Cách đây 40 năm, chúng tôi - những chàng trai Việt Nam mười tám, đôi mươi - tạm xa gia đình, xa xóm làng, xa thành phố, khoác ba lô, qua biên giới sang Campuchia làm nghĩa vụ quốc tế với tâm niệm cố gắng làm tròn nhiệm vụ được giao, góp phần cùng đồng đội thực hiện được một điều gì đó cho đất nước này…
Những ngày ấy, ngược với con đường người lính tình nguyện Việt Nam đi về phía tiếng súng là những dòng người đủ mọi lứa tuổi đen đúa, hốc hác, lam lũ, nhếch nhác… cùng những chiếc xe bò đôi uể oải, lê lết đi về phía sau. Dòng di cư của người dân Campuchia thời ấy là những hình ảnh hết sức tang thương và vô cùng xúc động mà chỉ những người lính tình nguyện Việt Nam mới cảm nhận được. Nó như những thước phim quay chậm, cứ kẽo kẹt, kẽo kẹt theo vòng quay của hai bánh chiếc xe bò nghiến xuống lòng đường và những bước chân xiêu vẹo của cặp bò cũng sắp chết đói.
Trên tất cả các con đường của đất nước Chùa Tháp ngày đó là hình ảnh những dòng người di chuyển chậm chạp, nặng nề, tưởng dài như vô tận. Họ cứ đi, ngày nối ngày, đêm nối đêm, tìm đường về quê cũ. Màu đen của áo quần, màu đen của những khuôn mặt hốc hác từ người già đến trẻ nhỏ, màu đen của những mái đầu bám đầy bụi đỏ trong những cuộc trường chinh ám ảnh chúng tôi suốt mấy chục năm qua.
Tôi đã tận mắt nhìn thấy những cháu nhỏ khóc ngằn ngặt vì thiếu sữa, những cụ già bước đi với những đôi mắt vô hồn, những xác chết ngay bên vệ đường vì đói khát mà không ai đủ sức chôn.
Tôi cũng đã nhìn thấy những phum sóc điêu tàn, xơ xác, những cánh rừng bị đốt trơ trụi. Tôi cũng đã hiểu thế nào là Angkar, Công xã. Cả một xã hội bị đảo lộn, không tiền, không chợ, không bưu điện, không trường học, không trí thức, không gia đình, không tài sản…, Tất tần tật mọi thứ đều của Angkar. Người dân bị lùa ra khỏi các thành phố, đưa về nông thôn làm việc trong các công xã, bị đánh đập, bị giết chết bất cứ lúc nào nếu Angkar muốn thế…
Những hố chôn tập thể mà chúng tôi đã gặp trong những cánh rừng dọc đường hành quân không phải là hiếm gặp…
***
Hôm nay trở lại mảnh đất mà cách đây 40 năm chúng tôi đã sống, đã chiến đấu, ngoài những cánh rừng giáp biên, đây đó thấy cắm những chiếc biển báo “khu vực có mìn, nguy hiểm” giữa những cánh rừng le, rừng khộp nguyên sơ… Còn lại, dường như đất nước này đã hoàn toàn thay đổi, hoàn toàn lột xác.
Những con đường trải nhựa phẳng lì từ biên giới vào đến thủ đô, những đường điện kéo đến tận những phum sóc xa xôi, những đồn điền cây trái trĩu quả, phương tiện vận tải hiện đại chạy như mắc cửi, phố phường trang hoàng lộng lẫy, người dân no đủ và bình thản như chưa từng biết đến chiến tranh, như chưa hề có những năm tháng thê lương trên đất nước này.
Có một điều hết sức ấn tượng là trên con đường đẹp nhất của thủ đô Phnom Penh, nối Đài Độc lập - Biểu tượng của đất nước Campuchia và hoàng cung - biểu tượng của các vương triều trị vì đất nước là ĐÀI HỮU NGHỊ VIỆT NAM - CAMPUCHIA, với hình ảnh người lính tình nguyện Việt Nam sát cánh cùng người lính Quân đội Hoàng gia Campuchia đang che chở cho người dân, cho trẻ em Campuchia giữa bầu trời thanh bình của đất nước.
Và nữa, trên dọc lộ trình xuyên qua nhiều vùng đất của Campuchia trong chuyến đi này, đến đâu chúng tôi cũng tự hào nói với những người dân nước bạn rằng: “Chúng tôi là bộ đội Việt Nam đã từng chiến đấu ở Campuchia, tiêu diệt bọn Pol Pot 40 năm trước”.
Khi nghe thấy vậy, mắt họ sáng lên, nụ cười rạng rỡ, thái độ thân thiện, ấm áp, tin yêu như đón những người anh em đi xa trở về.
Trộm nghĩ, máu xương của hàng vạn người lính tình nguyện Việt Nam đổ xuống đất này để góp phần làm cho đất nước Campuchia có được cuộc sống thanh bình hôm nay và tình cảm hữu nghị, thân thiện họ dành cho những người lính tình nguyện Việt Nam mà mình cảm nhận được thật là vô giá.
Chiều nay, đoàn trở về Việt Nam. Tạm biệt Campuchia, tạm biệt Phnom Penh. Hẹn ngày trở lại.
Dơng kh’nhôm xum lìa hời. Xa ma ki ná, nức ná… (Chúng tôi xin tạm biệt. Tạm biệt Campuchia, nhớ lắm.)