Có một địa danh mà những người lính Sư đoàn 5, Mặt trận 479 và nhiều đơn vị khác đã từng tham chiến dọc biên giới Campuchia - Thái Lan may mắn trở về, không dễ quên được, đó là Cao Melai hoặc phnum Melai.
Trong tiếng Khmer, phnum là núi. Địa danh này được hiểu là núi Melai.
Qua thị xã Sisophon, thủ phủ của tỉnh Banteay Meanchey, theo Quốc lộ 5 lên khoảng 50km là cửa khẩu Poipet - Cửa khẩu Quốc tế nối Campuchia với Thái Lan. Cách cửa khẩu về phía đông khoảng 10km là ngã ba Nimith, nhưng lính quen gọi là Ngã ba Con Voi, bởi giữa bùng binh của ngã ba này có bức tượng một chú voi lớn màu trắng, quay lưng về phía Cao Melai.

Tương truyền, Cao Melai là nơi rừng thiêng nước độc, muỗi nhiều, vắt lắm, bệnh tật kinh hoàng đến nỗi voi còn phải quay đít đi ra bởi không thể sống nổi. Vậy mà, trong suốt 10 năm (từ năm 1979 đến 1989), đã có không biết bao thế hệ những người lính tình nguyện Việt Nam ở nhiều đơn vị, trong đó có tất cả các trung đoàn nằm trong biên chế của Sư đoàn 5, Mặt trận 479, dù ít dù nhiều đều phải trải qua những năm tháng hy sinh, gian khổ, dầm mưa dãi nắng, đổ xương đổ máu ở xứ sở vô cùng ác liệt này.
Hệ thống giao thông gồm cả đường bộ và đường sắt cùng với những dãy phố ở Nimith cho thấy thời kỳ Campuchia phồn thịnh thì Poipet là một cửa khẩu lớn, sầm uất, là nơi giao thương chủ yếu giữa Campuchia với Thái Lan. Đoạn đường từ Sisophon, qua ga Sophi đến cửa khẩu Poipet rất nhộn nhịp và dân cư sống khá giả.
Khi chúng tôi đến đây, Nimith và Poipet thật hoang tàn, các cửa hàng, cửa hiệu, nhà cửa của dân bị phá hủy, phum sóc tan hoang, không một bóng người. Thân thể chú voi cũng mang đầy vết đạn, nham nhở, sứt mẻ đến tội nghiệp, dấu vết của những trận giao tranh ác liệt giữa ta và địch để giành giật khu vực trọng yếu này.
Từ Ngã ba Con Voi rẽ trái, có một con đường đất dẫn vào Cao Melai - một khu vực gồm nhiều điểm cao nằm dọc tuyến biên giới, trong đó có điểm cao 320 là điểm cao nhất trong cụm các điểm cao tại khu vực này.
Khác hẳn với địa hình bằng phẳng điển hình là những rừng le, rừng khộp mà chúng tôi đã từng qua trên khắp đất nước Campuchia, con đường từ Nimith vào Cao Melai rất ít cây khộp, mà chủ yếu là rừng nguyên sinh nhiệt đới, nhiều tầng nhiều lớp. Tầng cao nhất là các loại cây thân to, cành lá sum suê bám đầy dây leo. Dưới tán cây, tre gai mọc ken nhau dày đặc, cành đầy gai tua tủa, những chùm hoa dài như đuôi chồn phủ kín, khiến ánh sáng mặt trời hầu như không mấy khi lọt xuống dưới tán rừng.
Chỉ là một con đường đất, với hàng trăm hàng ngàn ổ voi, ổ gà dày đặc, dài khoảng 25km, nhưng trong những năm chiến tranh, con đường này trở nên đặc biệt nổi tiếng bởi sự tàn khốc của những trận đánh giữa ta và địch cũng như bởi hàng trăm hiểm họa không tên khác nữa. Những người lính Sư 5 đã đặt cho con đường này một cái tên mỹ miều là “Đại lộ kinh hoàng” hay “Đại lộ thần chết”, bởi nó thực sự là nỗi khiếp sợ đối với cả ta và địch. Những năm tác chiến tại đây, rất nhiều người lính đi vào trên đôi chân trần, nhưng đi ra trên cáng tử sĩ, đi vào với cơ thể cường tráng, đi ra xiêu vẹo, võ vàng.
Chỉ riêng bệnh sốt rét, bệnh đái huyết sắc tố đã cướp đi biết bao sinh mạng của bộ đội, chưa kể hàng ngàn chiến sĩ đã hy sinh do mìn đủ loại và súng đạn chiến tranh. Đối với những người lành lặn, may mắn trở về, thì những trận đánh tại Cao Melai khắc sâu trong tâm trí, không thể rời ra được, ám ảnh mãi khôn nguôi.
Mùa mưa năm 1979, Trung đoàn 4, Sư đoàn 5 được giao đảm nhiệm phòng ngự, chốt giữ Cao Melai. Do địa hình quá phức tạp, mưa nhiều nên muỗi và vắt cũng nhiều kinh khủng, hơn nữa do bị địch tập kích, phục kích liên tục nên việc tiếp tế gặp nhiều khó khăn, bộ đội ăn uống thiếu thốn, kham khổ nên ốm đau, bệnh tật và thương vong khá lớn. Đơn vị gặp khó khăn.
Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định sử dụng Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 174, đang tác chiến trên hướng Thma Puok, Svay Chek tăng cường vào Cao Melai giải vây và tạo điều kiện cho Trung đoàn 4 đủ sức đứng chân tại khu vực này.
***
Chúng tôi hành quân đến Nimith vào một chiều muộn, bầu trời xám xịt, ảm đạm và mưa sụt sùi, khiến ai cũng có cảm giác thật nặng nề.
Mấy chiếc xe của sư đoàn đổ quân xuống Ngã ba Con Voi. Lính tráng lếch thếch xuống xe rồi đi về hướng bố trí đội hình tạm thời do trinh sát Tiểu đoàn dẫn. Do đường xấu, và để đảm bảo bí mật nên bộ đội không thể hành quân bằng xe cơ giới. Nhiệm vụ của hai tiểu đoàn là ngay trong đêm phải hành quân bộ, xuyên qua phía đông cánh rừng tre gai, hành quân dọc lộ để vu hồi, cùng các đơn vị của Trung đoàn 4 đập tan các chốt của địch trên đường dẫn vào Cao Melai sáng sớm hôm sau.
Tôi được phân công cùng Tiến xòe đi máy cho K9, Đại đội chủ lực của Tiểu đoàn. Sau khi nhận vị trí, do quá mệt, nên chúng tôi để máy ở chế độ trực canh, rồi lăn ra ngủ, mặc cho mưa vẫn rơi lộp độp trên mái tăng và muỗi như trấu bay vo ve trước mặt. Khoảng 7 giờ tối, liên lạc Đại đội gọi dậy ăn cơm, bọn tôi khoắng vội hai bát cơm độn bo bo nóng hổi trộn với bột canh rồi bật máy, chuẩn bị tư trang chờ Tiểu đoàn phát lệnh hành quân. Do trục đường vào Cao Melai là đường độc đạo, phía ngoài do các đơn vị của Trung đoàn 4 đang chốt, nhưng phía trong, nơi giáp Cao Melai lại do bọn lính Pốt làm chủ. Để đảm bảo yếu tố bí mật nên sau khi hành quân khoảng 7-8km dọc lộ, chúng tôi bắt đầu cắt rừng hướng về Cao Melai qua bản đồ tác chiến.
Đoạn đường hành quân từ Nimith vào Cao Melai không dài, nhưng đó là cuộc hành quân khủng khiếp, để lại những ấn tượng sâu đậm nhất trong tôi suốt những năm tháng chiến đấu trên đất Campuchia.
Đêm cuối tháng trời không trăng sao, mặt đất tối om. Cả Tiểu đoàn hành quân xuyên qua những cánh rừng tre gai dày đặc. Chẳng nhìn thấy gì nên cứ dò dẫm bước, người sau túm ba lô người trước mà đi. Việc xác định lối đi chỉ qua tiếng bước chân của người trước. Những bụi tre dày đặc với những cành tre vươn dài mọc đầy gai sắc cứ xuyên qua quần áo, chọc thẳng vào cơ thể mà cào cấu, mà giày xéo, khiến quần áo của lính rách bươm và chân tay, người ngợm tứa máu. Lại nữa, từ trên lá tre, bọn vắt xanh, vắt đỏ cứ nghển cổ chờ và khi thấy hơi người đi qua là chúng phóng thẳng xuống, bám vào bất cứ chỗ nào có thể mà hút máu. Đang đi, thấy chỗ nào ngứa, sờ vào là y như rằng lại thấy một con đang no máu, bụng căng tròn. Rứt con vắt ra, máu từ vết cắn chảy ra như không thể cầm được.
Đường trơn và rất tối, trên mặt đất có những chiếc lá mục phát sáng, thứ ánh sáng xanh lét cứ nhập nhòe như ma trơi suốt dọc đường. Tôi nhặt một chiếc lá gài lên mặt ba lô người đi trước để nhìn thấy hướng mà đi. Cái màu xanh nhập nhòe như ma trơi cứ bập bệnh trước mặt… nhưng chỉ được một đoạn, chiếc lá lại rơi, tôi lại mất hướng. Có những lúc vừa đi, bàn tay vừa quờ quạng lên phía trước để đoán định đội hình.
Trong hàng quân, chốc chốc lại có người ngã, tiếng oành oạch phát ra lúc xa, lúc gần. Những tiếng xuýt xoa nghe thật tội. Khổ nhất là các phân đội hỏa lực. Vì nòng súng dài và quá nặng nên liên tục vướng phải những cành tre bên đường. Thỉnh thoảng lại nghe thấy tiếng chửi thề, tiếng rên khe khẽ vì ngã.
Suốt một đêm vất vả luồn rừng trong điều kiện cực kỳ khó khăn như vậy nên mãi gần 6 giờ sáng, toàn tiểu đoàn mới tiếp cận được vị trí tác chiến.
Trong cuộc hành quân này, thêm một lần nữa tôi cảm phục anh Bùi Tiến - người Trung đội trưởng trinh sát của Tiểu đoàn mà tôi ngưỡng mộ ngay từ đêm nhận quân ở Chhloung. Mặc cho gai tre cào cấu khắp cơ thể, anh và anh em trinh sát vẫn xác định đúng hướng, đúng cự ly để cắt phương vị chính xác để đến khi nổ súng, đơn vị đã đánh trúng vào khu vực địch đang phòng ngự, khiến địch không kịp trở tay.
Với địa hình quá phức tạp, không có cách nào khác là phải nổ súng dọc theo chiều dài con đường. Giờ G đã ấn định, các đơn vị nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Đúng 6 giờ 15 phút, sau phát pháo lệnh, cả một khoảng rừng dài hàng cây số bỗng vang lên những tiếng nổ ầm ầm như thác đổ. Tiếng đạn cối, tiếng 12 ly 7, tiếng B40, B41, đại liên, trung liên, M79 và các loại hỏa lực bộ binh quyện vào nhau, tạo thành một bản nhạc không lời vĩ đại. Những viên đạn vạch đường từ các hướng bắn lên không trung mang theo những dây lửa đan chéo vào nhau sáng rực cả bầu trời. Vì đánh nhau trong rừng tre nên tiếng đạn bắn vào thân tre cứ cạch cạch xung quanh, nghe thật lạ.
Bị đánh bất ngờ, địch chống trả một cách yếu ớt rồi bỏ chạy về hướng cụm cao điểm ở Cao Melai. Các đơn vị nhanh chóng tiếp cận mặt đường và chiếm lĩnh những mục tiêu địch vừa bỏ chạy. Khi đi qua mấy căn hầm chúng đào sát mép đường, thấy vương vãi khắp nơi quần áo, tăng võng, súng đạn và cả những nắm cơm chúng đang ăn dở…
Bên gốc tre trên mặt chiến hào, một chú cua suối khá lớn bị một thằng lính Pốt buộc vào một bên càng đang bò lổm ngổm nhưng bị sợi dây giữ lại cứ bơi bơi mấy cái chân trong không trung… Giữa rừng sâu núi thẳm này, những thằng lính Pốt cũng chẳng có gì mà chơi, đành bắt cua để nghịch cho đỡ buồn.
Đi khoảng 50m, có mấy xác địch chết nằm ngay ven đường, chắc chúng chỉ chết trước khi chúng tôi chiếm lĩnh mục tiêu khoảng 10-15 phút. Một thằng nằm ngửa, miệng há hốc, da thịt xám ngoét, hai chân duỗi thẳng. Một chiếc dép đúc Trung Quốc vẫn xỏ trong chân, chiếc còn lại văng cách đó mấy mét.
Đã mấy tháng vào chiến trường nhưng chưa được phát bổ sung quân trang, tôi vẫn phải đi đôi giày ba ta mang từ ngoài Bắc vào, qua bao trận đánh khiến nó đã hỏng, mũi há hoác mà vẫn chẳng có đôi nào thay. Lúc nào cũng mong có một đôi giày cao cổ hoặc một đôi dép để đi, nhưng không biết làm cách nào kiếm được, đành vẫn phải dùng nó nhưng rất khó chịu. Khi qua xác tên địch chết, dù rất sợ, tôi vẫn phải tháo chiếc dép từ cái chân lạnh ngắt của nó ra, nhặt thêm chiếc còn lại văng bên cạnh, miệng lẩm bẩm:
- Tôi không có dép đi, xin ông đôi dép này nhé. Thông cảm cho tôi.
Lấy được dép rồi nhưng chẳng có gì đựng, tôi đành nhét trộm vào cóc ba lô của Tiến xòe đi trước, rồi khi nghỉ mới mang ra rửa sạch để dùng.
Tháng Giêng năm 2018, khi cùng nhau trở lại nơi này, Tiến xòe vẫn còn nhắc:
- Già Điền lấy được đôi dép mà lão sợ không dám cầm, lão bỏ vào cóc ba lô tui… thảo nào ba lô nặng thấy mẹ… Khi hồi dừng lại mới biết, mà nói thì lão chỉ cười.
Một chi tiết nhỏ vậy thôi mà suốt 40 năm rồi, cả tôi và cả lão Tiến xòe vẫn không thằng nào quên được.