Một thời gian sau, Nanny vẫn chưa khỏe để xuất viện, và Kim Cương tranh thủ tới thăm cô bé mọi lúc có thể. Nhưng giờ cậu bé thường xuyên bận rộn hơn, xét đến việc hằng ngày cậu đánh xe đi làm vài giờ với bác ngựa Kim Cương, có em bé phải trông, và một trong hai con ngựa phải chăm, cậu bé không thể tới thăm cô bé thường xuyên như cậu muốn.
Một buổi tối, khi cậu ngồi cạnh giường, cô bé nói với cậu:
“Kim Cương, tớ vừa có một giấc mơ tuyệt đẹp! Tớ muốn kể nó với cậu.”
“Ồ! Kể đi,” Kim Cương nói. “Tớ rất thích các giấc mơ!”
“Hẳn cậu ấy đã tới xứ sở sau lưng gió bấc,” cậu bé tự nhủ.
“Cậu biết không, đó là một giấc mơ rất ngớ ngẩn. Nhưng không hiểu sao nó thật dễ chịu! Thật tuyệt làm sao khi ta tin vào giấc mơ trong suốt thời gian ta ở trong cơn mơ ấy!”
Các độc giả của tôi chớ tưởng rằng cô bé Nanny tội nghiệp đó có thể diễn đạt được ý mình giỏi như tôi viết ra đây. Cô bé chưa từng đến trường, và trước khi vào bệnh viện, cô bé chỉ được nghe toàn thứ ngôn ngữ thô tục. Nhưng tôi đã từng đi học, và dù việc đó không bao giờ giúp tôi mơ giỏi như Nanny, lại giúp tôi kể giấc mơ của cô bé giỏi hơn chính cô bé. Và tôi lại mong muốn làm việc này hơn cho cô bé vì lẽ tôi đã cố hết sức để kể lại giấc mơ của Kim Cương, và sẽ thật xấu hổ nếu tôi chỉ thiên vị mỗi cậu bé.
“Tớ sẽ kể cho cậu tất thảy mọi chuyện tớ biết,” Nanny nói. “Hôm kia có một quý bà tới thăm bọn tớ - một quý bà đẹp tuyệt trần, và ăn vận rất đẹp. Tớ nghe bà y tá trưởng nói với bà ấy rằng bà ấy thật tử tế vì đã mặc đồ màu xanh dương và vàng óng, và bà ấy trả lời rằng bà ấy biết chúng tớ không thích những màu xám xịt. Bà ấy choàng một cái khăn san tuyệt đẹp, tựa như sắc đỏ nhúng trong sữa ấy, và trùm lên trên là những bông hoa cùng màu. Nó không lóng lánh lắm, vì nó bằng lụa, nhưng ẩn bên trong nó cũng là cái vẻ lóng lánh ấy. Khi bà ấy tới cạnh giường tớ, bà ấy ngồi xuống, đúng chỗ cậu đang ngồi ấy, Kim Cương, và đặt bàn tay lên tấm phủ giường. Tớ thì đang ngồi dậy, bàn ăn đặt phía trước tớ sẵn sàng cho bữa tối. Bàn tay bà ấy đeo găng màu xanh dương đẹp đến nỗi tớ những muốn vuốt ve nó. Tớ nghĩ bà ấy sẽ không bực, vì ai đến bệnh viện cũng đều rất tử tế. Chỉ ở ngoài đường họ mới không tử tế thôi. Nhưng bà ấy rút tay lại, và tớ suýt khóc, vì tớ nghĩ tớ đã rất thô lỗ. Tuy nhiên, không phải thế, chỉ là bà ấy không muốn chìa găng tay của bà ấy cho tớ vuốt ve, vì bà ấy tháo nó ra, và đặt tay ở chỗ trước đó. Tớ không chắc lắm, nhưng tớ liều thò cái bàn tay xấu xí của tớ ra.”
“Tay cậu đâu có xấu xí, Nanny,” Kim Cương nói, nhưng Nanny kể tiếp:
“Và tớ lại vuốt ve bàn tay ấy, và sau đó bà ấy vuốt ve tay tớ - cứ nghĩ tới chuyện đó! Và có một chiếc nhẫn trên ngón tay bà ấy, và tớ nhìn xuống để xem trông nó như thế nào. Và bà ấy tháo nó ra, lồng vào một ngón tay của tớ. Đó là một viên đá đỏ, và bà ấy bảo tớ người ta gọi nó là hồng ngọc.”
“Ồ, buồn cười thật!” Kim Cương nói. “Con ngựa mới của nhà tớ tên là Hồng Ngọc. Nhà tớ có thêm một con ngựa nữa - một con ngựa màu đỏ - đẹp tuyệt!”
Nhưng Nanny kể tiếp câu chuyện của mình.
“Tớ cứ ngắm mãi viên hồng ngọc suốt thời gian bà ấy nói chuyện với tớ - nó đẹp tuyệt trần! Và trong lúc bà ấy nói tớ cứ nhìn sâu mãi vào viên ngọc. Sau cùng bà ấy đứng lên ra về, và tớ bắt đầu tháo chiếc nhẫn khỏi tay tớ, và cậu có biết bà ấy nói gì không? ‘Cứ đeo nó suốt đêm, nếu cháu thích. Nhưng cháu phải giữ gìn nó. Ta không thể tặng nó cho cháu, vì có người đã tặng nó cho ta; nhưng cháu có thể giữ nó đến ngày mai.’ Bà ấy thật tốt bụng phải không? Tớ hầu như không nuốt nổi bữa tối, tớ vui quá khi nghe bà ấy nói thế. Và tớ quả thực nghĩ rằng chính chiếc nhẫn đã khiến tớ mơ, vì sau khi ăn tối, tớ ngả người ra sau, nửa nằm nửa ngồi, và ngắm chiếc nhẫn trên ngón tay. Dần dần tớ bắt đầu mơ. Chiếc nhẫn cứ lớn mãi lớn mãi, tới lúc rốt cuộc tớ thấy mình không phải đang ngắm một viên ngọc màu đỏ, mà là mặt trời lặn đỏ ối, rọi vào cuối con phố dài nơi bà tớ sống. Tớ đang mặc thứ quần áo rách rưới mà trước đây tớ thường mặc, và giày tớ bị thủng lỗ to tướng, khiến bùn dơ dáy lấm vào bàn chân tớ. Trước đây thì tớ chả để ý đâu, nhưng giờ tớ nghĩ chúng thật kinh khủng. Và vầng mặt trời lặn đỏ ối ở đó, với những dải xanh lá và vàng óng ở giữa, đứng đó nhìn tớ. Tại sao tớ không thể sống trong vầng mặt trời lặn ấy thay vì trong cái đám bùn bẩn thỉu đó? Tại sao nó luôn ở xa tít tắp đến thế? Tại sao nó không bao giờ ghé vào con phố khốn khổ của chúng tớ? Nó nhạt dần, như mặt trời lặn vốn luôn như thế, và cuối cùng biến mất hẳn. Sau đó một đợt gió lạnh bắt đầu thổi, làm bộ quần áo rách rưới của tớ bay phần phật…”
“Đó chính là Gió Bấc,” Kim Cương nói.
“Hả?” Nanny nói, và kể tiếp câu chuyện của mình.
“Tớ quay lưng lại với gió, và lang thang khỏi đó. Tớ chẳng biết mình đang đi đâu, nhưng đi hướng đó thì ấm hơn. Tớ không nghĩ đó là gió bấc, vì cuối cùng tớ thấy mình đang ở khu Tây. Nhưng trong mơ đó là gió nào thì cũng có gì quan trọng đâu.”
“Tớ cũng không biết nữa,” Kim Cương nói. “Tớ tin là Gió Bấc có thể thâm nhập vào trong những giấc mơ của bọn mình - đúng thế, và thổi ở trong đó. Đôi khi bà ấy còn cuốn phăng tớ khỏi một giấc mơ ấy chứ.”
“Tớ chẳng hiểu cậu đang nói gì, Kim Cương,” Nanny nói.
“Không sao đâu,” Kim Cương trả lời. “Hai người không phải lúc nào cũng hiểu nhau. Cả hai đều tới xứ sở sau lưng gió bấc, và những nơi không có họ sẽ ra sao nhỉ?”
“Cậu nói năng kỳ cục làm sao!” Nanny nói. “Đôi khi tớ nghĩ người ta hẳn đã nói đúng về cậu.”
“Họ nói gì về tớ cơ?” Kim Cương hỏi.
“Họ gọi cậu là Con Trời.”
“Họ mới tử tế làm sao! Nhưng tớ biết chuyện đó mà.”
“Nhưng cậu biết cái tên đó nghĩa là gì không? Có nghĩa là cậu là người đầu óc không bình thường.”
“Tớ cảm thấy ổn mà,” Kim Cương nói, đặt cả hai tay lên đầu mình, như thể đó là một quả cầu có thể tháo ra lắp lại.
“Chà, miễn là cậu hài lòng thì tớ cũng thế,” Nanny nói.
“Cảm ơn cậu, Nanny. Kể tiếp câu chuyện của cậu đi. Tớ nghĩ tớ thậm chí thích các giấc mơ hơn là những câu chuyện cổ tích. Nhưng chúng phải là những giấc mơ đẹp, giống như giấc mơ của cậu, cậu biết đấy.”
“Chà, tớ đi tiếp, quay lưng lại với gió, đến khi tớ tới một con phố tuyệt đẹp trên đỉnh một ngọn đồi. Chuyện xảy ra thế nào thì tớ chẳng biết, nhưng cửa trước của một ngôi nhà đang mở, mà không chỉ cửa trước, cửa sau cũng thế, nên tớ có thể nhìn xuyên qua ngôi nhà - và cậu biết tớ thấy gì không? Một khu vườn cỏ xanh rờn, và mặt trăng đang tỏa sáng trên đó! Cứ nghĩ mà xem! Chẳng có mặt trăng nào ở trên phố, nhưng xuyên qua ngôi nhà thì lại có trăng. Tớ nhìn quanh nhưng chẳng có ai gần đó. Tớ sẽ chẳng gây hại gì, và cỏ thì tuyệt hơn rất nhiều so với bùn! Nhưng tớ không nghĩ mình có thể đi trên cỏ với đôi giày bẩn thế được. Tớ đá chúng xuống rãnh nước, và chạy chân trần vào trong, lên các bậc thềm, xuyên qua ngôi nhà, và tới bãi cỏ. Lúc đi vào ánh trăng, tớ bắt đầu cảm thấy dễ chịu hơn.”
“Đó là lý do tại sao Gió Bấc thổi cậu tới đó,” Kim Cương nói.
“Chuyện này bắt nguồn từ câu chuyện của ông Raymond về công chúa Nắng,” Nanny đáp lại. “Chao, tớ nằm trên cỏ trong ánh trăng mà không nghĩ tớ sẽ ra lại bên ngoài như thế nào. Chẳng hiểu sao mặt trăng lại hợp với tớ thế. Chẳng có lấy một làn gió bấc nào mà cậu nhắc tới. Nó đã tắt hẳn.”
“Ngay lúc đó cậu chẳng cần bà ấy nữa mà. Bà ấy không bao giờ tới nơi người ta không cần bà ấy,” Kim Cương nói. “Nhưng dù sao bà ấy đã thổi cậu vào ánh trăng đấy.”
“Chà, chúng mình sẽ không cãi nhau về chuyện đó nữa nhé,” Nanny nói. “Cậu bị chập cheng mà, cậu biết đấy.”
“Cứ cho là tớ như thế,” Kim Cương đáp trả, “nhưng cậu không thấy gió có thể dẫn vào ánh trăng, hay cả ánh mặt trời nữa à?”
“Có lẽ đúng thế, mà cũng có lẽ là không,” Nanny nói.
“Và cậu cũng có những giấc mơ của cậu nữa, Nanny.”
“Ừ, nhưng tớ biết chúng chỉ là những giấc mơ.”
“Tớ cũng thế. Nhưng ngoài ra tớ biết chúng cũng là cái gì hơn thế nữa.”
“Ồ! Thế á?” Nanny đáp lại. “Tớ không biết đâu.”
“Được thôi,” Kim Cương nói. “Có lẽ một ngày nào đó cậu sẽ biết.”
“Có lẽ tớ sẽ không biết,” Nanny nói.
Kim Cương nín thinh, và Nanny tiếp tục câu chuyện.
“Tớ nằm thật lâu, và ánh trăng thấm qua từng vết rách trên quần áo tớ, khiến tớ cảm thấy thật hạnh phúc…”
“Đó, tớ đã bảo cậu mà!” Kim Cương nói.
“Cậu bảo tớ cái gì cơ?” Nanny hỏi lại.
“Gió Bấc…”
“Đó là ánh trăng, tớ bảo cậu rồi mà,” Nanny khăng khăng, và Kim Cương lại nín thinh.
“Bỗng nhiên tớ cảm thấy mặt trăng không còn tỏa sáng vằng vặc nữa. Tớ nhìn lên thì thấy một đám mây, tựa dải băng đen xốp, đang cố gắng nhấn chìm cái sinh thể tuyệt đẹp ấy. Nhưng mặt trăng tròn vành vạnh, tựa một cái đĩa tròn, đến nỗi đám mây không thể bám vào nó được. Nó thoát khỏi đám mây, và nằm đó chiếu sáng rỡ ràng hơn bao giờ hết. Nhưng một đám mây dày hơn tiến lại gần, mặt trăng nói, ‘Không được làm thế,’ và đám mây đáp trả, ‘Cứ làm đấy.’ Nhưng nó không thể: mặt trăng tỏa sáng hơn và cười nhạo vào sự xấc xược của nó. Tớ biết kiểu cách của mặt trăng mà, vì tớ đã luôn ngắm nhìn nó. Mặt trăng là thứ duy nhất đáng ngắm nhìn ở khu phố chúng tớ vào ban đêm.”
“Đừng gọi đó là khu phố của của cậu,” Kim Cương nói. “Cậu sẽ không quay về đó đâu. Cậu sẽ tới chỗ chúng tớ, cậu biết đấy.”
“Chuyện đó quá tốt nên chẳng thể là thật,” Nanny nói.
“Có rất ít chuyện đủ tốt để có thể là thật,” Kim Cương nói. “Nhưng tớ hy vọng chuyện này là thế. Đây không thể là chuyện quá tốt nên chẳng thể là thật đâu. Thật thì không tốt à? Và tốt thì không tốt à? Thế thì làm sao có thể có một chuyện quá tốt nên chẳng thể là thật được? Chỉ có bà già Sal mới nói thế.”
“Đừng có bôi nhọ bà tớ, Kim Cương. Bà là một mụ già kinh khủng, bà và chai rượu gin, nhưng một ngày nào đó bà sẽ sám hối, và lúc đó cậu sẽ vui mừng vì đã không nói điều gì chống lại bà.”
“Tại sao?” Kim Cương hỏi.
“Bởi vì cậu sẽ xót thương bà.”
“Giờ tớ đang xót thương bà ấy đấy thôi.”
“Được thôi. Đúng đấy. Bà cũng sẽ xót thương. Và thế là chấm dứt mọi chuyện.”
“Được thôi. Cậu tới chỗ chúng tớ,” Kim Cương nói.
“Tớ kể tới đâu rồi nhỉ?” Nanny hỏi.
“Kể tới đoạn mặt trăng đối đãi thế nào với các đám mây.”
“Ừ. Nhưng chẳng ích gì, tất cả cái đám ấy. Hết đám mây này tới đám mây khác kéo tới, và chúng tới càng lúc càng nhanh, cho tới lúc mặt trăng bị che khuất hẳn. Cậu không mong mặt trăng xua được cả trăm đám mây cùng lúc, phải không nào?”
“Dĩ nhiên là không thể,” Kim Cương nói.
“Vì thế trời trở nên rất tối, và một con chó bắt đầu sủa ăng ẳng trong nhà. Tớ nhìn thì thấy cửa vào vườn bị đóng chặt. Thoáng sau nó lại mở - không phải cho tớ ra, mà để cho con chó vào - nó vừa sủa ăng ẳng vừa sải chân chạy. Tớ nghĩ là nếu nó nhìn thấy tớ thì tớ thành mồi cắn của nó trước, và sau đó là mồi cho cảnh sát. Vì thế tớ bật dậy, và chạy tới một ngôi nhà hóng mát nhỏ ở góc vườn. Con chó đuổi theo tớ, nhưng tớ đóng sầm cửa trước mũi nó. Có lẽ có một cái cửa… thì phải?”
“Cậu mơ thấy cái cửa bởi vì cậu muốn có nó mà,” Kim Cương nói.
“Không, không phải thế; tự nó xuất hiện mà. Nó ở đó, trong giấc mơ thực.”
“Đó… tớ bắt nọn cậu rồi nhé!” Kim Cương nói. “Tớ biết là cậu tin vào giấc mơ giống như tớ.”
“Ồ, chà, cậu cứ cài bẫy người ta thế!” Nanny nói. “Dù sao, tớ cũng an toàn ở bên trong ngôi nhà hóng mát. Và cậu biết không? Mặt trăng lại bắt đầu chiếu sáng - nhưng chỉ qua một trong những ô kính - và ô kính đó có màu hồng ngọc. Chẳng phải rất kỳ quặc sao?”
“Không, không kỳ quặc tí nào,” Kim Cương nói.
“Cậu toàn nói ngược thôi!” Nanny nói.
“Không, không,” Kim Cương nói. “Tớ chỉ định nói rằng đó chính là ô cửa tớ đã mong mặt trăng rọi qua.”
“Ồ, được thôi!” Nanny đáp lại.
Ý Kim Cương là gì, tôi không giả bộ nói được. Cậu bé có những ý niệm lạ lùng về sự vật.
“Và giờ,” Nanny nói, “tớ chẳng biết phải làm gì, vì con chó cứ sủa ở cửa, mà tớ thì không thể thoát ra. Nhưng mặt trăng đẹp đến nỗi tớ không thể ngưng ngắm nhìn nó qua ô kính màu đỏ. Và khi tớ nhìn, nó cứ lớn mãi lớn mãi tới lúc nó lấp đầy toàn bộ ô kính rồi lớn vượt cả ô kính luôn, nên tớ có thể thấy nó qua những ô kính khác, và nó phình ra tới mức lấp đầy tất cả ô kính và toàn bộ cửa sổ, nên cả ngôi nhà hóng mát mùa hè sáng gần như ban ngày.
“Con chó đã ngừng sủa, và tớ nghe thấy tiếng gõ nhẹ ở cửa, giống như gió thổi một cành cây nhỏ quệt vào nó.”
“Giống y bà ấy,” Kim Cương nói, vì cậu nghĩ mọi việc lạ và đẹp hẳn đều là do Gió Bấc làm.
“Vì thế tớ quay người khỏi cửa sổ và mở cửa, và cậu biết tớ thấy gì không?”
“Một phụ nữ tuyệt đẹp,” Kim Cương nói.
“Không phải - chính là mặt trăng, to như một ngôi nhà nhỏ, và tròn như một quả bóng, tỏa sáng tựa một khối bạc màu vàng. Nó đứng trên cỏ - hạ xuống ngay trên cỏ. Tớ không thể nhìn được gì hơn vì ánh sáng chói lòa. Và khi tớ đang nhìn chăm chú và băn khoăn thì một cánh cửa bên hông nó mở ra, gần mặt đất, và một ông già bé nhỏ kỳ quặc, có thứ gì đó cong cong phía trên vai, nhìn ra và nói, ‘Tới đây, Nanny. Cô chủ của ta cần cháu. Chúng ta tới đón cháu.’ Tớ không hề sợ. Tớ tiến sát cái vật chói chang tuyệt đẹp đó, và ông già chìa tay ra, tớ nắm lấy, nhảy lên, và ông ấy nâng tớ lên, thế là tớ ở bên trong mặt trăng. Và cậu có biết nó trông như thế nào không? Nó là một ngôi nhà nhỏ xinh xắn, với cửa sổ màu xanh và rèm cửa màu trắng! Một thiếu phụ tuyệt đẹp đang ngồi ở một ô cửa sổ, đầu ngả vào bàn tay, nhìn ra ngoài. Trông bà ấy khá buồn rầu, tớ cảm thấy tội cho bà ấy nên cứ đứng nhìn chằm chằm mãi.

‘Cháu hẳn đã không nghĩ ta có một cô chủ đẹp đến thế!’ ông già bé nhỏ kỳ quặc nói. ‘Quả thực không ạ!’ tớ trả lời. ‘Ai mà nghĩ như thế cơ chứ?’ ‘A! Quả thực, ai mà lại nghĩ thế? Nhưng cháu thấy đấy, cháu không biết hết mọi điều đâu.’ Ông già bé nhỏ đóng cửa lại, và bắt đầu kéo một sợi dây treo phía sau cửa có một đầu buộc quả nặng. Sau khi kéo một hồi, ông ấy nói, ‘Đó, thế là được. Giờ chúng ta ổn rồi.’ Sau đó ông ấy nắm tay tớ và mở một cái cửa lật trên sàn nhà, dẫn tớ xuống hai ba bậc thang gì đấy, và tớ thấy một miệng hố lớn bên dưới tớ. ‘Đừng sợ,’ ông già bé nhỏ nói. ‘Nó không phải là miệng hố. Nó chỉ là một cái cửa sổ. Thò mặt cháu xuống và nhìn xuyên qua.’ Tớ làm như ông ta bảo thì thấy khu vườn và ngôi nhà hóng mát, xa xa, nằm ở dưới đáy của ánh trăng. ‘Đó!’ ông già bé nhỏ nói. ‘Chúng ta đã mang cháu đi khỏi! Cháu có thấy con chó nhỏ sủa chúng ta trong khu vườn bên dưới không?’ Tớ bảo ông ấy tớ không thể nhìn thấy thứ gì xa như thế. ‘Ông có thể nhìn thấy bất cứ thứ gì nhỏ và xa đến thế à?’ tớ hỏi. ‘Chúa phù hộ cho con, bé ơi!’ ông già bé nhỏ nói. ‘Ta có thể nhặt được một cây kim ra khỏi cỏ nếu ta có cánh tay đủ dài. Giờ đang có một cây kim nằm gần cửa ngôi nhà hóng mát mùa hè đấy.’ Tớ nhìn vào mắt ông ấy. Chúng rất nhỏ, nhưng sáng đến nỗi tớ nghĩ rằng ông ấy nhìn nhờ ánh sáng phát ra từ chúng. Sau đó ông ấy dẫn tớ lên, rồi lại đi lên một cầu thang nhỏ ở góc phòng, qua một cửa lật khác, và có một cửa sổ tròn vĩ đại phía trên chúng tớ, và tớ thấy bầu trời xanh ngắt với những đám mây, và rất nhiều ngôi sao, tất thảy đều thật to và tỏa sáng hết mình hơn bao giờ hết!”
“Các cô bé thiên thần đã đánh bóng chúng,” Kim Cương nói.
“Cậu nói nhảm nhí quá đi mất!” Nanny nói.
“Nhưng chuyện nhảm nhí của tớ cũng hay chẳng kém chuyện của cậu đâu, Nanny. Khi cậu kể xong, tớ sẽ kể cho cậu về giấc mơ của tớ. Nhưng trong đó có sao thôi - không có trăng. Mặt trăng đi vắng. Có lẽ lúc đó trăng tới đón cậu đấy. Dù vậy, tớ lại không nghĩ thế, vì giấc mơ của tớ là từ lâu rồi cơ, lâu hơn giấc mơ của cậu. Có lẽ lúc ấy mặt trăng tới đón ai đó khác, vì bọn mình không thể nhầm tưởng rằng chỉ có bọn mình làm được những việc tốt cho họ. Nhưng hãy kể cho tớ chuyện gì xảy ra tiếp theo đi.”

Có lẽ một trong những độc giả nhỏ tuổi của tôi có thể nhớ ra liệu mặt trăng có xuống đón mình vào cùng cái đêm mà Kim Cương mơ giấc mơ của cậu hay không. Dĩ nhiên tôi không thể kể được. Tôi biết mặt trăng đã không xuống đón tôi, dù tôi quả có nghĩ rằng hồi nhỏ tôi có khiến mặt trăng đi theo mình - nhưng không phải là hồi nhỏ xíu đâu.
“Ông già bé nhỏ dẫn tớ đi khắp ngôi nhà, và bảo tớ nhìn ra mọi cửa sổ. Ôi, đẹp tuyệt! Chúng tớ ở đó, tít trên tầng không, trong một ngôi nhà nhỏ đẹp cực sạch! ‘Nhiệm vụ của cháu sẽ là giữ cho các cửa sổ thật sáng,’ ông già bé nhỏ nói. ‘Cháu sẽ không thấy việc này khó lắm, vì trên này không có nhiều bụi đâu. Chỉ có điều thỉnh thoảng sương giá đọng trên cửa sổ, và mưa để lại vết bên ngoài.’ ‘Cháu có thể dễ dàng lau cửa sổ ở bên trong,’ tớ nói, ‘nhưng làm sao cháu lau sạch sương và nước mưa bên ngoài được?’ ‘Ồ!’ ông ấy nói. ‘Dễ thôi mà. Có thang ở khắp nơi. Cháu chỉ phải ra ngoài cửa, và bò xung quanh. Có vô vàn cửa sổ cháu còn chưa nhìn thấy, và một số cửa sổ nhìn ra những nơi cháu không hay biết gì. Trước đây đích thân ta lau chúng, nhưng giờ ta đã khá già rồi, cháu thấy đấy. Phải vậy không?’ ‘Cháu không biết,’ tớ trả lời. ‘Ông biết đấy, cháu chưa từng nhìn thấy ông khi ông trẻ hơn.’ ‘Chưa từng nhìn thấy người đàn ông trên cung trăng ư?’ ông ấy hỏi. ‘Không gần lắm ạ,’ tớ trả lời, ‘nên chẳng thể nói được trông người ấy trẻ hay già thế nào. Cháu đã từng thấy bó củi trên lưng người ấy.’ Vì Jim đã chỉ cho tớ thấy. Jim rất thích ngắm nhìn người đàn ông trên cung trăng. Tội nghiệp Jim! Tớ tự hỏi sao cậu ấy chưa tới thăm tớ. Tớ sợ là cậu ấy cũng bị ốm mất rồi.”
“Tớ sẽ cố gắng tìm hiểu,” Kim Cương nói, “và báo cho cậu.”
“Cảm ơn cậu,” Nanny nói. “Cậu và Jim nhất định phải trở thành bạn bè đấy.”
“Nhưng ông già trên mặt trăng nói gì, khi cậu bảo ông ấy rằng cậu đã từng nhìn thấy ông ấy với bó củi ở trên lưng?”
“Ông ấy cười. Nhưng tớ nghĩ ông ấy cũng có vẻ hơi bị phật lòng. Cái mũi bé nhỏ của ông ấy hếch ngược lên nhọn hơn, và ông ấy kéo khóe miệng từ chóp tai xuống cổ. Nhưng trông ông ấy không cáu giận, cậu biết đấy.”
“Ông ấy không nói gì à?”
“Ồ, có chứ! Ông ấy nói, ‘Toàn chuyện nhảm nhí. Những gì cháu thấy là bó giẻ lau của ta. Ta đang sắp lau cửa sổ ấy mà. Tốn nhiều giẻ lắm, cháu biết đấy. Những gì ở dưới đó họ nói về những người thượng giới mới thật là!’ ‘Chỉ là vì họ không biết rõ đấy ạ,’ tớ đánh bạo nói. ‘Tất nhiên, tất nhiên rồi,’ ông già bé nhỏ nói. ‘Chưa ai từng biết rõ hơn đâu. Chà, ta tha thứ cho họ, và thế là mọi chuyện đâu vào đấy, ta hy vọng thế.’ ‘Ông thật tốt,’ tớ nói. ‘Không!’ ông ấy nói, ‘Ta chẳng tốt tí nào đâu. Nếu không thế ta đâu thể thoải mái gì cho cam.’ Sau đó ông ấy nín lặng một hồi, và tớ ngả người nằm xuống sàn gác xép của ông ấy, mê mải nhìn lên xung quanh vòm trời xanh bao la tuyệt đẹp. Tớ đã hầu như quên bẵng mất ông ấy thì rốt cuộc ông ấy nói, ‘Cháu xong chưa?’ ‘Xong cái gì cơ ạ?’ tớ hỏi. ‘Cầu nguyện xong chưa ấy,’ ông ấy nói. ‘Cháu có đang cầu nguyện đâu,’ tớ trả lời. ‘Ồ, có đấy, cháu đang cầu nguyện đấy,’ ông ấy nói, ‘dù cháu không biết điều đó! Và giờ ta phải cho cháu thấy thứ khác nữa.’
“Ông ấy lại cầm tay tớ dẫn xuống cầu thang, qua một hành lang hẹp, và qua một hành lang nữa, một hành lang nữa, rồi lại một hành lang nữa. Tớ không biết làm sao có thể đủ chỗ cho từng ấy hành lang trong một ngôi nhà nhỏ như thế. Tâm ngôi nhà hẳn phải xa hơn các cạnh nhà rất nhiều so với từ cạnh này tới cạnh kia. Làm sao nó có thể có phần bên trong độc lập đến thế so với phần bên ngoài? Đó là mấu chốt. Thật kỳ quặc - phải vậy không, Kim Cương?”
“Không,” Kim Cương nói. Cậu bé định nói rằng đó là kiểu rất thường thấy ở xứ sở sau lưng gió bấc; nhưng cậu ghìm mình lại và chỉ nói thêm, “Được thôi. Tớ không hiểu được chuyện đó. Tớ không hiểu tại sao phần bên trong phải phụ thuộc vào phần bên ngoài. Với những con cua thì không như thế. Chúng thoát khỏi vỏ ngoài và tạo nên những cái vỏ mới. Bác Raymond kể với tớ như thế.”
“Tớ không hiểu chuyện đó thì liên quan gì,” Nanny nói.
“Thế thì làm ơn kể tiếp câu chuyện của cậu đi,” Kim Cương nói. “Cậu tới được cái gì, sau khi đi qua tất cả những hành lang quanh co đó vào trong tâm của mặt trăng?”
“Tớ không nói chúng là những hành lang quanh co. Tớ nói là chúng dài và hẹp thôi. Chúng không quanh co. Chúng gập ở các góc.”
“Cũng đáng để biết đấy,” Kim Cương nhận xét. “Vì ai mà biết được chẳng mấy chốc chính tớ cũng có thể tới chỗ đó? Nhưng vấn đề chính là rốt cuộc cậu tới được cái gì?”
“Chúng tớ tới một cái hộp nhỏ tựa vào vách một căn phòng nhỏ xíu. Ông già bé nhỏ bảo tớ áp tai vào nó. Tớ làm thế thì nghe thấy tiếng gì giống tiếng gừ gừ của một con mèo, chỉ có điều không to bằng, và dịu dàng hơn nhiều. ‘Cái gì thế ạ?’ tớ hỏi. ‘Cháu không biết tiếng đó à?’ ông già bé nhỏ hỏi lại. ‘Dạ không,’ tớ trả lời. ‘Cháu không biết tiếng của những con ong à?’ ông ấy hỏi. Tớ chưa từng nghe thấy ong, và không thể biết được tiếng của chúng. ‘Đó là những con ong của cô chủ của ta,’ ông ấy nói tiếp. Tớ đã nghe nói ong hút mật từ hoa. ‘Nhưng hoa ở đâu cho chúng ạ?’ tớ hỏi. ‘Ong của cô chủ ta hút mật từ mặt trời và những ngôi sao,’ ông già bé nhỏ nói. ‘Cho cháu nhìn chúng với,’ tớ nói. ‘Không, ta không dám làm thế đâu,’ ông ấy trả lời. ‘Ta không có chuyện gì để làm với chúng cả. Ta không hiểu chúng. Còn nữa, chúng sáng chói đến nỗi nếu một con bay vào mắt cháu, nó sẽ làm cháu mù hẳn đấy.’ ‘Thế thì ông đã từng thấy chúng rồi à?’ ‘Ồ, đúng thế! Một hay hai lần gì đó, ta nghĩ thế. Nhưng ta không biết rõ đâu: chúng sáng lòa - như những cái cúc áo bằng sét ấy. Tối nay ta đã chỉ cho cháu thấy tất cả những gì có thể rồi, giờ thì chúng ta quay trở lại căn phòng nhé.’ Tớ theo chân ông ấy, và ông ấy bảo tớ ngồi xuống bên dưới một ngọn đèn rủ xuống từ mái nhà, rồi đưa tớ ít bánh mì phết mật ong.
“Thiếu phụ không hề cử động. Bà ấy ngồi đó, tay chống trán, đăm đắm nhìn ra ngoài khung cửa sổ nhỏ treo rèm mây trắng giống như những cửa sổ còn lại. Từ chỗ đang ngồi, tớ cũng ngó ra nhưng chẳng thấy gì. Khuôn mặt bà ấy rất đẹp, rất trắng, và rất tĩnh lặng, và bàn tay bà cũng trắng như vầng trán đang ngả trên đó. Tớ không nhìn thấy toàn bộ khuôn mặt bà ấy - chỉ một bên thôi, vì bà ấy không hề cử động để xoay mặt về phía tớ, hay thậm chí nhìn tớ.
“Tớ đã ngồi đó bao lâu sau khi ăn bánh mì phết mật ong tớ cũng chẳng biết nữa. Ông già bé nhỏ lăng xăng khắp căn phòng, kéo dây chỗ này chỗ kia, nhưng chủ yếu là sợi dây ở phía sau cửa. Tớ đang lo lắng nghĩ rằng chẳng bao lâu nữa ông ấy sẽ muốn tớ ra ngoài lau cửa sổ, mà tớ thì không thích việc ấy. Rốt cuộc ông ấy tiến lại chỗ tớ với một ôm giẻ lau lớn. ‘Đến lúc cháu bắt tay vào lau cửa sổ rồi,’ ông ấy nói. ‘Vì mưa đang đến, và nếu trước đó chúng tương đối sạch rồi thì mưa không thể vấy bẩn chúng.’ Tớ lập tức đứng dậy. ‘Cháu không việc gì phải sợ,’ ông ấy nói. ‘Cháu sẽ không trượt ngã. Nhưng cháu phải cẩn thận. Một tay luôn luôn bám chặt trong lúc cháu cọ bằng tay kia.’ Vừa nói ông ấy vừa mở cửa. Tớ vô cùng hoảng sợ lùi lại, vì không thấy có gì ngoài không trung xanh lơ ở bên dưới, giống như một biển nước vĩ đại không đáy. Nhưng việc cần làm thì vẫn phải làm, và sống ở trên đấy dễ chịu hơn nhiều so với sống trong bùn lầy ở dưới kia với những lỗ thủng to tướng trên giày, thế nên tớ không bao giờ nghĩ tới việc không vâng lời. Ông già bé nhỏ chỉ cho tớ phải bám vào đâu và như thế nào trong lúc tớ nhấc chân từ mép cửa đặt lên thanh đầu tiên của cái thang dây. ‘Một khi cháu đã lên cao,’ ông ấy nói, ‘cháu sẽ thấy cháu phải di chuyển khéo léo thế nào.’ Tớ làm như ông ấy bảo, và rất thận trọng bò ra ngoài. Sau đó ông già bé nhỏ đưa cho tớ bó giẻ lau và nói, ‘Ta luôn móc chúng trên cái liềm của ta, nhưng ta không nghĩ cháu có thể điều khiển nó đúng cách. Cháu có thể lấy nó nếu cháu muốn.’ Tuy nhiên, tớ không lấy cái liềm, vì trông nó thật nguy hiểm.
“Tớ cố gắng hết sức ôm bó giẻ lau ấy trèo lên đỉnh mặt trăng. Nhưng cảnh tượng ở đó mới thật tráng lệ làm sao! Tất cả những ngôi sao ở phía trên đầu tớ, sáng và gần đến nỗi tớ cứ ngỡ giơ tay ra là tóm được chúng. Quả bóng tròn mà tớ đang bám vào trôi dập dềnh và bồng bềnh qua khoảng xanh thẫm ở phía trên, phía dưới và khắp mọi phía. Cảnh tượng đẹp đến nỗi tất cả nỗi sợ hãi biến mất khỏi tớ, và tớ cần mẫn bắt tay vào việc. Tớ lau hết cửa sổ này đến cửa sổ khác. Sau cùng tớ tới một cửa sổ bé tí xíu, và tớ nhòm trộm vào trong. Đó là căn phòng có cái hộp ong ở trong! Tớ áp tai vào cửa sổ, và nghe thấy tiếng vo ve du dương khá rõ. Nỗi khao khát được nhìn thấy chúng trỗi lên trong tớ, thế là tớ mở cửa sổ rồi bò vào trong. Cái hộp nhỏ có một cái cửa giống như tủ chứa đồ. Tớ mở cửa - một tiếng cách vang lên rất khẽ khàng - tức thì một luồng sáng phụt ra đau nhói đến nỗi tớ sợ hết hồn đóng ngay cửa lại - tuy nhiên, ba con ong đã kịp thời lao ra phòng, ở đó chúng phóng khắp nơi như những tia sét. Vô cùng hoảng sợ, tớ cố gắng thoát ra ngoài qua cửa sổ, nhưng tớ không thể. Không có đường nào ra bên ngoài mặt trăng ngoài lối qua cửa chính, và đó là căn phòng mà thiếu phụ ngồi. Ngay khi tớ tới căn phòng đó, ba con ong đang bám theo tớ lập tức bay tới chỗ bà ấy, và đậu trên tóc bà. Thế rồi lần đầu tiên tớ thấy bà ấy cử động. Bà ấy giật mình, giơ tay lên bắt chúng. Sau đó bà ấy đứng lên, lần lượt thả chúng vào ngọn lửa của cây đèn, và quay sang tớ. Giờ khuôn mặt bà ấy không buồn mà nghiêm khắc. Nó khiến tớ khiếp sợ. ‘Nanny, cháu đã khiến ta gặp rắc rối,’ bà ấy nói. ‘Cháu đã thả ong của ta ra, và ta chỉ có thể kiểm soát việc đó bằng cách này. Cháu đã buộc ta phải đốt chúng. Đó là một thiệt hại lớn, và sẽ có bão.’ Trong khi bà ấy nói, những đám mây tích tụ khắp xung quanh chúng tớ. Tớ có thể thấy chúng tụ lại trắng xóa xung quanh cửa sổ. ‘Ta rất buồn khi thấy rằng,’ thiếu phụ nói, ‘ta không thể tin tưởng cháu được. Cháu phải trở về nhà - cháu không giúp ích cho chúng ta.’ Sau đó một đợt sấm rùng rùng xuất hiện, mặt trăng lắc lư và đu đưa. Xung quanh tớ vụt tối đen, tớ ngã lăn ra sàn và nằm đó u u mê mê. Tớ có thể nghe được mọi thứ nhưng không thể nhìn thấy gì. ‘Tôi quẳng con bé ra ngoài của sổ nhé, cô chủ?’ ông già bé nhỏ hỏi. ‘Không,’ bà ấy trả lời, ‘con bé không hư đến nỗi bị phạt như thế. Ta không nghĩ con bé gây hại gì, chỉ có điều nó sẽ không bao giờ giúp ích cho chúng ta. Con bé sẽ gây ra những trò quậy kinh khủng ở trên đây. Nó chỉ hợp với bùn lầy thôi. Thật đáng tiếc. Ta buồn cho nó. Hãy tháo cái nhẫn đó khỏi ngón tay con bé. Ta sợ rằng con bé đã đánh cắp cái nhẫn.’ Ông già bé nhỏ nắm bàn tay tớ, và tớ cảm thấy ông ấy giật mạnh cái nhẫn. Tớ cố gắng thanh minh, nhưng, sau khi nỗ lực khủng khiếp, tớ chỉ phát ra nổi một tiếng rên. Rồi tớ bắt đầu nhận thức được những sự việc khác. Ai đó giữ người tớ. Ông già bé nhỏ không còn ở đó. Sau cùng tớ mở mắt, và thấy cô y tá. Tớ đã khóc trong lúc ngủ, và cô ấy tới đánh thức tớ. Nhưng, Kim Cương này, dù tất cả chỉ là một giấc mơ, tớ vẫn không thể ngưng xấu hổ vì đã mở hộp ong của thiếu phụ đó.”
“Cậu sẽ không lặp lại chuyện đó - phải vậy không - nếu bà ấy đưa cậu trở lại?” Kim Cương hỏi.
“Không. Tớ nghĩ không gì có thể buộc tớ lặp lại chuyện đó. Nhưng ích gì đâu? Tớ sẽ không bao giờ có cơ hội nào khác.”
“Tớ cũng không biết nữa,” Kim Cương nói.
“Đồ ngốc! Đó chỉ là một giấc mơ thôi mà,” Nanny nói.
“Tớ biết điều đó, Nanny yêu quý. Nhưng làm sao cậu biết cậu sẽ không mơ lại về nó?”
“Làm gì có chuyện ấy được.”
“Tớ không biết đâu,” Kim Cương nói.
“Cậu luôn nói câu ấy,” Nanny nói. “Tớ không thích thế đâu.”
“Thế thì tớ sẽ không nói thế nữa - nếu tớ không quên.” Kim Cương nói. “Nhưng đó là một giấc mơ tuyệt đẹp! Phải không, Nanny? Thật tiếc cậu đã mở cửa thả lũ ong ra! Đáng lẽ cậu đã có giấc mơ thật dài, và một cuộc trò chuyện tuyệt vời với thiếu phụ trên cung trăng. Hãy cố gắng đến đó lần nữa, Nanny nhé. Tớ thật lòng muốn nghe nữa đấy.”
Nhưng lúc này cô y tá đến nhắc nhở đã đến lúc cậu phải về rồi. Và Kim Cương ra về, tự nhủ, “Mình không thể không nghĩ rằng Gió Bấc liên quan gì đó tới giấc mơ ấy. Nằm đó suốt cả ngày lẫn đêm mà không mơ mộng gì thì thật chán. Nếu cậu ấy không làm thế, có lẽ mặt trăng đã đưa cậu ấy tới xứ sở sau lưng gió bấc - ai mà biết được?”