Rừng Khộp Mùa Thay Lá

Lượt đọc: 218 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tháng Ba máu ở Ampil

❊ ❊ ❊

Hồ Ampil (tiếng Việt gọi là hồ Cây Me) là một hồ nhân tạo khá lớn, được xây dựng dưới thời Pol Pot nhằm lấy nước để phục vụ việc tưới tiêu cho vùng tây bắc Thma Puok trong mùa khô. Hồ có hình chữ nhật, chiều dài khoảng 1,4km, chiều rộng 0,8km, nằm lọt giữa những cánh rừng nguyên sinh phía Tây Bắc tỉnh Battambang (nay thuộc tỉnh Banteay Meanchey), cách biên giới Campuchia - Thái Lan khoảng 2km (trên Google Maps hiện vẫn thấy một hồ nước lớn, có tên gọi là Romduol Chas, thuộc tỉnh Banteay Meanchey).

Bên kia biên giới, hệ thống giao thông của Thái Lan khá tốt, Quốc lộ 3308 và Quốc lộ 3446 chạy song song với đường biên, có những đoạn chỉ cách biên giới khoảng 300-400m. Hai con đường này gặp nhau tại tây bắc của hồ và xuyên vào nội địa Thái Lan nên khi địch phòng ngự tại Ampil, với sự hỗ trợ của Quân đội Hoàng gia Thái Lan, thì những con đường này trở nên vô cùng lợi hại, rất tiện cơ động lực lượng để triển khai đội hình chiến đấu, hình thành thế bao vây từ nhiều phía hoặc ứng cứu giữa các cứ điểm; dễ triển khai đội hình phòng ngự hoặc phản công.

Thêm nữa, mùa khô ở Campuchia là mùa cực kỳ hiếm nước nên với một hồ chứa hàng vạn mét khối nước, lại nằm giáp biên giới Thái Lan, Ampil trở thành một cứ điểm đầu cầu rất quan trọng trong chuỗi các cứ điểm mà địch xây dựng dọc tuyến biên giới tỉnh Battambang gồm: Ampil, Cao điểm 175, Dangkum, Poipet và phnum Melai để chống lại các cuộc tiến công của bộ đội ta. Từ các căn cứ này, địch cũng luồn sâu vào nội địa, chống phá chính quyền của bạn để mở rộng vùng kiểm soát.

***

Tiến công, tiêu diệt, đập tan các căn cứ của địch nằm dọc tuyến biên giới Campuchia - Thái Lan trở thành một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của các đơn vị tình nguyện Việt Nam trong những năm sau khi đất nước Campuchia đã hoàn toàn thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của tập đoàn Pol Pot.

Trên hướng Sư đoàn 5, sau khi đánh chiếm Cao Melai, làm chủ căn cứ Dangkum, tiến công Cao điểm 175, Trung đoàn 174 được lệnh tiến công căn cứ Ampil.

Ngày 12/3/1980, Tiểu đoàn 4, tăng cường Đại đội 5 của Tiểu đoàn 5 xuất phát từ Thma Puok, bí mật luồn rừng, hành quân hơn 17km lên tiếp cận hồ Ampil. Sẩm tối 12/3, bộ đội ta đã áp sát mục tiêu theo kế hoạch.

Về phía địch, do không phát hiện được lực lượng ta nên chúng rất chủ quan, tổ chức canh phòng lỏng lẻo, thắp đèn sáng trưng và mở nhạc vang động cả một vùng. Các chiến sĩ thuộc lực lượng trinh sát và các phân đội tiền duyên nghe rõ âm thanh từ căn cứ địch vọng về…

5 giờ sáng 13/3, sau loạt bắn chuẩn bị của pháo binh Sư đoàn, toàn đội hình áp sát mục tiêu và tổ chức xung phong, tiêu diệt các ổ hỏa lực của địch. Từ nhiều mũi, nhiều hướng, bộ đội ta nổ súng, áp đảo tiếng súng địch rồi xông lên chiến hào, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch… Tuy nhiên, dựa vào công sự kiên cố, bọn địch ngoan cố chống trả quyết liệt nên mãi đến 11 giờ trưa ngày 13/3, ta mới làm chủ hoàn toàn căn cứ, địch buộc phải rút lui sang bên kia biên giới, bỏ lại nhiều xác chết, vũ khí và quân trang quân dụng.

Ngay trưa 13/3, địch củng cố và bổ sung lực lượng, với sự yểm trợ của pháo binh Thái Lan, chúng hình thành thế bao vây từ nhiều phía, tổ chức phản công quyết liệt chiếm lại mục tiêu đã mất. Với lực lượng khoảng hơn 400 tên, bọn địch dàn hàng ngang tiến vào trận địa phòng ngự của bộ đội ta bắn như vãi đạn, sử dụng súng bắn tỉa truy sát bộ đội ta hết sức dã man.

Trong hồi ký của mình, anh Lê Văn Minh, một cựu binh của Đại đội 1, Tiểu đoàn 4 may mắn trở về đã viết: “Nằm quan sát thấy rất rõ, chúng dàn hàng ngang tiến lên, trong đó có cả đám lính nữ mặc quần áo rằn ri… Trong trận đánh này, Đại đội chúng tôi đảm nhiệm mũi chủ công, đánh trực diện với địch nên tổn thất rất nhiều.”

Trận phản kích của địch hết sức dữ dội và kéo dài suốt từ trưa đến chiều muộn.

Về phía ta, do lực lượng mỏng, lại phải căng mình chiến đấu với địch suốt cả ngày, không có lực lượng tiếp viện, không có hậu cần bảo đảm, gần như anh em đã phải chiến đấu đến những viên đạn cuối cùng, những giọt nước cuối cùng nên quân số hao hụt dần, rất nhiều cán bộ, chiến sĩ bị thương và hy sinh. Anh Đặng Duy Riềng - Đại đội trưởng Đại đội 1, đã cùng các chiến sĩ trong đại đội dùng lựu đạn, lưỡi lê, đánh giáp lá cà với địch và anh dũng hy sinh bởi một viên đạn bắn tỉa của địch.

Trước tình hình ấy, Trung đoàn buộc phải lệnh cho Tiểu đoàn 4 tạm thời lui quân về bình độ 36, củng cố đội hình, làm công tác thương binh liệt sĩ và tổ chức rút lui.

Ngay chiều 13/3/1980, địch tái chiếm Ampil.

***

Thất bại của Tiểu đoàn 4 là hết sức đau đớn, ảnh hưởng lớn đến tư tưởng bộ đội và khiến Ban Chỉ huy Trung đoàn phải khẩn trương xem xét lại toàn bộ trận đánh, đánh giá nguyên nhân dẫn đến thất bại. Trong các nguyên nhân được nêu lên, có một nguyên nhân hết sức quan trọng, đó là công tác trinh sát, nắm địch chưa tốt, chưa xác định chính xác lực lượng, khả năng phòng ngự cũng như khả năng cơ động lực lượng, chi viện của địch.

Sau khi củng cố lại tình hình đơn vị, ngày 17/3/1980, Trung đoàn quyết định tung Tiểu đoàn 6 và Tiểu đoàn 5 (thiếu K5) tiếp tục tiến công căn cứ Ampil, trả thù cho Tiểu đoàn 4 và quyết tâm đánh bật địch khỏi căn cứ quan trọng này.

Ngày 16/3/1980, toàn đội hình được lệnh hành quân từ Khvav cắt rừng, theo hướng bắc tiến về Ampil.

Trong trận đánh này, tôi được phân công đi máy vô tuyến cho Đại đội 11 do anh Ngô Xuân Sào là Đại đội trưởng. Anh Sào sinh năm 1957, quê Nông Cống, Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1975 và đã tham gia rất nhiều trận đánh với quân Pol Pot khi chúng tràn qua biên giới cũng như trong chiến dịch giải phóng Campuchia sau này. Bên cạnh sự thông minh, gan dạ, anh là người rất dễ mến vì đẹp trai, trắng trẻo và có tài văn nghệ. Mỗi khi anh cười, hàm răng trắng lóa, trông thật duyên và rất đàn ông.

Suốt ngày 16/3, chúng tôi hành quân trong cái nắng như thiêu như đốt của miền tây Campuchia. Mãi tới chiều muộn mới có lệnh dừng lại và bố trí đội hình theo hướng dẫn của trinh sát. Điểm tập kết chiến đấu của tiểu đoàn cách tiền duyên phòng ngự của địch khoảng hơn 1.000m.

Trong khi bố trí đội hình, mặc dù trời đã nhá nhem tối, nhưng các chiến sĩ trinh sát của tiểu đoàn đã phát hiện thấy mấy tên địch mặc quần áo rằn ri cầm súng lố nhố ven hồ và bọn chúng cũng nhìn thấy trinh sát của ta, nhưng cả hai bên đều lảng tránh, không nổ súng.

Vì quá mệt mỏi nên khi có lệnh dừng lại, tôi tìm vị trí, đặt máy ở chế độ trực canh rồi mắc võng thiếp đi.

Đang ngủ say thì chú Tuấn, liên lạc đại đội gọi:

- Anh Điền ơi, đưa bình tông em đi lấy nước.

Mùa khô ở xứ sở này thật khắc nghiệt, nóng như đổ lửa mà chẳng có mưa nên nước là thứ quý như vàng. Để đảm bảo hậu cần phục vụ chiến đấu trong điều kiện phải di chuyển đội hình, trung đoàn bố trí xe đưa nước lên cho bộ đội. Tuy nhiên, vì phải giữ bí mật nên xe chở nước không đến tận đội hình của từng tiểu đoàn mà dừng lại cách xa khoảng 2km, các đơn vị phải cử người đến lấy nước về cho bộ đội sử dụng. Mỗi người lính được phát một bình tông nước để uống trong ngày.

Lúc đưa bình tông cho Tuấn, lắc lắc thấy vẫn còn một ít nước, tôi rót ra cái bát sắt tráng men định uống nhưng nhớ là đã gần chục ngày rồi chưa được tắm, lại hành quân liên tục trong những cánh rừng le, rừng khộp bị địch đốt cháy nham nhở, ngứa ngáy khắp người, nên tôi liền cởi quần áo, định xem chỗ nào bẩn thì lau cho bớt ngứa.

Khi cởi quần áo ra, nhìn cơ thể mình, tôi cũng không thể nhận ra được nữa. Từ cạp quần trở xuống, chỗ nào cũng một màu đen kịt của bụi than. Lúc hành quân, than tro và bụi đường cứ theo hai ống quần mà chui ngược lên đến thắt lưng, vì thế nên nửa cơ thể phía dưới không khác gì lính đặc công hóa trang trong đất, còn nửa phía trên trông có khá hơn.

Tôi dùng dao găm, xé đôi cái áo may ô đang mặc, một nửa nhúng vào bát nước thấm lên người, nửa còn lại dùng để lau khô cho bớt đen đúa. Nhưng vì nước ít quá nên khi lau xong, nhìn cơ thể mình thấy càng nham nhở, những vệt lau giống như những hình vẽ biếm họa của một họa sỹ tồi trên một gốc cây già… Tôi không biết gọi mình là gì nữa, nhưng nếu lúc ấy có ai đó nhìn thấy cái thân hình gầy guộc và lọ lem lọ thỉu của tôi cũng không nhịn được cười…..

Sau bữa cơm tối, đang định lên võng ngủ sớm để lấy sức mai còn chiến đấu thì cậu Hà, lính cùng đợt với tôi lên Ban Chỉ huy Đại đội gặp anh Sào trao đổi công việc. Thấy anh Sào chuẩn bị đánh răng, cậu ta liền leo lên võng của tôi tán phét.

Nhìn anh Sào vừa hỏi chuyện Hà, vừa loay hoay lấy thuốc đánh răng, tôi nói đùa:

- Anh đánh răng làm gì, nước đang thiếu. Mai chiếm hồ của chúng nó, tha hồ mà tắm, mà uống, mà đánh răng anh ạ.

Anh bảo:

- Tao vừa ăn mắm tôm, giờ không đánh răng không chịu được. Với lại, phải giữ răng lợi cho đẹp để sau này về còn lấy vợ chứ, lỡ ế thì sao.

Nói xong, anh cười phơ phớ…

***

Sớm ngày 17/3, chú Tuấn lay võng, đánh thức mọi người dậy để chuẩn bị chiến đấu. Tôi bật máy sang chế độ working rồi cuốn võng, nhét vào ba lô, tìm giày để đi. Nhưng khi lấy đèn pin soi dưới gầm võng, soi mãi vẫn chỉ thấy hai chiếc giày cùng chân trái, hoảng hồn chợt nghĩ, chỉ có thằng Hà thôi, nó lên võng tôi nằm rồi về vội nên đi nhầm. Giờ không còn thời gian mà cũng không biết hầm nó chỗ nào mà đổi. Giờ nổ súng đã đến, biết làm thế nào đây, đành mở hết dây giày, mắm môi mắm lợi cố nhét chân vào chiếc giày trái chiều bị ông bạn đến chơi vô tình bỏ lại chứ biết làm sao bây giờ.

Mà kể cũng lạ, nó làm thế nào mà đi được hai chiếc giày cùng chân cơ chứ. Cho đến tận lúc này tôi vẫn không thể giải thích nổi.

Đúng 5 giờ sáng, Tiểu đoàn phát lệnh tiến công. Tôi đeo ba lô lên lưng, bắt đầu phiên liên lạc. Đã tham gia rất nhiều trận đánh, nhưng trước giờ nổ súng, hầu như rất tự nhiên, lần nào răng lợi tôi cũng va vào nhau cầm cập, tim đập loạn xạ và một cảm giác lạnh, mơ hồ… xâm chiếm cơ thể mà không thể định nghĩa được đó là cảm giác gì.

Mở màn, pháo 130 ly, 105 ly của Sư đoàn từ Svay Chek bắn cấp tập vào cứ điểm địch. Ngồi nép mình sau gốc một cây khộp, nghe tiếng đạn bay qua đầu, rít lên trong không trung và những tiếng uỳnh, oàng chát chúa ngay trước hướng tiến của đơn vị mà thấy ấm lòng. Những cây khộp rung lên rào rào theo từng nhịp bắn và mùi thuốc súng xộc thẳng vào mũi khiến cảm giác ớn lạnh dần tan biến.

Rồi tiếng pháo thưa dần. Thay vào đó, hỏa lực của Tiểu đoàn bắt đầu lên tiếng. Cối 82 ly, DKZ75 và súng máy 12 ly 7 được phân công đi theo hướng các phân đội liên tục bắn vào trận địa phòng ngự của địch. Tiếng đạn các loại nổ vang, tạo thành một thứ âm thanh hỗn tạp mà chỉ có những người lính đã từng qua trận mạc mới phân biệt được.

Từ các mũi, bộ đội lợi dụng địa hình địa vật, dàn hàng ngang vừa tiến vừa bắn, khắp nơi rền vang tiếng súng bộ binh. Dù đã tang tảng sáng, nhưng đường bay của những viên đạn vạch đường, những vệt sáng xanh lét của những viên B40, B41 đan chéo vào nhau giống như một đêm pháo hoa chào đón giao thừa.

Những tiếng điểm xạ “tạch tạch” của AK47 nổ ran các phía nghe thật giòn giã, xen vào đó là tiếng RPD, đại liên RPK, tiếng “cóc, oành” của cối cá nhân M79, tiếng “bùng” “uỳnh” của B40, B41 và cả những tiếng nổ đầu nòng “toóc, toóc” của cối 82, cối 60 khiến không gian như bị cô đặc lại. Trộn trong các loại đạn của ta là những loạt đạn bắn trả của địch toang toác vào những cây khộp, có những viên đạn bắn trúng thân cây, cháy đỏ mãi mới thôi, những viên cối nổ chát chúa phía sau hướng tiến của bộ đội… tôi có cảm giác trận đánh giống như một trận bắn thi của các loại hỏa lực, đặc mùi thuốc súng và khói bụi.

Nếu ai đã từng tham gia chiến đấu rồi mới hiểu, giữa trận mạc không có chỗ cho người nhát gan, mà chỉ là may rủi mới giúp ta sống sót. Lao lên phía trước thì ăn các loại đạn bắn thẳng, nhưng lui lại phía sau, chạy chậm hơn anh em thì ăn đạn pháo, cối và M79. Những loại đạn này khi nổ, mảnh bắn ra khắp nơi, giống như ta cầm một hòn đá lớn ném xuống một vũng bùn, bùn bắn lên tứ phía, chẳng biết đâu mà tránh. Vì vậy, bám sát đội hình tiến công, chạy theo anh em là cách tốt nhất để hạn chế thương vong khi tiến công.

Tôi chạy theo anh Sào giữa đội hình chiến đấu, nhưng vì hai chiếc giày cùng chân nên thật khó chạy, bàn chân nọ cứ đập vào ống chân kia khiến tôi ngã oành oạch, có lúc ngã, tổ hợp rơi lông lốc, bám đầy đất cát, phải vừa chạy vừa thổi phù phù rồi lấy vạt áo lau đi để nghe cho rõ.

Vừa chạy, anh Sào vừa huơ khẩu K54 lên động viên bộ đội:

- Tiến lên đi các em, địch nó chạy hết rồi.

Rồi anh bảo tôi:

- Anh em mình chạy lên ụ mối kia nhé.

Nói xong, anh lao lên phía trước, tôi khom lưng chạy theo anh, chiếc cần ăng ten cứ lật phật sau lưng.

Tiếng súng của cả ta và địch vẫn vang lên khắp bốn phía tạo thành một thứ âm thanh không bao giờ có trong thời bình. Đội hình chiến đấu của đại đội tiến đều giữa hai cánh. Những chàng lính trẻ, tuổi đời mới 20, 21, phần nhiều quê Thái Bình, Hà Nội, Sài Gòn… mới vào chiến trường khoảng một hai năm, nhưng đã trở thành những cựu binh rất nhiều kinh nghiệm trận mạc, giỏi vận động tiến công và lợi dụng địa hình địa vật. Họ bình tĩnh nổ súng và cơ động rất linh hoạt để hạn chế hiệu lực sát thương của hỏa lực đối phương.

Khi thấy đạn địch bắn đỡ rát, anh Sào lại bảo tôi:

- Mình chạy lên gốc cây kia em nhé.

Anh chạy trước, tôi lại lao theo anh.

Hai anh em nép vào một gốc cây khộp có đường kính chừng 30cm, kẻ trước người sau. Gốc cây nơi hai anh em tôi đứng lúc đó chỉ còn cách tiền duyên phòng ngự địch khoảng hơn 100m. Từ chỗ đứng, tôi nhìn rất rõ những tia lửa đầu nòng của khẩu đại liên địch đang bắn tới. Chúng bắn xối xả về hướng tiến của đại đội.

Phía sau chỗ hai anh em tôi đứng, một chiến sĩ khẩu đội cối 60 bị thương do một viên đạn bắn trúng má, viên đạn bay ngang làm vỡ xương hàm người lính, máu ở miệng anh trào ra ướt đẫm cổ và ngực áo. Anh gục xuống, anh em lôi anh vào bụi cây gần đó để băng bó. Anh chỉ ra hiệu chứ không nói được câu nào.

Bên cánh trái, một chiến sĩ khẩu đội đại liên bị đạn địch bắn gãy một chân. Anh em trong khẩu đội đang khom người băng bó cho anh rồi gọi vận tải lên đưa anh về phía sau. Bên cánh phải, một chiến sĩ vấp mìn, bị thương vùng bụng, máu trào ra ướt đẫm chiếc áo rách te tua…

Bộ phận vận tải phải liên tục cơ động trong làn đạn địch để đưa thương binh về phía sau. Tình thế hết sức khẩn trương, đội hình tiến công của đại đội khựng lại, không thể tiến lên được.

Lúc ấy, gương mặt anh Sào bỗng nhiên đanh lại, hết sức căng thẳng. Rồi rất nhanh, từ gốc cây nơi anh em tôi đứng, anh không nói gì với tôi mà nhún người lấy đà lao nhanh sang một ụ mối lớn, chếch sang trái so với hướng tiến của đội hình khoảng 20m.

Tôi rướn người định chạy theo, nhưng thấy lúc anh chạy, đạn địch bắn “cạch, cạch” bụi mù ngay phía trước gốc cây, nên chợt nghĩ, nếu mình chạy tiếp, chắc chắn chúng sẽ không bắn trượt, nên đành dừng lại chờ cơ hội.

Từ ụ mối đang nấp, phát hiện thấy hỏa lực địch, anh Sào quát to:

- Thiện, Thiện, mày cho khẩu B41 bắn vào khẩu đại liên cho tao một phát.

Không có tiếng trả lời, chỉ có một tiếng “tách” khô khốc, rồi một vệt lửa xanh lét bay ra từ phía khẩu B41 lao về phía địch, một tiếng nổ “bùng, oàng” vang lên. Sau tiếng nổ của viên đạn B41, khẩu đại liên của địch câm bặt. Nhưng đúng khoảnh khắc ấy, tôi nhìn thấy anh Sào ngửa người về phía sau và đổ xuống như một cây rừng bị đốn hạ.

Chú Tuấn, liên lạc từ phía sau lao đến, gọi với sang tôi với giọng lạc đi:

- Anh Điền ơi, báo về Tiểu đoàn, anh Sào bị thương rồi.

Dù đang rất lo cho anh, không biết anh bị thương thế nào, tôi dùng mật danh báo với tiểu đoàn:

- Báo cáo tiểu đoàn, đồng chí Sào, Đại đội trưởng Đại đội 11 bị thương.

Liền sau đó, Tuấn lại thét lên:

- Anh Điền ơi, anh Sào chết rồi.

Nó khóc hu hu, trông thật tội. Tôi ào đến, anh đã chết.

Khi anh ngã xuống, nghĩ rằng anh chỉ bị thương, Tuấn lấy chiếc khăn krama để trong ba lô định quấn lên đầu anh, nhưng lúc đỡ anh dậy mới phát hiện anh đã chết.

Viên đạn đại liên địch bắn trúng đầu anh, tạo thành một lỗ nhỏ ngay giữa trán, một dòng máu nhỏ chảy loang xuống mắt, xuống má anh. Phía sau gáy, cả hộp sọ toác ra, máu và óc trào đầy lòng bàn tay Tuấn. Người anh mềm nhũn trong vòng tay đồng đội, đôi mắt nhắm nghiền, bình thản như đang ngủ. Có lẽ anh rất hài lòng khi hỏa điểm của địch đã bị tiêu diệt, anh ra đi khi chiến thắng đã rất gần.

‘Tôi sững sờ, mới trước đây mấy phút thôi, anh bên cạnh tôi, vừa chạy vừa chỉ huy bộ đội, giọng anh ấm áp truyền cho anh em dũng khí để xông lên tiêu diệt quân thù. Ở anh, vừa toát lên sự dũng mãnh, quyết tâm của một vị chỉ huy, nhưng lại rất tình cảm với anh em ngay cả lúc rất nguy cấp. Ngay trong trận đánh, anh vẫn truyền đến anh em những tình cảm thân thương như nói với những đứa em trong gia đình “tiến lên đi các em, địch nó chạy hết rồi”…

Vậy mà giờ đây, anh nằm bất động, không nói năng gì. Thương xót quá mà biết làm sao được.

Khoảng 5 phút sau khi anh Sào hy sinh, bộ đội ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Chúng tôi ào lên mặt chiến hào của chúng. Một cảnh tượng tan hoang đến ghê rợn, máu me bê bết loang đỏ trên mặt đất, những chiếc lều xiêu vẹo treo đầy những bộ quần áo rằn ri còn bê bết máu, những vệt kéo xác chết hằn thành những đường ngoằn ngoèo trên mặt bùn ven hồ, những tấm băng trắng loang lổ máu vương vãi, mùi máu trộn lẫn mùi thuốc súng tạo thành một thứ hợp chất tanh nồng rất khủng khiếp cứ váng vất trong không gian.

Ngay trên mặt chiến hào, ba tên địch chết bị bỏ lại nằm với những tư thế khác nhau. Đạn dược, tăng võng và cả những hộp cá của Thái Lan vứt lăn lóc khắp nơi.

***

Sau khi anh Sào hy sinh, anh Phong - Trung đội trưởng Trung đội 1, được tiểu đoàn bổ nhiệm là Đại đội trưởng ngay tại trận địa. Sau khi nhận nhiệm vụ qua sóng vô tuyến, anh Phong chỉ huy đơn vị tiến dọc bờ hồ lên bố trí đội hình phía bắc căn cứ, sẵn sàng đánh địch phản kích.

Tôi khoác máy đi theo anh Phong và mấy cán bộ trung đội. Đến đúng khu vực đội hình của Đại đội 11 được giao đảm nhiệm thì lão Tiến xòe cầm một khối pin từ hướng Tiểu đoàn bộ chạy tới, lão gọi giật giọng:

- Già Điền, dừng lại, thay pin đi, máy ông hết pin rồi, nghe rè lắm. Thay đi, lỡ địch đánh xuống còn liên lạc được.

Tôi tháo máy khỏi vai đặt xuống bờ hồ, hai anh em lật ngược máy để cho pin mới vào. Đang hí húi thay pin, chợt nghe một tiếng “uỳnh” cách đó khoảng 20m, chưa hiểu chuyện gì xảy ra thì thấy mấy anh em khiêng anh Phong từ bụi cây phía trước ra, ruột gan anh xổ đầy bụng, máu anh thấm đẫm chiếc áo lính, nhiễu thành dòng trên mặt đất.

Thì ra trong lúc dẫn các phân đội nhận vị trí phòng ngự, mấy anh em đạp phải mìn bọn địch cài lại nên anh bị thương.

Vậy là trong trận đánh vào Ampil, tôi hai lần thoát chết. Lần thứ nhất là khi tôi quyết định không chạy theo anh Sào lúc anh tạt chéo sang ụ mối để chỉ huy tiêu diệt ổ đại liên của địch và lần này, may có lão Tiến xòe cứu mạng.

Đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ, đánh chiếm và hoàn toàn làm chủ Ampil. Phía sau những chiến hào nham nhở và đầy mùi máu, mùi chết chóc tanh nồng là một hồ nước trong vắt, rộng mênh mông, với những khóm lục bình đang nở hoa tím biếc. Mấy con chim bói cá thấy bộ đội ta nhào xuống tắm vội chao cánh bay lên… Nắng chói chang, không khí thật thanh bình, êm ả như trước đó chẳng hề có trận đánh nào xảy ra.

Sau khi bố trí xong đội hình chiến đấu, lính ta thay nhau xuống hồ tắm táp và giặt giũ, bù lại những ngày bẩn thỉu, khổ cực đã qua. Tôi cũng tranh thủ tắm gội, giặt tăng, võng và bộ quần áo nhàu nát trong đáy ba lô.

Lúc tìm bàn chải đánh răng, lục tất cả các túi cóc vẫn chẳng thấy, chắc nó rơi khi tôi vận động sáng nay, đành gọi chú Tuấn:

- Tuấn ơi, cho anh xin cái bàn chải của anh Sào nhé. Bàn chải của anh bị rơi đâu mất rồi.

Tuấn đưa cho tôi cái bàn chải của anh Sào, cái bàn chải Thái Lan rất đẹp và còn khá mới. Sau này, khi về học tại trường Sĩ quan Tăng - Thiết giáp, tôi vẫn dùng cái bàn chải này trong suốt 3 năm học, nhưng sau thấy nó không hỏng, tôi sợ nên bỏ và không dám dùng tiếp.

Hình ảnh anh lao lên phía trước, đạn địch bắn cày bụi dưới chân anh vẫn ám ảnh tôi đến tận hôm nay.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.