Việc Kim Cương thiếp đi ngon lành là quá rõ vì những sự việc lạ lùng mà giờ đây cậu tưởng tượng là đã diễn ra trước mắt cậu. Vì cậu nghĩ cậu nghe thấy tiếng thì thầm trong cửa sổ lớn. Cậu cố gắng mở mắt, nhưng không thể. Và tiếng thì thầm đó tiếp tục, và càng lúc càng to hơn đến lúc cậu có thể nghe thấy mọi lời thốt ra. Cậu nghĩ đó là các Tông Đồ của Chúa đang trò chuyện về cậu. Nhưng cậu không mở nổi mắt ra.
“Làm sao cậu bé này lại nằm ở đây nhỉ, Thánh Peter?” một người nói.
“Tôi nghĩ cách đây một lát tôi thấy cậu ta ở trên ban công, dưới cửa sổ Nicodemus. Có lẽ cậu ta bị ngã xuống đây.”
“Ngài nghĩ gì, Thánh Matthew?”
“Tôi không nghĩ cậu bé có thể bò tới đây sau khi bị ngã từ độ cao như thế. Cậu ta hẳn đã bị sát hại.”
“Chúng ta sẽ làm gì với cậu bé đây? Chúng ta không thể bỏ mặc cậu ta nằm đó. Và chúng ta không thể làm cho cậu ta thoải mái trên cửa sổ này: chỗ này đã khá đông đúc rồi. Ngài nghĩ sao, Thánh Thomas?”
“Chúng ta hãy xuống ngó cậu ta một cái.”
Có tiếng sột soạt, và tiếng loảng xoảng một lúc, và sau đó là một khoảng lặng, và Kim Cương cảm thấy, bằng cách nào đó tất cả các Tông Đồ của Chúa đang đứng quây quanh nhìn xuống cậu. Nhưng cậu vẫn không mở nổi mắt ra.
“Cậu ta có sao không Thánh Luke?” ai đó hỏi.
“Cậu ta chẳng sao cả,” Thánh Luke trả lời, chắc là vị thánh này vừa từ cửa sổ bên cạnh xuống nhập hội với các Tông Đồ của Chúa. “Cậu ta đang ngủ say.”
“Tôi biết rồi,” ai đó gào lên. “Đây là một trong những quỷ kế của mụ Gió Bấc. Mụ ta đã tóm được cậu bé này và thả xuống cửa nhà chúng ta như thả một tàu lá úa hay một đứa trẻ vô thừa nhận. Tôi phải nói là tôi chẳng thể hiểu nổi cách hành xử của mụ đàn bà ấy. Cứ như thể chúng ta còn chưa có đủ khoản tiêu pha phải lo, nói chi đến chăm sóc con nhà người khác. Đó không phải là mục đích tổ tiên chúng ta dựng lên các nhà thờ.”
Giờ thì Kim Cương không tài nào chịu nổi việc phải nghe những điều thị phi như thế về Gió Bấc, người mà cậu biết chưa bao giờ chơi xỏ ai với quỷ kế nào. Bà quá bận rộn việc riêng, làm gì có thời gian cho việc đó. Cậu vật lộn vất vả để mở mắt ra, nhưng không nổi.
“Mụ ta nên biết rằng nhà thờ không phải là nơi dành cho những trò chơi khăm, đấy là chưa kể tới việc chúng ta cư ngụ ở đây,” một người khác nói.
“Dĩ nhiên mụ ta thật bất kính. Nhưng mụ ta lúc nào chả bất kính. Mụ ta có quyền gì mà đập đùng đùng vào cửa sổ của chúng ta như mụ đã làm suốt đêm nay? Có lẽ lại có kính vỡ đâu đó rồi. Thoạt đầu là mưa, sau đó là bụi bặm, tôi biết cái áo choàng xanh của tôi đã biến thành một mớ bùng nhùng phát khiếp rồi. Tôi sẽ tốn cả đống silinh để làm sạch nó cho mà xem.”
Lúc đó Kim Cương biết rằng nếu nói năng như thế thì họ không phải là các Tông Đồ của Chúa. Họ chỉ có thể là những người phục vụ nhà thờ, những người cai quản giáo đường và những kẻ đại loại như vậy. Cậu đã nghe bố cậu kể rằng những kẻ này thức dậy vào ban đêm, khoác lên mình áo choàng của linh mục trưởng lão và giám mục, và gọi nhau bằng những cái tên to tát, giống những bọn đầy tớ ngốc nghếch tự gọi nhau là quý ông và quý bà, bắt chước theo ông chủ, bà chủ của chúng. Và cậu giận điên lên vì họ đã dám lăng mạ Gió Bấc như vậy, đến nỗi cậu nhảy dựng lên, gào to, “Gió Bấc biết rất rõ mình làm gì. Bà ấy có quyền thổi sạch mạng nhện khỏi cửa sổ của các ngài, vì bà ấy được phó thác để làm chuyện đó. Bà ấy đã quét chúng khỏi những nơi còn nguy nga hơn nhiều, cháu nói cho các ngài hay, vì cháu đã đi cùng bà ấy tới đó.”
Đó là những điều cậu bé bắt đầu mở miệng để nói, nhưng khi nói mắt cậu dần mở to, và lạ thay, chẳng có Tông Đồ của Chúa hay người cai quản giáo đường nào ở đó - thậm chí chẳng có lấy cái cửa sổ nào với tượng thánh ở trong, mà chỉ có một đống cỏ khô sẫm màu quanh cậu, và những ô kính nhỏ trên mái gác xép lấp lánh màu xanh da trời của ánh sáng buổi ban mai. Trong chuồng ngựa ở bên dưới bác ngựa Kim Cương đang thức dậy. Lát sau bác đứng dậy, lắc mình mạnh đến nỗi giường của Kim Cương rung bần bật bên dưới cậu.
“Bác ấy lắc mình cừ khôi thật,” Kim Cương nói. “Mình ước gì mình có thể lắc mình giống thế. Nhưng mình có thể tự tắm rửa, còn bác ấy lại không thể. Nhìn bác ngựa Kim Cương rửa mặt bằng móng guốc và miếng bịt móng chắc vui lắm! Cảnh tượng hay ra phết ấy nhỉ?”
Nói đoạn cậu thức dậy và tự mặc quần áo. Sau đó cậu ra vườn. Đêm qua hẳn đã có một trận cuồng phong, vì dù lúc này tất thảy đều tĩnh lặng, nhưng ngôi nhà hóng mát mùa hè nhỏ nằm đó, bị đè bẹp sát đất, và vắt ngang nó là cây du lớn đã bị gió phạt ngang, vì bị mục nát ở ngang thân. Kim Cương suýt khóc khi thấy đám lá xanh um tùm, vốn từng vươn cao lên trời xanh, đu đưa trong gió nhẹ, và thích nhất là khi gió lắc lá cây mạnh thật mạnh, giờ nằm rạp xuống đất, và chẳng còn hy vọng lại được vươn lên trời thẳm phía trên.
“Không biết cái cây này bao nhiêu tuổi rồi nhỉ!” Kim Cương nghĩ. “Chắc phải mất nhiều thời gian để vươn tới gần bầu trời như cái cây tội nghiệp đó.”
“Quả đúng thế,” một giọng nói cất lên bên cạnh cậu, vì Kim Cương đã nói to những lời sau cùng.
Kim Cương giật mình quay lại thì thấy ông mục sư, em trai bà Coleman, người tình cờ đang tới thăm chị. Ông là một học giả lớn, và thường quen dậy sớm.
“Cháu là ai, anh bạn?” ông hỏi.
“Bé Kim Cương,” cậu bé trả lời.
“Ồ! Ta đã nghe về cháu. Sao cháu dậy sớm thế?”
“Bởi vì bọn Tông Đồ giả mạo đã nói nhăng nói cuội, và đánh thức cháu dậy.”
Ông mục sư nhìn cậu bé chòng chọc. Kim Cương thấy mình nên giữ mồm giữ miệng, vì cậu không thể giải thích mọi chuyện.
“Cháu hẳn đã nằm mơ, anh bạn nhỏ,” ông nói. “Lạy Chúa! Lạy Chúa!” ông nói tiếp khi nhìn vào cái cây. “Thật là một sự tàn phá kinh khủng. Đây là tác phẩm của Gió Bấc. Thật đáng tiếc! Ta ước gì chúng ta sống ở xứ sở sau lưng gió bấc, ta chắc đấy.”
“Nó nằm ở đâu, thưa ông?” Kim Cương hỏi.
“Xa lắm, tận vùng Bắc Cực cơ,” ông mục sư mỉm cười trả lời.
“Cháu chưa từng nghe nói đến nơi đó,” Kim Cương đáp lời.
“Hẳn rồi,” ông mục sư trả lời. “Nhưng nếu cái cây này ở đó, nó đã không bị đánh bật gốc, bởi vì ở đó không có gió.”
“Nhưng thưa ông, nếu nó ở đó,” Kim Cương nói, “chúng ta đã không phải tiếc thương nó.”
“Dĩ nhiên.”
“Thế thì chúng ta cũng không phải vui cho nó.”
“Cháu nói đúng lắm, anh bạn,” ông mục sư nói, nhìn cậu bé rất đỗi nhân từ, khi ông quay người tiến về ngôi nhà, mắt hướng xuống đất. Nhưng Kim Cương tự nhủ, “Lần tới gặp Gió Bấc mình sẽ nhờ bà đưa mình tới xứ ấy. Mình nghĩ trước đây bà có nhắc đến nó.”