Rừng Khộp Mùa Thay Lá

Lượt đọc: 218 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Trận mở màn

❊ ❊ ❊

Chúng tôi vào đơn vị được gần nửa tháng thì chiến dịch tổng tiến công trên toàn mặt trận, giải phóng Campuchia bắt đầu.

Từ Chhloung, Sư đoàn nhận lệnh hành quân đánh chiếm tỉnh lỵ Kratié, sau đó phát triển lên hướng bắc, dọc bờ đông sông Mekong, bắt tay với Sư đoàn 2 của Quân khu 5, giải phóng tỉnh Stung Treng.

Trong chiến dịch này, Trung đoàn Q16 đảm nhiệm mũi chủ công tiến công dọc Quốc lộ 7, đánh thẳng vào trung tâm thị xã Kratié. Trung đoàn 174 hành quân xuyên rừng, hình thành mũi vu hồi cánh phải, đánh chiếm các mục tiêu phía nam Kratié rồi hợp điểm cùng Q16 tại thị xã. Trung đoàn 4 là lực lượng dự bị của Sư đoàn.

Đơn vị nhận lệnh hành quân từ chiều 22/12/1978.

Thay vì phải mang bao tượng gạo, trong cuộc hành quân này, do yêu cầu bí mật và đảm bảo kế hoạch tác chiến, nên bộ đội được phát mỗi người bảy ngày cơm sấy. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy loại lương thực rất lạ này. Đó là thứ gạo sấy sẵn, đóng thành bịch kín, mỗi bịch 200g, trên thân bịch có một vạch xanh, một vạch đỏ và hướng dẫn khi dùng nước sôi thì đổ nước đến vạch đỏ, dùng nước lã thì đổ đến vạch xanh. Sau khi đổ nước, khoảng 30 phút sau là có thể ăn được.

Tôi xếp gần 20 bịch cơm sấy dưới đáy ba lô, bên trên nhét quần áo, tăng, võng, tấm đắp và vài ba thứ lặt vặt. Ba lô khá nặng, bởi còn rất nhiều thứ lỉnh kỉnh quanh người. Sau khi nhận lệnh, tôi và Cương kều vác máy xuống K12, đại đội hỏa lực của Tiểu đoàn. Cương là dân Quận 4, đi lính trước tôi nhưng khi ấy mới 19 tuổi. Dù chỉ kém tôi một tuổi, nhưng chắc thấy tôi vừa đen vừa già, lại đã từng học dở đại học, nên nó rất quý trọng, cứ một điều anh, hai điều em rất lễ phép.

Suốt dọc đường hành quân, Cương đi trước, tôi khoác súng theo sau. Nhìn dáng nó lòng khòng, cao lêu khêu, da trắng hồng như da con gái, khoác cái ba lô đựng máy PRC-25 với chiếc ăng-ten lá lúa được làm bởi những lá thép mềm mại lúc lắc theo nhịp bước, vừa đi vừa sử dụng mật danh liên lạc với Tiểu đoàn “Sông Hồng gọi Sông Thao 101. Sông Thao 105/ 05..”, rất thành thạo mà tôi thấy ngưỡng mộ, ước ao đến một ngày nào đó được đi máy như nó…

Để giữ bí mật nên ngay sau khi ổn định đội hình, mạng liên lạc không hoạt động mà giữ ở chế độ chờ, các mệnh lệnh trên đường hành quân được thực hiện thông qua phương pháp truyền tin. Chỉ huy các đại đội liên tục đốc thúc bộ đội tăng tốc để giữ đội hình. Giữa đại ngàn rừng núi vùng Đông Bắc Campuchia, hàng ngàn người con đất Việt đang lặng lẽ di chuyển về phía quân thù. Chúng tôi lầm lũi bước giữa trời nắng như thiêu như đốt của đại ngàn rừng khộp. Mệt mỏi kinh khủng nên mỗi khi có lệnh giải lao, từ tướng đến quân, ai cũng để nguyên ba lô trên vai, ngửa người ra đất, duỗi thẳng chân là giấc ngủ ùa đến một cách bất ngờ.

Mỗi lần có lệnh dừng lại ăn cơm, ai cũng như ai, lôi bịch cơm sấy đã trương phềnh bởi thứ nước múc vội ven đường đổ vào trước đó, vạch ngược túi, cho vào chút bột canh rồi dùng thìa xúc. Thứ cơm này thật tệ, giống như cơm nguội được thả vào chậu nước gạo nên khó ăn lắm, miệng cứ bã ra mà vẫn phải cố nhá. Một lần, đang xúc, tôi nhìn thấy một con xin tương[1] lẫn trong cơm, liền dùng thìa xúc lên rồi bỏ nó xuống đất. Chỉ vài phút sau, con xin tương tỉnh dậy, lại bò đi như chưa hề chui vào giữa bịch cơm của lính bao giờ…

Với tôi, đây đúng là thử thách đầu tiên được nếm trải. Từ trước đến giờ tôi có bao giờ phải đi bộ, đây là lần đầu tiên phải mang vác nặng và đi bộ suốt sáu, bảy ngày ròng rã thế này. Cơ thể rã rời. Lại nữa, hôm mới vào đơn vị, thấy tôi đi đôi giày ba ta, mấy thằng trong Trung đội nói giày này không hành quân được, tôi không tin. Giày nào chẳng là giày, nhìn chúng nó đi giày cao cổ, thấy thô thô, quê quê thế nào ấy, đi ba ta như tôi vừa nhẹ, vừa đẹp lại có vẻ thư sinh nữa. Tôi nghĩ chắc chúng nó chưa đi giày ba ta nên mới nói vậy. Giờ thì thấm những điều chúng nó nói. Mùa khô ở đây nóng như rang, cái đế giày phẳng đét của tôi chẳng khác nào cái đít chảo gang, làm cho lòng bàn chân phồng rộp lên, bỏng rát và rất khó chịu. Hơn nữa, cổ giày thấp nên đất cát chui đầy vào trong, thỉnh thoảng phải dừng lại đổ cát ra, rồi lếch thếch chạy theo đội hình.

Biết là khổ rồi, nhưng lấy đâu ra giày mà thay bây giờ, đành cố chịu. Nhìn chúng nó đi giày cao cổ mà thèm.

Đêm thứ ba chúng tôi vượt sông Te, một con sông nhỏ nhưng chảy khá xiết. Không có thuyền bè, xuồng ghe gì hết, trên mặt sông chỉ có mấy sợi chão được Tiểu đoàn 25 giăng sẵn để bộ đội bám vào đó mà bơi qua. Đèn đóm không có, chỉ có những ánh đèn pin quét ngang quét dọc sang hai bên bờ sông và nghe tiếng nước chảy ào ào mà thấy ớn.

Chúng tôi gói ghém tất cả những gì có thể ướt vào tấm tăng, buộc túm lại rồi lũ lượt nắm lấy sợi dây, bơi trong dòng nước tối om. Lính tráng cứ mạnh ai nấy sang, không theo đội hình nào nữa, ai cũng lúi húi gói ghém đồ đạc, gói xong là túm dây sang sông. Chốc chốc lại nghe tiếng gọi nhau í ới, tiếng quẫy đạp trong làn nước tối om… Lên đến bờ sông bên kia, tôi túm dây lôi bọc tăng lên rồi nhanh chóng mặc quần áo nhập vào hàng quân. Dù đã gói ghém rất kỹ, nhưng vì quần đùi và áo may ô bị ướt nên rồi cuối cùng vẫn thấy lép nhép, rất khó chịu.

Cùng sang với tôi, có mấy chàng lính chằng buộc không kỹ, ướt hết cả đồ đạc bên trong. Lúc kéo cái bọc tăng lên, nước chảy ra ồng ộc, đành mặc quần áo ướt rồi khoác ba lô lên vai, đi đến đâu, nước chảy thành dòng sau lưng đến đấy, nghĩ thật tội. Một thằng ở khẩu đội đại liên để trôi mất chiếc xẻng, cứ ngẩn ngơ vì tiếc. Thằng khẩu đội trưởng thấy thế vừa đi vừa lẩm bẩm:

- Mẹ kiếp, có cái xẻng mà cũng đéo giữ được. Nếu cái ấy không dính vào người mày thì có khi cũng trôi mẹ nó rồi. Ráng chịu nghe con, tới đây Pốt nó bắn thì giơ mặt ra mà chịu trận.

Thằng kia tức quá vặc lại:

- Có cái đéo gì mà nói lắm thế. Mai kia tao lại kiếm cái khác. Lo gì.

Vào chiến trường mới biết, lính tráng, đồng đội thương nhau lắm. Nhưng có mấy thứ mà hễ cứ hở ra là mất, đó là giày dép, xẻng và thuốc rê. Chẳng ai xấu đâu, nhưng trong cái hoàn cảnh khó khăn này, chẳng kiếm đâu được, mà những thứ đó thì quá cần, quá thiết thực. Túng thì làm liều. Nếu đồng đội có biết lại cười xòa bảo thông cảm, thế là xong.

Ngày thứ tư, trời vẫn nắng chang chang. Khoảng 3 giờ chiều, bỗng nghe tiếng máy bay bay dọc hướng Quốc lộ 7, rồi những tiếng bom nổ rền phía trái đội hình. Lúc ấy cứ nghĩ là máy bay ta ném bom vào đội hình bọn Pốt, nhưng sau đó nghe thông báo mới biết là máy bay của Pốt ném bom vào đội hình của Q16.

Trung đoàn lệnh cho các đơn vị phải tuyệt đối giữ bí mật, bởi trong tình thế bị ta vây ép từ nhiều phía, bọn Pốt điên cuồng chống trả. Chúng sử dụng máy bay T28[2] ném bom chặn đường hành quân của Q16 tại bến Kantuot và khu vực cầu sông Te. Tiểu đoàn 12 cao xạ của Trung đoàn 28 đã sử dụng cao xạ 37 ly và 12 ly 7 đánh trả quyết liệt, bắn rơi 2 máy bay và làm hai chiếc khác bị thương, nhưng rất tiếc là 63 chiến sĩ mới được bổ sung vào Q16 bị hy sinh do bom địch đánh trúng đội hình.

Thật đau xót cho những người lính lần đầu tiên nếm mùi chiến trận. Chiến tranh là thế, biết đâu mà nói trước, phần nhiều là do may rủi.

***

Khoảng 5 giờ chiều ngày 28/12/1978, Tiểu đoàn truyền lệnh: “sẵn sàng chiến đấu, các máy thông tin lên sóng” Bộ phận trinh sát đi đầu đội hình đã gặp địch.

Tôi chạy theo Cương bám sát chỉ huy Đại đội.

Ngay lúc ấy tiếng súng bắt đầu rộ lên ở phía trước. Đầu tiên là những tiếng AK điểm xạ tạch tạch, tiếng B40, B41 ùng uỳnh bên cánh phải, rồi đồng loạt các hướng đều ran lên tiếng súng. Địch đang xuất hiện ngay phía trước đội hình của Trung đoàn nên tất cả các đơn vị đều nổ súng. Trên chiều ngang hàng cây số, hướng nào cũng có tiếng nổ, tiếng súng cứ ran lên thành từng nhịp, lúc khoan lúc nhặt…

Khẩu cối 82 của K12 lúc đó đã lấy phần tử bắn nhưng vẫn đang chờ lệnh. Thằng Cương dịch mật danh nói lớn:

- Anh Tiệp ơi, Tiểu đoàn lệnh bắn một viên để lấy phần tử. Cự ly 800.

Một viên đạn được đưa vào nòng, tiếng đề pa “toóc” vang lên.

Vài giây sau, nghe tiếng “oàng” phía xa. Đạn nổ rất tốt.

Sau khi chỉnh phần tử bắn xuống 600m, Tiểu đoàn tiếp tục ra lệnh:

- Bắn tiếp 3 viên.

Hai viên đạn được bắn đi với những tiếng nổ khô khốc phía trước.

Tới viên thứ ba, tôi nghe rõ tiếng “phì” như tiếng máy nén xả hơi, rồi nhìn thấy viên đạn bay lên, nhưng rồi nó lại lao xuống, đen trũi, rơi ngay cánh rừng phía trước khẩu cối khoảng 100m. May thay viên đạn không nổ, chứ nếu nổ, anh em bộ binh ở tiền duyên chắc chắn sẽ có thương vong.

Thấy có trục trặc phía khẩu đội cối, anh Tuyết, Đại đội trưởng từ phía khẩu DKZ75 chạy sang, mấy anh em xúm lại kiểm tra, tìm nguyên nhân sự cố.

Đúng lúc ấy, thằng Cương truyền đạt tiếp lệnh của Tiểu đoàn:

- Bắn cấp tập 5 quả.

Nghe thấy câu bắn cấp tập, tôi sướng quá, chạy về phía khẩu cối để xem họ bắn thế nào, cảm giác giống như hồi nhỏ chạy theo người lớn xem đốt pháo tết.

Thằng Cương thấy thế, gọi to:

- Anh Điền, lùi lại, đừng lên đó, bọn Pốt nó phản pháo giỏi lắm đấy.

Tôi nghe Cương, lùi lại nằm ngang chỗ nó, cách khẩu cối khoảng 30m, phía sau một gò đất, mắt vẫn nhìn chăm chăm về phía khẩu cối.

Quanh khẩu cối lúc đó có năm, sáu người đang đứng chụm lại và một người thả đạn. Từ chỗ nằm, mắt tôi dán chặt vào nòng khẩu cối, lẩm bẩm đếm.

- Viên thứ nhất, tốt.

- Viên thứ hai… tốt.

Đến viên thứ ba, khi quả đạn vừa thả khỏi tay, thì bỗng “Oành”.

Một tiếng nổ rất lớn ngay tại bàn đế khẩu cối, khói bụi bốc lên mù mịt…

Chúng tôi chạy về phía khẩu cối nhưng không thấy ai đứng quanh đó nữa. Căng mắt ra nhìn, cảnh tượng xung quanh khẩu cối thật ghê rợn. Chiếc nòng cối 82 ly to như cái ống bương bị tiện gãy làm đôi, vỡ ra 4 mảnh cong như đoạn rau muống chẻ ngâm nước để ăn ghém nằm lăn trên mặt đất. Xung quanh bàn đế cối là những thân người bất động. Những mảnh áo, mảnh quần và ruột gan, máu me vương vãi khắp nơi.

Tôi nghe rõ tiếng rên của ai đó. Lại nhìn thấy một thân người nằm sấp, bụi đất phủ kín. Giữa lưng anh, một mảng thịt to bằng hai bàn tay bay đi đâu mất, cái cuống phổi đưa lên, đưa xuống rồi dừng lại giữa chừng… Sau này, tôi mới biết đó là anh Thành - Trung đội trưởng Trung đội cối 82.

Mắt tôi đờ dại. Một cảm giác thật khó tả len lỏi trong suy nghĩ của tôi. Hóa ra chiến tranh là thế này ư? Từ trước đến giờ, tôi chỉ biết đến chiến tranh qua phim ảnh, đó là những cảnh ta và địch dàn thành trận tuyến rõ ràng, rồi pháo bắn, rồi đạn nổ rầm trời, rồi bộ đội ta ào ào xông lên, trên tay là những khẩu súng bộ binh đang nhả đạn, miệng hô “Xung phong!”, rồi đồn bốt của địch cháy rực trời, quân địch chết như ngả rạ và bộ đội ta cắm cờ chiến thắng…

Vậy mà không phải thế. Lần đầu tiên ra trận, tôi chưa nhìn thấy một thằng địch nào, cũng chưa cảm nhận thấy sự nguy hiểm của bom đạn, nhưng đã tận mắt chứng kiến anh em đồng đội hy sinh ngay bên cạnh. Những cái chết thật thê thảm mà mình được trực tiếp chứng kiến. Cú sốc quá lớn khiến tôi cảm thấy ghê sợ.

Mọi người xúm lại băng bó vết thương cho mấy anh em bị thương, nhặt phần thi thể của đồng chí hy sinh gói vào túi tử sĩ, khiêng về phía sau.

Ai đó nói với tôi:

- Túm tay vào đây.

Tôi luống cuống, ấp úng:

- Em sợ…, em không dám.

Một tiếng chửi cục căn:

- Đ…mẹ! Đồng đội chết mà mày bảo không dám. Túm tay vào.

Câu chửi đó làm cho tôi tỉnh lại. Tôi mạnh dạn hơn, nhưng vẫn nhắm mắt nhắm mũi đưa tay túm lấy bàn tay người chiến sĩ đang nằm dưới đất để cho họ băng bó vết thương cho anh. Khuôn mặt anh bám đầy bụi đất, mắt anh nhắm nghiền, cơ thể mềm oặt, bàn tay lạnh ngắt như tay thần chết trong các câu chuyện cổ tích tôi hay đọc ngày nhỏ, khiến tôi rờn rợn… Ba chiếc võng được mang đến, chúng tôi đặt người chiến sĩ kia và anh Tuyết lên võng để vận tải đưa về phía sau.

Khi mấy anh em vận tải khiêng anh Tuyết lên, chúng tôi vạch võng ra để chào anh, anh vẫn tỉnh táo chào lại mọi người, rồi đột nhiên anh bảo:

- Thằng nào bắt hộ tao con kiến vàng ở lưng với, nó đốt tao đau quá…

Mọi người nâng anh lên, xoa xoa vào lưng để giết con kiến cho anh. Tôi ngạc nhiên bởi tại sao anh không thấy đau ở vết thương mà lại biết con kiến đang đốt ở lưng.

Lúc chiếc võng đã đi xa, tôi vẫn sững sờ, không hết bàng hoàng bởi sự mất mát quá lớn và vô cùng đột ngột ngay trong trận đánh mở đầu chiến dịch. Ai cũng lo cho anh Tuyết, bởi theo kinh nghiệm, khi bị thương vào đầu, nếu mê man bất tỉnh còn có hy vọng sống, chứ tỉnh táo thế này dễ chết lắm. Và điều mọi người lo lắng đã đúng. Anh Tuyết - Đại đội trưởng, anh Thành - Trung đội trưởng Cối 82 và một chiến sĩ của khẩu đội đã hy sinh ngay trong trận đánh giải phóng Kratié.

Sau này mới biết, lô đạn cối chiến lợi phẩm do Trung Quốc sản xuất, ta thu được trong trận đánh vào Chhloung được K12 sử dụng trong trận đánh này. Có thể địch đã cố tình bỏ lại và cài ngòi nổ tức thì vào quả đạn nên mới xảy ra sự cố chết người ấy. Anh Tiệp - Chính trị viên K12 - một chuyên gia gắn bó với cối suốt 19 năm, từ thời đánh Mỹ cũng chưa thấy, việc xảy ra như thế bao giờ.

Ngay sau đó, Tiểu đoàn trưởng lệnh toàn bộ số đạn thu được của địch đều bị bỏ lại, không được sử dụng.

Nghĩ lại trận đánh này, tôi vừa xấu hổ vừa thấy mình thật may mắn. Xấu hổ bởi khi đó luống cuống vì sợ. Lần đầu tiên chứng kiến máu thịt con người vung vãi khắp nơi, thấy cái cuống phổi đầy máu và bọt lẫn trong đất cát đưa lên đưa xuống rồi dừng lại… Còn may mắn là bởi nếu thằng Cương không cản tôi lại, nó không dọa tôi là địch phản cối thì tôi đã chạy đến chỗ khẩu cối xem bắn cấp tập lâu rồi. Và rất có thể, tôi cũng sẽ nằm lên một chiếc võng, được khiêng ngược về phía sau ngay trong trận đánh mở màn chiến dịch.

Cảm ơn Cương và tất cả các đồng đội đã cho tôi có trải nghiệm bổ ích ngay trong trận đánh đầu đời.

❀ ❀ ❀

[1] Ấu trùng chuồn chuồn, còn gọi là con niếu, con ăn mày. Được gọi là con xin tương vì khi bóp vào bụng, nó thò ra một bộ phận giống như cái thìa, bỏ ra nó lại thụt vào trông như đang xin tương (BTV).

[2] T-28 Trojan là loại máy bay quân sự động cơ piston, được Không quân và Hải quân Mỹ sử dụng vào thập niên 1950. Loại máy bay này được Mỹ viện trợ cho chính quyền Lon Nol trong giai đoạn 1960-1975 (BTV).

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.