Sát Thủ Chính Truyện

Lượt đọc: 22 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Sự Xuất Hiện Của Sát Thủ Thiếu Niên

❊ ❊ ❊

Mở màn

Ngày 28 tháng 8

Lại đến mùa "bệnh mốc xám", trên phiến lá của mẫu đơn và thược dược mọc đầy những đốm nâu, đặc biệt là vị trí cắt cành hoa hồi mùa xuân, trông tựa như vết thương bị mưng mủ sau ca phẫu thuật. Chỗ sát vết cắt nhất đã chuyển sang màu đen, lan dần xuống dưới thành màu nâu cà phê xen lẫn sắc trắng, thứ "màu trắng" ấy chính là một dạng nấm mốc.

Theo sách làm vườn, bệnh mốc xám do ẩm nhiệt sinh ra. Mùa hè năm nay đặc biệt oi bức, lại mưa rất nhiều, thảo nào bệnh tình lại nặng đến thế. Sách còn dặn nhất định phải tỉa sạch toàn bộ lá và cành nhiễm bệnh, còn nhấn mạnh rằng lá rụng tuyệt đối không được để rơi dưới gốc cây, bởi vì sẽ khiến cả thân cây bị lây nhiễm.

Diệu kỳ làm sao! Người đời vẫn nói "lá rụng về cội", vậy mà lại có những chiếc lá vĩnh viễn chẳng thể về cội. Dẫu có muốn về, người ta cũng phải dời nó đi, thà bón phân hóa học chứ quyết không để lá mục quay lại nuôi dưỡng "cây mẹ".

Loại lá rụng này đại để cũng giống như những kẻ bất đồng chính kiến, bị lưu đày nơi hải ngoại, đến già cũng chẳng được phép hồi hương, bởi lẽ thứ anh mang về nước không phải dưỡng chất, mà là mầm độc. Nói như thế, giống loài được hoan nghênh lá rụng về cội nhất ắt hẳn phải là tùng sam. Thỉnh thoảng dạo bước vào rừng sam cổ thụ, lòng bàn chân êm ái mềm mại, hệt như giẫm lên tấm nệm dày cộm, hóa ra toàn bộ đều do lá kim rụng xuống tích tụ mà thành. Lá kim vốn chẳng mấy mọng nước, có lẽ cũng chẳng có dưỡng chất gì, tuy khó bề tẩm bổ cho cây mẹ, song lại có một điểm lợi khác: cỏ dại không mọc, ruồi muỗi không sinh. Nghe nói đến cả giun đất và chuột chũi ăn giun cũng chẳng tìm thấy bóng dáng. Một khu rừng sạch sẽ, an lành, tĩnh mịch nhường ấy thật đáng yêu biết bao! Không hề có lấy một chút "tạp âm", đích thực là một chốn "nhất ngôn đường".

Đáng tiếc thay, lúc này tôi đang phải đối mặt với một khóm mẫu đơn ngập tràn những kẻ bất đồng chính kiến. Nó mang chuẩn phong cách Mỹ, hoa nở to, thơm ngát lại lộng lẫy, lá mọc hình thù kỳ quái, thuộc loại "lá kép lông chim hai lần ba nhánh" phức tạp nhất, và giữa những tán lá ấy lại rất dễ sinh bệnh. Bệnh thán thư, bệnh mốc xám, bệnh sưng rễ do tuyến trùng, thứ nào cũng có thể gây truyền nhiễm.

Theo lý thuyết làm vườn của Trung Quốc và Nhật Bản, muốn mẫu đơn sinh trưởng khỏe mạnh thì phương pháp tốt nhất là vào trung tuần tháng chín, vặt sạch trơ trụi toàn bộ lá cây. Một khi đã không còn lá để sâu bọ ký sinh thì cũng khó lòng phát bệnh. Cách này rất giống với học thuyết chính trị của một số quốc gia: nhổ cỏ tận gốc mọi phần tử dị giáo có nguy cơ gieo rắc độc tố là phương cách tốt nhất để duy trì nền an ninh quốc gia.

Nhưng nếu đổi lại là chuyên gia làm vườn người Mỹ, họ sẽ bảo rằng, khóm mẫu đơn đang yên đang lành, chỉ lốm đốm vài vết đen thì tính làm gì? Vội vàng vặt hết lá đi thì còn ra dáng cái cây nữa không? Phải biết rằng, lá bệnh rốt cuộc vẫn là lá cây, nó vẫn quang hợp như thường, và mùa thu đến vẫn nhuốm lên mình một sắc đỏ rực rỡ. Ba cái thứ mốc xám, thán thư này nói nghiêm trọng cũng chẳng đến mức nào, cùng lắm sang năm nở bớt đi hai bông hoa, cớ sao không giữ lại?

Đối diện với khóm mẫu đơn lấm tấm tàn nhang, lòng tôi bắt đầu giằng xé, cuối cùng đành chọn giải pháp dung hòa: trước tiên cắt tỉa những chiếc lá mang mầm bệnh, rồi đợi đến Tết Trung thu sẽ vặt sạch lá trên toàn cây.

Tôi hết sức cẩn thận giữ chặt phiến lá, rồi mới từ tốn bấm kéo sát gốc cành, chỉ có thế mới dám đoan chắc không một phần tử phản nghịch nào trốn thoát qua biên cảnh.

Đột nhiên, phiến lá khẽ run lên, ngón trỏ tay trái tôi nhói buốt, thắt nghẹn lại. Đầu nhọn của chiếc lá thế mà lại có một chiếc móc ngược, ngoạm chặt lấy tay tôi. Theo phản xạ tự nhiên, tôi vung tay thật mạnh, hất văng phiến lá xuống bãi cỏ.

Phiến lá vậy mà lại đứng thẳng dậy, thậm chí còn lắc lư qua lại. Hóa ra chẳng phải lá cây, mà là một con bọ ngựa.

Tuyệt vời làm sao! Tôi mừng rỡ khôn xiết, đã bao nhiêu năm rồi không thấy bóng dáng sinh vật bé nhỏ này. Nhớ lần trước nuôi bọ ngựa cũng đã là mười mấy năm về trước, hồi con trai còn nhỏ, tôi bắt về nuôi cho nó chơi suốt hai tháng ròng. Ký ức xa xôi hơn nữa là thuở ấu thơ của chính tôi, từng nuôi bọ ngựa trong hộp giấy, chẳng nhớ sống được bao lâu, chỉ ấn tượng mãi thứ phân bọ ngựa màu xám đen.

Tôi vội vã lao vào nhà tìm hộp giấy. Trong nhà xe hộp giấy chất thành đống, nhưng ngặt nỗi cái thì quá to, cái lại quá nhỏ, sốt hết cả ruột. Hộp thì có thể thong thả tìm, nhưng bọ ngựa thì phải tóm lấy trước đã. Tôi tiện tay chộp lấy một chiếc túi giấy McDonald's rồi cắm đầu chạy tọt ra ngoài.

Chạy về đến sân, nó thế mà vẫn đứng đợi ở đó, nom thấy tôi, nó liền khôi phục lại tư thế giương hai cánh tay trước cong cong, làm bộ chuẩn bị nghênh chiến. Tôi mở rộng miệng túi thành hình tròn, chầm chậm áp sát lại gần, tính chực lúc nó không kịp phòng bị sẽ chụp mạnh xuống.

Nó vẫn không hề lẩn trốn, vươn chiếc đầu hình tam giác trừng trừng nhìn cái túi giấy của tôi, nửa thân trên rướn cao, tựa như một võ sĩ quyền anh chuẩn bị tung nắm đấm. "Thú vị thật!" Tôi thầm nghĩ: "Dường như chẳng cần ta phải tốn công tốn sức, nó đã tự cho rằng có thể một mất một còn với cái túi giấy này, lại còn mang bộ dạng tự tin kiêu ngạo đến thế, dĩ nhiên sẽ chẳng thèm tháo chạy; mà một khi đã không tháo chạy thì việc gì ta phải mang còng tay xích chân ra bắt giữ nó chứ."

Con bọ ngựa này đích thị là một bậc "đại ca", đại ca có thể tiếp nhận lời mời vào phòng uống trà đàm đạo, đại ca cũng có thể chịu trói sa lưới, nhưng đại ca cần giữ thể diện, đại ca tuyệt đối không chơi trò đái dầm trốn việc, càng không ôm đầu chạy thục mạng như chuột bọ.

Quả nhiên, tôi tóm gọn nó một cách dễ dàng. Trong túi giấy phát ra những tiếng đấm huỳnh huỵch, tôi ấn chặt miệng túi xuống nền cỏ rồi từ từ túm thắt lại, lòng phấn khích tột độ: "Xem này! Tuyệt vời chưa! Đúng là may mắn quá đỗi, không chỉ bắt được một con bọ ngựa, mà còn là một con vừa hung hãn vừa quả cảm."

Đặt túi giấy lên bàn, lấy cái chặn giấy đè chặt miệng túi, tôi bắt đầu đi tìm "nhà" cho nó. Cái nhà này phải đủ rộng để nó trú ngụ, nên kích thước phải lớn; nhưng cũng không được quá lớn, lớn quá sẽ khó quản lý; thả lũ côn trùng nhỏ vào hộp to bay loạn xạ ngầu thì nó cũng khó bề bắt được. Chiếc hộp này tốt nhất là phải hoàn toàn trong suốt, chỉ có trong suốt mới quan sát được nhất cử nhất động của nó. Nhất là khoảnh khắc nó rình rập săn mồi, bắt sống một con sâu to tướng đang giãy giụa nhảy nhót, dễ như trở bàn tay, rồi xé ăn từng miếng một. Đoạn lại nhàn nhã ung dung rửa mặt, cất tiếng ngâm nga, đó quả thực là một chuyện ly kỳ và kích thích biết bao.

Đúng lúc ấy, vợ tôi dắt con gái đi thư viện về, tôi liền hớn hở báo ngay tin vui lớn này.

"Bọ ngựa là gì hả ba? Bọ ngựa là con gì? Cho con xem! Cho con xem với!" Con gái vừa hét tướng lên vừa chạy tót về phía thư phòng. Tôi vội vàng gọi với lại: "Cẩn thận con! Bọ ngựa hung dữ lắm, nó biết cắn người, lại còn biết cào nữa, đợi ba tìm cái hộp nhốt nó vào rồi hẵng xem."

Vợ tôi cũng hào hứng không kém. Vợ tôi xưa nay chưa từng cho phép tôi nuôi động vật nhỏ trong nhà, nói hoa mỹ là sợ tôi bị dị ứng, nhưng thực chất là sợ phiền toái. Song đối với con bọ ngựa này, cô ấy lại chẳng hề bài xích, có lẽ nghĩ một sinh vật bé tí tẹo nhường ấy thì phiền phức đến đâu được cơ chứ, vả lại người gánh phiền toái cũng là tôi.

Giờ đây phiền toái đã bắt đầu. Tôi lục tung khắp chốn, cuối cùng cũng tìm được một chiếc hộp đựng sô-cô-la. Chiếc hộp này làm rất đẹp, chẳng những trong suốt mà còn vô cùng chắc chắn.

Để bọ ngựa có dưỡng khí hít thở, tôi lại đi tìm kìm và đinh sắt. Dùng kìm kẹp chặt chiếc đinh, rồi bật bếp gas nung cho đinh đỏ rực lên. Con gái cứ lẽo đẽo bám sát sau lưng xem, nhân tiện tôi dạy học thực tế luôn: "Lại đây! Nhìn từ góc này xem, đinh sắt đã chuyển sang màu đỏ rồi đúng không? Đinh sắt hơ trên lửa, khi nóng ran lên sẽ biến thành màu đỏ đấy."

Đặt chiếc hộp sô-cô-la bằng nhựa lên bàn bếp, tôi bảo con gái đứng lùi ra xa một chút, rồi nhắm thẳng chiếc đinh sắt đỏ rực vào tâm nắp hộp cắm phập xuống. Mũi đinh xuyên qua ngọt xớt, bốc lên một mùi khét lẹt.

Từ điểm tâm đó, tôi dùi rộng ra xung quanh theo hình nan hoa, mỗi lần nung nóng có thể chọc được chừng bốn lỗ. Lại nung đỏ, lại đâm tiếp, tổng cộng tạo thành mười hai lỗ thông khí. "Ba ngắm chuẩn chưa nào!" Tôi đắc ý khoe với con gái, rồi túm lấy những "sợi tơ mảnh" kéo ra theo mỗi lần rút đinh sắt, đưa cho con bé: "Nhìn này! Đây chính là một loại sợi nhân tạo, quần áo con mặc có một số loại cũng được kéo sợi rồi dệt thành như thế này đấy."

Đặt chiếc hộp nhựa lên bàn làm việc, tôi cầm chiếc túi giấy đựng bọ ngựa lên. Bên trong túi phát ra những tiếng lách bách dồn dập, hẳn là nó đã giãy giụa nãy giờ rồi. Tôi mở nắp hộp, trước tiên úp ngược đáy hộp từ trên xuống bao lấy miệng túi giấy, từ từ hé mở miệng túi ra rồi lật ngoắt lại. Quả nhiên, nghe "tạch" một tiếng giòn tan, con bọ ngựa đã rơi tọt vào trong hộp.

Bằng tốc độ nhanh nhất, tôi đậy chặt nắp hộp lại, cất giọng hô to: "Mau tới xem nào! Gánh xiếc họ Lưu chính thức khai trương!"

Gánh xiếc một khi đã biểu diễn thì ắt phải có bạn diễn phối hợp. Tôi xuống bếp lấy một chiếc túi nilon trong suốt, lao ra sân vườn chiêu mộ diễn viên. Bạn diễn này kích thước phải vừa vặn, không quá to cũng không quá nhỏ, vừa khéo để nhân vật chính của tôi có thể tóm gọn, thế nên tôi không định bắt ve sầu: ve sầu quá lớn, bọ ngựa lại còn quá bé. Diễn viên này cũng nhất thiết phải béo tốt, mẫm thịt, để nhân vật chính dễ dàng nuốt trôi, vì thế tôi sẽ không bắt bọ hung, vỏ bọ hung cứng quá. Diễn viên này lại cần phải hoạt bát, diễn viên tràn trề sức sống mới có thể diễn ra những màn "đối kháng nảy lửa", do đó tôi không bắt giun đất hay ốc sên, bọn chúng chậm chạp quá đỗi.

Đất trời quả thực là kho tàng vô tận, chẳng mấy chốc tôi đã chụp được một con ong mật, đây đúng là bạn diễn không thể lý tưởng hơn.

Tôi dồn con ong mật vào một góc túi nilon, cẩn thận túm chặt lại, rồi hé mở một khe nhỏ ở nắp hộp, nhét viên diễn viên quần chúng này vào trong.

Bên trong chiếc hộp lập tức trở nên náo nhiệt hẳn lên, ong mật bay vù vù như một cỗ mô-tơ mini. Tôi gào toáng lên: "Không nhanh chân lên là lỡ mất màn kịch hay bây giờ!" Mới dứt lời, thằng con trai đã từ trên lầu phóng thục mạng xuống. Thằng ranh con vừa nãy còn lặn mất tăm mất tích, giờ vừa trồi ra đã nằng nặc đòi xem bọ ngựa ăn thịt ong mật, chứng tỏ nó vẫn luôn tường tận chuyện đại sự dưới nhà, chỉ đợi đến lúc kịch hay mở màn mới chịu xuất hiện.

"Cái này không gọi là bọ ngựa ăn ong mật, mà gọi là đại quyết đấu thế kỷ giữa bọ ngựa và ong mật." Tôi bảo với con trai, lại kéo con gái đứng sát vào hơn: "Con chăm chú nhìn nhé, khi ong mật bay đến bên cạnh bọ ngựa, bọ ngựa chỉ cần vút một cái là chộp được ngay. Con mà lơ là một tí là không thấy được cảnh nó ra đòn đâu."

Thế là cả nhà xúm xít quanh chiếc hộp, tựa như các thân sĩ và thục nữ La Mã vây quanh đấu trường sinh tử, dõi mắt xem cuộc tàn sát đẫm máu bên trong võ đài. Tọa sơn quan hổ đấu quả là chuyện thú vị nhất trần đời, tựa như ngồi trong căn phòng kiên cố lắp kính chống đạn nhìn ngắm trận đấu súng ác liệt giữa cảnh sát và bọn cướp bên ngoài. Bản thân mình ở vào vị thế an toàn tuyệt đối, đối phương lại lâm vào cảnh hiểm nguy tuyệt đối, thế nên chính cái hiểm nguy của kẻ khác lại càng làm nổi bật cảm giác an toàn và mãn nguyện của chính mình. Bi kịch của người ta càng tô đậm thêm vở hài kịch của ta.

Lúc này, con bọ ngựa trong hộp ắt hẳn đang nghĩ bụng, chính con ong mật đã hại nó bị giam cầm vào chốn này; còn ong mật chắc chắn cũng căm thù bọ ngựa cản lối ngăn đường. Chiếc hộp bé tí khiến oan gia ngõ hẹp, chẳng khác nào đô thị chật chội khiến con người ta càng dễ nảy sinh va chạm xích mích. Tôi dường như có thể trông thấy từng lớp oán hận đang dần tích tụ trong chiếc hộp kính kia, xung đột nhất định sẽ nổ ra chỉ sau một mồi lửa.

Kìa! Ong mật đã bay lại gần rồi! Kìa! Bọ ngựa đã giương vũ khí chuẩn bị xuất chiêu! Mau lên! Xuất thủ đi chứ! Lạ thật, sao đến tận trước mắt rồi mà vẫn chưa chịu ra tay? Còn đợi cái gì nữa? Mau lên xem nào!

Chẳng hiểu vì cớ gì, một phút, hai phút, rồi mười phút trôi qua, con bọ ngựa kia thế mà đến một lần xuất chiêu cũng không có. Con ong mật dường như cũng nhìn thấu tâm can nó, chẳng những lượn lờ ngay trước mắt, mà còn mấy bận đáp thẳng lên mình nó, dọa cho nó giật nảy mình lộn nhào xuống đáy hộp.

"Chắc nó không đói đâu ba." Con gái nói.

"Đúng là con bọ ngựa phế vật, thua xa con hồi trước con nuôi." Con trai bĩu môi.

"Chắc lúc nãy bắt nó bị hoảng sợ, nhất thời chưa hoàn hồn lại đấy thôi." Tôi chữa thẹn.

"Lúc nãy anh bắt nó, chẳng phải còn khoe nó khỏe lắm, suýt cào anh bị thương cơ mà, sao giờ lại hèn nhát thế này?" Vợ tôi bồi thêm một câu.

Nói đoạn, mọi người giải tán sạch trơn. Tôi nán lại canh chừng thêm một lúc, thấy ong mật bay mệt lả, đậu vào một góc thở dốc. Con bọ ngựa kia thì cứ đi đi lại lại, lướt qua mặt ong mật mà cứ như không thấy. Có lẽ loài bọ ngựa cũng giống con người, cũng có những kẻ hèn nhát nhu nhược.

Thật bất hạnh, đây lại là một con bọ ngựa nhát gan.

Ngục tù

Ngày 29 tháng 8

Đêm qua tôi cố ý để lại một ngọn đèn cho nó, hy vọng dẫu nó không có khẩu vị ăn bữa tối thì chí ít cũng lót dạ được chút bữa khuya. Thế nhưng, nó quả thực là một kẻ bất tài, sáng ra nhìn vào, thấy nó treo ngược trên nắp hộp, bất động không nhúc nhích; còn con ong mật kia thì nằm yên ắng dưới đáy hộp, cũng chẳng hề động đậy, đã chết queo. E rằng đến một trận ẩu đả cũng chưa từng xảy ra, con ong mật là do tự mình vùng vẫy tìm đường thoát mà kiệt sức mà chết.

Tôi mở nắp hộp ra, nó cũng theo nắp hộp được nhấc bổng lên, vẫn bám chặt phía dưới nắp. Nhưng khi tôi thò tay vớt xác con ong mật ra ngoài, nó đột nhiên di chuyển cực nhanh, thoắt cái đã lộn qua nắp hộp, bò thẳng lên cánh tay tôi. Tôi giật bắn mình, theo bản năng muốn hất văng nó đi, nhưng lại sợ làm chết sinh vật bé nhỏ này, đành phải nén phản xạ tự nhiên ấy lại, mặc cho nó bò. Nó thế mà lại chơi trò "thừa cơ lấn tới", men theo cẳng tay tôi trườn lên trên. Trời đất ơi! Nó lại chui tọt vào bên trong ống tay áo ngủ rộng thùng thình của tôi. Tôi vội vàng dùng tay trái bóp chặt lấy phần khuỷu tay áo bên phải, ngăn không cho nó bò tiếp lên. Thằng nhãi này thế mà chẳng chịu quay đầu, cứ cắm đầu dùng cái trán cứng ngắc húc tới tấp. Giờ thì phiền phức to rồi, ống tay áo này tuy rộng, nhưng muốn xắn lên để lôi nó ra thì chẳng dễ chút nào, không hẳn là khó, mà chỉ sợ lúc xắn áo sẽ vặn gãy chân nó; đôi chân mảnh khảnh nhường ấy, gãy chắc chắn sẽ tàn phế, mà tàn phế rồi thì còn gì vui nữa?

Nảy ra một ý, tôi thả lỏng tay trái, nhanh chóng cởi phăng cúc áo, lột toàn bộ nửa thân áo ngủ bên trái ra, chỉ để lại một ống tay áo bên phải. Quả nhiên, nó đã thuận thế chui qua hết ống tay áo, nhô đầu ra từ đầu bên kia. Tôi dùng tay trái định túm lấy nó, nó thế mà lại giương hai cái kìm lên, làm bộ chuẩn bị tấn công. Tôi thực sự có chút bực mình, cảm thấy nó không biết điều, lại còn tưởng có thể quyết một trận tử chiến với tôi. Chợt nhớ lại hồi trẻ xem phim "Điệp viên 007", một con nhện góa phụ đen bò lên giường của James Bond. James nằm im bất động, đợi nó bò qua ngực, trườn sang ga trải giường, mới bất thần túm lấy tấm ga, nện giáng xuống một đòn thật mạnh. Phim không quay cảnh mở tấm ga trải giường ra, nhưng có thể tưởng tượng được, ắt hẳn là một đống bét nhè máu thịt be bét.

Bấy giờ tôi cũng nghĩ bụng, nếu tôi thực sự nổi đóa lên, dùng áo bọc chặt nó lại rồi giáng cho một chưởng, chẳng phải nó cũng nát bấy hay sao? Chỉ hiềm nỗi, vì tôi đã trót coi nó là thú cưng, nên không thể trút giận lên đầu nó, ngược lại còn phải chịu để nó dọa dẫm, chịu để nó chọc tức.

Nhớ lại dạo trước có nuôi một con vẹt lớn, nó thường đậu trên cánh tay tôi, vừa lẩm bẩm trò chuyện với tôi, vừa thừa lúc tôi không để ý, bất thình lình cúi đầu cắn tôi một phát thật đau. Vết cắn tím bầm tím ngắt, đau thấu tận tim gan. Thế nhưng, tôi vậy mà vẫn có thể nhẫn nhịn "phản xạ có điều kiện", cắn răng không hề giãy giụa, lại còn từ tốn bước về phía lồng chim, nhẹ nhàng mời nó bước xuống. Đôi khi bị cắn trộm đau điếng như thế, tôi giận đến mức muốn tát cho nó một phát chết tươi, nhưng ngẫm lại đánh nó phỏng có ích gì? Nó có hiểu được không? Đánh chết nó, há chẳng phải tự tay giết chết thú cưng của mình, người đau lòng hơn lại chính là tôi, huống chi nó còn là bảo bối của con trai tôi nữa.

Thực ra nuôi thú cưng cũng tựa như nuôi dạy con cái. Con trai thi đấu với tôi, tôi thắng, tôi sẽ bảo "Bố mày thắng rồi!"; tôi thua, tôi có thể nói "Con trai bố thắng rồi." Lúc bắt đầu cuộc chơi, tôi thường mượn một câu trong bài "Vi Từ Kính Nghiệp thảo Vũ thị hịch":

"Thỉnh khán kim nhật chi vực trung, cánh thị thùy gia chi thiên hạ?" (Hãy xem trong cõi ngày nay, rốt cuộc là thiên hạ của nhà ai?)

Rồi nói thêm, bất kể ai thắng, chung quy vẫn là thiên hạ của nhà ta.

Những cuộc tranh đấu ở cõi đời này, hễ dính dáng đến người trong một nhà là lại dùng dằng khó dứt nhất. Đến như con bọ ngựa bé nhỏ kia, chỉ vì đã bước chân qua cánh cửa nhà này, cũng được hưởng một sự đối đãi rất khác.

Nói thì chậm nhưng việc xảy ra thì nhanh, cái giống nhỏ thó ấy đã trườn ra khỏi ống tay áo, bò qua thân áo, leo tót lên cổ áo. May sao nó dường như vẫn chưa mọc cánh, bằng không chắc chắn đã bay mất dạng. Tôi nhẹ nhàng lộn ngược vạt áo từ phía bên kia lên, nó ngỡ như "mặt đất bỗng cao thêm", bèn tiếp tục bò ngược lên, bò đến lưng chừng thì bị tôi từ phía sau vạt áo tóm gọn. Nó thế mà đạp lia lịa, trước tiên vòng đôi càng ra, dùng gọng kìm đâm cật lực vào bàn tay ngăn cách qua lớp áo của tôi, rồi cúi đầu ngoạm lấy ngoạm để. Tôi muốn thả lỏng tay ra cũng chẳng xong. Vội vàng với lấy chiếc hộp sô-cô-la chụp lên người nó, rồi mới kéo vạt áo trùm phủ xuống.

Bây giờ tôi đã hiểu, tuy nó chưa ăn uống gì nhưng vẫn còn sung sức lắm. Tôi nghĩ, hôm qua nó không thèm ăn ong mật chắc chắn là vì con mồi không có tính thách thức. Nó đã dám liều mạng đối đầu với tôi thì lẽ dĩ nhiên đâu thèm để mắt đến mấy thứ tép riu. Thế nên, tôi phải tìm cho nó một đối thủ xứng tầm.

Tôi cầm túi nilon bước ra ngoài, đi thẳng ra ruộng bí đao. Chỗ này có mấy gốc bí tôi ươm mầm trong nhà từ đầu xuân, rồi do vợ tôi đem ra trồng. Chắc tại lúc trồng không xới đất, lại gieo quá dày, nên chỉ thấy trổ hoa chứ chẳng thấy đậu quả. Mẹ tôi có một cách gọi rất hay dành cho những bông hoa ấy, bà gọi là "hoa dối".

Tôi đứng đợi bên cạnh những bông "hoa dối". Bởi tôi biết giống ong bầu (bumblebee) cỡ bự, lông lá đầy mình kia rất chuộng ghé thăm những bông hoa dối của tôi. Tôi cũng ngờ rằng, sở dĩ hoa biến thành "hoa dối" chính là do lũ ong bầu này giở trò quấy phá. Đúng vậy! Tôi thừa biết ong bầu chẳng những vô hại mà còn giúp thụ phấn cho hoa, nhưng khi mùa màng thất bát, bốn phương chẳng yên, thì quan tốt cũng biến thành quan xấu. Huống hồ tôi muốn bắt "viên quan tốt" này, ắt phải thêu dệt cho nó một tội danh trước đã. Gặp lúc quốc sự rối ren như tơ vò, trảm vài viên đại thần là có thể xoa dịu lòng dân oán hán, tránh để tổn hại đến long nhan.

Ong bầu quả nhiên đã tới, lượn lờ thoăn thoắt từ bông hoa này sang bông hoa khác. Tôi không dám bước sâu vào giàn bí vì sợ giẫm đạp làm đứt dây leo, đành phải kiên nhẫn phục kích bên ngoài. Cuối cùng đợi được nó sà xuống bông hoa ở gần nhất, chiếc túi nilon soạt một tiếng chụp xuống, trùm kín tận cuống hoa, bứng trọn cả cành hoa lên, ong bầu làm sao thoát thân cho nổi?

Ong bầu nằm gọn trong túi nilon, chỉ riêng việc lắng tai nghe tiếng đập cánh của nó thôi cũng đủ thấy kinh hồn bạt vía, đã tai vô cùng. Tiếng nó không phải vù vù vù, mà là tiếng rít chói tai chi chi chi, cánh đập quá nhanh phát ra thứ âm thanh the thé, lại va đập vào lớp túi nilon mỏng manh, tựa như cánh quạt máy bay chém vào rừng rậm, mang lại cảm giác nghẹt thở như sắp sửa rơi máy bay đến nơi.

Theo ngón cũ, tôi lại dồn nó vào một góc túi, rồi lộn ngược phần túi còn lại về hướng đối diện, thế là cái góc nhỏ ấy biến thành một chiếc túi con, chỉ cần túm chặt "miệng túi", nhắm ngay khe hở của hộp sô-cô-la thả ra, ong bầu liền bay tọt vào trong.

(Lần này tôi không kéo khán giả tới xem, chỉ sợ lại bị "mất mặt" như ngày hôm trước.) Ong bầu quả nhiên phi phàm, dài hơn hai phân độ, thân hình hộ pháp, chân cẳng to khỏe, tựa như một cỗ xe tăng biết bay, lao ầm ầm ngang dọc trong chiếc hộp. "Mày chẳng phải ghê gớm lắm sao? Dám hung hãn với tao, giờ nếm thử món này xem, nhào vô mà bắt đi!" Tôi thầm hét lên với con bọ ngựa, nhưng cái của nợ kia lại giống hệt con cái của bao nhiêu nhà khác, chỉ giỏi thói "khôn nhà dại chợ", đối với người nhà thì như hung thần ác sát, bước chân ra ngõ liền hóa thành thỏ đế. Nó sợ đến mức trốn chui trốn lủi, ong bầu bay sang góc này thì nó né sang góc kia, cuối cùng lại rúc vào một bên nắp hộp, cắm đầu vào góc kẹt sâu nhất, giở trò đà điểu giấu đầu hở đuôi.

Lần này thì tôi chịu chết, không tài nào hiểu nổi. Giờ nó tuy chưa trưởng thành nhưng cũng dài tới bảy, tám phân rồi, nếu nó không biết săn mồi thì ăn cái giống gì mà lớn được ngần này? Chẳng lẽ nó ăn chay? Bọ ngựa rõ ràng đâu có ăn chay!

Tôi nhận ra mình cần phải bổ túc kiến thức rồi, cũng giống như đứa trẻ biếng ăn, người mẹ một mặt có thể nghi ngờ con bị ốm, mặt khác cũng phải tự vấn xem có phải khâu chăm sóc của mình có vấn đề hay không. Tôi lập tức nhờ vợ lái xe đưa tôi đến thư viện để tìm sách viết về bọ ngựa.

Một thư viện được mệnh danh là lớn nhất Long Island, thế mà số sách viết về loài bọ ngựa gom góp lại chẳng nổi bốn cuốn. Trong đó hai cuốn chỉ là một chương ngắn nằm trong bộ bách khoa côn trùng, hai cuốn còn lại thì lại tìm thấy ở khu sách thiếu nhi. Chẳng lẽ ở Mỹ chỉ có con nít mới chơi bọ ngựa thôi sao?

Tuy là sách trẻ em nhưng nội dung lại vô cùng phong phú, điều đáng mừng nhất là có rất nhiều hình ảnh minh họa. Trong đó có một cuốn nhan đề "The Praying mantis, Insect Cannibal" (tác giả Lilo Hess), chỉ riêng việc nhìn thấy chữ "Cannibal" (bộ tộc ăn thịt người, hoặc động vật ăn thịt đồng loại) trên tựa sách thôi đã đủ thấy kinh tâm động phách. Hóa ra cái giống bọ ngựa này chẳng những săn giết các loài côn trùng khác, mà ngay cả đồng loại của mình nó cũng xơi tái luôn?

Trong sách còn in một bức ảnh chụp tác phẩm điêu khắc gỗ vật tổ của người Asmat ở New Guinea, khắc họa chính xác hình ảnh một con bọ ngựa trong tư thế cầu nguyện. Bộ tộc Asmat mãi cho đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn còn duy trì tập tục ăn thịt người. Họ ăn thịt kẻ thù của mình, và ăn cả những "người bạn" từ phương xa tới. Cũng chính vì lẽ đó, họ đặc biệt sùng bái loài bọ ngựa biết săn giết đồng loại, thậm chí còn nhận bọ ngựa làm tổ tiên, trên ngọn giáo, mặt trống, khiên chắn, cho đến tận chén rượu đều chạm khắc hoa văn hình bọ ngựa.

Sách còn đăng tải hình ảnh bọ ngựa ấp nở. Trứng do bọ ngựa mẹ đẻ ra từ năm trước sẽ được bọc kín trong một khối chất keo màu đen để vượt qua mùa đông giá rét, sang năm sau khi tiết trời ấm áp mới bắt đầu nở. Hàng trăm con bọ ngựa con chui ra khỏi ổ kén, con này nối đuôi con kia rủ xuống mặt đất, bắt đầu một kiếp sống săn lùng tàn sát.

Một "bé bọ ngựa" chỉ nhỏ cỡ con muỗi thì có thể bắt được cái gì? Chúng mỏng manh yếu ớt đến mức chỉ có nước bị bắt, bị loài kiến tha đi làm thức ăn. Để tự bảo vệ mình, chúng buộc phải lớn thật nhanh; muốn lớn nhanh, chúng buộc phải mau chóng kiếm cái ăn. Mà thứ thức ăn dễ kiếm nhất lại chính là những kẻ cận kề bên cạnh chúng nhất——

Anh chị em ruột thịt.

Thế là con này ăn thịt con kia, kẻ mạnh hơn một chút sẽ nuốt chửng kẻ yếu thế hơn một chút. Hôm nay ăn được thịt người ruột thịt để trở nên cường tráng hơn, ngày mai lại có thể xơi thêm vài anh chị em nữa. Cứ thế, một lứa vài trăm con bọ ngựa lao vào cắn xé lẫn nhau, tàn sát lẫn nhau, càng ăn càng vơi bớt số lượng, càng ăn lại càng to lớn hơn. Cũng nhờ vào việc số đồng bào còn sót lại cuối cùng chẳng còn là bao, chúng mới có thể san sẻ không gian sinh tồn và nguồn thức ăn hữu hạn.

Thử nghĩ mà xem, với cái lối săn mồi thụ động theo kiểu ôm cây đợi thỏ của bọ ngựa, nhất thiết phải đợi bướm, đợi ong bay sà vào lòng mới chộp lấy được, thì nếu cả trăm con cùng lớn lên một lượt, dẫu chúng không tàn sát lẫn nhau thì chỉ sợ cũng chết đói cả nút.

Thành thử tôi trộm nghĩ: Biết đâu chừng bọ ngựa mẹ một lần đẻ nhiều trứng đến thế chính là trù tính cho chúng tự tàn sát lẫn nhau. Những kẻ bị ăn thịt là nguồn thức ăn mà người mẹ cố tình để lại, còn kẻ nuốt trọn anh chị em mình mới là đứa con gánh vác sứ mệnh nối dõi tông đường. Giống "ếch cây Kurixalus eiffingeri" ở Đài Loan chẳng phải cũng như thế sao? Ếch mẹ đợi trứng nở thành nòng nọc rồi vẫn tiếp tục đẻ trứng trắng để làm mồi cho nòng nọc ăn. Lại cũng giống như người đàn ông một lần có thể phóng ra hàng trăm triệu tinh binh, con nào con nấy đều ngọ nguậy, đều liều mạng bơi lội, dốc sức chạy đua xem ai có thể chạm tới trứng trước để thụ thai. Mỗi một con đều là một cơ hội, đều có thể gọi là một sinh mạng, phóng ra nhiều cơ hội như thế chỉ nhằm mục đích gia tăng xác suất thành công. Kẻ thất bại không bơi tới đích lẽ dĩ nhiên chỉ có con đường chết.

Tôi cũng từng thấy một loài chuột túi nhỏ ở Úc, chuột mẹ một lứa có thể sinh tám, chín con, nhưng lại chỉ có sáu núm vú. Lũ chuột con vừa lọt lòng đã lao thục mạng về phía đầu vú, ngoạm chặt lấy núm vú quyết không buông. Trong thước phim tư liệu sinh vật học, người ta chỉ thấy sáu con chuột con bám lủng lẳng trên bụng mẹ, còn những đứa không tranh cướp được đầu vú thì cầm chắc cái chết đói.

Sự sống chính là cạnh tranh, từ những tinh trùng không thể thụ thai, đến bầy bọ ngựa tương tàn lẫn nhau, đến lũ chuột con tranh giành bầu vú, cho đến chiến tranh súng đạn tên lửa của loài người, nhìn bề ngoài tuy khác biệt, song đạo lý bên trong lại cùng một giuộc, thế nên cũng chẳng việc gì phải động lòng trắc ẩn.

Giờ đây, đối với con bọ ngựa bé nhỏ này, tôi bỗng dấy lên một niềm kính trọng tột bậc. Tựa như nghe tin thằng nhóc mới bước chân vào băng đảng ngoài cửa kia đã từng hạ đo ván vô số đàn anh sừng sỏ, khiến người ta không thể không nhìn bằng con mắt khác.

Thảo nào cái giống nhỏ thó này lại dám ngang nhiên đọ sức với tôi, hóa ra từ lúc lọt lòng đến giờ, chỉ vỏn vẹn trong vòng ba tháng, nó đã một đường đẫm máu chém giết để giành lấy thiên hạ. Từ giết hại anh em ruột thịt, đến giết rệp cây, kiến lửa, rồi đến... Từng thớ thịt, mảnh da trên người nó đều được đắp bồi từ máu thịt của kẻ khác. Trong thịt nó có thịt của đồng loại, trong máu nó cuộn chảy máu của tha nhân, đích thực là "nhất tướng công thành vạn cốt khô", giống các bậc đế vương khai quốc qua các triều đại biết bao!

Chỉ là, tôi càng thêm khó hiểu, cớ sao lúc này nó lại nhu nhược, hèn yếu đến mức ấy? Chẳng lẽ chốn ngục tù cỏn con này lại có thể bẻ gãy nhuệ khí của một vị dũng sĩ giết người không chớp mắt? Hay là bậc mãnh sĩ chém người vô số, một khi đã sa chân vào chốn lao tù, cũng sẽ hóa thành loài rùa rụt cổ?

Con bọ ngựa này làm tôi liên tưởng đến Tần Vũ Dương giết người từ năm mười ba tuổi.

Sống mòn

Ngày 30 tháng 8

Gần như là một bản sao chép của ngày hôm qua, sáng sớm bước lại xem, con ong bầu đã ngửa bụng lên trời, nằm đơ cán cuốc dưới đáy hộp, toàn thân không một vết trầy xước, chứng tỏ lại là một ca "chết tự nhiên".

Đúng thế! Bạn hoàn toàn có thể gọi đó là "cái chết tự nhiên". Nó không phải bị va đập mà chết, cũng chẳng phải bị cắn chết, càng không phải chết đói, mà là do đã dùng cạn kiệt "hạn mức dưỡng khí" được chuẩn cấp trong suốt cuộc đời mình, nên mới chết một cách tự nhiên.

"Đối với côn trùng, nhịp điệu sinh mệnh chứ không phải dòng chảy thời gian mới là thứ quyết định tuổi thọ của chúng." (For insects, the tempo of life, not the passage of time, determines how long they live.) Đây là câu tôi đọc được trên tạp chí Lịch sử Tự nhiên (bài viết "The Long and the Short of It" của Robert G. Allen). Chẳng hạn như:

Nhốt hai trăm con ruồi đực vào một chiếc lồng rộng một foot khối, lũ ruồi có thể sống được chừng mười sáu ngày; khi thu hẹp không gian hoạt động của lũ ruồi đó vào một chiếc lọ nhỏ khiến chúng khó lòng bay lượn, chúng lại có thể sống được khoảng năm mươi ngày; còn khi nhốt riêng từng con ruồi vào những chiếc lọ cực nhỏ rồi ướp lạnh ở nhiệt độ 55 độ F, chúng thậm chí có thể sống thọ tới sáu tháng ròng.

Điều kỳ diệu là ở chỗ, tuổi thọ của lũ ruồi này tuy dài ngắn khác nhau, song lượng oxy mà chúng tiêu hao trong cả cuộc đời lại gần như tương đương. Thế nên khi nó không ngừng đập cánh, tiêu tốn lượng oxy gấp hàng trăm lần bình thường, dĩ nhiên chẳng bao lâu sau sẽ phải bỏ mạng. Bạn có thể bảo nó mệt quá mà chết, cũng có thể nói nó đã xài hết lượng oxy mà ông trời ban cho nên mới chết thuận theo tự nhiên.

Tuy rằng bài luận văn có nói động vật có vú thì không giống như vậy, bằng không người Eskimo sống ở Bắc Cực chắc chắn phải sống thọ vô cùng; còn những kẻ lười vận động, chỉ thích ăn no lại nằm ắt hẳn cũng phải trường thọ. Nhưng tôi nghĩ, biết đâu con người ta cũng có một cái "định số", tựa như người già vẫn thường bảo, mỗi người sinh ra trên đời đều có một phần phúc phận nhất định. Thuở nhỏ hưởng phúc quá nhiều thì về già ắt phải chịu cảnh tiêu điều; lúc trẻ chịu thương chịu khó thì hậu vận lại được vinh hoa nở rộ.

Chỉ có điều, "vinh hoa phú quý" và "phúc thọ khang ninh" đều không thể đại diện cho "chỉ số hạnh phúc". Chuyện này cũng giống như cuộc khảo sát cách đây ít lâu về việc người dân nước nào ở châu Á cảm thấy hạnh phúc nhất, người ta phát hiện ra những nơi giàu có như Nhật Bản, Đài Loan chỉ số lại chẳng cao, trái lại những quốc gia nghèo nàn và hỗn loạn như Philippines và Thái Lan thì người dân lại cảm thấy hạnh phúc hơn cả.

Nhìn vào từng cá nhân trong xã hội này cũng vậy. Kẻ tiền muôn bạc vạn chưa chắc đã vui sướng, người ăn bữa sớm lo bữa tối cũng chưa hẳn đã đau khổ triền miên. Kẻ trước sướng thì có sướng thật đấy, nhưng có thể chỉ là sự thỏa mãn ngoài mặt, còn tận sâu trong xương tủy lại trống rỗng cô đơn; kẻ sau khổ thì khổ thật đấy, nhưng lại thường biết tìm niềm vui trong nỗi khổ. Khổ nỗi người giàu cứ hay đoán già đoán non người nghèo ắt phải khổ sở đến chết đi được, dùng cái sự "so bì đối chiếu" ấy để khiến bản thân cảm thấy sung sướng hơn đôi phần; còn đám người nghèo khổ lại hay mường tượng kẻ giàu sang ắt hẳn vui sướng ngút ngàn, rốt cuộc than vãn thở dài chỉ tổ khiến bản thân thêm phần thống khổ.

Nếu ai nấy cứ an phận sống cuộc đời của riêng mình, chẳng ai đem mình ra so kè với ai, thì tôi tin rằng một đời con người, bất kể hiển hách hay điêu tàn, cái "chỉ số hạnh phúc" ấy hẳn cũng xấp xỉ ngang nhau mà thôi. Thượng đế ban phát cho mỗi người một lượng niềm vui đồng đều như nhau, dùng hết rồi thì cũng đến lúc phải lìa đời.

Giờ đây tôi đã bắt đầu thấu hiểu vì sao con bọ ngựa này dẫu nhịn ăn nhịn uống suốt ba ngày ròng rã mà vẫn sung mãn tràn trề sinh lực đến thế. Trông kìa! Nó không ngừng bò qua bò lại trong hộp, sinh lực vẫn dồi dào biết bao. Ấy là bởi vì nó không bay, "bay" là hoạt động tiêu hao dưỡng khí khủng khiếp nhất, so với "bò" thì tốn oxy hơn gấp mấy chục lần.

Ngoài ra, cấu tạo cơ thể của nó vô cùng khoa học, cẳng chân mảnh dẻ, nửa thân trên thon thả, lại thêm chiếc đầu nhỏ thó, khiến cho diện tích tiếp xúc với không khí của nó cực kỳ nhỏ hẹp. Cộng thêm lớp vỏ ngoài cứng cáp, nó có thể giống như cây xương rồng, ngăn chặn tối đa sự bốc hơi nước.

Cái đầu nhỏ thó này làm tôi nhớ đến loài báo săn Cheetah chạy nhanh nhất thế giới, cũng sở hữu cái mông nở nang, chiếc cổ thon dài và cái đầu đặc biệt nhỏ. Khi vận động ở tốc độ cao, nhờ đầu nhẹ, cổ dài mà nó giảm thiểu được sự rung chấn. Não bộ ít bị chấn động thì sẽ không dễ bị kiệt sức.

Bọ ngựa và báo Cheetah quả thực có nét tương đồng. Báo Cheetah nhanh thì có nhanh thật, nhưng mỗi lần nước rút chỉ duy trì được vỏn vẹn trong một phút, thế nên chúng luôn đứng trên gò cao quan sát, ngắm thật chuẩn xác rồi mới phóng tới. Vồ trượt là lập tức từ bỏ.

Bọ ngựa cũng y như vậy, đúng như sách cổ từng ghi chép, nó là giống "trùng âm sát", chuyên lén lút nấp sau phiến lá, đợi con mồi mò đến gần mới tung đòn hiểm, tóm hụt là tạm thời dừng tay.

Đại phàm những loài động vật và côn trùng thuộc hệ săn mồi kiểu này đều có khả năng chịu đói phi thường. Tục ngữ có câu "ba năm không mở cửa, mở cửa ăn ba năm", nó có thể nhịn đói suốt bảy, tám ngày trời, gầy rộc đi như thể "khoác hai lớp da", nhưng càng đói lại càng tinh khôn, càng nhanh nhẹn, càng tàn độc. Tựa như một tiệm đồ cổ nép mình nơi góc phố, mười bữa nửa tháng chẳng có ma nào thèm ghé, chẳng sao cả, chỉ cần một con mồi bước chân vào trúng bẫy là đủ chi phí trang trải cho suốt ba tháng ròng.

Thử nghĩ xem con bọ ngựa này ở ngoài hoang dã, phải mất bao lâu mới có một vị khách chịu mò tới cửa? Lẽ dĩ nhiên nó chịu đói rất cừ, và cũng thừa sức nhẫn nại trước nỗi quạnh hiu. Hơn nữa bọ ngựa luôn đơn độc đi săn, một mình độc hưởng chiến lợi phẩm, thế nên nó còn cô độc hơn cả loài báo săn vốn biết hợp tác theo bầy đàn.

Chợt nhớ đến bài thơ "Lang chi độc bộ" (Bước chân cô độc của con sói) của nhà thơ tiền bối Kỷ Huyền——

Ta là một con sói lầm lũi đi về giữa đồng hoang, chẳng phải bậc tiên tri, chẳng thốt nửa lời than thở, mà thường cất tiếng tru dài thê lương tột cùng, làm rung chuyển cả đất trời trống không quạnh quẽ...

Phải rồi! Còn có vị thi nhân nào từng viết "Đất quê hương, đất quê hương, vốc một nắm đất quê hương..." nhỉ? Con bọ ngựa này không ăn không uống, phải chăng là đang mắc bệnh nhớ nhà, hay là bị chứng lạ nước lạ cái? Khi không hợp phong thổ, há chẳng phải nên dùng phương pháp của người xưa, nuốt một chút đất mang từ quê nhà sang hay sao?

Quê hương của nó, ôi dào, dễ ợt! Chẳng phải ngay ngoài khung cửa sổ kia sao?

Tôi bỗng nảy ra nguồn cảm hứng, đồng thời cũng dấy lên niềm "trắc ẩn", quyết định mang về cho nó một chút phong thổ của chốn chôn nhau cắt rốn.

Tôi rảo bước đến bên khóm mẫu đơn nơi tóm được nó hôm nọ, ngắt xuống hai phiến lá. Trên lá vẫn còn đọng những giọt sương mai kìa! Tuyệt vời làm sao! Đích thực là phong vị quê nhà của nó rồi.

Mở nắp hộp ra, tôi đặt hai phiến lá vào trong. Quay sang bảo với con gái đang đứng tò mò đứng xem bên cạnh: "Nó nhớ nhà rồi, nên ba bỏ lá cây vào cho nó đấy." Tôi lại nắm tay con gái, cùng nhau xoay quanh chiếc hộp thủy tinh đặt trên thảm trải sàn. Vừa xoay tròn vừa nghêu ngao hát:

"Vốc một nắm đất quê hương ôi quê hương! Uống một ngụm nước quê nhà ôi quê nhà..."

Xoay được hai vòng, nhảy múa một điệu, quay một vòng tròn, tôi buông bàn tay bé nhỏ của con gái ra, nói: "Ba phải ra ngoài bắt sâu đây! Sách bảo bọ ngựa chỉ ăn côn trùng sống thôi, giờ nó hết nhớ nhà rồi, không ốm đau gì nữa, cũng có khẩu vị muốn ăn rồi, ba phải đi kiếm đồ ngon cho nó tẩm bổ thôi!"

Tôi dùng những bước chân chân sáo nhún nhảy chạy ra sân sau, nhảy tót vào vườn hoa, lòng cảm thấy phơi phới hân hoan, ngỡ như cú nhảy và câu hát vừa rồi đã đưa chính mình trở về cố hương, lại ngỡ như mình đã biến thành con bọ ngựa, đang ở trong chiếc hộp kính hát khúc ca quê nhà, ăn món ăn quê nhà, khoác lên mình tấm áo quê nhà.

Chỉ loáng một cái, tôi đã tóm được một con tò vò (wasp). Tò vò không giống ong mật, mình ong mật tròn trịa hơn và có phần vụng về ngốc nghếch. Thân hình tò vò thon dài hơn, màu sắc cũng rực rỡ tươi tắn, đặc biệt là chiếc bụng vàng ươm còn điểm xuyết những đường vằn vện màu đen, hệt như chúa sơn lâm, thế nên tiếng Trung mới gọi đích danh nó là "ong đầu hổ".

Ong đầu hổ đã vào sân khấu diện kiến! Lòng tự tin của tôi dâng trào tột độ. Thứ nhất, giác quan thứ sáu mách bảo tôi rằng, có được phiến lá quê hương, tâm trạng của bọ ngựa đã khởi sắc hơn nhiều; thứ hai, ong đầu hổ nhỏ hơn con ong bầu hôm qua rất nhiều, lại mỹ miều kiều diễm hơn con ong mật hôm kia, ngực nở eo thon mông nở nang, vô cùng khêu gợi, bọ ngựa nhất định sẽ mê mẩn.

Ong đầu hổ bắt đầu tiêu xài "hạn ngạch oxy" của nó rồi, vo ve đâm sầm bên đông, húc loạn bên tây, đâm húc chán chê rồi chuyển sang bám víu, nép vào thành hộp nghỉ ngơi, đoạn lại bò qua bò lại men theo vách kính.

Con bọ ngựa kia cũng bò qua bò lại, chẳng phải vì săn mồi, mà chỉ là lượn lờ một cách vô định. "Trẻ thơ gặp mặt chẳng quen nhau, cười hỏi khách từ phương nào tới." Đồ ngốc này thế mà mấy bận chạm trán mặt đối mặt với ong đầu hổ, thậm chí mũi chạm cả vào nhau, vậy mà nó vẫn bất động không chịu ra tay, lại còn ngoảnh đầu lách mình né tránh. Chẳng lẽ chúng nó lại là "đồng hương chí thiết" của nhau?

Trong cái thế giới cỏn con này, dường như có hai kẻ tha hương đang không ngừng quanh quẩn ngược xuôi, lẽ dĩ nhiên cũng có thể coi là hai kẻ hoạn nạn bất ngờ bị rơi tõm vào một không gian xa lạ mà chẳng hiểu căn nguyên vì đâu, thế nên chẳng màng tới điều gì khác nữa, chỉ đau đáu tìm đường thoát thân.

Đúng rồi! Tuy nó đã đến đây được ba ngày, lại có cả lá cây quê nhà bầu bạn, nhưng lòng nó vẫn hướng về quê cũ. Nhớ nhà thì tâm sao an cho đặng. Nó thực sự quá đỗi ngốc nghếch, cớ sao không chịu hiểu cái đạo lý "nơi nào lòng an định thì nơi đó là quê nhà" chứ? Điều này cũng giống như con người ta, vương vấn khôn nguôi về mái nhà xưa cũ thì vĩnh viễn chẳng thể tận hưởng được niềm vui của tổ ấm tiếp theo. Cứ mải miết ngóng trông về kiếp sau thì làm sao nắm bắt trọn vẹn kiếp này vốn dĩ hữu hạn. Đến như người đánh cá Vũ Lăng năm xưa cũng đâu thể ở lại chốn "Đào Hoa Nguyên".

Trông xem kìa! Mỹ vị bày ra trước mắt, có rượu thì cất tiếng hát ca, chẳng chút gió sương, lại không mưa bão, được an cư trong căn nhà kính sáng choang, đây há chẳng phải là một "Đào Hoa Nguyên" tuyệt mỹ và an lành hay sao? Chỉ cần tĩnh tâm lại, ngắm nghía kỹ càng cảnh vật xung quanh, ắt đã có thể vui sướng đến mức quên cả đường về rồi.

Xem ra vẫn là ong đầu hổ thông minh hơn. Kìa nhìn xem! Nó không thèm bay nữa, cũng chẳng buồn bận rộn tìm đường trốn chạy, nó lủi vào nép bên cạnh xác con ong bầu, tựa như một chú chó vàng nhỏ rúc sâu vào lòng gấu đen khổng lồ. Thật ấm áp và ngập tràn cảm giác an toàn biết bao! Khắp mình ong bầu phủ đầy những sợi lông tơ mịn màng, tôi dường như có thể cảm nhận được sự mềm mại êm ái ấy.

Kìa! Ong đầu hổ nép chặt vào giữa sáu cái chân của ong bầu, bắt đầu thưởng thức bữa trưa của mình.

Trên chân ong bầu bám đầy phấn hoa vàng óng, trong mắt con ong đầu hổ bé nhỏ, ắt hẳn trông tựa như sáu mâm cao lương mỹ vị ê hề. Thích thật đấy! Chẳng cần phải nhọc nhằn bôn ba giữa ngàn hoa, chỉ cần nép mình bên xác con ong bầu đã chết này là có thể ung dung sở hữu bao nhiêu của ngon vật lạ có sẵn.

Cần chi phải bận tâm cường địch đang rình rập trước mắt? Việc gì phải lo nghĩ đến cái chết của ngày mai hay ngày kia? Lại càng hơi đâu mà đắn đo chuyện "nghĩa" với "bất nghĩa"? Bản thân mình sống sót mới là điều tối thượng.

Chập tối, tôi lại ném vào trong hộp một con kiến to và một con ruồi. Đối với "nó", tôi đã hoàn toàn thất vọng não nề. Ngay cả con kiến và con ruồi này, tôi cũng chẳng dám ôm hy vọng xa vời rằng nó sẽ ra tay săn bắt. Đúng hơn là, hai kẻ "hề mọn" này là bữa tối cuối cùng tôi thí cho nó, và cũng là một lời châm biếm sâu cay dành cho nó.

Ăn ư? Ngươi chỉ vì muốn giữ lại cái mạng chó mà cam chịu cảnh "ngựa ăn cỏ vụn của gà"; không ăn ư, ngươi đến cả lũ tiểu quỷ mạt hạng hạ lưu nhất cũng chẳng đối phó nổi. Ngươi chỉ là một kẻ anh hùng đáng thương, không còn sức đoạt lại quyền bính, thậm chí chẳng thể nhảy tót lên lưng ngựa được nữa, mà chết ngay thì lại chưa chết được; thôi thì ban cho ngươi một chân rảnh rỗi, ngồi ghế phụ bưng bát cơm cặn mà sống qua ngày đi!

Đêm khuya, tôi lại ghé mắt nhìn cái giống nợ đời ấy thêm một lần. Kiến vẫn miệt mài bò, ruồi vẫn lượn lờ bay, ong đầu hổ nằm gọn trong lòng ong bầu mà say giấc nồng.

Đầu của "nó" gối vào một góc hộp, đã chẳng còn gượng dậy nổi nữa rồi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.