Từ Pailin, đoàn xe đưa chúng tôi ngược về Sisophon ngay tối mùng Một tết. Vậy là cả ngày cuối năm và mùng Một Tết chúng tôi chạy như ngựa, mà là ngựa chiến mới khổ. Chạy trong điều kiện không có nước để uống và không có cả cỏ để ăn.

Sau khi bộ phận hữu tuyến triển khai xong hệ thống thông tin xuống các đại đội, lính vô tuyến lại thu quân, vác máy về đội hình tập trung.
Tiểu đội tôi được bố trí trong một ngôi nhà cấp 4 thấp lè tè, rợp bóng xoài, me và vú sữa. Ngôi nhà rất nhỏ nên anh em phải mắc võng ngủ ngoài vườn. Mà ngủ võng trong rừng đã thành thói quen rồi, quen đến nỗi sau này khi về phum Ta Baen, cả tiểu đội được bố trí ở trên sàn gỗ đàng hoàng mà không thằng nào nằm xuống sàn được vì lưng đau như dần. Vẫn cứ mỗi thằng một cái võng, nằm cong người như con tôm như thế suốt cả tháng trời. Vì vậy, về đây được mắc võng trong vườn xoài đã là sung sướng lắm rồi, chẳng thằng nào thèm ngủ trong nhà.
Sau bao ngày đánh nhau vất vả, mỗi người một hướng, giờ mới được gặp nhau lại đang là ngày mùng Một Tết nữa nên ai cũng rất phấn khích. Chuyện về các mũi, các hướng tiến công mà anh em đã vác máy theo, rồi chuyện về những cô gái Khmer, những mê mai mà anh em gặp trên đường hành quân… cứ nổ như ngô rang.
Đang chuyện, bỗng thằng Nam atiso kêu thằng Toàn con:
- Toàn, tao với mày đi kiếm xem có cái gì về ăn Tết đi. Ăn mãi cơm sấy với cá khô rồi, ngán bỏ mẹ, hổng có nuốt nổi.
Hai thằng xách súng đi. Một lát sau chúng nó về thông báo:
- Kiếm hoài, đi khắp rồi mà chẳng thấy gì, toàn thấy lông gà với lông lợn bọn Pốt bỏ lại thôi. Bọn tao tìm mãi mới thấy một chuồng vịt đẻ, có ăn không để bọn tao đi bắt?
Tiến xòe thủng thẳng:
- Thôi đi cha, ăn vịt để tan à. Dẹp.
Mấy thằng nghe vậy cũng thấy ngài ngại, bởi đối với lính chiến, chẳng biết từ khi nào, chẳng biết vì sao nhưng có rất nhiều thứ để kiêng cữ, đó là: thịt vịt, rùa, cơm khê, vàng và… gái. Ngoài ra còn rất nhiều thứ khác nữa.
***
Tôi bắt đầu biết chuyện lính kiêng thịt vịt từ hôm vào Chhloung.
Hôm ấy, tôi cùng mấy thằng lính Hà Nội mới bổ sung vào tiểu đội bơi thuyền sang bên kia sông kiếm rau. Nhìn thấy hai con vịt bọn Pốt bỏ lại đang lạch bạch chạy trong khoảng rừng ven sông, cái cổ xanh xanh, thân bè ra như ca nô, ngon quá. Thế là mấy thằng xúm vào đuổi, phải vất vả lắm mới túm được mang về. Cả bọn hí hửng như mới lập được chiến công hiển hách lắm. Về tiểu đội, chẳng thấy đứa nào nói gì, mấy thằng lại kì cạch đun nước, cắt tiết, vặt lông, làm thịt…
Đến bữa cơm, cả bọn hí hửng mang lên hai đĩa thịt vịt nóng hổi, thơm phức, đặt cạnh chậu cơm độn bo bo của trung đội. Lúc ấy, thằng Nam atiso mới trề cái mỗi thâm xì ra nói:
- Giục đi, ai ăn thịt vịt mà chúng mày làm. Ăn rồi tan tác hết à.
Cả bọn nhìn nhau rồi nhìn đĩa thịt đang bốc khói. Và chúng tôi hiểu, lính chiến kiêng thịt vịt. Nhưng mà tiếc, vừa tiếc vừa tức. Bọn này thâm thật, không ăn thì sao chúng mày không nói từ đầu, để chúng tao mất công làm thịt rồi đến bữa mới nói. Tức lộn cả ruột mà không dám chửi chúng nó.
Bọn lính cựu không ăn làm cho mấy thằng lính mới cũng chẳng dám động đũa, đành lại cơm nhà bếp nhá với cá khô.
Đĩa thịt vịt nóng hổi thì để đấy mà ngắm. Chuyện kiêng rùa thì thế này:
Bữa đóng quân trong Khvav, tiểu đội tôi nằm ngay trên bờ đập. Mùa mưa nước lai láng khắp nơi. Rau muống nước - thứ rau người Campuchia gọi là “tà cun”, rau dành cho lợn chứ họ rất ít khi ăn - mọc lan khắp mặt hồ, được chúng tôi hái về nấu với mì tôm Thái để cải thiện rất tuyệt.
Sáng 31/8/1979, khi chúng tôi đang ăn mì thì anh Bùi Tiến - Trung đội trưởng Trinh sát (có biệt hiệu là Tiến dê), khuôn mặt đen bóng, kiên nghị, thân hình rắn chắc, khoác khẩu M79 với dây đạn vàng chóe trước ngực, cùng mấy anh em trinh sát đi ngang qua. Anh tổ chức cho bộ đội nắm địch trên đường buôn[1] theo lệnh của Tiểu đoàn. Chúng tôi chào anh và mời anh vào ăn sáng. Anh không ăn nhưng nán lại tán dóc với bọn tôi một lát rồi mới đi tiếp.
Đi được mấy bước, anh lỡ chân bước qua một con rùa. Con rùa nhỏ thôi, mai chỉ lớn như cái bát ăn cơm. Anh bảo:
- Ủa, sao kỳ nè. Có con rùa đó bây.
Nói rồi, anh nhặt con rùa ném xuống hồ nước ngay cạnh đường.
Lúc anh đi rồi, Tiến xòe mới bảo:
- Bọn này gặp rùa, ú ớ đụng địch cho coi.
Khoảng 10 phút sau, bỗng nghe thấy “uỳnh” như tiếng mìn nổ xa xa. Rồi một lát nữa, nghe thấy tiếng huỳnh huỵch bên ngoài, bọn tôi chạy ra thì thấy hai chú lính trinh sát đi cùng, khiêng anh Tiến ngược trở về, máu từ chân anh nhễu ra ướt hết cả một khoang võng…
Tiến xòe lúc ấy mới nói:
- Đó, thấy chưa, tao nói rồi mà. May mà không tan xác.
Tiến xòe với anh Tiến dê rất thân nhau, cùng dân Sài Gòn đi lính một đợt nên họ như đôi bạn chí cốt. Nhìn anh Tiến bị thương trên võng, Tiến xòe thương lắm, nhưng chẳng biết làm gì, chỉ biết nói nhiều thôi.
Cho đến bây giờ, khi nhắc lại chuyện con rùa, anh Tiến vẫn khì khì cười và nói:
- Lúc bước qua nó, tao đã thấy ghê ghê… nhưng nhiệm vụ đã giao, biết làm sao. Vậy mà thiêng thật. Đang đi, thấy tiếng “uỳnh”. Mìn nổ, may mà chưa cụt giò. Vẫn còn hên.
Giờ đến chuyện cơm khê.
Có bữa đánh nhau suốt buổi sáng, đến trưa đói thắt ruột mà khi thằng Công điếc mang cơm từ bếp trung đội sang. Ngửi thấy mùi cơm khê nồng, thằng Nam atiso cầm cả nồi cơm ném thẳng ra rừng rồi cả bọn gặm tạm lương khô chống đói.
Thằng Công thấy thế mặt tái đi, miệng tròn như chữ O, nó chẳng dám cãi câu nào, đành lẳng lặng ra nhặt nồi mang về.
Lính trận nói với nhau, cơm sống thì ráng ăn chứ cơm khê thì kiêng tuyệt đối, đánh trận nào thua trận ấy, mà thua te tua nữa… Chỉ biết thế và chỉ biết nghe lời những người đi trước.
Với vàng thì rất nhiều chuyện đồn thổi.
Khi đánh vào Phnom Penh và các thành phố lớn, có những nơi lính thấy rất nhiều vàng. Trong hồi ký của mình, anh Lê Tài - một chiến sĩ tham gia đánh vào Ta Sanh, căn cứ chủ chốt của Pốt giáp biên giới Thái Lan kể rằng: bộ đội ta thu được cả một kho hàng chục tấn vàng và đá quý chưa chế tác. Ta phải dùng tới 4 chiếc xe Zil 130 có xe M113 áp tải đưa vàng, đá quý về Phnom Penh giao lại cho chính quyền Heng Samrin mà không sơ sểnh một lai, một ly nào. Rồi khi bộ đội ta đánh vào hoàng cung, vô số đồ đạc của nhà vua được dát vàng hoặc bằng vàng nguyên chất, nhưng kỷ luật chiến trường hết sức nghiêm ngặt, không người lính nào dám mảy may động đến những tài sản đó. Các đơn vị đều bảo vệ hết sức nghiêm ngặt toàn bộ tài sản thu được và bàn giao nguyên trạng cho chính quyền bạn.
Dưới thời Pol Pot không có tiền tệ. Mà khi không dùng tiền thì vàng chẳng còn giá trị gì, nó chỉ còn là một miếng kim loại có màu vàng mà thôi. Dân thích xà phòng, cho họ một bánh, họ cho lại vàng. Có người bị sốt rét, giúp họ mấy viên quinine, họ cũng cám ơn bằng vàng, hoặc là cái nhẫn, hoặc là cái dây chuyền… Lính hậu cần, vận tải và thiết giáp có đứa cũng kiếm được chút đỉnh, chúng mang về Sài Gòn, đổi thành tiền Việt, thành thuốc lá, thành đường, sữa để dùng. Nhưng với lính bộ binh thì việc giữ vàng là rất khó. Cả gia tài có mỗi cái ba lô, có gì thì cũng phải nhét vào đấy. Khi đơn vị nghi ngờ anh em thủ chiến lợi phẩm, bắt bỏ tư trang ra kiểm tra là ăn đòn ngay.
Vậy mà vẫn có thằng lấy được vàng, gói vào đáy ba lô. Lúc đánh nhau, đạn Pốt bắn thủng ba lô, người chết rồi còn vàng thì rơi ra tung tóe…
Ở tiểu đoàn tôi có chuyện một ông Chính trị viên Đại đội, chẳng biết nhặt được ở đâu cái nhẫn vàng chừng 3 chỉ. Lúc bình thường, ông ấy mang ra đeo, rồi vuốt ve, ngắm nghía có vẻ hãnh diện lắm. Lúc vào trận, ông ấy sợ nên bắt thằng công vụ cầm hộ. Thằng công vụ cũng rất sợ nhưng vẫn phải cầm. Thủ trưởng bắt thì vẫn phải làm chứ biết làm thế nào.
Hôm đánh phum Makak, ông Chính trị viên nọ lĩnh trọn một trái M79 chết ngay, đất cát phủ đầy mặt. Sau này, thằng công vụ mới tiết lộ, mỗi khi ông ấy đưa nhẫn nó vẫn phải cầm, nhưng lúc vào trận nó lại lén nhét cái nhẫn vào túi cóc ba lô của ông ấy. Vậy nên khi kiểm tra, bàn giao thi hài và tư trang liệt sĩ, vẫn có cái nhẫn trong túi cóc ba lô.
Giờ đến chuyện gái.
Đất nước Campuchia những năm sau khi thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot, được nhiều người gọi là “tức đay mê mai”, có nghĩa là “đất nước của những bà góa”. Những người đàn bà góa bụa, những đứa trẻ côi cút nhiều vô kể. Bất cứ ở đâu cũng gặp họ, những người đàn bà đơn thân với những nét mặt rầu rĩ, u sầu và trĩu nặng.
Thời Pốt, chúng bắt tất cả đàn bà con gái, từ nhỏ đến lớn, từ bà già đến trẻ con đều phải cắt tóc giống nhau, cắt ngang sau gáy, giống y chang phụ nữ Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông. Váy áo thì rặt một màu đen do Angkar may sẵn và phát đều cho mỗi người mỗi năm một bộ. Vì vậy, nét u sầu càng trở nên tăm tối hơn trên khuôn mặt, dáng đi của họ.
Nếu gặp họ, hỏi chồng chị (em) đâu, gần như ai cũng trả lời một câu ngắn gọn, giống nhau và không có cảm xúc:
- Ngọp hời (chết rồi).
Hoặc:
- Tà hiên à Pôt cặp cô ngọp hời (lính thằng Pốt cắt cổ chết rồi).
Có những người đàn bà, chồng họ vẫn sống, đang đi lính cho Pốt nhưng họ cũng coi như chết, hoặc chẳng biết chồng đang ở đâu, họ đều trả lời tương tự như vậy.
Hầu hết những nàng “mê mai”, đều rất thích những chàng lính Việt Nam, dù lúc đó lính ta ăn mặc nhếch nhác, mặt mày hốc hác vì gian khổ nhưng với nước da trắng hơn, dáng vẻ thư sinh hơn những người Khmer bản địa, nhiều người lính đã làm cho những “mê mai” mê mẩn. Bản năng giống khiến họ thèm khát những vòng tay đàn ông.
Khi tiếp xúc với bộ đội ta, những “mê mai” kia chẳng giấu đi cảm xúc, nhiều khi đang nói chuyện, họ chẳng ngại ngần “sang số”, tháo cạp chiếc váy đang mặc ra, để hở cả một khoảng bụng chìa ra trước mặt những thằng lính Việt, rồi hai tay cầm đưa lên phía trước, giũ giũ, sau đó ép lại thành bụng, giắt chiếc cạp sang phía bên kia… nhìn ngứa mắt thật.
Có những lúc anh em đang tắm, họ ra đầm lấy nước, hoặc cũng ra tắm thì họ thường thể hiện một điều gì đó như là sự lả lơi, mời gọi. Những cái nhìn lộ vẻ thèm khát đến cháy lòng.
Với lính, khi đó toàn là những chàng trai đang tuổi 18-20, bản năng giống đực rất mãnh liệt. Nhìn họ làm thế, mặc dù biết đấy, hiểu ý họ đấy, cũng chẳng thằng nào dám xơ múi gì, đành nuốt cơn thèm vào trong, bởi kỷ luật chiến trường hết sức nghiêm khắc. Đã có một vụ hiếp dâm ở Quân Đoàn 4, bị tòa án quân sự xử bắn và thực hiện công khai ngay tại mặt trận, thông báo đến từng chiến sĩ để phòng ngừa, nên chuyện trai gái giữa bộ đội ta với các “mê mai” thực sự rất hiếm.
Một lý do nữa mà lính rất sợ chuyện gái gú còn là vì kiêng cữ. Chẳng hiểu sao, nhưng hầu như ở đơn vị nào cũng có chuyện về những chàng sĩ quan được về phép lấy vợ. Sau khi ở nhà chán chê 5, 6 tháng, thậm chí hàng năm, các anh ấy mới trở lại đơn vị. Có anh lấy vợ, chờ vợ đẻ xong, nhìn thấy mặt con mới quay về trả phép. Đường xa dặm thẳng, ai cũng biết là vi phạm kỷ luật, nhưng các thủ trưởng cũng thông cảm, cho tổ chức kiểm điểm qua loa rồi lại giao cho chức vụ cũ. Vậy mà ngay trong những trận đánh sau đó, rất nhiều người trong số họ hy sinh.
Còn nhớ, anh Thiện ở Đại đội 11. Đầu năm 1979 anh được trung đoàn thưởng phép ba tháng vì thành tích chiến đấu. Mãi 7, 8 tháng sau chẳng thấy anh vào, mọi người đã nghĩ rằng anh đào ngũ.
Rồi một ngày, anh lù lù khoác ba lô trở về đơn vị. Bên ấm trà Thái, điếu thuốc Tam Đảo và mấy chiếc kẹo lạc anh mang từ Ninh Bình vào, quanh những chiếc võng dù mắc cạnh đống lửa, anh em râm ran hỏi chuyện quê nhà và chuyện riêng của anh trong những tháng ngày về phép.
Anh kể về mùa gặt, cả làng ríu rít trên sân phơi hợp tác, những cô gái làng bận những chiếc áo nâu sồng gánh lúa trĩu vai, mồ hôi nhỏ thành giọt rơi trên mặt đất. Anh kể về những đêm trăng thanh gió mát, đám thanh niên đập lúa đến tận khuya cứ thì thụp, thì thụp vang vọng khắp làng. Tiếng hát, tiếng hò của đám thanh niên trộn lẫn với tiếng những hạt thóc bắn xuống mặt sân kêu rào rào nghe thật vui tai.
Rồi qua mối lái và đám bạn giới thiệu, anh chọn được một cô thôn nữ của làng về làm vợ, một cô gái quê, xinh xắn, ngoan hiền về làm dâu mẹ anh. Một đám cưới giản dị, gọn gàng được tổ chức ngay sau khi anh hết phép.
Anh kể rằng sau những ngày vui cùng duyên mới, nỗi nhớ đồng đội cứ cồn cào trong anh, đã nhiều lần anh khoác ba lô lên vai, định trở về đơn vị, nhưng mẹ anh bảo cố ở nhà thêm ít ngày để có cho bà một đứa cháu đích tôn rồi trở vào mặt trận cũng không muộn. Thương mẹ, thương người vợ trẻ nên anh cũng cố nán lại ít ngày. Vốn lớn lên từ đồng ruộng, cha lại mất sớm, nên anh rất thạo việc nhà nông. Sau mùa gặt, việc nông nhàn, anh quấn rạ thành bó rồi đánh tranh, lợp lại cho mẹ cái mái nhà đã dột, hót hết thùng phân trâu đã oải, gánh ra đám ruộng của nhà, sửa lại một góc ao đã lở… Hai tháng sau, khi đã chắc chắn là vợ có mang, anh từ biệt mẹ, từ biệt vợ khoác ba lô trở vào đơn vị.
Vậy mà ngay sau đó, trong trận đánh vào hồ Ampil, một viên cối 82 ly của địch bắn tới, nổ cách anh chưa đầy 2m. Anh hy sinh khi chưa biết mặt con. Thật là đau xót.
Vì những chuyện như thế, tương tự như thế, cứ lính cũ truyền tai lính mới, thằng này nhắc thằng kia nên chuyện kiêng cữ trở thành luật bất thành văn trong các đơn vị thời đánh nhau với Pốt.
***
Trở lại chuyện thịt vịt ở tiểu đội tôi.
Vì những điều kiêng cữ ấy nên lúc đó chúng tôi đã thấy ngại, không muốn ăn thịt vịt.
Nhưng thằng Tâm vâu tiếc rẻ, lại lẩm bẩm:
- Ôi dào, thèm bỏ mẹ lại còn kiêng với khem. Chỉ có vịt mà không ăn thì biết ăn cái gì? Tao thấy lính các đại đội cũng bắt ầm ầm, chúng nó cần kiêng hơn còn chả kiêng, huống hồ mình. Nếu không ăn thì lại tiếp bài ca cá thối.
Nghe thấy thế, Toàn con đế thêm:
- Với lại hôm nay là mùng Một Tết, đã đánh nhau đéo đâu mà lo. Mấy ngày Tết mà có được ăn cái gì đâu, toàn bo bo với cá khô, chán bỏ mẹ.
Thế là chúng tôi thống nhất bắt vịt về làm thịt. Tâm vâu, Hải lé, Cương kều ở nhà đun nước, còn chúng tôi đi kiếm vịt.
Đến chuồng vịt mới thấy chẳng phải một mình tiểu đội tôi, mà cả tiểu đoàn đều ăn vịt. Đói quá, thiếu thịt lâu ngày rồi, vả lại tết nhất đã được chén cái gì đâu, nên việc kiêng khem đành dẹp sang một bên. Cả đàn vịt đẻ hàng trăm con mà lúc bọn tôi đến bắt chẳng còn được mấy mống.
Bọn tôi lôi về hơn chục con. Đang giữa kỳ đẻ nên con nào con nấy béo nung núc, những thịt là thịt. Tôi đã tưởng tượng ra miếng thịt vịt béo ngậy cắn ngập chân răng lát nữa được thưởng thức mà thấy ứa nước miếng. Chảo nước đã sôi, chúng tôi chặt đầu, chặt cánh, chặt chân vịt trước khi cho vào nồi nước để làm lông cho nhanh. Vậy mà mãi hơn 11 giờ đêm mới mổ xong ngần ấy con vịt. Một chậu thịt cao ngất, lại thêm một khay lớn đựng tim gan và trứng non nữa. Trông thật hấp dẫn.
Mãi hơn 12 giờ đêm mới ăn xong. Một bữa ăn thịnh soạn chỉ có tim gan và trứng non vịt luộc chấm bột canh và một nồi cháo bỏ đầy lòng gan vịt mà cả tiểu đội toái loái.
Lính tráng no nê rồi lăn ra ngủ. Chuyện kiêng khem để đó tính sau.
❀ ❀ ❀
[1] Đường mòn do dân tự mở để buôn hàng từ Thái Lan về Campuchia (BTV).