Sẩm tối, đoàn xe dừng lại ở Chhloung, một huyện của tỉnh Kratié, cách Snoul khoảng 30km.
Cũng giống như tại khu vực cửa khẩu Hoa Lư, lại là những kiện hàng cao ngất, những chiếc xe tải, xe tăng, xe kéo pháo cùng các loại khí tài chiến tranh xếp kín ven đường. Lính tráng đi lại như mắc cửi, ai cũng đeo súng AK-47 bên hông và bao xe đạn trước ngực.
Bộ đội được lệnh xuống xe và phân chia cho các Trung đoàn. Mấy trăm tân binh chia cho các đơn vị trong Sư đoàn, nên chỉ khoảng sáu chục người được bổ sung về Tiểu đoàn 6.
Trước khi dẫn chúng tôi về Tiểu đoàn, anh cán bộ nhận quân quán triệt:
- Đây là khu vực mới giải phóng được hơn mười ngày nên bom mìn còn khá nhiều. Đề nghị các đồng chí tuyệt đối không đi chệch khỏi đường mòn, người đi sau bước vào vết chân người đi trước, tuyệt đối không nói chuyện. Các đồng chí rõ chưa?
- Rō.
Chúng tôi đồng thanh trả lời bởi cảm thấy sự nghiêm trọng qua mệnh lệnh ngắn ngủi kia.
Trời tối, chúng tôi lầm lũi theo bước chân của người cán bộ nhận quân, chẳng ai dám nói gì dù đường đi rất khó. Đi được khoảng 2km thì có lệnh dừng lại. Đội hình dồn lên một bãi đất trống, xếp thành một khối vuông vức rồi được lệnh ngồi xuống, chờ cán bộ Tiểu đoàn đến quán triệt nhiệm vụ và phân chia về các đơn vị. Tim tôi đập thình thịch, không rõ mình sẽ về đơn vị nào.
Có bước chân người, tiếng súng lách cách và những vệt đèn pin loang loáng, tiếng gọi nhau í ới… rồi trong thứ ánh sáng mờ ảo của bóng đèn I2V được thắp lên, một người thấp, nhỏ, nói giọng miền Bắc chắc nịch bước lên trước hàng quân, ông tự giới thiệu là Đại úy Lê Huy Trạch - Tiểu đoàn trưởng. Ông khái quát cho chúng tôi biết về tình hình đơn vị, tình hình chiến sự thời gian qua, đại để là:
- Đơn vị chúng ta là Tiểu đoàn 6, thuộc Trung đoàn 174, Sư đoàn Bộ binh 5. Trung đoàn 174, tiền thân là Trung đoàn Cao Bắc Lạng, hai lần được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Trung đoàn gồm ba tiểu đoàn, đó là Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6. Tiểu đoàn ta gồm ba đại đội bộ binh: Đại đội 9 (K9), Đại đội 10 (K10), Đại đội 11 (K11) và một đại đội hỏa lực, đó là Đại đội 12 (K12). Ngoài ra, còn ba trung đội trợ chiến là Trung đội Trinh sát, Trung đội Thông tin và Trung đội Vận tải.
Trên hướng Quân khu 7, trong đó có Sư đoàn 5 đảm nhiệm, sau nhiều tháng tác chiến giằng co với địch ở biên giới và khu vực Snoul, tháng 11 vừa qua, các sư đoàn chủ lực của ta đã giải phóng hoàn toàn một vùng rộng lớn ở Đông Bắc Campuchia và đây cũng là vùng đất đầu tiên của Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot, tạo điều kiện cho bạn thành lập Mặt trận Đoàn kết cứu nước vào ngày 02/12 ngay cạnh con đường các đồng chí vừa đi qua.
Khu vực chúng ta đứng chân nằm sâu trong đất bạn khoảng 60km, nhưng trên hướng của Quân đoàn 4 và hướng Quân khu 9 đứng chân, địch vẫn đang tổ chức đánh chiếm sang đất ta. Các lực lượng vũ trang của ta đang mở các đợt tấn công bao vây, tiêu diệt địch, tạo thế và lực để cho toàn mặt trận bước sang giai đoạn mới, giai đoạn tổng phản công, giải phóng hoàn toàn đất nước Campuchia theo lời kêu gọi của bạn.
Hiện nay, Sư đoàn đang trong giai đoạn củng cố lực lượng sau những trận đánh ác liệt giải phóng Snoul và Chhloung vừa qua. Các đồng chí được bổ sung vào đợt này góp phần làm cho lực lượng chiến đấu của Tiểu đoàn được tăng lên đáng kể. Mong các đồng chí phát huy truyền thống của Sư đoàn 5, của Trung đoàn 174 anh hùng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao…
Bài phát biểu rất ngắn của Tiểu đoàn trưởng cho chúng tôi cảm nhận ban đầu về tình hình chiến trường cũng như về năng lực của một vị chỉ huy, rằng đó là một vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm và am hiểu tình hình. Chỉ bấy nhiêu thôi nhưng làm ai cũng ấm lòng, bởi thấy mình vinh dự được trở thành chiến sĩ của một đơn vị anh hùng, là chiến sĩ của những vị chỉ huy tài ba, chứ không phải như mấy lão cán bộ đại đội huấn luyện tân binh hôm nào, suốt ngày chỉ lo chè chén và quát nạt bộ đội.
Sau những lời phát biểu của Tiểu đoàn trưởng, chúng tôi được phân chia cho các đơn vị. Tiểu đoàn trưởng Trạch nói lớn:
- Ưu tiên trinh sát chọn trước. Bùi Tiến đâu, nhận quân đi.
Một người lính còn trẻ dáng chắc, đậm, da đen bóng, nét mặt cương nghị với bộ râu lâu ngày chưa cạo, khoác bên sườn khẩu AK báng gập bước lên, tay cầm đèn pin soi khắp lượt đội hình, rồi lia vào từng góc, chọn 5, 6 người về Trung đội Trinh sát. Anh Tiến nói giọng Sài Gòn, giọng trầm ấm, rất truyền cảm khiến tôi cảm mến anh ngay từ lúc đó.
Trong số những người được chọn về trinh sát hôm ấy có anh Lợi, một người Hà Nội gốc, có bộ râu rất đẹp, thường được gọi với biệt danh Lợi xồm. Sau này, anh Lợi trở thành một Trung đội phó Trinh sát rất mưu trí và dũng cảm. Hết chiến tranh, anh trở về Hà Nội, nhưng đã mất cách đây mấy năm vì đột quỵ. Người thứ hai là Lý với biệt danh Lý chuối. Biệt danh này xuất hiện từ sau trận đánh vào Kratié. Trong trận đó, khi bọn Pốt bắn rát quá, chẳng hiểu cách nào mà Lý ta chui được vào giữa một bụi chuối rất to. Kết thúc trận đánh, cậu ta không thể ra được, cứ đứng trong đó gọi ra ơi ới, bộ đội phải chặt mấy cây chuối đi mới lôi được cu cậu ra ngoài. Người thứ ba là Nuôi và sau này, thêm Lều Thanh, người Cao Bằng, hiện đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi trinh sát chọn xong, đến lượt Trung đội Thông tin. Tiểu đoàn trưởng nói to:
- Đồng chí nào tốt nghiệp lớp 10 trở lên, giơ tay.
Tôi, Dục, Toàn con và anh Động giơ tay. Cả bốn anh em được phân về Trung đội Thông tin. Anh Động là cán bộ Đài Tiếng nói Việt Nam, được phân về Tiểu đội Hữu tuyến. Ba thằng bọn tôi về Tiểu đội Vô tuyến. Lúc ấy, chẳng hiểu thông tin là làm cái gì và vô tuyến với hữu tuyến khác nhau thế nào, nhưng cái câu “đồng chí nào tốt nghiệp lớp 10 trở nên” cũng đủ làm chúng tôi thấy khoái vì oai hơn, quan trọng hơn những người còn lại.
Chúng tôi khoác ba lô rời hàng quân, theo anh Lưu - Trung đội trưởng, về đội hình Trung đội.
***
Vị trí đóng quân của Trung đội chẳng có nhà cửa, lều lán gì. Tất cả anh em mắc võng lộn xộn giữa một khoảnh rừng tối sẫm. Anh Lưu giới thiệu bọn tôi với anh em trong Trung đội. Anh Độ - Trung đội phó và anh em trong Trung đội phấn khởi bắt tay chào đón chúng tôi, tiếp chúng tôi bằng một ấm trà nóng hổi đặt cạnh một đống lửa cháy leo lét và những điếu thuốc rê được quấn kiểu loa kèn mùi khét lẹt lần đầu tiên tôi nhìn thấy. Mấy thằng lính mới vào cũng lấy từ ba lô ra mấy thanh kẹo lạc, vài bao thuốc Tam Đảo mang từ ngoài Bắc vào để góp vui.
Anh Lưu thay mặt Trung đội giới thiệu cho chúng tôi biết về cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của Trung đội Thông tin. Anh nói:
- Trung đội Thông tin là trung đội trợ chiến của Tiểu đoàn, gồm ba tiểu đội là Vô tuyến, Hữu tuyến và Truyền đạt. Nhiệm vụ của từng tiểu đội khác nhau, đó là: Khi Tiểu đoàn phòng ngự hoặc đóng quân tại vị trí cố định, việc đảm bảo thông tin sẽ do Tiểu đội Hữu tuyến đảm nhiệm. Lúc đó, anh em hữu tuyến sẽ rải dây thông tin từ Tiểu đoàn đến từng đại đội, cử người trực máy, duy trì thông tin từ Sở chỉ huy Tiểu đoàn đến các đại đội. Khi hành quân hay tác chiến thì vô tuyến đảm bảo liên lạc, tung quân xuống từng đại đội, thường là hai người một máy, số 1 và số 2. Khi không đủ người thì mỗi người một máy theo một hướng. Tiểu đội truyền đạt là tiểu đội đảm bảo thông tin trong trường hợp hai lực lượng trên không thực hiện được. Vì vậy, tiểu đội này không được trang bị máy mà trang bị như các chiến sĩ bộ binh, khi thực hiện nhiệm vụ, họ phải chạy bộ để truyền tải thông tin.
Vũ khí của Trung đội ta là máy móc và đường dây. Đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh là nhiệm vụ mà Trung đội ta phải thực hiện..
Vậy là chúng tôi bắt đầu lờ mờ hiểu được nhiệm vụ của mình thế nào rồi.
***
Chuyện giữa những thằng lính mới từ Hà Nội vào với những cựu binh đã hàng năm trời chỉ biết đến đào hầm, hành quân và chiến đấu thật rôm rả và chẳng theo chủ đề nào nên mãi đến khuya vẫn không thể dứt ra được. Khoảng hơn 11 giờ đêm, anh Lưu yêu cầu giải tán thì mọi người mới chịu đi ngủ.
Thằng Tâm - người Bắc Giang, kéo tôi về mắc võng cạnh nó. Nó dạy tôi cách mắc võng sao cho khỏi tuột và khi cần thì có thể thu võng thật nhanh, rồi nói ngày mai nó sẽ dạy tôi cách mắc tăng làm sao để khi trời mưa, nằm trong võng vẫn không bị ướt. Đây là đêm đầu tiên tôi ngủ trên võng ở một xứ sở hoàn toàn xa lạ bên những người bạn mới, những đồng đội sẽ gắn bó với tôi suốt những năm tháng sau này ở mặt trận, khiến tôi bâng khuâng, trằn trọc mãi, không sao ngủ được.
Rồi giấc ngủ cũng đến. Nhưng đúng lúc tôi đang mơ màng thì những tiếng nổ toang toác… bùng bình… vọng đến khiến tôi giật mình. Lúc đầu tôi chưa hiểu chuyện gì xảy ra, chưa hiểu mình đang ở đâu. Định thần lại, tôi biết rằng đó là tiếng súng của địch đang bắn tới. Nhảy ra khỏi võng, đứng nép mình vào phía sau một cây khộp, tim tôi đập thình thịch.
Tôi sợ, sợ thực sự. Cảm giác của một thằng lính mới tò te bị đẩy vào cuộc chiến một cách quá bất ngờ khiến tôi chưa kịp thích ứng.
Tâm và Hải lé vẫn nằm nguyên trên võng nói vọng sang:
- Cứ ngủ đi anh ơi. Địch tập kích hướng K10, cách đây hàng cây số mà, đêm nào chúng nó chẳng làm thế, không có gì đâu.
Rồi tiếng súng tắt lịm, trời lại tối đen. Tiếng ngáy đều đều ở võng bên cạnh khiến tôi yên lòng hơn nhưng vẫn chưa hết sợ, mồ hôi rịn ra ướt hết lưng. Tôi lờ mờ hiểu rằng, cuộc chiến này đã cuốn mình vào vòng quay của nó chứ mình không còn đứng ngoài được nữa rồi.
***
Những ngày sau đó là những ngày thanh bình nhất trong đời lính của tôi trên đất Campuchia.
Mỗi thằng được phát một bảng mật danh, yêu cầu phải thuộc trong vòng một tuần. Áp lực là thế nhưng vẫn thấy vui, giống như mấy tháng trước chúng tôi phải tập trung ôn thi. Suốt ngày, cả bọn kéo nhau ra rừng lẩm nhẩm: “09/a; 08/b. 07/c…”. Bảng mật danh gồm 100 con số, dùng để mã hóa các ký tự và các âm, vần khác nhau. Lính thông tin phải thuộc làu làu tất cả các ký hiệu trên, ghép những con số kia thành chữ, thành câu để khi phát lên sóng, trong mạng chỉ nghe thấy những con số, và những địa danh đã được mã hóa nhưng hiểu được mệnh lệnh hoặc nội dung báo cáo của các đơn vị rõ ràng, không vấp váp, không sai lệch… Sau khi đã học thuộc, bảng mật danh sẽ được thu lại và hủy để đảm bảo bí mật, không để rơi vào tay địch.
Khi đã khá thuộc, bọn tôi chia nhóm nói chuyện với nhau bằng mật danh, lúc rảnh thì kéo nhau ra sông Chhloung, lên chiếc thuyền độc mộc của dân ở đây bỏ lại, tập chèo thuyền bắt cá, hoặc lang thang sang bên kia sông.
Dòng sông Chhloung nhỏ nhưng sâu, nước trong vắt, cá rất nhiều nhưng chúng tôi chẳng biết làm thế nào để bắt được nên đành chịu. Bên kia sông vốn là một quân y viện của Pốt bỏ lại, giờ chỉ còn trơ trọi mấy chiếc lều xiêu vẹo, rác rưởi và những dải băng gạc dính đầy máu khô vương vãi khắp nơi. Chúng tôi mò vào mấy cái lán của chúng xem sao, cũng chỉ có mấy cái sạp tre tạm bợ, cạnh đó là mấy luống rau héo quắt vì lâu ngày không tưới…
Nhìn những cái lều giữa rừng, tôi chợt nghĩ, tại sao lại có chiến tranh nhỉ? Chiến tranh đã lôi tất cả những con người của hai bên, từ thành phố đến thôn quê, những con người không hề biết nhau, không hề thù hận gì với nhau đến cái khu rừng lạ lẫm, chết tiệt này để chém giết nhau, để tước đi mạng sống của nhau một cách tàn bạo. Thật kỳ lạ.
Mấy ngày sau Tiểu đoàn tổ chức tập hành quân dã ngoại. Bọn tôi mới vào nên chưa thể đi máy, tôi đi số 2 cho Cương. Hành trang mang theo là toàn bộ quân tư trang cá nhân và vũ khí trang bị gồm: ba lô, một khẩu AK với một cơ số đạn 250 viên, một bao tượng gạo 7kg, một bình tông nước, xẻng cuốc đào hầm. Chưa bao giờ tôi thấy nhiều đạn như thế. Ngày ngoài Bắc, suốt mấy tháng trời tập luyện mà kết thúc khóa tân binh, mỗi thằng chỉ được bắn ba viên, vậy mà ở đây được cấp nhiều thế chứ, trộm nghĩ nếu đánh nhau thì bắn thoải mái.
Với tôi, một thằng sinh viên vừa rời ghế nhà trường, thân hình loắt choắt, phải đeo trên người ngần ấy thứ, nên mới đi được khoảng năm, sáu km đã thấy oải lắm rồi, lưng cứng đờ, hai chân tê buốt. Cảm thấy cái chăn len cất công mang từ Hà Nội vào đây trở nên vô dụng, nó vừa to, vừa nặng, cứ chềnh ềnh trên lưng nên lúc dừng lại giải lao, tôi bèn tháo ra khỏi ba lô, vứt bỏ ven rừng mà trong lòng đầy tiếc nuối.
Để có cái chăn này, mấy năm trước, mẹ tôi đã phải bán một con lợn hơn 70kg cho nhà nước mới có tiêu chuẩn được mua. Mẹ đã dành cái chăn len duy nhất của nhà để tôi mang theo khi tôi nhận được giấy gọi vào đại học. Nó đã cùng tôi vượt qua ba mùa đông lạnh giá ở Hà Nội. Khi nhận giấy gọi nhập ngũ, tôi cố mang theo vì sợ phải ngủ ngoài rừng, trời lạnh. Nhưng vào đến đây, nóng như rang, có biết lạnh là gì đâu, chẳng ai có cái chăn nào, người nào cũng chỉ có cái tấm đắp mỏng phủ lên người để chống muỗi, nên cái chăn tôi mang vào trở nên thật vô duyên. Giờ phải vứt đi nhưng vẫn tiếc đứt ruột.
Lại nữa, mới là tập hành quân dã ngoại thôi mà lính tráng đã vứt đạn đi nhiều thế, những viên đạn AK đỏ au, mới tinh ném dọc hai bên đường mòn. Dù nặng nhưng tiếc rẻ, tôi cứ vừa đi vừa nhặt đạn rơi cho vào túi quần, được một lúc là hai túi quần đầy nhóc đạn, những viên đạn cứ chọc vào đùi rất khó chịu, vả lại cũng không còn chỗ chứa nên tôi không nhặt thêm nữa.
Khi quay về vị trí đóng quân, mấy thằng thấy tôi lượm những viên đạn dọc đường, chúng lăn ra cười, chúng bảo đạn thì thiếu gì mà nhặt. Lính thông tin mấy khi được bắn mà tham, bỏ bớt đi cho nhẹ. Thế là tôi lại vứt mấy chục viên đạn nhặt được vào một gốc cây ven rừng.