Các độc giả của tôi hẳn sẽ không ngạc nhiên rằng sau chuyện này, tôi đã cố hết sức mình để trở thành bạn của Kim Cương. Tôi không thấy việc này có gì khó khăn, vì cậu bé luôn rộng lòng tin tưởng. Chỉ riêng một đề tài làm cậu bé dè dặt - câu chuyện về mối liên quan của cậu bé tới Gió Bấc. Tôi cho rằng cậu bé không hoàn toàn quyết định được nên nghĩ gì về nó. Dù gì thì chỉ một thời gian ngắn sau cậu bé đã tin tưởng tôi trong chuyện này, và chỉ khi đó cậu bé mới kể cho tôi nghe mọi chuyện. Dù tôi không thể nhìn nhận tất cả với cùng quan điểm như cậu bé, nhưng tôi hoàn toàn cảm thông mà không mảy may giả bộ, và cậu bé hài lòng không đòi hỏi tôi đưa ra bất kỳ giả thiết nào về những điểm phức tạp trong câu chuyện. Tôi để cậu bé nhìn nhận thật đơn giản, và dù lời giải thích cho trải nghiệm tuyệt vời ấy có là gì đi nữa, tôi sẵn lòng đánh đổi mọi thứ để được trải qua một thứ tương tự thế.
Một buổi tối chẳng bao lâu sau cơn dông đó, trong buổi hoàng hôn muộn, trăng bán nguyệt vắt cao trên bầu trời, tôi bắt gặp Kim Cương lúc đang trèo chiếc thang nhỏ của cậu bé lên cây dẻ gai.
“Cậu luôn trèo lên đó làm gì thế, hả Kim Cương?” tôi nghe Nanny hỏi, khá sỗ sàng, tôi nghĩ bụng.
“Đôi khi vì cái này, đôi khi vì cái khác, Nanny ạ,” Kim Cương trả lời, nhìn theo hướng bầu trời trong khi trèo.
“Có ngày cậu sẽ gãy cổ mất thôi,” cô bé nói.
“Tối nay tớ sẽ ngắm mặt trăng,” cậu bé nói thêm, không chú ý tới nhận xét của cô bé.
“Ở dưới đây cũng ngắm mặt trăng được mà,” cô bé đáp lời.
“Tớ không nghĩ thế.”
“Ở đó cậu chẳng gần mặt trăng hơn tí nào đâu.”
“Ồ, có chứ! Tớ sẽ ở gần hơn. Cậu biết đấy, tớ hẳn phải ở gần mặt trăng hơn. Tớ ước gì mình có thể mơ những giấc mơ đẹp về mặt trăng như cậu, Nanny.”
“Cậu đúng là đồ ngốc! Cậu chẳng bao giờ dứt khỏi giấc mơ đó. Tớ chẳng bao giờ mơ mộng gì ngoài giấc mơ đó, và nó thật nhảm nhí, tớ chắc đấy.”
“Nó không nhảm nhí. Nó là một giấc mơ đẹp - và cũng là một giấc mơ ngộ nghĩnh nữa, một giấc mơ vừa đẹp vừa ngộ.”
“Nhưng nói về nó theo cách đó thì ích gì, khi cậu biết đó chỉ là một giấc mơ? Những giấc mơ đâu có thật.”
“Giấc mơ đó là thật, Nanny. Cậu biết thế mà. Chẳng phải cậu đã buồn rầu vì đã làm việc mà người ta bảo cậu không được làm? Chuyện đó không thật sao?”
“Mình không thể làm cậu ta khôn ngoan lên được,” Nanny kêu lên với vẻ hơi thất vọng. “Kim Cương, cậu có thực sự tin là có một ngôi nhà trong mặt trăng, với một thiếu phụ tuyệt đẹp và một ông già quái dị cùng bó giẻ lau ở trong đó?”
“Nếu không có thì có thứ khác còn tốt đẹp hơn,” cậu bé trả lời, và mất hút trong đám lá phía trên đầu chúng tôi.
Tôi vào trong nhà, nơi tôi thường ghé thăm vào các buổi chiều tối. Khi tôi đi ra, có một làn gió thoảng đang thổi, rất dễ chịu sau cái nóng nực ban ngày, vì tiết trời vẫn nóng nực dù bây giờ là cuối hè. Các ngọn cây đang đung đưa ngả nghiêng trong gió. Tôi đi qua cây dẻ gai, và gọi với lên để xem Kim Cương có còn trên cái tổ của cậu bé trong cái chỏm cây chao đảo hay không.
“Cháu còn ở đó không, Kim Cương?” tôi hỏi.
“Dạ còn, bác,” giọng nói rành rọt của cậu bé vang lên.
“Chẳng phải trời đang trở nên quá tối để cháu trèo xuống an toàn sao?”
“Ồ không, thưa bác… cháu sẽ trèo xuống thật chậm thôi. Cháu biết lối xuống rất rõ, và không bao giờ thả một tay ra nếu tay kia chưa bám chắc.”
“Cẩn thận đấy,” tôi nài nỉ - một cách ngốc nghếch, khi thấy cậu bé đã cẩn thận hết sức có thể.
“Cháu xuống đây,” cậu bé đáp lời. “Tối nay cháu ngắm mặt trăng đủ rồi.”
Tôi nghe thấy tiếng loạt soạt tiến lại mỗi lúc một gần. Ba bốn phút trôi qua, và rốt cuộc cậu bé cũng hiện ra, bò xuống cái thang nhỏ. Tôi đỡ cậu bé trên tay, và đặt cậu bé xuống đất.
“Cảm ơn bác,” cậu bé nói. “Đó là gió bấc đang thổi, phải không bác?”
“Bác không biết,” tôi trả lời. “Bác nghĩ nó có vẻ mát mẻ và tốt lành, và bác đoán có thể lắm. Nhưng bác không chắc, trừ phi nó mạnh hơn, vì một cơn gió nhẹ có thể xoay theo bất kỳ hướng nào giữa các thân cây.”
“Cháu sẽ biết khi cháu lên tới phòng mình,” Kim Cương nói. “Cháu nghĩ cháu nghe thấy tiếng chuông gọi của bà chủ. Chúc bác ngủ ngon.”
Cậu bé chạy về nhà, và tôi đi về.
Bà chủ rung chuông gọi cậu bé chỉ để đưa cậu đi ngủ, vì bà rất chu đáo với cậu, và tôi dám chắc bà nghĩ trông cậu bé không khỏe lắm. Khi cậu bé lên tới phòng mình, cậu mở cả hai cửa sổ, một cửa nhìn ra hướng Bắc và cửa kia nhìn ra hướng Đông, để thấy gió thổi như thế nào. Gió thổi thẳng vào cửa sổ hướng Bắc. Kim Cương vô cùng vui sướng, vì cậu bé nghĩ lúc này có lẽ chính Gió Bấc sẽ xuất hiện: một ngọn gió bấc thực thụ chưa từng thổi suốt quãng thời gian qua, kể từ khi cậu rời London. Nhưng, vì bà luôn tự xuất hiện, không phải khi cậu đang tìm kiếm bà, và cũng không phải khi cậu đang nghĩ về bà, cậu bé liền đóng cửa sổ hướng Đông, và vào giường ngủ. Có lẽ một vài độc giả của tôi sẽ ngạc nhiên vì cậu bé có thể đi ngủ với niềm mong đợi lớn như thế. Và quả thực, nếu không biết rõ cậu bé, chính tôi cũng sẽ ngạc nhiên lắm. Nhưng đó là một trong những nét lập dị của cậu bé, và dường như không phải điều gì lạ lùng với cậu. Cậu bé luôn đầy trầm lặng đến nỗi cậu có thể đi ngủ hầu như bất kể lúc nào, chỉ cần cậu bình tâm để giấc ngủ tới. Lần này cậu ngủ say như thường lệ.
Nhưng cậu bé thức dậy trong đêm tối xanh mờ mờ. Mặt trăng đã biến mất. Cậu bé nghĩ mình nghe thấy tiếng gõ cửa. “Ai đó cần mình,” cậu bé tự nhủ, bèn nhảy khỏi giường rồi chạy ra mở cửa.
Nhưng không có ai ở đó. Cậu bé đóng cửa lại, và vì tiếng động vẫn tiếp tục, cậu phát hiện thấy một cánh cửa khác trong phòng đang kêu lạch cạch. Cánh cửa đó là của một kho chứa đồ, cậu bé nghĩ, nhưng cậu chưa bao giờ mở được nó. Gió thổi vào cửa sổ hẳn đang rung lắc nó. Cậu bé sẽ tới xem có phải vậy không.
Giờ cánh cửa mở ra khá dễ dàng, nhưng trước sự ngạc nhiên của cậu bé, thay vì kho chứa đồ cậu lại thấy một căn phòng hẹp dài. Mặt trăng, vốn đang chìm dần ở hướng Tây, tỏa sáng ở cửa sổ đang mở ở đầu xa. Căn phòng thấp với trần nhà lượn tròn ở các cạnh, và chiếm trọn tầng trên cùng của tòa nhà, ngay bên dưới mái nhà. Nó hoàn toàn trống không. Ánh trăng bán nguyệt vàng rực trải đầy sàn nhà tối thẫm. Cậu bé vô cùng vui sướng phát hiện ra cái nơi kỳ lạ, hoang vắng, ngập ánh trăng, kề sát căn phòng nhỏ ấm cúng của cậu đến nỗi cậu bé bắt đầu múa may nhảy nhót khắp sàn nhà. Gió tràn vào qua cánh cửa cậu bé để ngỏ, và thổi vờn quanh cậu bé trong lúc cậu nhảy múa, và cậu cứ xoay về hướng đó để gió có thể thổi vào mặt cậu. Cậu cứ tự hình dung ra những nơi chốn, tuyệt đẹp và hoang vắng, những sườn đồi, sân nông trại, ngọn cây và đồng cỏ mà gió đã thổi qua trên đường tới Gò Nhỏ. Trong lúc nhảy nhót, càng lúc cậu càng trở nên vui sướng với chuyển động của mình và với gió; bàn chân cậu trở nên mạnh mẽ hơn, cơ thể nhẹ nhàng hơn, tới khi rốt cuộc dường như cậu bé được nâng bổng lên không trung, và gần như đang bay. Cảm xúc trong cậu mãnh liệt đến nỗi rốt cuộc cậu bắt đầu nghi ngờ phải chăng cậu không phải đang ở một trong những giấc mơ quý giá trước đây cậu thường có, những giấc mơ mà cậu có thể lơ lửng trên không theo ý muốn. Nhưng có cái gì đó khiến cậu ngước lên, và vui sướng không thốt nên lời, cậu thấy bàn tay giơ lên của mình nằm trong tay Gió Bấc, người đang nhảy cùng cậu, xoay vòng vòng quanh căn phòng dài trống trải, tóc bà lúc xõa xuống sàn, lúc phủ đầy vòm trần, mắt bà sáng chói, đọng trên cậu bé như hai vì sao trầm tư, và nụ cười ngọt ngào nhất trong những nụ cười vĩ đại phơi phới quanh khuôn miệng tuyệt đẹp của bà. Bà, như thường thấy trước đây, có tầm vóc của một phụ nữ khá cao lớn. Bà không cúi xuống để nhảy cùng cậu bé, mà nắm tay cậu, giơ cao lên. Khi thấy bà, cậu nhảy bật lên, tay cậu vòng quanh cổ bà, và tay bà ôm cậu vào ngực. Đồng thời bà lướt cùng cậu bé qua cửa sổ mở có ánh trăng đang rọi vào, lượn tròn như một chú chim đang sắp cất cánh, và cùng cậu bé hạ xuống trong cái tổ của cậu ở trên ngọn dẻ gai. Ở đó bà đặt cậu bé vào lòng và bắt đầu dỗ dành cậu như thể cậu là con của chính bà, và Kim Cương vui sướng tột bậc đến mức cậu không muốn nói tiếng nào. Tuy nhiên, rốt cuộc cậu bé thấy mình sắp ngủ, và điều đó có nghĩa là cậu sẽ bỏ lỡ quá nhiều đến nỗi, cho dẫu giấc ngủ thật dễ chịu, cậu bé vẫn không thể cho phép nó xâm chiếm.
“Làm ơn đi, Gió Bấc yêu quý,” cậu bé nói, “cháu hạnh phúc đến nỗi cháu sợ đây chỉ là một giấc mơ. Cháu làm sao biết đây không phải là mơ?”
“Chuyện đó quan trọng gì nào?” Gió Bấc trả lời.
“Cháu sẽ khóc ạ,” Kim Cương nói.
“Nhưng tại sao cháu phải khóc? Giấc mơ, nếu đó là một giấc mơ, thì cũng là một giấc mơ dễ chịu - phải vậy không?”
“Đó là lý do tại sao cháu muốn nó là thật.”
“Cháu đã quên những gì cháu nói với Nanny về giấc mơ của bạn ấy à?”
“Không phải vì bản thân giấc mơ… Ý cháu là, không phải vì niềm vui từ đó,” Kim Cương trả lời, “vì cháu có cái đó rồi, dù đó là mơ hay không mơ. Đó là vì bà, Gió Bấc. Cháu không chịu nổi nếu thấy đó chỉ là một giấc mơ, bởi vì khi đó cháu sẽ lạc mất bà. Khi đó bà sẽ thành không ai cả, và cháu không chịu nổi điều đó. Bà không phải là một giấc mơ, phải không, Gió Bấc yêu quý? Hãy nói Không phải đi bà, nếu không cháu sẽ khóc, và tỉnh giấc, và bà sẽ biến mất mãi mãi. Cháu sẽ không dám mơ lại về bà lần nữa nếu bà không là ai cả.”
“Ta không phải một giấc mơ, nhưng cũng không phải là cái gì tốt đẹp hơn thế đâu, Kim Cương,” Gió Bấc nói, bằng giọng khá buồn rầu, cậu bé nghĩ.

“Nhưng cháu không cần cái gì tốt đẹp hơn - chính bà mới là người cháu cần, Gió Bấc,” cậu bé khăng khăng, và bắt đầu khóc thút thít.
Bà không trả lời, nhưng bay lên cùng cậu bé trong tay và lướt qua những ngọn cây tới lúc họ tới một đồng cỏ, nơi một bầy cừu đang gặm cỏ.
“Cháu có nhớ bài hát cháu hát cách đây khoảng một tuần về Bo Peep không - về chuyện cô bé lạc mất bầy cừu, nhưng có được gấp đôi số cừu con như thế nào?” Gió Bấc hỏi, ngồi xuống cỏ, và đặt cậu bé vào lòng mình như trước.
“Ồ, cháu nhớ chứ, khá rõ,” Kim Cương trả lời, “nhưng cháu chưa bao giờ thực sự thích bài đó.”
“Tại sao không, hả con trai?”
“Bởi vì dường như bài hát ấy muốn nói rằng cái này cũng tốt như cái kia thôi, hoặc hai cái mới thì tốt hơn cái đã mất. Cháu đã nghĩ rất nhiều về chuyện đó, và dường như với cháu, mặc dù đồng sáu xu nào cũng tốt như nhau, nhưng hai chục con cừu con không thể bù được cho một con cừu mình quen thuộc. Theo cách nào đấy, một khi mình đã nhìn vào mắt ai đó, ý cháu là sâu thẳm vào trong mắt ấy, thì không ai có thể thay thế cho người đó nữa. Bất kỳ ai, dù đẹp hay tốt đến đâu, cũng không thay thế được người mà mình không còn gặp lại. Vì thế bà thấy đấy, Gió Bấc, cháu không thể ngưng lo sợ khi nghĩ rằng có lẽ cháu chỉ đang mơ, và bà không có ở đâu cả. Hãy bảo cháu rằng bà là Gió Bấc tuyệt đẹp, có thật, của riêng cháu đi bà.”
Bà lại bật lên, phóng người vào không trung, như thể bực bội vì bà không thể trả lời cậu bé. Và Kim Cương nằm yên trong tay bà, chờ xem bà sẽ nói gì. Cậu bé cố gắng nhìn lên mặt bà, vì cậu vô cùng sợ rằng bà không trả lời cậu bởi bà không thể nói rằng bà không phải là một giấc mơ. Nhưng bà để tóc xõa khắp mặt để cậu không thấy được mặt mình. Điều này khiến cậu bé còn hoảng sợ hơn nữa.
“Hãy nói đi, Gió Bấc,” rốt cuộc cậu bé nói.
“Ta không bao giờ nói khi ta không có gì để nói,” bà đáp lại.
“Thế thì cháu thực sự nghĩ bà hẳn là một Gió Bấc có thật, và không phải là mơ,” Kim Cương nói.
“Nhưng lúc nào ta cũng tìm điều gì đó để nói.”
“Nhưng cháu không muốn bà nói những điều khó tìm lời để nói. Nếu bà sắp nói một lời để an ủi cháu mà không thật, khi đó cháu sẽ biết bà hẳn là một giấc mơ, vì một người phụ nữ đẹp vĩ đại như bà sẽ không bao giờ nói dối.”
“Nhưng bà ấy có thể không biết nói như thế nào về những điều bà ấy phải nói, để một cậu bé như cháu hiểu được,” Gió Bấc nói. “Đây, chúng ta hãy xuống lại đây, và ta sẽ cố gắng nói với cháu những gì ta nghĩ. Dù thế, cháu đừng có nghĩ rằng ta có thể trả lời hết tất cả những câu hỏi của cháu. Có rất nhiều điều ta không hiểu rõ hơn cháu đâu đấy.”
Bà hạ xuống một quả đồi nhỏ ngập cỏ, giữa một bãi hoa kim tước dại. Có một cái hang thỏ ở bên dưới, và một vài con thỏ ra khỏi miệng hang, trong ánh trăng, trông rất điềm đạm và khôn ngoan, giống như những vị trưởng lão đáng kính đứng trước cửa túp lều của họ ngó nghiêng xung quanh trước khi đi ngủ. Khi chúng thấy Gió Bấc, thay vì quay người chạy bình bịch biến mất, chúng chạy chầm chậm tới chỗ bà và khụt khịt khắp người bà bằng cái mép trên dài của chúng, rồi tức thì sục sạo theo mọi hướng. Đó là cách chúng hôn hít bà. Và bà, trong lúc nói chuyện với Kim Cương, thỉnh thoảng lại vuốt ve những cái lưng đầy lông, hay nhấc và nghịch những đôi tai dài của chúng. Kim Cương nghĩ đáng lẽ chúng đã nhảy lên lòng bà, nhưng cậu bé đang ở đó mất rồi.

“Ta nghĩ,” bà nói, sau một lát họ ngồi lặng yên, “rằng nếu ta chỉ là một giấc mơ, cháu đã không thể yêu quý ta đến thế. Cháu vẫn yêu quý ta khi ta không ở bên cháu, phải không?”
“Quả đúng thế,” Kim Cương trả lời, vuốt ve tay bà. “Cháu thấy mà! Cháu thấy mà! Làm sao cháu có thể yêu quý bà giống như cháu đã yêu nếu bà không hề ở đó, bà biết không? Hơn nữa, cháu không thể mơ trong đầu mình thứ gì đẹp bằng nửa như thế; hoặc nếu cháu mơ được, cháu không thể yêu quý một ảo ảnh do chính mình tạo ra như thế, phải không ạ?”
“Ta nghĩ là không. Nếu thế thì hẳn cháu sẽ yêu quý ta trong một giấc mơ, một cách hão huyền, và có lẽ sẽ quên ta ngay khi cháu thức giấc, chứ không yêu ta như một người bằng xương bằng thịt như bây giờ. Ngay cả khi đó, ta không nghĩ cháu có thể mơ được giấc mơ nào mà không có cái gì từa tựa như nó ở đâu đó ngoài đời thật. Nhưng cháu đã thấy ta ở nhiều hình dạng, Kim Cương: cháu nhớ có lần ta là một con sói - phải không cháu?”
“Ồ có chứ ạ - một con sói tốt dọa một bà vú ngược ngạo say xỉn sợ chết khiếp.”
“Chà, giả thử ta biến thành xấu xí, liệu khi đó cháu có muốn ta không phải là mơ không?”
“Dạ có chứ ạ, vì cháu biết dẫu sao bà vẫn đẹp từ bên trong. Bà yêu quý cháu, và dù gì cháu vẫn yêu quý bà. Bà biết đấy, cháu không thích bà xấu xí. Cháu sẽ không mảy may tin chuyện đó đâu.”
“Cho dù cháu tận mắt thấy chuyện đó?”
“Dạ vâng, cho dù cháu thấy rõ như ban ngày.”
“Đó mới là Kim Cương của ta! Thế thì ta sẽ nói cho cháu tất cả những gì ta biết về chuyện đó. Ta nghĩ ta không chỉ là những gì cháu tưởng tượng về ta đâu. Với những người khác nhau ta phải tự biến hình theo những cách khác nhau. Nhưng trái tim của ta thì chân thật. Mọi người gọi ta bằng những cái tên đáng sợ, và nghĩ rằng họ biết hết về ta. Nhưng họ không biết gì hết. Đôi khi họ gọi ta là Vận Rủi, đôi khi là Cái Ác, đôi khi là Hủy Hoại. Và họ còn có một cái tên khác dành cho ta mà họ nghĩ là đáng sợ hơn cả.”
“Tên đó là gì ạ?” Kim Cương hỏi, ngước lên cười với khuôn mặt bà.
“Ta sẽ không cho cháu biết cái tên đó. Cháu còn nhớ mình đã phải đi xuyên qua ta để tới xứ sở ở sau lưng ta?”
“Ồ có, cháu nhớ ạ. Lúc đó bà mới lạnh làm sao, Gió Bấc à! Và trắng toát khắp người trừ cặp mắt tuyệt đẹp của bà! Tim cháu trở nên giống như một cục đá lạnh, và sau đó trong một thoáng cháu quên sạch.”
“Lúc đó cháu sắp biết được cái tên mà họ gọi ta đấy. Cháu có sợ ta không nếu phải đi xuyên qua ta lần nữa?”
“Dạ không. Tại sao cháu phải sợ? Quả thật cháu sẽ rất vui sướng nếu làm thế chỉ là để thoáng thấy xứ sở ở sau lưng bà.”
“Cháu vẫn chưa từng nhìn thấy nó đâu.”
“Cháu chưa thấy ư Gió Bấc? Ồ! Cháu rất xin lỗi! Cháu cứ tưởng cháu đã thấy. Thế lúc đó cháu đã thấy gì ạ?”
“Chỉ là một hình ảnh của nó thôi. Xứ sở thực sự ở sau lưng ta đẹp hơn thế nhiều lắm. Một ngày nào đó cháu sẽ thấy nó - có lẽ sớm thôi.”
“Ở đó họ có hát không ạ?”
“Cháu không nhớ giấc mơ về những cậu bé đi đào sao à?”
“Dạ, cháu nhớ. Cháu nghĩ bà hẳn phải liên quan gì đó tới giấc mơ đó. Nó thật đẹp.”
“Ừ, ta ban cho cháu giấc mơ đó đấy.”
“Ồ! Cảm ơn bà. Bà cũng ban cho Nanny giấc mơ phải không - về mặt trăng và bầy ong ấy?”
“Ừ. Ta là người thiếu phụ ngồi ở cửa sổ của mặt trăng.”
“Ồ, cảm ơn bà. Cháu gần như chắc rằng bà cũng liên quan gì đó tới giấc mơ ấy nữa. Và bà cũng kể cho bác Raymond câu chuyện về nàng công chúa Nắng?”
“Ta cho rằng ta có liên quan tới chuyện đó. Dẫu sao thì ông ấy cũng đã nghĩ về nó vào một đêm mất ngủ. Nhưng ta muốn hỏi cháu, liệu cháu còn nhớ bài hát những cậu bé thiên thần hát trong giấc mơ đó của cháu không.”
“Dạ không. Cháu không thể nhớ được, dù cố gắng hết sức, và cháu quả đã cố gắng.”
“Đó là lỗi của ta.”
“Sao lại thế được, hả Gió Bấc?”
“Bởi vì bản thân ta không biết đích xác, thế nên ta không thể dạy nó cho cháu. Ta chỉ có thể đoán nó đại loại là như thế, thế nên ta không thể khiến cháu mơ đủ sâu để có thể nhớ được nó. Nếu có thể ta cũng sẽ không làm, vì làm thế là không đúng. Dẫu vậy, ta vẫn khiến cháu mơ thấy những hình ảnh của nó. Nhưng cháu sẽ tự mình nghe thấy chính bài hát đó khi cháu tới xứ sở sau lưng…”
“Gió Bấc yêu quý của riêng cháu,” Kim Cương nói nốt câu của bà, và hôn cánh tay đang giữ cậu tựa vào bà.
“Và giờ chúng ta đã giải quyết xong tất cả chuyện này - chí ít tạm thời là thế,” Gió Bấc nói.
“Nhưng cháu chưa cảm thấy hoàn toàn chắc chắn đâu ạ,” Kim Cương nói.
“Cháu phải chờ một thời gian thì mới chắc chắn được. Trong lúc này, cháu có thể hy vọng, và hài lòng về chuyện không hoàn toàn chắc chắn ấy. Đi nào, ta sẽ lại đưa cháu về nhà, vì làm cháu mệt quá thì không tốt đâu.”
“Ồ, không, không. Cháu không mệt tí nào đâu,” Kim Cương van nài.
“Dù vậy về nhà thì tốt hơn.”
“Được ạ, nếu bà muốn,” Kim Cương đành vâng lời, cùng một tiếng thở dài.
“Cháu là cậu bé ngoan, con trai,” Gió Bấc nói. “Tối mai ta sẽ lại đến đón cháu và đưa cháu đi chơi lâu hơn. Thực ra chúng ta sẽ đi du hành một chuyến ngăn ngắn cùng nhau. Chúng ta sẽ khởi hành sớm hơn, và vì mặt trăng sẽ lên muộn hơn, chúng ta sẽ có chút ánh trăng suốt đường đi.”
Bà bay lên, lướt qua cây cối và đồng cỏ. Lát sau, Gò Nhỏ xuất hiện ở bên dưới họ. Bà hạ xuống một chút, và lướt vào cửa sổ phòng Kim Cương. Ở đó bà đặt cậu bé lên giường, đắp kín chăn cho cậu, và lát sau cậu bé chìm vào giấc ngủ không mộng mị.