Rừng Khộp Mùa Thay Lá

Lượt đọc: 218 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mộc ơi

❊ ❊ ❊

Tôi đang nhắc đến anh Mộc, Ngô Doãn Mộc, Tiểu đội trưởng hỏa lực, phụ trách khẩu Cối 60 ly của Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 174 những năm 1978-1979.

Anh Mộc sinh năm 1953 ở huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Hưng (nay là Hải Dương), nơi có con sông Kinh Thầy chảy qua và đã được nhà thơ Trần Đăng Khoa đưa vào những áng thơ của anh từ khi còn rất nhỏ:

“Hạt gạo làng ta

Có vị phù sa

Của sông Kinh Thầy

Có hương sen thơm

Trong hồ nước đầy

Có lời mẹ hát

Ngọt bùi đắng cay.”

Năm 1971, khi tròn 18 tuổi anh xung phong đi bộ đội, vượt Trường Sơn vào Nam đánh Mỹ. Năm 1973 anh về phục viên rồi lấy vợ. Vợ chồng anh sinh được hai cậu con trai rất khỏe mạnh và vạm vỡ như cha của chúng. Năm 1977, tình hình biên giới Tây Nam hết sức căng thẳng nên anh lại tình nguyện xin tái ngũ, vào Trung đoàn 174, quần nhau với địch suốt từ giữa năm 1977 đến khi anh hy sinh tại mặt trận Campuchia tháng 3/1979.

Thời bọn tôi ở Mặt trận, hầu hết lính tráng đều rất trẻ, chủ yếu mới 17-18 tuổi, rời lớp học là vào bộ đội nên rất lớ ngớ. Những người như anh Sào, anh Mộc (K11), anh Trạch, anh Sinh (Tiểu đoàn trưởng), anh Bình, anh Tiệp (K12), anh Thơi (K9) và rất nhiều cán bộ từ cấp Trung đội đến cấp Tiểu đoàn hầu hết đều trải qua những năm đánh Mỹ. Các anh vừa già dặn, lại có rất nhiều kinh nghiệm chiến đấu nên được anh em chúng tôi vừa kính trọng, vừa nể phục. Họ là những người chỉ huy, nhưng cũng là người anh lớn trong gia đình, luôn dìu dắt, giúp đỡ, bảo ban để chúng tôi trưởng thành trong những năm chiến đấu xa nhà, xa Tổ quốc.

Hôm tôi được phân công đi máy cho K11, tôi lân la sang khẩu đội cối chơi. Dù nhiều tuổi hơn anh em, lại là Tiểu đội trưởng, nhưng anh Mộc vẫn cởi trần trùng trục, cùng với anh em đào hầm chốt của Tiểu đội. Anh đứng dưới lòng hầm xúc từng xẻng đất lớn hất lên. Mấy thằng lính đứng trên miệng hầm tán như khướu. Thân hình anh lực lưỡng, đen bóng, vồng ngực và bắp tay bắp chân nổi cuồn cuộn… Thấy tôi đến, anh gật đầu chào rồi vẫn dở dang câu chuyện của mình, lính tráng đứng trên miệng hầm cứ bấm nhau cười như nắc nẻ…

Dừng tay xẻng, nhổ nước bọt vào bàn tay xoa vào nhau, anh nói tiếp câu chuyện đang dang dở:

- Bọn mày chưa lấy vợ, biết cái đéo gì mà nói. Tao nói thật, ngủ với gái mệt lắm, mệt như đào hầm chốt ấy chứ không phải đùa đâu mà ham hố. Sau này, nếu còn sống mà về, tao sẽ chửi hai thằng con tao thật ngoa cho bõ những ngày xa chúng nó.

- Anh chửi thế nào?

Mấy chàng lính trẻ tò mò.

Mộc phùng má, trợn mắt, chỉ tay theo một hướng như đang chỉ mặt mấy thằng con hỗn hào trước mặt, giọng anh gầm lên:

- Tiên sư chúng mày. Chúng mày láo. Chúng mày có biết tao đẻ ra chúng mày khó khăn, vất vả như thế nào không? Tao với mẹ mày phải đ… nhau hì hà hì hục suốt đêm, suốt mấy tháng trời, đ… đến tợt cả đầu gối ra mới có chúng mày. Vậy mà giờ tao nói chúng mày không nghe. Láo.

Mấy chàng lính chưa vợ cười ngả nghiêng vì câu chửi quá tục, quá đời của Mộc. Còn tôi, những câu chửi đùa của anh gây ấn tượng rất mạnh, khiến tôi suy nghĩ mãi, bởi sau đó không lâu, trong một trận lùng sục ở chân Cao điểm 175, anh đã hy sinh.

***

Cao điểm 175 nằm giữa đoạn biên giới từ Khvav lên hồ Ampil. Đó là một ngọn núi nằm giữa đường biên giới, có ⅔ thuộc đất Thái Lan và ⅓ thuộc đất Campuchia, thuộc tỉnh Battambang (cũ) và nay là tỉnh Banteay Meanchey. Đây là khu vực không có dân nên hầu như trước trận đánh này, ta chưa bao giờ đến và cũng chưa nắm được lực lượng địch ở khu vực này. Việc tổ chức nắm địch để có phương án tác chiến là hết sức cần thiết.

Hôm đó, tôi với Hải lé được phân công đi máy cùng K11 và một tổ trinh sát của Tiểu đoàn lùng sục chân Cao điểm 175, phần thuộc lãnh thổ Campuchia. Khoảng cách từ phum Khvay đến mục tiêu khoảng 12km trên bản đồ. Vì cự ly liên lạc quá xa, vượt quá thông số kỹ thuật của máy, nên trước khi hành quân, tôi và Hải phải chuẩn bị thêm một cuộn dây để sẵn sàng làm ăng ten dây khi cần thiết. Rồi chúng tôi lại mắc dây vào một chiếc cọc tre, dài khoảng 2m, nối với chân ăng ten, vác trên vai thay cho ăng ten lá lúa để tăng khả năng liên lạc.

Khoảng 3 giờ chiều, Đại đội xuất phát từ phum Khvav, cắt rừng theo hướng tây bắc. Đi khoảng hơn 2 tiếng thì nhìn thấy Điểm cao 175 phía xa xa.

Khi còn cách chân núi khoảng 500-600 m thì gặp địch. Chúng phát hiện lực lượng ta nên bắn xối xả về hướng chúng tôi đang tiến. Đơn vị nhanh chóng triển khai đội hình đánh địch. Các loại hỏa lực của ta cũng lên tiếng rất dõng dạc.

Vũ khí bọn địch sử dụng chủ yếu trong trận này chủ yếu là tiểu liên AR15, AR16 của Mỹ, rất ít hỏa lực. Tiếng đạn nổ chỉ lẹt đẹt, lẹt đẹt, nhanh và căng nhưng không giòn như tiếng AK-47 mà bộ đội ta và bọn Pốt hay dùng. Nghe tiếng súng có thể phán đoán luôn: lực lượng đang chiếm giữ điểm cao là bọn Para mà chúng tôi đã gặp khá nhiều trong các trận đánh gần đây tại Cao Melai và Ngã tư Xương Máu, không phải là bọn tàn quân Pốt.

Nhiệm vụ của K11 được giao là hành quân lùng sục để xác định lực lượng địch chứ không phải là đánh tiêu diệt, nên sau khi hai bên chạm súng, ta cũng không có ý định tiến lên phía điểm cao mà chỉ bắn trả chúng như chiếu lệ. Nhưng đúng lúc ấy, tiếng súng của địch không còn chỉ ở phía trước nữa. Với lực lượng áp đảo, địch đã bí mật tổ chức bao vây lực lượng ta. Dường như cùng lúc, ở cả ba mặt: phía trước, bên trái và bên phải đội hình của ta, hướng nào cũng có địch. Tiếng súng rền vang như nổ ngô ở cả ba phía. Xen giữa những loại binh lực là tiếng cối 60, cối 82 và B40, B41.

Anh Sào - Đại đội trưởng, yêu cầu tôi báo cáo tình hình về Tiểu đoàn để xin chỉ thị. Tôi gào vào máy để truyền đạt ý kiến về Tiểu đoàn nhưng vì cự ly liên lạc rất xa, lại thêm tiếng đạn cứ ran lên xung quanh nên không thể nghe được tiếng máy của nhau. Phía bên kia, thằng Nam cũng đang gào lên trên mạng.

Không còn cách nào khác, dù rất sợ, nhưng lúc ấy tôi vẫn phải cố trèo lên đỉnh một ụ mối, nấp phía sau một gốc cây to, một tay giơ cành tre, đẩy cần ăng ten lên thật cao, hy vọng tăng khả năng liên lạc, một tay cầm tổ hợp, dí sát vào miệng, dùng mật danh để truyền đạt nội dung thông tin. Nhưng ở nhà, thằng Nam vẫn không thể nghe được, nó chửi đổng:

- Đù má mày Điền. Nói mẹ nó ra đi lại còn bày đặt mật danh. Nói đi.

Về nguyên tắc là phải sử dụng mật danh, nhưng trong tình huống ấy, tiếng đạn nổ rất rát và tình hình rất khẩn cấp nên không còn cách nào khác, tôi đành nói thẳng nội dung truyền đạt:

- Địch đang bao vây từ ba phía. Xin chỉ thị Tiểu đoàn. Nói rồi, tôi vẫn bóp tổ hợp để thằng Nam nghe thấy tiếng đạn nổ xung quanh.

Thằng Nam nói:

- Nghe rồi. Chờ chút.

Khoảng nửa phút sau, nó nói lớn:

- Điền, Nghe rõ này. Tiểu đoàn lệnh cho K11 lui về phía sau 400m, sau đó tổ chức lại lực lượng cho bộ đội rút.

- Rō.

Tôi truyền đạt mệnh lệnh cho anh Sào để anh chỉ huy bộ đội thực hiện chỉ đạo của Tiểu đoàn rồi tụt nhanh khỏi ụ mối, cùng anh em lui về phía sau.

Cách ụ mối chỗ tôi đứng khoảng 30m, anh em đang xúm lại quanh một người lính đã hi sinh. Tôi ào đến. Hóa ra là anh Mộc, anh đã chết khi đang bình tĩnh thả những quả đạn vào nòng khẩu cối 60 bắn về phía địch. Một quả đạn B41 của chúng từ phía điểm cao 175 bắn tới, vì hết tầm bắn nên viên đạn đã nổ trên không trung, chỉ còn cái cuống quả đạn, to như một chiếc cán dao, dài khoảng 60cm và 6 cái cánh bằng kim loại màu trắng đục, xòe ra phía sau, bay trên không trung như một mũi tên rồi lao xuống… Cái cuống đạn ấy bất ngờ cắm phập vào xương đòn phía trái ngực anh và xuyên thẳng xuống nách phải, thò hẳn cái cuống đạn ra ngoài.

Mộc nằm ngửa, hai tay dang ngang, trên tay vẫn nắm chặt viên đạn cối. Anh đã chết. Bên ngực trái, cái cuống đạn cắm lút, máu đang trào ra ướt đẫm, chiếc áo màu lính rách bươm. Giữa ngực anh, cả tim, phổi bung ra nằm ngoài lồng ngực.

Đau xót quá. Chúng tôi nhẹ nhàng nhấc tim phổi anh lên, đặt sang một bên để tìm trong túi áo những di vật anh mang theo. Trong túi áo trái, có một lá thư của vợ anh gửi vào được gấp vuông vức nhưng dính đầy máu. Mở thư ra, giữa lá thư có một tấm ảnh 4x6 chụp hai thằng con trai khỏe mạnh, kháu khỉnh đang cười… Chắc chúng đang mong cha về để được cha đùa với chúng nó.

Địch vẫn đang bắn rất rát phía sau. Bộ phận vận tải nhanh chóng đưa anh lên võng và khiêng anh về đơn vị. Tôi đi sau chiếc võng, lòng thắt lại. Mộc ơi, một câu chửi yêu dành cho những đứa con sau ngày chiến thắng mà anh hằng ước ao đã không thực hiện được. Chỉ là một ước mơ nhỏ vậy thôi, rằng được chửi con cũng đành lỡ dở…

Bốn mươi năm đã qua, hình ảnh anh cởi trần trùng trục dưới hầm, mồ hôi trộn lẫn đất, mắt trợn trừng, chỉ tay chửi “Tiên sư chúng mày..” vẫn cứ ám ảnh tôi, không thể xóa đi được.

Giá như không có chiến tranh, giá như đừng có chiến tranh, có thể hôm nay anh đang sống an bình với người vợ hiền và những đứa con, đứa cháu thân yêu trên quê hương có dòng Kinh Thầy hiền hòa chảy qua trong bài thơ Hạt gạo làng ta của nhà thơ đồng hương Trần Đăng Khoa yêu dấu… Các con anh không mất cha, vợ anh không góa bụa và mỗi chiều về, anh sẽ ríu rít với những đứa cháu thân thương…

Xin lỗi anh, cho tôi gọi anh theo giọng của những thằng lính chiến ngày nào:

- Mộc ơi, tao nhớ mày. Rất nhớ.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.