tròn.

Và câu chuyện về Sir Tristram đã diễn ra như sau:—

Thuở ấy có vị vua xứ Lyonesse tên là Meliodas, thành thân cùng vương muội của vua Mark xứ Cornwall, một người phụ nữ vô cùng đoan trang xinh đẹp. Một bận nọ, vua Meliodas đi săn trong rừng thì trúng phải bùa mê phép lạ và bị giam cầm trong một tòa lâu đài. Hay tin, hoàng hậu Elizabeth đau đớn đến gần như phát cuồng, liền lao vào rừng sâu tìm kiếm phu quân. Nhưng sau nhiều ngày ròng rã lang thang trong sầu khổ mà chẳng thấy tăm hơi chàng đâu, bà kiệt sức nằm xuống giữa một thung lũng sâu và cầu xin cái chết mau đến. Và quả nhiên số mệnh đã định như vậy, song ngay giữa lúc bi thương tột cùng ấy, bà đã hạ sinh một bé trai trước khi nhắm mắt xuôi tay, và với hơi thở tàn cuối cùng, bà đặt tên đứa trẻ là Tristram; bởi bà nói: “Tên của con sẽ khắc ghi nỗi sầu thảm khôn cùng khi con chào đời.”

Dứt lời, bà trút hơi thở cuối cùng. Người thị nữ đi cùng vội ẵm đứa trẻ, cố hết sức bọc kín cho khỏi lạnh, rồi ôm con vào lòng nằm dưới bóng một cội cây gần đó, thầm chờ cái chết cũng sẽ đến lượt mình.

Nhưng chẳng bao lâu sau, một toán lãnh chúa và quý tộc đi tìm hoàng hậu đã trông thấy người thị nữ cùng hài nhi, liền đưa cả hai về cung. Hôm sau, vua Meliodas được pháp sư Merlin giải cứu trở về; nghe tin hoàng hậu đã qua đời, nỗi đau đớn của ngài khôn xiết xiết kể. Ngay sau đó, ngài cử hành tang lễ cho nàng vô cùng trang trọng, tôn nghiêm, và đặt tên con trai là Tristram đúng như ước nguyện của người quá cố.

Suốt bảy năm ròng, vua Meliodas chìm trong tang tóc khôn nguôi, và trong quãng thời gian ấy, cậu bé Tristram được nuôi dạy chu đáo; nhưng rồi ít lâu sau, ngài tục huyền cùng ái nữ của vua Howell xứ Brittany. Mụ kế mẫu này vì muốn con đẻ của mình được hưởng ngai vàng nên luôn tâm niệm mưu kế hãm hại Tristram. Một hôm nọ, nhân lúc Tristram cùng các con mụ đang chơi đùa, mụ đã lén bỏ thuốc độc vào một chiếc chén bạc, toan tính hễ Tristram khát nước uống vào tất phải bỏ mạng. Song trớ trêu thay, chính con trai đẻ của mụ trông thấy chiếc chén, ngỡ là thức uống ngon bèn trèo lên lấy rồi uống một hơi cạn sạch; tức thì đứa trẻ đứt ruột mà ngã lăn ra chết.

Hay tin, hoàng hậu đau đớn khôn cùng, nhưng lòng căm thù và ganh ghét trong mụ lại càng bốc cháy dữ dội hơn trước, mụ liền pha thêm một chén độc dược nữa. Tình cờ một hôm, đức vua đi ngang thấy khát nước liền cầm chén lên toan uống; trông thấy vậy, mụ kinh hãi thét lên một tiếng thất thanh rồi lao tới hất văng chén độc khỏi tay ngài.

Vua Meliodas lấy làm kinh ngạc, sực nhớ lại cái chết bất đắc kỳ tử của đứa con thơ; ngài bèn túm chặt lấy tay mụ, giận dữ quát:

“Đồ phản trắc, mau nói trong chén này có thứ gì, bằng không trẫm sẽ lấy mạng ngươi ngay tức khắc!”; rồi ngài rút gươm, thề một lời thề độc rằng sẽ chém đầu mụ nếu không chịu thú thật ngay lập tức.

“Ôi, xin bệ hạ dung tha!” mụ sụp lạy dưới chân ngài; “xin tha mạng, thiếp xin giãi bày tất cả.”

Đoạn mụ kể lại toàn bộ âm mưu ám hại Tristram để các con đẻ của mụ được kế thừa vương vị.

“Pháp luật sẽ phán xử ngươi,” nhà vua phán.

Thế là chẳng bao lâu sau, mụ bị đưa ra xét xử trước hội đồng quý tộc và bị tuyên án thiêu sống.

Nhưng khi giàn hỏa đã nhóm lên và mụ bị điệu ra, Tristram liền tới quỳ dưới chân vua cha cầu xin một ân huệ.

“Bất cứ điều gì con muốn, phụ vương đều ban cho,” nhà vua bảo.

“Vậy xin phụ vương tha mạng cho hoàng hậu, người mẹ kế của con,” chàng thưa.

“Con xin điều ấy là sai trái,” Meliodas phán; “bởi mụ đã toan dùng độc dược sát hại con, và chính vì con mà mụ đáng phải đền mạng.”

“Thưa phụ vương,” chàng nói, “con khẩn xin lòng nhân từ của người hãy tha thứ cho bà ấy; về phần con, xin Chúa dung thứ cho bà như con đã thứ tha. Con cầu xin người ban cho con ân huệ này, và vì Chúa, xin người hãy giữ trọn lời hứa.”

“Nếu đã vậy,” nhà vua phán, “ta tha mạng cho mụ, giao mụ lại cho con; con muốn định đoạt mụ ra sao tùy ý.”

Thế là chàng thiếu niên Tristram bước tới giàn hỏa, cởi trói cho hoàng hậu và cứu thoát mụ khỏi cái chết.

Một thời gian dài sau đó, nhờ sự hòa giải khéo léo của chàng, nhà vua đã nguôi giận và chung sống hòa thuận trở lại với mụ, dù hai người chẳng bao giờ còn chung một phòng.

Chẳng bao lâu sau, Tristram được gửi sang Pháp dưới sự kèm cặp của một người tên là Governale. Suốt bảy năm ở đó, chàng đã tinh thông ngôn ngữ xứ người cùng mọi ngón nghề hiệp sĩ và nghệ thuật thanh nhã; đặc biệt chàng xuất sắc vượt bậc về âm nhạc và thuật săn bắn, tiếng đàn hạc của chàng không ai bì kịp. Năm mười chín tuổi, khi trở về với vua cha, chàng đã trở thành một thanh niên tráng kiện, phi phàm và có tấm lòng cao thượng hiếm thấy trên đời.

Ít lâu sau khi chàng về nước, vua Anguish xứ Ireland sai sứ sang đòi vua Mark xứ Cornwall phải nộp khoản triều cống đã chậm trễ suốt bảy năm qua. Vua Mark đáp lại rằng nếu muốn lấy cống phẩm thì hãy phái người sang mà giao đấu, và xứ Cornwall sẽ cử một chiến binh ra ứng chiến.

Vua Anguish bèn gọi Sir Marhaus, em vợ của ngài, một hiệp sĩ tài ba của Bàn Tròn lúc ấy đang ngụ tại triều đình, phái ông cùng một đoàn hiệp sĩ tùy tùng đi trên sáu chiến thuyền lớn sang Cornwall. Thả neo cạnh lâu đài Tintagil, ngày ngày ông sai người lên gặp vua Mark đòi cống nạp hoặc phải cử người ra so tài. Nhưng khắp xứ chẳng có hiệp sĩ nào dám liều mình giao chiến với ông, bởi danh tiếng về sức mạnh và sự dũng mãnh của ông đã vang lừng khắp cõi.

Vua Mark bèn hạ chiếu khắp cõi Cornwall rằng bất kỳ hiệp sĩ nào dám nghênh chiến Sir Marhaus sẽ được đứng bên hữu nhà vua mãi mãi, được hưởng vinh hoa phú quý trọn đời. Chẳng mấy chốc, tin tức truyền tới xứ Lyonesse; nghe chuyện, chàng trai trẻ Tristram vừa phẫn nộ vừa hổ thẹn khi nghĩ rằng không một hiệp sĩ Cornwall nào dám đương đầu với dũng tướng xứ Ireland. “Hỡi ôi,” chàng thốt lên, “giá như con đã là một hiệp sĩ để có thể so tài cùng Marhaus này! Xin phụ vương cho phép con đến triều đình của vua Mark và cầu xin ngài phong hiệp sĩ cho con.”

“Hãy thuận theo lòng dũng cảm của chính con,” vua cha đáp.

Thế là Tristram lập tức phi ngựa đến Tintagil bái kiến vua Mark; chàng dõng dạc thưa: “Thưa bệ hạ, xin hãy phong tước hiệp sĩ cho thần, thần sẽ quyết chiến một mất một còn với Sir Marhaus xứ Ireland.”

“Ngươi là ai và từ đâu tới?” nhà vua hỏi, thấy chàng trai trẻ tuổi nhưng vóc dáng cơ bắp lại vô cùng vạm vỡ, phi phàm.

“Tên thần là Tristram,” chàng đáp, “và thần sinh ra tại xứ Lyonesse.”

“Nhưng ngươi có biết chăng,” nhà vua bảo, “viên hiệp sĩ Ireland này quyết không chịu so gươm với ai không mang dòng máu hoàng gia và không có họ hàng thân thích với các bậc vua chúa, tựa như chính thân phận của hắn, bởi vương muội hắn chính là Vương hậu xứ Ireland.”

Tristram bèn đáp: “Xin hãy để hắn biết rằng cả bên nội lẫn bên ngoại của thần đều mang dòng máu cao quý chẳng kém gì hắn; bởi cha thần là vua Meliodas, còn mẹ thần chính là Vương hậu Elizabeth, vương muội của bệ hạ, người đã qua đời trong rừng sâu khi sinh hạ thần.”

Nghe vậy, vua Mark hết lòng chào đón cháu mình, lập tức phong tước hiệp sĩ cho chàng, chuẩn bị mọi thứ để chàng có thể xuất trận bất cứ lúc nào chàng muốn, và trang bị cho chàng bộ giáp trụ vương giả khảm đầy vàng bạc.

Đoạn ngài sai người gửi lời tới Sir Marhaus: “Sẽ có một kẻ cừ khôi hơn ngươi ra nghênh chiến, ấy là Sir Tristram xứ Lyonesse, hoàng tử của vua Meliodas và là cháu gọi vua Mark bằng cậu ruột.” Trận đấu được định đoạt sẽ diễn ra trên một hòn đảo gần các chiến thuyền của Sir Marhaus; sáng hôm sau, Sir Tristram đổ bộ lên đảo, chỉ có duy nhất Governale đi theo làm giám mã hầu cận, nhưng khi đã chuẩn bị xong xuôi, chàng liền bảo Governale quay thuyền trở lại bờ.

Khi chỉ còn lại hai người, Sir Marhaus cất tiếng: “Hiệp sĩ trẻ Tristram, ngươi làm gì ở đây? Ta thực lấy làm tiếc cho thói bồng bột của ngươi, bởi biết bao hiệp sĩ đệ nhất thiên hạ từng thách đấu ta mà đều chuốc lấy thất bại. Khuyên ngươi hãy biết điều mà quay về với những kẻ đã sai ngươi tới.”

“Hỡi hiệp sĩ tài danh và dày dạn chiến trận,” Sir Tristram đáp, “ngươi hãy tin chắc rằng ta quyết không bỏ dở mối thù này cho tới khi một trong hai ta ngã gục. Ta được thụ phong hiệp sĩ chính là vì lẽ đó, và trước khi chia tay, ngươi sẽ biết rằng dẫu chưa từng trải qua thử thách, ta vẫn là vương tử của một đức vua và là con đầu lòng của một hoàng hậu. Hơn nữa, ta đã thề sẽ giải phóng Cornwall khỏi gánh nặng truyền kiếp này, bằng không sẽ chịu chết. Lại nữa, Sir Marhaus à, lẽ ra ngươi phải hiểu rằng sự dũng mãnh và uy lực của ngươi lại càng là lý do chính đáng để ta đương đầu; bởi dù thắng hay bại, ta cũng sẽ rạng danh khi được đọ kiếm với một đại hiệp sĩ như ngươi.”

Thế rồi trận chiến bắt đầu; họ thúc ngựa lao vào nhau bằng tất cả sức bình sinh, đến nỗi cả ngựa lẫn người đều ngã nhào xuống đất. Mũi giáo của Sir Marhaus đã đâm trúng sườn Sir Tristram, gây nên một vết thương sâu hoắm. Họ bật dậy khỏi lưng ngựa, vung gươm chém xối xả vào nhau như hai con lợn rừng hung hãn. Sau một hồi quần thảo dữ dội, họ ngừng chém mà chuyển sang đâm thẳng vào ngực và khe mạng che mặt của đối phương; nhưng thấy không công hiệu, họ lại lao vào xô đẩy nhằm quật ngã đối thủ.

Họ đánh nhau như thế suốt hơn nửa ngày trời, đến nỗi cả hai đều kiệt sức và máu chảy đầm đìa xuống mặt đất xung quanh. Nhưng đến lúc này, Sir Tristram vẫn còn dẻo dai và bền sức hơn Sir Marhaus; bằng một nhát chém kinh thiên động địa, chàng giáng một đòn bổ toác mũ giáp, ngập sâu vào hộp sọ đối phương, khiến thanh gươm kẹt chặt đến mức chàng phải giật mạnh ba lần mới rút ra được. Sir Marhaus khuỵu phao xuống đất, mũi gươm của Sir Tristram gãy rời, găm lại luôn trong xương sọ hắn. Trong lúc tưởng chừng đã chết, Sir Marhaus bỗng gượng dậy, vứt cả khiên lẫn gươm rồi vùng chạy tháo thân về phía chiến thuyền của mình. Tristram cất tiếng gọi với theo: “A ha! Hỡi hiệp sĩ Bàn Tròn, ngươi lại tháo chạy trước một hiệp sĩ trẻ tuổi thế này sao? Thật nhục nhã cho ngươi và toàn thể dòng tộc; thà ta bị băm thành trăm mảnh còn hơn là phải bỏ chạy trước mặt ngươi.”

Nhưng Sir Marhaus chẳng đáp một lời, chỉ ôm vết thương rên rỉ đau đớn mà tháo chạy.

“Vĩnh biệt, hiệp sĩ, vĩnh biệt!” Tristram bật cười, giọng chàng lúc này đã khàn đặc và yếu ớt vì mất quá nhiều máu; “Ta sẽ giữ cẩn thận khiên và gươm của ngươi, và sẽ mang chúng đi khắp chốn trên những nẻo đường phiêu lưu, và trước mặt vua Arthur cùng các hiệp sĩ Bàn Tròn.”

Đoàn tùy tùng vội đưa Sir Marhaus trở về Ireland; vừa cập bến, các thầy thuốc liền thăm khám vết thương, và khi xem xét đầu ông, họ tìm thấy một mảnh gươm của Tristram găm bên trong; nhưng dẫu mọi danh y tài giỏi đem hết y thuật ra cũng không sao lấy mảnh thép ấy ra được. Chẳng bao lâu sau, Sir Marhaus qua đời.

Hoàng hậu xứ Ireland, vương muội của ông, bèn cất giữ mảnh gươm gãy ấy ở một nơi kín đáo, bụng nghĩ có ngày nó sẽ giúp bà trả được mối thù giết anh.

Trong khi đó, Sir Tristram bị thương rất nặng, chàng gượng ngồi xuống một gò đất nhỏ, máu tuôn xối xả; chẳng bao lâu sau, Governale và các hiệp sĩ của vua Mark tìm thấy chàng trong tình cảnh thập tử nhất sinh ấy. Họ cẩn thận nâng chàng lên, đưa xuống thuyền chở về đất liền, đặt chàng nằm trên giường trong lâu đài và ân cần băng bó các vết thương.

Nhưng suốt một thời gian dài, chàng ốm liệt giường, tưởng chừng đã bỏ mạng bởi nhát đâm đầu tiên mà ngọn giáo của Sir Marhaus gây ra, vì mũi giáo ấy có tẩm độc. Dù các bậc danh y và thầy lang tài giỏi nhất — cả nam lẫn nữ — từ khắp nơi đổ về cứu chữa, bệnh tình chàng vẫn tuyệt nhiên không thuyên giảm. Cuối cùng, có một vị hiền phụ xuất hiện và nói thẳng rằng Sir Tristram sẽ vĩnh viễn không thể lành bệnh trừ phi chàng sang tận xứ sở nơi sinh ra chất độc ấy mà tịnh dưỡng. Hiểu được điều đó, nhà vua bèn chuẩn bị một con tàu buồm kiên cố, lộng lẫy đưa Sir Tristram sang Ireland; nhờ may mắn run rủi, tàu cập bến ngay sát cạnh một tòa lâu đài nơi vua và hoàng hậu nước ấy đang ngự. Trong lúc thuyền thả neo, chàng ngồi trên giường bệnh dạo một khúc nhạc hoan ca trên cây đàn hạc, tấu lên những thanh âm ngọt ngào tuyệt diệu chưa từng thấy trên đời.

Nghe tin người gảy đàn hạc tuyệt hay ấy là một hiệp sĩ đang mang thương tích, nhà vua liền cho vời chàng tới và hỏi han danh tính. “Thần là người xứ Lyonesse,” chàng đáp, “tên thần là Tramtrist”; chàng không dám xưng tên thật vì sợ đòn thù của hoàng hậu sẽ giáng xuống đầu mình do cái chết của anh trai bà.

“Tốt lắm,” vua Anguish bảo, “ngươi rất được hoan nghênh tại đây, và sẽ nhận được mọi sự giúp đỡ tốt nhất mà vương quốc này có thể dành cho ngươi; nhưng đừng bận lòng nếu đôi khi thấy trẫm buồn bã ủ ê, bởi mới đây tại Cornwall, hiệp sĩ đệ nhất trần gian chiến đấu vì vương triều của trẫm đã bị sát hại; người đó tên là Sir Marhaus, một hiệp sĩ Bàn Tròn của vua Arthur.” Rồi nhà vua kể cho Sir Tristram nghe toàn bộ câu chuyện về trận quyết đấu của Sir Marhaus; Sir Tristram làm bộ kinh ngạc và đau buồn khôn xiết, dẫu kỳ thực chàng còn tường tận ngọn ngành hơn cả đức vua.

Sau đó, chàng được giao cho công chúa La Belle Isault chăm sóc và chữa trị vết thương; nàng là một trang giai nhân tuyệt sắc và cao quý bậc nhất trần đời. Tài nghệ y thuật của nàng kỳ diệu đến nỗi chỉ sau vài ngày, nàng đã chữa lành hẳn vết thương cho chàng; để đền đáp ơn sâu, Sir Tristram dạy nàng gảy đàn hạc; và chẳng bao lâu sau, hai người đã đem lòng yêu thương nhau tha thiết.

Bấy giờ tại Ireland có một hiệp sĩ dị giáo tên là Sir Palomedes rất được vua và hoàng hậu sủng ái. Hắn cũng đem lòng say đắm La Belle Isault khôn cùng, không ngừng dâng tặng nàng những món quà quý giá, tìm mọi cách lấy lòng nàng, thậm chí sẵn sàng chịu phép rửa tội vì nàng. Bởi thế, Sir Tristram vô cùng căm ghét hắn, còn Sir Palomedes cũng đầy lòng căm hận và đố kỵ với Tristram.

Thế rồi vua Anguish ban bố tổ chức một hội tỷ thí võ nghệ lớn, phần thưởng là một quý cô tên gọi Nàng Lệnh bà xứ Launds, một người bà con thân thích của đức vua; kẻ chiến thắng trong hội tỷ thí sẽ được cưới nàng ba ngày sau đó và sở hữu toàn bộ đất đai của nàng. Khi La Belle Isault báo cho Sir Tristram hay về hội tỷ thí này, chàng nói: “Hỡi nàng tuyệt sắc! Ta hiện vẫn là một hiệp sĩ sức tàn lực kiệt, nếu không nhờ có nàng thì nay đã là kẻ dưới suối vàng; nàng muốn ta phải làm sao? Nàng biết rõ ta đâu thể tham gia thương trường.”

“Ôi, Tristram,” nàng nói, “sao chàng lại không chịu ra đấu trong hội tỷ thí này? Sir Palomedes sẽ có mặt và hắn sẽ dốc hết sức bình sinh; vậy nên thiếp khẩn cầu chàng hãy tới đó, bằng không hắn sẽ đoạt lấy giải thưởng.”

“Thưa phu nhân,” Tristram đáp, “ta sẽ đi, và vì nàng, ta sẽ đem hết sức mình; nhưng xin hãy để ta ẩn danh trước bàn dân thiên hạ; và xin nàng hãy giữ kín bí mật cho ta, giúp ta chuẩn bị một bộ giáp trang cải trang.”

Đến ngày tỷ thí, Sir Palomedes xuất hiện với một chiếc khiên màu đen và đã đánh ngã vô số hiệp sĩ. Muôn người đều kinh ngạc trước võ nghệ cao cường của hắn; bởi ngay ngày đầu tiên, hắn đã đả bại Sir Gawain, Sir Gaheris, Sir Agravaine, Sir Key cùng nhiều chiến binh khác từ khắp nơi tề tựu về. Sang ngày hôm sau, hắn lại tiếp tục thắng như chẻ tre, đánh ngã cả vị vua cùng một trăm hiệp sĩ và Vua xứ Scotland. Nhưng đúng lúc ấy, Sir Tristram cưỡi ngựa tiến vào đấu trường, chàng vừa lén ra bằng một cánh cổng phụ kín đáo của lâu đài mà không ai hay biết. La Belle Isault đã mặc cho chàng một bộ giáp trắng muốt, trao cho chàng một con tuấn mã cùng một chiếc khiên cũng màu trắng, khiến chàng xuất hiện thình lình trên bãi trường trông tựa một thiên thần rực rỡ.

Vừa thấy chàng, Sir Palomedes liền hạ ngọn trường thương lao tới, nhưng Sir Tristram đã sẵn sàng nghênh chiến, và ngay cú chạm trán đầu tiên, chàng đã hất văng hắn xuống đất. Bấy giờ vang lên tiếng reo hò rầm trời rằng hiệp sĩ mang khiên đen đã bị quật ngã. Sir Palomedes đau đớn và bẽ bàng tột độ, bèn tìm một lối bí mật toan rời khỏi đấu trường; nhưng Tristram đã để mắt tới hắn, chàng phi ngựa đuổi theo và quát bảo hắn dừng lại, vì chàng vẫn chưa xong chuyện với hắn. Sir Palomedes giận điên cuồng quay phắt lại, tuốt gươm chém xối xả vào Sir Tristram; nhưng ngay nhát gươm đầu tiên, Sir Tristram đã đánh văng hắn xuống đất và quát: “Mau tuân theo mọi mệnh lệnh của ta, bằng không hãy nộp mạng!” Hắn đành phải xin Sir Tristram tha mạng, thề từ bỏ La Belle Isault và trong mười hai tháng trời không được mang vũ khí hay mặc giáp trụ. Hắn đứng dậy, trong cơn cuồng nộ và điên loạn liền lấy gươm chém nát bộ giáp của mình thành từng mảnh vụn rồi quay lưng rời khỏi bãi trường; Sir Tristram cũng rời khỏi đấu trường, phi ngựa trở lại lâu đài qua lối cổng phụ.

Sau đó, Sir Tristram được Vua và Hoàng hậu xứ Ireland hết mực quý mến trong thời gian dài, và chàng luôn cận kề bên La Belle Isault. Nhưng một hôm nọ, trong khi chàng đang tắm, hoàng hậu cùng La Belle Isault tình cờ bước vào phòng chàng và nhìn thấy thanh gươm tuốt trần đặt trên giường; bà liền rút gươm ra khỏi bao ngắm nghía hồi lâu, cả hai đều trầm trồ khen ngợi đó là một thanh bảo kiếm phi thường; nhưng cách mũi kiếm chừng một thước rưỡi có một mảnh mẻ rất lớn, và khi chăm chú nhìn vào vết khuyết ấy, hoàng hậu bỗng sực nhớ tới mảnh gươm vỡ tìm thấy trong xương sọ của anh trai bà, Sir Marhaus.

Tức thì bà quay phắt lại, thét lên: “Có trời chứng giám, đây chính là tên hiệp sĩ hung đồ đã sát hại cậu con!” Rồi bà chạy thục mạng về phòng mình, lục tìm trong tráp chiếc mẩu sắt lấy từ đầu Sir Marhaus đem tới ướm vào thanh gươm của Tristram; và quả nhiên mẩu sắt vừa khít như thể mới chỉ vừa mẻ ra từ hôm qua.

Hoàng hậu đùng đùng nổi giận chộp lấy thanh gươm, lao thẳng vào phòng nơi Sir Tristram vẫn còn đang tắm; bà xông thẳng tới toan đâm xuyên người chàng, may nhờ có người giám mã của chàng là Sir Hebes kịp thời ôm chặt lấy bà và giằng lấy thanh kiếm.

Đoạn bà chạy tới trước mặt nhà vua, quỳ sụp xuống kêu rằng: “Hỡi phu quân và chúa thượng, người đang dung dưỡng ngay trong cung điện này tên hiệp sĩ hung ác đã giết chết Marhaus anh thiếp!”

“Kẻ đó là ai?” nhà vua hỏi.

“Chính là Sir Tristram!” bà thét lên, “kẻ mà Isault đã chữa lành vết thương!”

“Hỡi ôi!” nhà vua đáp, “ta lấy làm đau lòng khôn xiết, bởi chàng là một hiệp sĩ dũng mãnh hiếm có trên đời mà ta từng chứng kiến trên chiến trường; nhưng ta lệnh cho nàng hãy để mặc chàng, để ta tự giải quyết.”

Nhà vua liền tới phòng Sir Tristram, thấy chàng đã vận giáp chỉnh tề, sẵn sàng lên ngựa; ngài bảo chàng: “Sir Tristram, trẫm đến đây không phải để đọ sức với khanh, bởi phận làm chủ nhà mà mưu hại tính mạng khách thì thật nhục nhã. Khanh hãy rời đi trong hòa bình, nhưng trước hết hãy nói cho trẫm biết danh tính thật, và có phải chính khanh đã hạ sát anh vợ trẫm, Sir Marhaus chăng.”

Sir Tristram bèn kể lại toàn bộ sự thật, và việc vì sao chàng phải giấu tên để không ai nhận ra tại Ireland; nghe xong, nhà vua tuyên bố ngài không hề oán trách chàng. “Dẫu vậy, vì thể diện của mình, trẫm không thể giữ khanh lại triều đình này được nữa, bằng không trẫm sẽ làm phật lòng các đại thần, hiền thê cùng toàn thể hoàng thân quốc thích của nàng.”

“Thưa bệ hạ,” Sir Tristram nói, “thần xin đa tạ ơn sâu nghĩa trọng bệ hạ đã dành cho thần tại nơi đây, và ơn đức bao la mà lệnh ái đã dành cho thần; và biết đâu việc thần còn sống lại mang lại nhiều lợi ích cho người hơn là thần phải chết; bởi dù ở chân trời góc bể nào, thần cũng sẽ luôn nguyện dốc sức phụng sự bệ hạ, mãi mãi là bề tôi của lệnh ái ở khắp mọi nơi, là hiệp sĩ bảo vệ nàng dẫu đúng hay sai, và quyết không từ nan làm bất cứ điều gì mà một hiệp sĩ có thể làm vì nàng.”

Đoạn Sir Tristram tới gặp La Belle Isault để nói lời từ biệt. “Ôi hiệp sĩ cao quý,” nàng nói, “thiếp đau đớn khôn xiết khi chàng ra đi, bởi trên đời này thiếp chưa từng yêu ai sâu sắc dường này.”

“Thưa phu nhân,” chàng đáp, “ta xin thề trọn đời này sẽ mãi là hiệp sĩ của nàng.”

Rồi Sir Tristram trao cho nàng một chiếc nhẫn, và nàng cũng trao lại cho chàng một chiếc; sau đó chàng rời khỏi nàng giữa tiếng khóc than ai oán, bước ra giữa triều thần và công khai từ biệt tất cả mọi người, dõng dạc nói: “Hỡi các quý tộc cao quý, giờ đã đến lúc ta phải rời khỏi nơi đây; bởi vậy, nếu có ai ở chốn này từng bị ta xúc phạm hay ôm mối bất bình với ta, xin hãy cất lời ngay bây giờ, và trước khi cất bước ta sẽ đem hết sức mình đền bù thỏa đáng. Và nếu có kẻ nào toan nói lời sỉ nhục sau lưng ta, hãy nói ngay lúc này hoặc câm nịnh mãi mãi, và thân xác ta đây sẵn sàng đối chứng — người đấu người!”

Tất thảy đều đứng lặng không ai nói một lời, dù trong số thân quyến của hoàng hậu có những kẻ muốn xông vào chàng nếu như chúng đủ can đảm.

Thế là Sir Tristram rời khỏi Ireland, vượt biển thuận buồm xuôi gió trở về Tintagil. Hay tin Sir Tristram đã bình phục trở về, vua Mark mừng rỡ khôn xiết, toàn thể triều thần cũng hân hoan. Sau khi bái kiến vua cậu, chàng dong ngựa về thăm phụ vương Meliodas và được đón tiếp bằng tất cả tấm thịnh tình nồng hậu nhất. Cả nhà vua lẫn hoàng hậu đều ban tặng chàng rất nhiều ruộng đất và của cải.

Chẳng bao lâu sau, chàng lại trở về triều đình vua Mark, sống trong niềm vui tươi và êm ấm, cho tới một ngày nọ nhà vua sinh lòng ghen ghét danh tiếng vang lừng cùng sự yêu mến, ái mộ mà khắp các thiếu nữ dành cho chàng. Suốt phần đời còn lại của vua Mark, ngài chẳng bao giờ còn thực lòng yêu mến Sir Tristram nữa, dù bề ngoài đôi bên vẫn dành cho nhau những lời lẽ ngọt ngào tốt đẹp.

Thế rồi một hôm nọ, hiệp sĩ tài ba Sir Bleoberis de Ganis, em trai của Sir Blamor de Ganis và là anh em họ gần với Sir Lancelot of the Lake, đến triều đình vua Mark cầu xin một ân huệ. Thấy một người lẫy lừng danh tiếng và là một hiệp sĩ Bàn Tròn như ông cất lời, dẫu lấy làm kinh ngạc, nhà vua vẫn chuẩn y mọi thỉnh cầu. Bấy giờ Sir Bleoberis nói: “Tôi muốn được chọn người phụ nữ đẹp nhất trong triều đình của bệ hạ theo ý riêng mình.”

“Trẫm không thể chối từ,” nhà vua đáp; “vậy hãy chọn đi, nhưng khanh phải tự gánh lấy mọi hậu quả từ sự lựa chọn của mình.”

Đưa mắt nhìn quanh một lượt, ông chọn phu nhân của Bá tước Segwarides, dắt tay nàng đỡ lên lưng ngựa ngồi sau người giám mã của mình, rồi ung dung phi ngựa ra đi.

Ngay sau đó, vị bá tước bước vào, nổi trận lôi đình lập tức phi ngựa đuổi theo. Nhưng khắp các mệnh phụ phu nhân đều cất tiếng chê trách Sir Tristram sao không chịu ra tay can thiệp, có người còn sỉ vả chàng thậm tệ, gọi chàng là kẻ hiệp sĩ hèn nhát khi trơ mắt đứng nhìn một phu nhân bị cưỡng đoạt ngay giữa triều đình của cậu mình. Song Sir Tristram đáp lại: “Thưa lệnh bà, ta không có phận sự can thiệp vào mối tranh chấp này khi mà phu quân của nàng vẫn còn đây để lo liệu. Nếu chàng ta không có mặt tại triều đình, hẳn ta đã đứng ra làm người bảo hộ cho nàng. Và nếu chẳng may chàng ta gặp điều bất trắc, thì rất có thể ta sẽ nói chuyện phải quấy với tên hiệp sĩ đê tiện kia trước khi hắn kịp rời khỏi vương quốc này.”

Chẳng mấy chốc, một giám mã của Sir Segwarides hớt hải chạy vào báo tin chủ nhân của mình bị thương rất nặng, đang hấp hối bên bờ vực cái chết. Nghe vậy, Sir Tristram lập tức vận giáp lên ngựa, còn người hầu cận Governale mang theo khiên giáo bám gót theo sau.

Đang trên đường đi, chàng gặp người anh em họ là Sir Andret, người vừa được vua Mark phái đi điệu hai hiệp sĩ thuộc triều đình vua Arthur đang lang bạt quanh vùng tìm kiếm phiêu lưu về quy phục.

“Có tin tức gì chăng?” Sir Tristram hỏi.

“Cầu Chúa rủ lòng thương, chưa từng có tin nào tệ hơn thế,” người anh em họ đáp; “bởi những kẻ đệ đi triệu hồi đã đánh đập và đả bại đệ, coi lời truyền của đệ chẳng ra gì.”

“Hiền đệ,” Sir Tristram bảo, “cứ tiếp tục lên đường đi, biết đâu nếu ta gặp chúng, đệ sẽ được rửa hận.”

Thế là Sir Andret phi ngựa về Cornwall, còn Sir Tristram đuổi theo hai hiệp sĩ đã làm nhục người anh em họ của mình, ấy là Sir Sagramour le Desirous và Sir Dodinas le Savage. Chẳng mấy chốc, chàng đã trông thấy họ cách phía trước không xa.

“Thưa chủ nhân,” Governale khuyên, “theo tôi ngài nên mặc kệ họ, bởi đó là hai hiệp sĩ dày dạn trận mạc của triều đình vua Arthur.”

“Chẳng lẽ vì thế mà ta lại không nghênh chiến họ sao?” Sir Tristram đáp, rồi thúc ngựa lao nhanh đuổi theo, cất tiếng gọi họ dừng lại và gặng hỏi họ từ đâu tới, đi về đâu và đang làm gì nơi vùng biên thùy này.

Sir Sagramour ngạo nghễ nhìn Sir Tristram, buông lời chế giễu: “Này hiệp sĩ, có phải ngươi là một hiệp sĩ xứ Cornwall chăng?”

“Cớ sao ngươi lại hỏi thế?” Tristram vặn lại.

“Thực tình là vì hiếm khi người ta thấy,” Sir Sagramour đáp, “các hiệp sĩ Cornwall lại múa thương giỏi bằng múa mép. Mới cách đây hai giờ thôi, bọn ta vừa gặp một gã hiệp sĩ Cornwall ăn to nói lớn khoe khoang tài nghệ phi phàm, nhưng chẳng mấy chốc, chỉ bằng vài chiêu vặt vãnh hắn đã bị đánh đo ván xuống đất, và ta ngờ rằng ngươi rồi cũng sẽ như vậy thôi.”

“Các vị hiệp sĩ cao quý,” Sir Tristram nói, “biết đâu ta lại cừ khôi hơn kẻ ấy; nhưng dù sao đi nữa, hắn cũng là anh em họ của ta, và vì hắn ta sẽ đương đầu với cả hai ngươi; một hiệp sĩ Cornwall chọi lại hai kẻ các ngươi.”

Nghe dứt lời, Sir Dodinas le Savage liền nắm lấy ngọn thương bảo: “Hiệp sĩ, hãy lo liệu lấy thân mình!”; rồi hai bên tách ra, lao vào nhau sấm vang chớp giật, ngọn thương của Sir Dodinas gãy vụn làm đôi; nhưng Sir Tristram giáng một đòn chí mạng hất bổng hắn qua mông ngựa, suýt chút nữa làm gãy cổ hắn. Thấy bạn mình ngã ngựa, Sir Sagramour lấy làm kinh ngạc không biết viên hiệp sĩ mới tới này là ai, liền giương thương lao vào Sir Tristram như một cơn lốc; nhưng Sir Tristram giáng cho hắn một cú trời giáng, hất tung cả người lẫn ngựa ngã nhào xuống đất; cú ngã làm hắn gãy cả xương đùi.

Nhìn cả hai đang nằm bò lê lết trên cỏ, Sir Tristram cất tiếng: “Các hiệp sĩ cao quý, có muốn so thương nữa chăng? Triều đình vua Arthur chẳng còn hiệp sĩ nào cừ hơn sao? Các ngươi liệu có dám mở miệng sỉ nhục hiệp sĩ Cornwall lần nữa không?”

“Quả thật ngươi đã đả bại bọn ta,” Sir Sagramour đáp, “và nhân danh danh dự hiệp sĩ, ta yêu cầu ngươi cho biết quý danh thật?”

“Các ngươi lấy danh dự lớn lao ra đòi hỏi,” Sir Tristram bảo, “vậy ta sẽ đáp lời.”

Nghe xưng tên, hai hiệp sĩ vô cùng mừng rỡ vì được hạnh ngộ Sir Tristram, bởi chiến công của chàng đã vang lừng khắp cõi, họ khẩn khoản mời chàng đi cùng đoàn với mình.

“Không được,” chàng đáp, “ta phải đi tìm một hiệp sĩ đồng liêu của các ngươi là Sir Bleoberis de Ganis, kẻ ta đang đuổi theo.”

“Cầu Chúa phù hộ ngài thuận buồm xuôi gió,” hai hiệp sĩ chúc; và Sir Tristram tiếp tục lên đường.

Chẳng bao lâu, chàng thấy Sir Bleoberis phía trước dưới một thung lũng, phu nhân của Sir Segwarides đang cưỡi ngựa nhỏ đi sau người giám mã của ông. Chàng liền thét lớn: “Dừng lại, hiệp sĩ của triều đình vua Arthur! Hãy mang phu nhân kia trả lại hoặc giao nàng cho ta!”

“Ta quyết không trả,” Bleoberis đáp, “bởi ta chẳng ngán gì hiệp sĩ xứ Cornwall.”

“Cớ sao,” Sir Tristram vặn lại, “hiệp sĩ Cornwall lại không thể chiến đấu kiên cường như bất kỳ ai khác? Mới hôm nay thôi, chỉ cách đây ba dặm, hai hiệp sĩ triều đình của ngươi vừa gặp ta, và trước lúc chia tay họ đã thấy một hiệp sĩ Cornwall là quá đủ cho cả hai kẻ bọn họ rồi.”

“Tên họ là gì?” Sir Bleoberis hỏi.

“Sir Sagramour le Desirous và Sir Dodinas le Savage,” Sir Tristram đáp.

“A,” Sir Bleoberis kinh ngạc nói; “ngươi đã giao đấu với họ sao? Có trời chứng giám, họ là hai hiệp sĩ tài ba và đáng kính, nếu ngươi đánh bại cả hai thì ắt hẳn ngươi phải là một hiệp sĩ cừ khôi; nhưng dẫu vậy ngươi cũng phải đánh bại được ta trước khi đoạt lấy phu nhân này.”

“Vậy hãy tự vệ đi!” Sir Tristram thét lên, ghìm thương lao vụt tới. Nhưng Sir Bleoberis cũng nhanh nhẹn chẳng kém, và hai bên húc văng nhau khiến cả người lẫn ngựa đều đổ nhào xuống đất.

Họ vội bật dậy khỏi lưng ngựa, vung gươm chém nhau vô cùng quyết liệt và dũng mãnh, quần thảo sang phải rồi lượn sang trái suốt hơn hai giờ liền, đôi khi lao vào nhau hung hãn đến nỗi cả hai cùng ngã dúi dụi xuống đất. Cuối cùng, Sir Bleoberis nhảy lùi lại và nói: “Này hiệp sĩ cao quý, hãy ngừng tay chốc lát, để chúng ta trò chuyện cùng nhau.”

“Cứ nói đi,” Sir Tristram bảo, “ta sẽ đáp lời.”

“Thưa ngài,” Sir Bleoberis hỏi, “tôi muốn biết quý danh, triều đình và xứ sở của ngài.”

“Ta chẳng có gì phải hổ thẹn mà giấu giếm,” Sir Tristram đáp. “Ta là hoàng tử của vua Meliodas, thân mẫu ta là vương muội của vua Mark, nơi ta vừa rời bước khỏi triều đình. Tên ta là Sir Tristram de Lyonesse.” “Thực lòng,” Sir Bleoberis nói, “tôi lấy làm mừng rỡ khôn xiết khi được nghe điều đó, bởi ngài chính là người đã một mất một còn đâm chết Sir Marhaus để bảo vệ khoản cống nạp của xứ Cornwall; và đã đả bại Sir Palomedes tại đại hội tỷ thí xứ Ireland, nơi ngài cũng từng đánh ngã Sir Gawain cùng chín người bạn đồng hành của ngài ấy.”

“Chính ta là hiệp sĩ đó,” Sir Tristram đáp, “và giờ xin hãy cho ta biết quý danh của ngài.”

“Tôi là Sir Bleoberis de Ganis, anh em họ của Sir Lancelot of the Lake, một trong những hiệp sĩ tài ba nhất thế gian,” ông đáp.

“Ngài nói chí phải,” Sir Tristram bảo; “bởi Sir Lancelot, như thiên hạ đều biết, là bậc vô song về lòng hào hiệp và khí phách trượng phu, và vì lòng ngưỡng mộ lớn lao ta dành cho thanh danh ngài ấy, ta không nỡ tiếp tục giao kiếm với thân quyến của ngài.”

“Thực lòng mà nói, thưa ngài,” Sir Bleoberis đáp, “tôi cũng chẳng muốn giao chiến thêm với ngài; nhưng vì ngài đã đuổi theo tôi để giành lại vị phu nhân này, tôi xin bày tỏ tấm lòng tử tế, nhã nhặn và hiệp nghĩa: phu nhân sẽ được toàn quyền chọn đi cùng ai trong hai chúng ta tùy ý nàng.”

“Ta ưng thuận,” Sir Tristram bảo, “bởi ta tin chắc nàng sẽ chọn đi cùng ta.”

“Ngài sẽ sớm thấy thôi,” ông nói rồi gọi người giám mã, đặt vị phu nhân vào giữa hai người; nàng liền bước ngay về phía Sir Bleoberis và chọn ở lại với ông. Thấy vậy, Sir Tristram giận dữ tột cùng với nàng, cảm thấy bẽ bàng đến mức khó lòng quay về triều đình vua Mark. Nhưng Sir Bleoberis cất tiếng: “Xin hãy lắng nghe tôi, hiệp sĩ tốt bụng Sir Tristram, sở dĩ tôi bắt nàng đi là vì vua Mark đã ban cho tôi quyền tự do chọn bất cứ món quà nào, và vì chính nàng đã chọn đi theo tôi; nhưng nay tôi đã hoàn thành sứ mệnh và cuộc phiêu lưu của mình, và vì nể mặt ngài, nàng sẽ được đưa về với phu quân tại tu viện nơi chàng ta đang nằm dưỡng thương.”

Thế là Sir Tristram dong ngựa trở về Tintagil, còn Sir Bleoberis tới tu viện nơi Sir Segwarides đang nằm trị thương, trao trả lại phu nhân cho chàng rồi rời đi như một trang hiệp sĩ cao quý.

Sau chuyến phiêu lưu ấy, Sir Tristram vẫn tiếp tục ngụ tại triều đình vua cậu, cho đến khi lòng ghen ghét đố kỵ trong lòng vua Mark nảy sinh mưu kế tống khứ chàng đi. Một ngày nọ, ngài yêu cầu chàng quay trở lại Ireland thay mặt ngài cầu hôn La Belle Isault về làm vương hậu — bởi Sir Tristram luôn ca tụng sắc đẹp cùng đức hạnh của nàng, khiến vua Mark nổi lòng thèm muốn cưới nàng cho riêng mình. Hơn nữa, ngài tin chắc cháu mình tất sẽ bị thân quyến hoàng hậu sát hại nếu một lần nữa đặt chân lên đất Ireland.

Nhưng Sir Tristram chẳng chút sợ hãi, lập tức sửa soạn lên đường, mang theo những hiệp sĩ ưu tú nhất có thể tìm được, vận những trang phục lộng lẫy xa hoa nhất.

Khi sang tới Ireland, vào một ngày nọ Sir Tristram truyền đạt thông điệp của vua cậu, và vua Anguish đã ưng thuận.

Nhưng khi hay tin dữ, La Belle Isault vô cùng sầu khổ và miễn cưỡng — dẫu vậy nàng vẫn chuẩn bị lên đường cùng Sir Tristram, mang theo thị nữ thân cận nhất là nàng Bragwaine. Hoàng hậu bèn trao cho nàng Bragwaine cùng Governale, người hầu của Sir Tristram, một chiếc bình nhỏ, dặn dò kỹ lưỡng rằng La Belle Isault và vua Mark nhất thiết phải cùng uống thứ nước này trong ngày cưới, và rồi họ sẽ trọn đời yêu nhau say đắm.

Chẳng bao lâu sau, Sir Tristram và Isault cùng một đoàn tùy tùng đông đảo dong buồm ra khơi. Tình cờ một hôm, khi đang ngồi trong khoang thuyền, hai người thấy khát nước và nhìn thấy một chiếc bình con bằng vàng dường như đựng rượu ngon. Sir Tristram cầm lấy bảo: “Nàng tuyệt sắc ơi, thứ này trông như rượu hảo hạng nhất trần gian, thị nữ Bragwaine của nàng cùng tên Governale của ta đã giấu riêng cho chúng nó đấy.” Cả hai cùng cười vui vẻ, rồi người này chuyền tay người kia uống cạn bình rượu; chưa từng bao giờ họ được nếm thứ rượu nào ngon ngọt và đượm đà dường ấy. Nhưng vừa uống xong, họ đã đem lòng yêu nhau say đắm đến mức tình yêu ấy vĩnh viễn chẳng thể phai tàn dẫu sướng vui hay hoạn nạn. Và thế là dù chẳng bao giờ có thể kết duyên cùng La Belle Isault, trọn cuộc đời Sir Tristram chỉ lập nên những chiến công hiển hách nhất vì một mình nàng mà thôi.

Họ tiếp tục căng buồm lướt sóng cho tới khi đến một lâu đài tên gọi Pluere, nơi họ định ghé chân nghỉ ngơi. Nhưng tức thì một đám đông ùa ra bắt trói họ tống giam vào ngục. Ở trong ngục tối, Sir Tristram gặng hỏi một hiệp sĩ cùng một phu nhân bị giam tại đó vì cớ gì họ lại bị đối xử tàn tệ dường này; “bởi,” chàng nói, “chưa từng có nơi chốn danh giá nào ta từng đặt chân tới lại có cái lệ bắt giữ một hiệp sĩ cùng một mệnh phụ đến xin nương náu rồi tống vào ngục tối; đó thật là một tập tục xấu xa và vô lễ tột cùng.”

“Thưa ngài,” viên hiệp sĩ đáp, “ngài không biết đây gọi là Lâu đài Pluere, tức Lâu đài Nước Mắt sao, và ở đây có một tập tục cổ xưa rằng bất kỳ hiệp sĩ nào lưu lại đều buộc phải quyết đấu với chúa thành, Sir Brewnor, kẻ nào yếu thế hơn sẽ bị chặt đầu. Và nếu phu nhân đi cùng chàng ta kém sắc hơn vợ của chúa thành, nàng cũng sẽ bị chém đầu; nhưng nếu nàng xinh đẹp hơn, thì phu nhân của lâu đài phải chịu rơi đầu.”

“Cầu Trời phù hộ ta,” Sir Tristram thốt lên, “thật là một tập tục nhơ nhuốc và nhục nhã. Nhưng ta lại có một lợi thế, bởi người phụ nữ của ta là trang giai nhân tuyệt sắc nhất trên cõi đời này, nên ta chẳng chút e sợ cho nàng; còn về phần ta, ta sẵn lòng chiến đấu để giữ lấy đầu mình trên một bãi trường công bằng.”

Viên hiệp sĩ bèn bảo: “Hãy nhớ dậy thật sớm vào ngày mai, chuẩn bị sẵn sàng cả ngài lẫn phu nhân.”

Sáng hôm sau, Sir Brewnor tới gặp Sir Tristram, thả chàng cùng Isault ra khỏi ngục, mang cho chàng ngựa và giáp trụ, giục chàng chuẩn bị nghênh chiến, bởi toàn thể thứ dân cùng các đẳng cấp quý tộc trong lãnh địa ấy đều đã tề tựu ngoài bãi trường để chứng kiến và phân xử trận đấu.

Bấy giờ Sir Brewnor dắt tay phu nhân trùm kín mặt bước ra, và Sir Tristram cũng cùng La Belle Isault bước tới đối diện, nàng cũng trùm kín mặt. Sir Brewnor cất tiếng: “Hiệp sĩ, nếu phu nhân của ngươi đẹp hơn phu nhân của ta, hãy dùng gươm chém đầu nàng ấy; nhưng nếu phu nhân của ta đẹp hơn phu nhân của ngươi, ta sẽ dùng gươm chém đầu người phụ nữ của ngươi. Và nếu ta đả bại ngươi, phu nhân của ngươi sẽ thuộc về ta, còn ngươi sẽ phải mất đầu.”

“Này hiệp sĩ,” Sir Tristram đáp, “đây là một tập tục vô cùng nhơ nhuốc và tàn bạo, thà ta chịu mất đầu còn hơn để phu nhân của ta phải rơi đầu.”

“Không được,” Sir Brewnor bảo, “các phu nhân phải được đem ra so tài sắc ngay bây giờ và phán quyết sẽ được đưa ra.”

“Ta không ưng thuận,” Sir Tristram quát lớn, “bởi ở đây có ai đủ tư cách đưa ra phán quyết công minh? Nhưng đừng hoài nghi, phu nhân của ta vượt xa phu nhân của ngươi về nhan sắc, và ta sẽ chứng minh cho điều đó.” Nói đoạn, Sir Tristram vén mạng che mặt của La Belle Isault lên, đứng sừng sững bên nàng với thanh kiếm tuốt trần cầm chắc trong tay.

Sir Brewnor cũng mở mạng che mặt của phu nhân mình và làm tương tự. Nhưng vừa nhác thấy La Belle Isault, hắn liền hiểu rằng trên đời chẳng ai có thể sánh bằng nhan sắc ấy, và tất cả mọi người có mặt đều đồng thanh phán quyết như vậy. Sir Tristram bèn phán: “Bởi ngươi và vợ ngươi bấy lâu nay đã duy trì tập tục tàn độc này, sát hại biết bao hiệp sĩ và phu nhân đức hạnh, nên việc tiêu diệt cả hai ngươi là điều hoàn toàn chính đáng.”

“Quả thật,” Sir Brewnor nói, “phu nhân của ngươi đẹp hơn phu nhân của ta, trong cõi trần gian ta chưa từng thấy ai đẹp nhường ấy. Vậy nên, cứ việc giết phu nhân của ta nếu ngươi muốn, và ta tin chắc ta sẽ hạ sát ngươi để đoạt lấy nàng.”

“Ngươi sẽ phải trả giá đắt nhất mà một hiệp sĩ từng phải trả để đoạt lấy một phụ nhân; và thuận theo phán quyết của chính ngươi cùng tập tục tàn độc mà phu nhân ngươi đã dung túng, ta sẽ lấy mạng nàng như lời ngươi nói.”

Nói đoạn, Sir Tristram bước tới giằng lấy vị phu nhân khỏi tay hắn, và chỉ bằng một nhát chém đã lấy đầu nàng.

“Bây giờ mau lên ngựa!” Sir Brewnor gầm lên, “vì ta đã mất phu nhân của mình, ta sẽ đoạt lấy người của ngươi và lấy mạng ngươi.”

Họ liền lên ngựa, lao vào nhau nhanh như tên bắn, và Sir Tristram dễ dàng đánh ngã Sir Brewnor khỏi lưng ngựa. Nhưng hắn vùng dậy rất nhanh, và khi Sir Tristram quay ngựa lao tới, hắn đâm phập mũi thương xuyên qua hai bả vai tuấn mã khiến con vật lảo đảo rồi ngã quỵ. Nhưng Sir Tristram vô cùng nhanh nhẹn, chàng tung mình rời khỏi lưng ngựa, bật dậy đưa khiên chắn trước ngực, dù trong chớp mắt ấy, trước khi kịp tuốt gươm, chàng đã phải hứng chịu ba bốn nhát chém chí mạng từ Sir Brewnor. Rồi họ điên cuồng lao vào nhau như hai con lợn rừng, chém giết xô đẩy qua lại suốt gần hai giờ đồng hồ, khiến cả hai đều mang thương tích đầy mình. Cuối cùng, Sir Brewnor chồm tới ôm chặt lấy Sir Tristram hòng quật ngã chàng, bởi hắn rất tự tin vào sức mạnh cơ bắp của mình. Nhưng Sir Tristram thời ấy được xưng tụng là hiệp sĩ to lớn và khỏe mạnh bậc nhất thế gian; vóc dáng chàng vạm vỡ hơn cả Sir Lancelot, dẫu Sir Lancelot có phần bền sức hơn. Thế là chẳng mấy chốc, chàng đã quật ngã Sir Brewnor nằm sấp xuống đất, rồi tháo mũ giáp của hắn và chém đứt đầu hắn. Toàn thể thần dân trong lâu đài đều kéo tới quỳ phục, tuyên thệ trung thành, và khẩn cầu chàng lưu lại một thời gian để xóa bỏ vĩnh viễn tập tục nhơ nhuốc ấy.

Nhưng chẳng bao lâu sau chàng rời đi, trở về Cornwall; tại đây lễ thành hôn giữa vua Mark và La Belle Isault lập tức được cử hành vô cùng hoan hỷ và huy hoàng.

Sir Tristram được hưởng vinh hoa tột bậc, luôn ngụ tại cung điện của nhà vua. Nhưng dẫu chàng đã lập bao công lao hiển hách cho ngài như thế, vua Mark vẫn ngấm ngầm căm ghét chàng; một hôm nọ, ngài sai hai hiệp sĩ phục kích toan ám hại chàng khi chàng đang cưỡi ngựa trong rừng. Nhưng Sir Tristram dễ dàng chém bay đầu một tên, đả thương nặng tên còn lại và bắt hắn phải vác thi thể bạn mình về nộp cho nhà vua. Thấy vậy, nhà vua vờ vịt che giấu việc chính ngài đã phái hai kẻ ấy đi; nhưng thâm tâm ngài lại càng căm thù chàng tột độ và tìm mọi cách trừ khử chàng.

Thế rồi vào một ngày nọ, với sự toa rập của tên hiệp sĩ xảo quyệt Sir Andret cùng bốn mươi hiệp sĩ khác, Sir Tristram bị bắt trói lúc đang ngủ say và bị điệu tới một nhà nguyện nằm cheo leo trên vách đá sát biển để quẳng chàng xuống vực sâu. Nhưng ngay khi chúng toan xô chàng xuống, chàng bỗng giật đứt tung mọi dây trói, lao bổ vào Sir Andret, cướp lấy thanh gươm của hắn rồi chém gục hắn tại chỗ. Đoạn chàng nhảy phắt xuống những mỏm đá cheo leo nơi không ai dám đuổi theo, và thoát khỏi vòng vây của chúng. Nhưng có một kẻ đã bắn với theo một phát tên tẩm độc trúng vào cánh tay chàng, gây nên vết thương vô cùng đau đớn.

Chẳng bao lâu sau, người hầu Governale cùng Sir Lambegus đi tìm và thấy chàng bình an giữa những hốc đá, báo cho chàng hay rằng vua Mark đã hạ lệnh trục xuất chàng cùng toàn thể tùy tùng để trả thù cho cái chết của Sir Andret. Thế là họ lên thuyền vượt biển sang Brittany.

Bấy giờ Sir Tristram quằn quại trong đau đớn cùng cực vì vết thương, chàng được mách bảo hãy đi tìm Isoude, ái nữ của Vua xứ Brittany, bởi duy chỉ có nàng mới chữa lành được những vết thương như thế. Chàng bèn tới triều đình vua Howell, thưa rằng: “Thưa bệ hạ, con đến xứ sở này để cầu xin sự cứu giúp từ lệnh ái, bởi thiên hạ bảo với con rằng ngoài nàng ra không ai cứu nổi con.” Isoude vui lòng đem hết tài năng cứu chữa, và chỉ trong vòng một tháng, vết thương của chàng đã hoàn toàn bình phục.

Trong lúc chàng vẫn còn ngụ tại triều đình ấy, một bá tước tên là Grip đã dấy binh gây chiến với vua Howell và bao vây ngài; Sir Kay Hedius, hoàng tử con vua, xuất quân nghênh chiến nhưng bại trận và bị trọng thương. Nhà vua bèn khẩn cầu Sir Tristram ra tay tương trợ; chàng đem theo số hiệp sĩ ít ỏi có thể tìm được, và ngay ngày hôm sau, trong một trận quyết chiến khác, chàng đã lập nên những chiến công hiển hách khiến toàn xứ sở phải ngợi ca. Bởi chính tay chàng đã chém chết tên bá tước cùng hơn một trăm hiệp sĩ của quân địch.

Khi chàng khải hoàn trở về, vua Howell thân hành ra đón, chào mừng chàng với mọi nghi thức danh dự và hoan hỷ tột bậc; ngài ôm chầm lấy chàng và bảo: “Sir Tristram, trẫm nguyện nhường lại toàn bộ vương quốc này cho khanh.”

“Xin đừng,” chàng đáp, “cầu Chúa đừng để điều đó xảy ra, bởi thực lòng con đã mang ơn người trọn đời nhờ công cứu mạng của lệnh ái.”

Nhà vua bèn khẩn khoản gả Isoude cho chàng làm vợ, kèm theo của hồi môn là biết bao đất đai và lâu đài tráng lệ. Sir Tristram bằng lòng, và hôn lễ lập tức được cử hành long trọng tại triều đình.

Nhưng chẳng được bao lâu, Sir Tristram lại tha thiết muốn nhìn thấy xứ Cornwall, và Sir Kay Hedius cũng muốn đồng hành cùng chàng. Họ bèn lên thuyền; song vừa ra khơi, một cơn cuồng phong đã thổi bạt họ dạt vào bờ biển Bắc Wales, gần Lâu đài Perilous, sát cạnh một khu rừng nơi thường xảy ra vô vàn biến cố phiêu lưu kỳ lạ. Sir Tristram liền bảo Sir Kay Hedius: “Trước khi rời đi, chúng ta hãy thử sức với vài chuyến phiêu lưu xem sao.” Thế là họ dắt ngựa lên đường.

Đi được chừng một dặm hoặc hơn, Sir Tristram phát hiện phía trước có một hiệp sĩ phong nhã, trang bị giáp trụ tề chỉnh, đang ngồi bên một dòng suối trong vắt, cạnh đó có con chiến mã to lớn buộc vào gốc sồi. Tiến lại gần, chàng cất tiếng: “Này hiệp sĩ cao quý, nhìn giáp mã của ngài ắt hẳn ngài là một hiệp sĩ giang hồ, vậy hãy chuẩn bị giao đấu với một trong hai chúng tôi, hoặc với cả hai.”

Hiệp sĩ kia chẳng nói chẳng rằng, cầm khiên khoác vào cổ, nhảy tót lên lưng ngựa và chộp lấy ngọn trường thương từ tay người giám mã.

Sir Kay Hedius bèn bảo Sir Tristram: “Hãy để đệ thử sức hắn.”

“Cứ đem hết tài năng ra,” chàng đáp.

Hai hiệp sĩ lao vào nhau, và Sir Kay Hedius bị đâm trúng ngực, ngã gục với vết thương rất nặng.

“Ngài giao đấu cừ lắm,” Sir Tristram cất tiếng bảo viên hiệp sĩ; “bây giờ hãy chuẩn bị tiếp chiêu của ta!”

“Ta sẵn sàng,” người kia đáp, rồi xông vào chàng, giáng một đòn nặng nề đến nỗi hất văng chàng khỏi lưng ngựa. Lấy làm hổ thẹn, chàng liền giương khiên trước ngực, tuốt gươm ra và thách viên hiệp sĩ lạ mặt kia cũng làm như vậy. Thế rồi họ đấu kiếm dưới đất suốt gần hai giờ đồng hồ, cho tới khi cả hai đều mệt lử.

Cuối cùng Sir Tristram lên tiếng: “Trọn đời ta chưa từng gặp hiệp sĩ nào dũng mãnh và bền sức như ngài. Thật đáng tiếc nếu chúng ta tiếp tục làm tổn thương nhau. Hãy ngừng tay lại, hiệp sĩ cao quý, và cho ta biết quý danh.”

“Ta sẵn lòng,” người kia đáp, “nếu ngài cũng xưng danh tính của mình.”

“Tên ta,” chàng nói, “là Sir Tristram xứ Lyonesse.”

“Còn ta là Sir Lamoracke xứ Gaul.”

Cả hai cùng thốt lên: “Thật là hạnh ngộ!”; và Sir Lamoracke nói: “Thưa ngài, vì thanh danh lẫy lừng của ngài, tôi muốn ngài được hưởng trọn vinh quang của trận đấu này, và bởi vậy tôi xin chịu hàng trước ngài.” Nói đoạn, ông cầm mũi kiếm toan trao gươm xin hàng.

“Đừng,” Sir Tristram ngăn lại, “ngài không được làm thế, bởi ta biết rõ ngài làm vậy là vì lòng nghĩa hiệp chứ chẳng phải vì sợ hãi.” Rồi chàng trao kiếm của mình cho Sir Lamoracke, bảo: “Thưa ngài, như một kẻ chiến bại, ta xin hàng phục ngài như hàng phục con người có sức mạnh phi thường bậc nhất mà ta từng gặp.”

“Xin dừng lại,” Sir Lamoracke nói, “giờ chúng ta hãy cùng nhau thề sẽ không bao giờ giao chiến chống lại nhau nữa.”

Và họ đã cùng nhau lập lời thề đúng như lời ông nói.

Sau đó Sir Tristram quay lại với Sir Kay Hedius, và khi chàng này đã lành vết thương, họ cùng nhau xuống thuyền, cập bến bờ biển Cornwall. Vừa đặt chân lên bờ, Sir Tristram đã nóng lòng dò hỏi tin tức về La Belle Isault. Có kẻ lầm tưởng liền báo tin rằng nàng đã chết. Nghe vậy, vì nỗi đau đớn xé ruột xé gan, chàng ngã lăn ra bất tỉnh, mê man suốt ba ngày ba đêm như thế.

Khi tỉnh dậy, tâm trí chàng đã hoàn toàn bấn loạn; chàng lao vào rừng sâu và sống ở đó như một người rừng suốt bao ngày ròng; thân thể chàng gầy rộc đi, suy kiệt và hẳn đã bỏ mạng nếu không có một vị ẩn sĩ thỉnh thoảng đặt ít thịt bên cạnh lúc chàng đang ngủ. Bấy giờ trong khu rừng ấy có một tên khổng lồ tên là Tauleas, vì khiếp sợ Tristram nên bấy lâu nay trốn chui trốn lủi trong một tòa lâu đài; nhưng khi nghe tin chàng đã phát điên, hắn liền nghênh ngang xuất đầu lộ diện trở lại. Một ngày nọ, hắn thấy một hiệp sĩ xứ Cornwall tên là Sir Dinaunt cùng một phu nhân đi ngang qua; khi hiệp sĩ vừa xuống ngựa bên một giếng nước để nghỉ ngơi, tên khổng lồ liền nhảy bổ ra từ chỗ phục kích, bóp cổ toan giết chết chàng ta. Nhưng Sir Tristram trong lúc lang thang qua cánh rừng đã tình cờ bắt gặp cảnh họ đang vật lộn; nghe tiếng kêu cứu của hiệp sĩ, chàng liền lao tới, nhặt lấy thanh gươm của Sir Dinaunt chém phăng đầu tên khổng lồ, rồi thoắt cái biến mất hút sau những rặng cây.

Chẳng bao lâu sau, Sir Dinaunt mang đầu của Tauleas về triều đình vua Mark, nơi chàng đang trên đường tới, và thuật lại chuyến phiêu lưu kỳ lạ của mình. “Ngươi gặp chuyện này ở đâu?” vua Mark hỏi.

“Bên một dòng suối mát trong rừng của bệ hạ,” chàng thưa.

“Trẫm rất muốn tận mắt thấy người rừng đó,” nhà vua bảo.

Thế là một hai ngày sau, ngài truyền lệnh cho các hiệp sĩ mở một cuộc săn lớn trong rừng. Khi tới bên bờ giếng, nhà vua trông thấy một người rừng đang nằm ngủ say sưa, bên cạnh có một thanh kiếm; nhưng ngài chẳng hề hay biết đó chính là Sir Tristram. Ngài liền thổi tù và, tập hợp các hiệp sĩ lại để nhẹ nhàng khiêng chàng về cung điện.

Khi về tới nơi, họ tắm rửa sạch sẽ cho chàng, giúp chàng dần hồi phục lại phần nào tâm trí. Bấy giờ La Belle Isault không hề hay biết Sir Tristram đã trở lại Cornwall; nhưng nghe tin có một người rừng vừa được tìm thấy trong rừng, nàng liền đến xem. Chàng đã tiều tụy và đổi khác quá nhiều khiến nàng không sao nhận ra. “Dẫu vậy,” nàng bảo với thị nữ Bragwaine, “thực tình thiếp thấy dường như đã nhìn thấy người này rất nhiều lần trước đây.”

Đúng lúc nàng cất lời, một con chó săn nhỏ mà Sir Tristram từng tặng nàng hồi nàng mới tới Cornwall — con vật lúc nào cũng quấn quýt bên nàng — bỗng nhìn thấy Sir Tristram đang nằm đó; nó nhảy chồm lên người chàng, liếm láp khắp mặt mũi, bàn tay chàng, rên ư ử và sủa vang trong nỗi mừng rỡ khôn xiết.

“Hỡi ôi,” La Belle Isault thốt lên, “đây chính là hiệp sĩ chân chính của đời thiếp, Sir Tristram!”

Nghe thấy giọng nói của nàng, tâm trí Sir Tristram bỗng tỉnh táo trở lại hoàn toàn, và chàng suýt òa khóc vì vui sướng khi thấy phu nhân của mình vẫn còn sống trên đời.

Con chó săn nhất quyết không chịu rời xa Tristram nửa bước; khi vua Mark cùng các hiệp sĩ khác bước tới xem, nó chồm lên người chàng và sủa dữ dội vào bất cứ ai dám lại quá gần. Một hiệp sĩ bèn lên tiếng: “Chắc chắn đây là Sir Tristram; cứ nhìn con chó săn là thấy rõ.”

“Không,” nhà vua bảo, “không thể nào như thế được,” rồi lấy danh dự hiệp sĩ ra gặng hỏi Sir Tristram xem chàng là ai.

“Tên thần,” chàng đáp, “là Sir Tristram xứ Lyonesse, và giờ đây bệ hạ muốn định đoạt thần ra sao tùy ý.”

Nhà vua liền nói: “Trẫm thấy ân hận vì ngươi đã tỉnh lại,” rồi ngài tìm cách xúi giục các quý tộc sát hại chàng. Nhưng phần lớn bọn họ không đồng tình, trái lại còn khuyên ngài nên trục xuất Tristram khỏi Cornwall thêm mười năm nữa vì tội dám tự tiện trở về khi chưa có lệnh vua. Thế là chàng bị bắt phải tuyên thệ lập tức rời đi.

Khi chàng đang bước về phía bến thuyền, một hiệp sĩ của triều đình vua Arthur tên là Sir Dinadan, người bấy lâu tìm kiếm chàng, liền tiến lại bảo: “Hiệp sĩ cao quý, trước khi ngài rời khỏi xứ này, tôi xin được giao đấu một trận cùng ngài!”

“Ta rất sẵn lòng,” chàng đáp.

Hai bên lao vào nhau, và Sir Tristram dễ dàng đánh ngã ông khỏi lưng ngựa. Ngay sau đó, ông xin phép Sir Tristram cho mình được đi theo hầu, và khi chàng thuận ý, họ cùng nhau cưỡi ngựa ra bến thuyền.

Sir Tristram lúc này ngập tràn nỗi cay đắng trong lòng, chàng bảo với toàn thể các hiệp sĩ hộ tống mình ra bờ biển: “Hãy chuyển lời chào của ta tới vua Mark cùng mọi kẻ thù của ta, và bảo với chúng rằng khi có thể ta sẽ trở lại. Ta đã được đền đáp xứng đáng biết bao cho công lao chém chết Sir Marhaus, giải thoát vương quốc này khỏi ách xiềng xích nô dịch, cho những hiểm nguy khi ta đưa La Belle Isault từ Ireland về cho nhà vua, cho lần giải cứu nàng tại Lâu đài Pluere, cho việc hạ sát tên khổng lồ Tauleas, cùng bao chiến công khác ta đã làm vì Cornwall và vua Mark.” Chàng cất lời đầy giận dữ và cay đắng tột cùng như thế, rồi bước lên thuyền ra đi.

Dong buồm được một quãng, con tàu dừng lại tại một bến đỗ bên bờ biển xứ Wales; tại đó Sir Tristram và Sir Dinadan lên bờ, và ngay trên bờ biển họ gặp hai hiệp sĩ là Sir Ector và Sir Bors. Sir Ector giao đấu với Sir Dinadan và đánh ngã ông xuống đất; nhưng Sir Bors lại nhất quyết không thèm giao đấu với Sir Tristram, “Bởi,” ông bảo, “chẳng có hiệp sĩ Cornwall nào đáng mặt anh hào.” Nghe vậy Sir Tristram vô cùng tức giận, nhưng đúng lúc ấy có thêm hai hiệp sĩ khác xuất hiện là Sir Bleoberis và Sir Driant; Sir Bleoberis đề nghị so thương cùng Sir Tristram, và chàng nhanh chóng đánh ngã ông xuống đất.

“Ta không ngờ,” Sir Bors lớn tiếng thốt lên, “một hiệp sĩ xứ Cornwall lại có thể dũng mãnh dường này.”

Đoạn Sir Tristram và Sir Dinadan rời đi, phi ngựa vào một khu rừng; đang đi, họ gặp một thiếu nữ đang tìm kiếm bất kỳ hiệp sĩ cao quý nào để giải cứu Sir Lancelot. Số là Hoàng hậu Morgan le Fay vì căm ghét ngài nên đã hạ lệnh cho ba mươi võ sĩ mai phục trên đường ngài đi qua nhằm mưu sát ngài. Thiếu nữ bèn khẩn cầu họ ra tay cứu giúp.

Sir Tristram nói: “Xin hãy dẫn ta tới chỗ đó, cô nương.”

Nhưng Sir Dinadan la toáng lên: “Làm sao chúng ta có thể chọi lại ba mươi hiệp sĩ được! Tôi sẽ không tham gia vào trò liều lĩnh dại dột này đâu; đánh với một, hai hay ba hiệp sĩ là đủ rồi; chứ bảo đấu với mười lăm kẻ thì tôi quyết không bao giờ thử.”

“Thật đáng xấu hổ,” Sir Tristram đáp, “ngươi chỉ việc làm tròn bổn phận của mình thôi.”

“Tôi quyết không làm,” ông nói; “bởi thế, tôi xin ngài hãy cho tôi mượn chiếc khiên của ngài, vì đó là khiên của xứ Cornwall, mà người xứ ấy vốn bị coi là hèn nhát, nên khi ngài cưỡi ngựa đi đường sẽ ít bị các hiệp sĩ khác quấy rầy thách đấu.”

“Không đời nào,” Sir Tristram bảo, “ta không bao giờ chịu nhường chiếc khiên này vì tình cảm với người phụ nữ đã trao nó cho ta; nhưng nếu hôm nay ngươi không chịu đứng bên cạnh ta, ta nhất định sẽ lấy mạng ngươi; bởi ta chẳng đòi hỏi gì ở ngươi ngoài việc chiến đấu với một tên hiệp sĩ, và nếu bụng dạ ngươi hèn nhát đến mức không làm nổi điều đó, thì ngươi cứ đứng ngoài mà giương mắt nhìn ta và bọn chúng.”

“Cầu Chúa đừng bao giờ để tôi gặp lại ngài nữa!” Sir Dinadan kêu lên; “nhưng tôi hứa sẽ đứng nhìn và làm mọi cách có thể để giữ lấy mạng mình.”

Chẳng bao lâu sau, họ tới nơi ba mươi hiệp sĩ đang mai phục; Sir Tristram lao thẳng vào chúng, thét lớn: “Có kẻ chiến đấu vì tình bạn với Lancelot đây!” Ngay đợt tấn công đầu tiên, ngọn giáo của chàng đã đâm chết hai tên, rồi tiếp đó chàng tuốt gươm chém gục thêm mười tên nữa trong chớp mắt. Thấy vậy, Sir Dinadan mới lấy lại can đảm, cùng chàng xông vào đánh giết những tên còn lại cho tới khi chúng phải quay đầu tháo chạy.

Sau đó Sir Tristram và Sir Dinadan tiếp tục lên đường cho tới lúc đêm xuống; gặp một người chăn cừu, họ hỏi quanh vùng có chỗ nào trọ lại được chăng.

“Thực tình, thưa các quý ngài,” người chăn cừu đáp, “có một chỗ trọ rất tốt trong tòa lâu đài gần đây, nhưng ở đó có lệ rằng không ai được vào trọ trừ phi phải giao đấu trước với hai hiệp sĩ, và ngay khi bước chân vào trong, các ngài sẽ gặp phải đối thủ xứng tầm.”

“Đúng là một chỗ trọ quái ác,” Sir Dinadan bảo; “ngài muốn trọ đâu thì tùy, tôi quyết không vào đó đâu.”

“Thật xấu hổ cho ngươi!” Sir Tristram nói; “ngươi có còn là một hiệp sĩ nữa không đấy?”

Đoạn chàng lấy danh nghĩa hiệp sĩ bắt ông phải đi cùng, và họ cùng nhau phi ngựa tới lâu đài. Vừa tới gần, hai hiệp sĩ đã phi ngựa hết tốc lực xông ra đón đánh; nhưng cả hai đều bị họ quật ngã, rồi họ bước vào lâu đài và được đón tiếp vô cùng thịnh soạn. Bấy giờ, khi họ đã cởi bỏ giáp trụ và chuẩn bị nghỉ ngơi, bỗng có hai hiệp sĩ là Sir Palomedes và Sir Gaheris kéo đến trước cổng lâu đài, đòi thực thi tập tục thách đấu.

“Tôi thà nghỉ ngơi còn hơn là đánh nhau,” Sir Dinadan than thở.

“Không thể thế được,” Sir Tristram đáp, “bởi chúng ta phải bảo vệ tập tục của lâu đài, một khi ta đã đánh bại các chủ nhân của nó; bởi vậy, hãy chuẩn bị đi.”

“Khốn khổ cho tôi sao lại dính líu vào ngài cơ chứ,” Sir Dinadan than.

Thế là họ chuẩn bị nghênh chiến; Sir Gaheris giao đấu với Sir Tristram và bại trận dưới tay chàng; nhưng Sir Palomedes lại đánh ngã Sir Dinadan. Lúc này các bên đều muốn xuống ngựa đấu kiếm, ngoại trừ Sir Dinadan, bởi ông bị thâm tím mình mẩy và khiếp vía sau cú ngã. Khi Sir Tristram giục ông vào trận, “Tôi không đánh đâu,” ông đáp, “bởi tôi đã bị thương từ trận chiến với ba mươi tên hiệp sĩ sáng nay rồi; còn ngài thì đích thực là một kẻ mất trí, chỉ muốn tự đâm đầu vào chỗ chết! Trên đời này chỉ có hai hiệp sĩ điên rồ đến thế, kẻ kia chính là Sir Lancelot, người tôi từng có bận đi cùng, ngài ấy cứ bắt tôi phải đánh đấm liên miên đến mức suốt cả quý sau đó tôi phải nằm liệt giường. Lạy Trời xin đừng bao giờ để tôi phải kết bạn đồng hành với ai trong hai người nữa!”

“Được thôi,” Sir Tristram nói, “nếu bắt buộc phải thế, ta sẽ một mình chọi cả hai người bọn họ.”

Nói đoạn chàng tuốt gươm xông vào đánh cả Sir Palomedes lẫn Sir Gaheris; nhưng Sir Palomedes bảo: “Khoan đã, hai chọi một thì thật nhục nhã.” Hắn liền bảo Sir Gaheris đứng ngoài, rồi một mình hắn cùng Sir Tristram đọ kiếm hồi lâu; nhưng rốt cuộc Sir Tristram đã dồn ép khiến hắn phải lùi bước, thấy vậy Sir Gaheris và Sir Dinadan đồng lòng can ngăn tách hai người ra. Sir Tristram bèn mời hai hiệp sĩ kia cùng nghỉ lại đó; riêng Sir Dinadan thì bỏ đi, phi ngựa tới một tu viện gần đó trọ qua đêm.

Sáng hôm sau, Sir Tristram tới tu viện tìm ông, thấy ông mệt mỏi rã rời không thể cưỡi ngựa nổi, chàng bèn để ông lại rồi một mình lên đường. Tại tu viện ấy cũng có Sir Pellinore đang trọ lại; ông gặng hỏi Sir Dinadan danh tính của Sir Tristram nhưng không tài nào biết được, vì Sir Tristram đã dặn dò phải giữ kín danh tính. Sir Pellinore bèn bảo: “Đã không chịu nói, ta sẽ tự mình phi ngựa đuổi theo để tìm hiểu.”

“Coi chừng đấy, hiệp sĩ,” Sir Dinadan cảnh báo, “ngài sẽ phải hối hận nếu đuổi theo người đó đấy.”

Nhưng Sir Pellinore lập tức lên ngựa đuổi theo kịp chàng, lớn tiếng thách đấu; Sir Tristram liền quay phắt lại, đánh ngã ông xuống đất và khiến bờ vai ông mang một vết thương rất nặng.

Hôm sau, Sir Tristram gặp một sứ giả loan tin về một hội tỷ thí võ nghệ sắp diễn ra giữa Vua Carados xứ Scotland và Vua xứ Bắc Wales tại Lâu đài Trinh Nữ. Vua Carados đang tìm kiếm Sir Lancelot về phò tá bên phe mình, còn Vua xứ Bắc Wales lại tha thiết tìm Sir Tristram. Và Sir Tristram dự định sẽ có mặt tại đó. Đang trên đường đi, chàng gặp quan quản gia Sir Key cùng Sir Sagramour; Sir Key liền đưa lời thách đấu với chàng. Nhưng chàng từ chối vì muốn giữ sức cho hội tỷ thí. Thấy vậy Sir Key thét lớn: “Này hiệp sĩ Cornwall, hãy so thương với ta, bằng không hãy nhận mình là kẻ hèn nhát đầu hàng!” Nghe vậy, Sir Tristram đùng đùng nổi giận quay phắt lại, ghìm thương thúc ngựa lao thẳng về phía ông. Nhưng khi Sir Key thấy chàng lao tới như điên như dại, ông lại đâm ra chùn bước từ chối, khiến Sir Tristram gọi ông là kẻ hèn nhát, đến mức vì xấu hổ ông buộc phải ra nghênh chiến. Sir Tristram dễ dàng đánh ngã ông rồi phóng ngựa bỏ đi. Sir Sagramour thấy vậy liền đuổi theo, gào lớn đòi so thương với chàng. Sir Tristram lại quay lại, nhanh chóng quật ngã luôn cả ông ta rồi tiếp tục lên đường.

Chẳng bao lâu sau, một thiếu nữ gặp chàng trên đường, kể về một hiệp sĩ phiêu lưu đang gieo rắc bao tai họa gần đó và cầu xin chàng ra tay giúp đỡ. Nhưng khi chàng đi cùng nàng, họ gặp Sir Gawain; ngài nhận ra ngay thiếu nữ này là tỳ nữ của Hoàng hậu Morgan le Fay. Hiểu rằng ả ắt hẳn đang mưu toan quỷ kế hãm hại Sir Tristram, Sir Gawain liền lịch thiệp hỏi chàng đang đi đâu.

“Ta cũng chẳng biết đi đâu,” chàng đáp, “ngoại trừ đi theo sự dẫn dắt của thiếu nữ này.”

“Thưa ngài,” Sir Gawain nói, “ngài không được đi cùng ả, bởi ả và nữ chủ nhân của ả chưa từng làm điều tốt lành cho bất kỳ ai;” rồi tuốt gươm, ngài bảo thiếu nữ: “Mau nói thật cho ta biết vì cớ gì ngươi lại dẫn hiệp sĩ này đi, bằng không ngươi phải chết; bởi mưu đồ phản trắc của chủ ngươi ta đã quá tường tận rồi.”

“Xin tha mạng, Sir Gawain,” thiếu nữ khóc lóc van xin, “tôi xin kể hết.” Rồi ả thú thật rằng Hoàng hậu Morgan đã phái ba mươi thiếu nữ xinh đẹp đi lùng tìm Sir Lancelot và Sir Tristram, dùng mưu chước dụ họ về lâu đài của bà ta, nơi có sẵn ba mươi hiệp sĩ đang mai phục để sát hại họ.

“Thật nhục nhã ê chề!” Sir Gawain phẫn nộ thốt lên, “lại có thứ mưu phản đê tiện dường ấy xuất phát từ một hoàng hậu, một người chị em gái của đức vua.” Đoạn ngài bảo Sir Tristram: “Hiệp sĩ cao quý, nếu ngài chịu sát cánh cùng ta, chúng ta sẽ cùng nhau đập tan mưu đồ độc ác của ba mươi tên hiệp sĩ kia.”

“Ta quyết không phụ lòng ngài,” chàng đáp, “bởi mới vài ngày trước ta cũng vừa phải đối đầu với ba mươi hiệp sĩ của mụ hoàng hậu ấy, và ta tin rằng lần này chúng ta cũng sẽ đoạt lấy vinh quang dễ dàng như trước mà thôi.”

Thế là họ cùng nhau lên đường; khi tới trước lâu đài, Sir Gawain thét lớn: “Hỡi Hoàng hậu Morgan le Fay, hãy sai lũ hiệp sĩ của ngươi ra đây nghênh chiến!”

Hoàng hậu liền thúc giục lũ hiệp sĩ của mụ xông ra, nhưng chúng chẳng dám bước ra nửa bước, bởi chúng quá biết tiếng Sir Tristram và khiếp sợ chàng tột độ.

Sir Tristram và Sir Gawain lại tiếp tục lên đường; đang đi, họ thấy một hiệp sĩ tên là Sir Brewse-vô-tình đang đuổi bắt một mệnh phụ nhằm sát hại nàng. Sir Gawain bèn xin Sir Tristram đứng yên để mình ra tay trừng trị tên hiệp sĩ kia. Ngài phi ngựa xen vào giữa Sir Brewse và vị phu nhân, thét lớn: “Tên hiệp sĩ phản trắc kia, hãy quay lại đấu với ta và tha cho phu nhân ấy!” Sir Brewse liền quay ngoắt lại, ghìm thương lao thẳng vào Sir Gawain, đánh ngã ngài rồi thúc ngựa giẫm đạp lên người ngài đang nằm dưới đất; thấy hành động bạo ngược ấy, Sir Tristram quát lên: “Dừng ngay trò đê tiện đó lại!” rồi phi nước đại lao tới. Nhưng khi Sir Brewse nhìn vào chiếc khiên nhận ra đó là Sir Tristram, hắn liền quay đầu tháo chạy thục mạng. Và dẫu Sir Tristram dốc sức đuổi theo ráo riết, nhưng nhờ sở hữu một con chiến mã quá tốt nên hắn đã trốn thoát.

Chẳng bao lâu sau, Sir Tristram và Sir Gawain tới gần Lâu đài Trinh Nữ, tại đây một lão hiệp sĩ tên là Sir Pellonnes đã tiếp đón cho họ nghỉ trọ. Con trai của Sir Pellonnes là Sir Persides, một hiệp sĩ tài ba, cũng bước ra nồng nhiệt chào đón họ. Khi họ đang đứng trò chuyện bên cửa sổ lồi của lâu đài, họ thấy một hiệp sĩ uy dũng cưỡi một con hắc mã, mang chiếc khiên đen tuyền lướt qua. “Hiệp sĩ kia là ai vậy?” Tristram hỏi.

“Một trong những hiệp sĩ đệ nhất thiên hạ,” Sir Persides đáp.

“Có phải là Sir Lancelot chăng?” Sir Tristram hỏi.

“Không phải,” Sir Persides đáp, “đó là Sir Palomedes, kẻ vẫn chưa chịu rửa tội.”

Ít lâu sau, có người chạy vào báo tin rằng hiệp sĩ mang khiên đen vừa đánh gục mười ba hiệp sĩ. “Chúng ta hãy ra xem trận tỷ thí này đi,” Sir Tristram bảo. Họ bèn mặc giáp trụ rồi bước xuống bãi trường. Nhìn thấy Sir Persides, Sir Palomedes liền sai một giám mã tới gửi lời thách đấu. Hai bên giao đấu, và Sir Persides bị đánh ngã ngựa. Sir Tristram liền chuẩn bị vào cuộc, nhưng trước khi chàng kịp gác ngọn thương vào bệ đỡ, Sir Palomedes đã chớp thời cơ đâm trúng khiên khiến chàng ngã nhào xuống đất. Sir Tristram vô cùng giận dữ và bẽ bàng khôn xiết, bèn sai một giám mã tới yêu cầu Sir Palomedes đấu lại một trận nữa. Nhưng hắn từ chối, bảo: “Hãy bảo chủ nhân ngươi ngày mai hãy rửa hận tại Lâu đài Trinh Nữ, nơi hắn sẽ gặp lại ta.”

Sáng hôm sau, Sir Tristram bảo người hầu đưa cho mình một chiếc khiên màu đen không mang bất kỳ huy hiệu nào; chàng cùng Sir Persides cưỡi ngựa tiến vào hội tỷ thí, gia nhập phe của Vua Carados.

Bấy giờ các hiệp sĩ của Vua xứ Bắc Wales xuất trận; những ngọn thương va vào nhau gãy vụn, người và ngựa ngã la liệt khắp nơi trong cuộc giao tranh ác liệt.

Vua Arthur ngự trên một khán đài cao để theo dõi hội tỷ thí và phân xử, Sir Lancelot ngồi kề bên ngài. Lúc ấy có hai hiệp sĩ phe Bắc Wales là Sir Bleoberis và Sir Gaheris xông ra nghênh chiến Sir Tristram và Sir Persides; Sir Persides bị đánh ngã ngựa và suýt mất mạng vì bị bốn kỵ sĩ giẫm đạp qua người. Nhưng Sir Tristram lao thẳng vào Sir Gaheris và hất văng ông khỏi yên ngựa; khi Sir Bleoberis xông tới tiếp chiến, chàng cũng quật ngã ông nốt. Chẳng mấy chốc hai người lại leo lên ngựa, cùng đi với họ có Sir Dinadan; Sir Tristram lập tức giáng cho ông ta một đòn chí tử khiến ông lảo đảo văng khỏi yên cương. Ông liền kêu toáng lên: “Ái chà! Này hiệp sĩ, ta biết rõ ngươi là ai hơn ngươi tưởng đấy, và ta thề sẽ không bao giờ dám đối đầu với ngươi nữa đâu!” Sir Bleoberis lại lao vào chàng lần thứ hai, nhưng phải hứng trọn một cú đánh trời giáng khiến ông ngã đo ván xuống đất. Ngay sau đó nhà vua hạ lệnh ngừng cuộc đấu trong ngày hôm ấy; muôn người đều kinh ngạc tự hỏi viên hiệp sĩ đó là ai, bởi phần thưởng của ngày thi đấu đầu tiên đã được trao cho chàng dưới danh xưng Hiệp sĩ Khiên Đen.

Sir Palomedes bấy giờ thuộc phe của Vua xứ Bắc Wales, nhưng không nhận ra Sir Tristram. Thấy chàng lập những chiến công phi thường dường ấy, hắn bèn sai người tới dò hỏi quý danh. “Về điều đó,” Sir Tristram đáp, “lúc này hắn chưa thể biết được, nhưng hãy bảo hắn rằng hắn sẽ biết khi ta bẻ gãy hai ngọn thương trên người hắn; bởi chính ta là viên hiệp sĩ bị hắn đánh ngã ngày hôm qua, và bất kể hắn chọn phe nào, ta cũng sẽ đứng về phe đối diện.”

Khi nghe báo rằng Sir Palomedes sẽ đứng về phe Vua Carados — bởi ông ta có quan hệ họ hàng với vua Arthur — chàng liền bảo: “Vậy thì ta sẽ đứng về phe Vua xứ Bắc Wales, chứ bằng không ta nhất định sẽ phò tá chúa thượng của ta là vua Arthur.”

Sáng hôm sau, khi vua Arthur đã ngự giá quang lâm, tiếng tù và của các sứ giả vang lên khai cuộc trường đấu. Vua Carados giao đấu với Vua của Một Trăm Hiệp Sĩ và bị đánh bại; kế đó các hiệp sĩ của vua Arthur tràn vào đẩy lùi quân Bắc Wales. Nhưng tức thì Sir Tristram xuất hiện cứu nguy, chàng đảo ngược tình thế trận đánh, tả xung hữu đột dũng mãnh khôn đương; chàng chém ngã địch thủ bên tả bên hữu khiến toàn thể các hiệp sĩ cùng thứ dân đều đồng thanh reo hò ca tụng chàng.

“Từ thuở biết cầm vũ khí đến nay,” vua Arthur thốt lên, “trẫm chưa từng thấy hiệp sĩ nào lập nên những chiến công kỳ vĩ dường này.”

Bấy giờ Vua của Một Trăm Hiệp Sĩ cùng quân Bắc Wales xông vào vây đánh hai mươi hiệp sĩ thuộc dòng tộc của Sir Lancelot; hai mươi người bọn họ cùng sát cánh chiến đấu kiên cường, không ai bỏ rơi ai. Trông thấy khí phách cao thượng và lòng quả cảm của họ, Sir Tristram vô cùng thán phục. “Thật xứng đáng là bậc dũng mãnh và đầy khí phách,” chàng nói, “khi có những hiệp sĩ cao quý nhường ấy làm thân quyến.” Ngắm nhìn họ một hồi, chàng cảm thấy thật nhục nhã khi thấy hai trăm kẻ lại đi vây đánh hai mươi người; chàng liền phi ngựa tới trước Vua của Một Trăm Hiệp Sĩ bảo: “Ta xin ngài, hỡi đức vua, hãy ngừng vây đánh hai mươi hiệp sĩ kia đi, bởi các ngài quá đông còn họ lại quá ít. Các ngài thắng cũng chẳng vẻ vang gì, vả lại ta thấy rõ các ngài quyết không thể thắng nổi trừ phi giết sạch bọn họ; nhưng nếu ngài không chịu dừng tay, ta sẽ đứng về hàng ngũ của họ mà chiến đấu.”

“Đừng làm vậy,” nhà vua đáp, “ngài không cần phải làm thế; ta rất sẵn lòng nể nang hiệp nghĩa của ngài;” nói đoạn ngài liền thu quân về.

Đoạn Sir Tristram lẳng lặng phi ngựa vào rừng sâu để không ai nhận ra tung tích. Vua Arthur bèn truyền lệnh cho các sứ giả nổi tù và tuyên bố kết thúc ngày hội tỷ thí; ngài trao phần thưởng cho Vua xứ Bắc Wales vì có Sir Tristram đứng về phe ngài ấy. Khắp bãi trường vang lên những tiếng reo hò rầm trời rúng động, âm vang xa tới hai dặm đường: “Hiệp sĩ mang khiên đen đã chiến thắng đấu trường!”

“Hỡi ôi!” vua Arthur than, “viên hiệp sĩ ấy đâu rồi? Thật đáng tiếc khi để chàng vuột mất như thế.” Ngài bèn an ủi các hiệp sĩ của mình: “Đừng nản lòng, các bằng hữu của trẫm, dẫu hôm nay các khanh thua cuộc; hãy vững tâm lên; ngày mai chính thân trẫm sẽ xuất trận, cùng chia sẻ ngọt bùi với các khanh.” Thế là đêm ấy tất cả cùng nghỉ ngơi.

Sáng hôm sau, tù và lại rúc vang báo hiệu khai trận. Vua xứ Bắc Wales cùng Vua của Một Trăm Hiệp Sĩ giao chiến với Vua Carados và Vua xứ Ireland, đánh bại hai vị vua này. Thấy vậy, đích thân vua Arthur xông trận, thi thố những ngón đòn kinh thiên động địa, đánh ngã Vua xứ Bắc Wales cùng các bạn đồng hành, đả bại hai mươi hiệp sĩ dũng cảm. Kế đó Sir Palomedes xông vào, chiến đấu vô cùng hăng hái bên phe vua Arthur. Nhưng Sir Tristram điên cuồng phi ngựa lao thẳng vào hắn, hất tung Sir Palomedes ngã nhào khỏi lưng ngựa. Vua Arthur bèn hô lớn: “Này Hiệp sĩ Khiên Đen, hãy tự vệ lấy mình!” Vừa dứt lời, ngài đã lao tới, giáng một đòn hất bổng chàng khỏi yên ngựa rơi xuống đất, rồi ngài tiếp tục lướt đi đánh những hiệp sĩ khác. Bấy giờ Sir Palomedes vừa tìm được một con ngựa khác liền lao thẳng vào Sir Tristram lúc này đang đi bộ dưới đất, toan dẫm bẹp chàng. Nhưng chàng đã kịp thời nhận ra, né sang một bên, chộp lấy hai tay Sir Palomedes rồi giật phăng hắn ngã khỏi lưng ngựa. Hai bên liền tuốt gươm lao vào nhau chém giết dữ dội, biết bao người đứng chôn chân kinh ngạc dõi nhìn. Sir Tristram giáng liên tiếp ba nhát kiếm kinh hồn bạt vía lên mũ giáp của Sir Palomedes, mỗi nhát chém chàng lại quát lớn: “Nhận lấy nhát này vì mối thù của Sir Tristram!”; và nhát thứ ba đã đánh ngã Sir Palomedes nằm gục xuống đất.

Ngay sau đó, Vua xứ Bắc Wales dắt tới cho Sir Tristram một con ngựa khác, và Sir Palomedes cũng tìm được một con chiến mã. Họ lại điên cuồng lao vào so thương, bởi lúc này cả hai đều hung hãn như hai con sư tử lồng lộn. Nhưng Sir Tristram né được ngọn thương của đối phương, chộp lấy cổ Sir Palomedes, nhấc bổng hắn khỏi yên ngựa rồi tha đi một quãng dài bằng mười ngọn thương rồi mới quẳng hắn xuống đất. Vua Arthur bèn tuốt gươm chém gãy đôi ngọn thương của chàng, giáng cho Sir Tristram hai ba đòn đau điếng trước khi chàng kịp rút gươm ra. Nhưng khi đã nắm chắc chuôi gươm trong tay, chàng dũng mãnh phản công giáng đòn tới tấp vào nhà vua. Thấy thế, mười một hiệp sĩ thuộc dòng dõi Lancelot xông ra ứng cứu, nhưng chàng lần lượt đánh ngã tất cả bọn họ xuống đất, khiến bàn dân thiên hạ đều kinh hồn bạt vía trước võ nghệ phi phàm của chàng.

Tiếng hò reo bấy giờ vang dội đến nỗi đích thân Sir Lancelot phải cầm ngọn trường thương phi ngựa xuống bãi trường để thử tài Sir Tristram; ngài cất tiếng: “Hiệp sĩ mang khiên đen, hãy chuẩn bị nghênh chiến!” Nghe tiếng, Sir Tristram liền hạ ngọn trường thương; cả hai cùng cúi rạp đầu, thúc ngựa lao sầm vào nhau dũng mãnh tựa sấm sét. Ngọn thương của Sir Tristram gãy cụt làm đôi, còn ngọn thương của Sir Lancelot đâm một vết sâu hoắm vào sườn chàng rồi gãy vụn, nhưng vẫn không quật ngã được chàng. Đau đớn vì vết thương xé thịt, Sir Tristram tuốt gươm lao bổ vào Sir Lancelot, giáng những nhát chém sấm sét lên mũ giáp của ngài khiến lửa tóe ra rực sáng, làm Sir Lancelot phải gục đầu xuống tận bướu yên ngựa. Nhưng rồi Sir Tristram quay ngựa rời khỏi chiến trường, bởi chàng cảm thấy vết thương quá đỗi hiểm nghèo, ngỡ rằng mình khó lòng qua khỏi. Sir Lancelot sau đó một mình làm chủ bãi trường nghênh chiến mọi đối thủ, đánh tan phe Vua xứ Bắc Wales. Và bởi ngài là hiệp sĩ cuối cùng còn trụ lại trên chiến trường, phần thưởng cao quý nhất đã được trao cho ngài.

Nhưng ngài kiên quyết từ chối; khi muôn người cùng cất tiếng reo hò: “Sir Lancelot đã giành chiến thắng!”, ngài lớn tiếng hô vang: “Không phải ta, chính Sir Tristram mới là người chiến thắng, bởi chàng là kẻ mở màn đầu tiên và là người kiên cường trụ lại đến sau cùng, ngày nào chàng cũng làm được điều phi thường ấy.” Và toàn thể muôn người lại càng tôn kính Lancelot hơn bội phần vì những lời lẽ hiệp nghĩa cao đẹp ấy, hơn cả việc ngài nhận lấy phần thưởng kia.

Hội tỷ thí võ nghệ kết thúc như thế; vua Arthur khởi hành trở về Caerleon, bởi đại lễ Hiện Xuống đã cận kề, và khắp các hiệp sĩ phiêu lưu đều ai đi đường nấy. Rất nhiều người đã cất công đi tìm Sir Tristram trong cánh rừng nơi chàng ẩn náu; cuối cùng Sir Lancelot đã tìm được chàng và đưa chàng về yết kiến triều đình vua Arthur, đúng như câu chuyện đã được kể ở phần trên.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.