Quyền của Eva

Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 1
NGUỒN GỐC VẠN VẬT

❊ ❊ ❊

Khi một nhà tự nhiên học trẻ tuổi bắt đầu nghiên cứu về một nhóm sinh vật lạ, chắc hẳn anh ta phải rất bối rối khi xác định những đặc điểm khác nhau giữa chúng... vì hiển nhiên anh ta chẳng biết số lượng và biến thể của nhóm sinh vật này tồn tại như thế nào...

VÀO NĂM 1899, CHÚNG TÔI ĐÃ HỌC được cách làm chủ bóng đêm nhưng vẫn không thể chịu đựng nổi cái nóng của miền Texas. Chúng tôi thức dậy trong bóng đêm, hàng giờ trước khi mặt trời hé dạng, lúc này phía trời Đông chỉ loáng thoáng một vệt màu chàm, phần còn lại của đường chân trời vẫn phủ một màu đen kịt. Bọn tôi châm đèn dầu và treo lên trước mặt như ông mặt trời tí hon đung đưa trong bóng tối. Còn hàng đống việc ngang bằng với một ngày công đang chờ chúng tôi hoàn thành trước buổi trưa, nhưng cái nóng chết người làm chúng tôi phải chui rúc vào căn nhà lớn lắp cửa chớp rồi nằm rạp cả xuống trong những căn phòng có trần thật cao với ánh sáng lờ mờ như những nạn nhân đang bị hấp hơi vậy. Mẹ thường vẩy một ít nước hoa lên mấy tấm chăn làm phương thuốc chống lại cái nóng trong mùa hè này nhưng chúng chỉ có tác dụng chừng một phút mà thôi. Mãi đến ba giờ chiều, là lúc cả bọn phải trở dậy, nhưng nhiệt độ vẫn cao đến chết người.

Cái nóng đang là sự hành hạ cùng cực đối với mọi người dân ở Fentress, đặc biệt với phụ nữ vì họ phải mặc áo ngực và váy lót dài bên trong. (Tôi thì còn vài năm nữa mới phải chịu sự tra tấn độc nhất vô nhị dành cho nữ giới này). Họ nới lỏng coóc-xê và thở dài hàng giờ liền, lầm bầm nguyền rủa cái nóng và cả những đức ông chồng đã kéo họ đến tỉnh Caldwell này để trồng cây bông vải và canh tác trên những cánh đồng hồ đào. Mẹ tạm thời tháo phần tóc giả độn thêm, nó được làm từ những món tóc giả uốn quăn đính và băng đô, bà thường dùng nó làm phần đệm để vấn thành một núi tóc cầu kỳ. Vào những ngày không có ai viếng thăm, bà thậm chí còn cho đầu xuống dưới chiếc bơm trong bếp rồi để cho Viola, người làm bếp lai đen của chúng tôi, xả nước lên đầu đến khi ướt sũng mới thôi. Chúng tôi bị nhận lệnh cấm nghiêm ngặt là không được cười trước màn biểu diễn gây sốc này. Trong lúc mẹ cởi bỏ vẻ nghiêm chỉnh của mình bởi cái nóng, thì chúng tôi (kể cả bố) nhận ra rằng cách tốt nhất là tránh xa bà ra.

Tên thật của tôi là Calpurnia Virginia Tate, nhưng ngày ấy mọi người thường gọi tôi là Callie Vee. Mùa hè năm đó, tôi vừa tròn 11 tuổi, và là đứa con gái duy nhất giữa bảy anh em trong gia đình. Bạn có thể tưởng tượng ra tình huống nào tệ hơn nữa không? Tôi là con giữa, sau ba người anh - Harry, Sam Houston, Lamar - và là chị gái của ba đứa em trai - Travis, Sul Ross và thằng bé Jim Bowie mà mọi người thường gọi là J.B. Mấy đứa nhỏ thường ngủ trưa, đôi lúc còn nằm chồng chất lên nhau như những con cún ẩm ướt. Mấy người đàn ông trở về từ công việc đồng áng và bố tôi, người vừa về từ văn phòng cạnh chiếc máy tỉa hạt bông vải, cũng đang nằm ngủ; đầu tiên họ múc một xô nước âm ấm từ cái giếng cạnh hiên nhà (nơi họ nằm ngủ) dội ướt khắp thân thể rồi buông phịch người xuống chiếc giường bện dây như vừa bị giáng cho một nhát búa tạ.

Không thể phủ nhận rằng cái nóng là một cực hình, nhưng nó cũng đem lại sự tự do cho tôi. Trong khi mọi người trong gia đình ngủ gà ngủ gật, trở mình qua lại thì tôi len lén chuồn ra bờ sông San Marcos, tận hưởng giờ giải lao của một ngày không phải đi học, không có sự quấy phá của mấy anh em và cả sự quản thúc của mẹ. Dĩ nhiên theo lẽ thì tôi không được làm điều này nhưng cũng chẳng ai cấm đoán cả. Một phần tôi trốn đi trót lọt là nhờ được đặc cách ở trong một căn phòng tận cuối dãy nhà còn mấy anh em trai phải cùng nhau chen chúc ở phòng lớn, đôi khi họ cũng hay tranh cãi dữ dội về việc này. Từ đó đến nay, đối với tôi, có lẽ đây là đặc ân dành cho đứa con gái độc nhất này.

Nhà tôi và bờ sông được ngăn cách bởi một khoảnh đất hình lưỡi liềm rộng hai hecta phủ đầy cỏ cây dại mọc um tùm. Để đến được đó đối với tôi là cả một thử thách, trừ khi những nhân vật hay ra sông trước đó - chó, nai, mấy người anh em trong nhà - đã để lại sẵn một lối đi nhỏ xuyên qua những tán cây cao ngang đầu tôi đầy gai sắc nhọn; chúng cứ vướng vào tóc và chiếc áo khoác không tay của tôi suốt quãng đường luồn lách qua khe hở đó. Khi ra tới dòng sông, tôi chỉ mặc mỗi chiếc váy lót dài rồi ngửa mình thả nổi trên mặt nước; chiếc váy dập dềnh xung quanh tôi một điệu nhảy simmi đầy hân hoan trong dòng chảy nhẹ nhàng, mát lạnh đang lướt đều qua thân thể. Giờ đây, tôi như một đám mây, bồng bềnh nương theo dòng nước cuốn. Tôi ngước mặt lên ngắm những chiếc kén mỏng manh của mấy chú sâu bướm đang buông mình đong đưa dưới tán cây sồi xum xuê nghiêng bóng xuống dòng sông. Những chiếc kén dường như đang soi bóng tôi, chúng lềnh bềnh trong những quả bóng mịn màng của riêng chúng giữa bầu trời màu lam nhạt.

Mùa hè năm đó, chỉ trừ ông nội Walter Tate của tôi, còn lại tất cả đàn ông đều cắt tóc ngắn tới sát da đầu và cạo nhẵn nhụi hết cả râu ria. Họ trông trần trụi như những con kỳ nhông mù và phải mất vài ngày để có thể quen mắt được với những cái cằm nhợt nhạt, yếu ớt đó. Thật lạ lùng vì ông nội chẳng bị ảnh hưởng gì bởi cái nóng, ngay cả với bộ râu trắng dài phủ xuống tới ngực. Ông cho rằng mình là một người sống ôn hòa và có nguyên tắc, kể cả việc không bao giờ uống rượu whisky trước buổi trưa. Cái áo đuôi tôm bốc mùi của ông cũng đã cũ mèm nhưng ông chẳng hề có ý định bỏ nó đi. Mặc dù chị giúp việc SanJuanna luôn dùng miếng bọt biển nhúng benzene lau chùi thường xuyên nhưng chiếc áo khoác vẫn không thể bớt mùi ẩm mốc và mang màu sắc kì lạ, đen chẳng ra đen, xanh chẳng ra xanh.

Ông nội vẫn sống chung một mái nhà với chúng tôi nhưng chỉ như một chiếc bóng ẩn dật. Từ lâu ông đã giao quyền cai quản cơ nghiệp của gia đình cho con trai duy nhất, bố Alfred Tate của tôi, rồi dùng hết thời gian “làm thí nghiệm” trong “phòng thực nghiệm” phía sau nhà. Phòng thực nghiệm cũng chỉ là căn lều nhỏ cũ kỹ từng được dùng làm chỗ ở cho nô lệ. Những khi không ở trong phòng thực nghiệm thì ông sẽ ra ngoài tìm mẫu vật hoặc vùi đầu vào những cuốn sách mục nát trong góc tối của thư viện, nơi mà chẳng có ai dám làm phiền ông.

Tôi xin mẹ cắt mớ tóc rậm rạp nóng nực phủ đầy sau lưng tôi. Nhưng bà nhất quyết không cho phép con gái mình chạy rông ngoài đường tựa một con thú hoang trụi lông như thế được. Nhưng tôi thì thấy điều này rõ ràng là không công bằng vì bà chẳng đề cập gì đến nguyên do chính là cái nóng ở đây cả. Và là thế là tôi nảy ra một ý: Mỗi tuần tôi sẽ cắt đi 2,5cm tóc - chỉ nhón một ít thế thôi - thì may ra mẹ sẽ không phát hiện được. Và hẳn nhiên tôi sẽ giả vờ tỏ ra thật ngoan ngoãn để che đậy hành động này. Bằng cách ngụy trang mình thành một cô tiểu thư nhu mì, tôi thường dễ dàng trốn thoát khỏi sự kiểm soát chặt chẽ của mẹ. Hơn nữa, bà cũng luôn bận ngập đầu trong đống việc nhà hằng ngày và cả sự phá phách không ngừng nghỉ của mấy đứa con trai. Bạn không thể tưởng tượng nổi những trò quỷ quái và mức độ ồn ào gây ra bởi sáu anh em đâu. Thêm vào đó, cái nóng càng làm trầm trọng hơn nữa những cơn đau đầu đến méo mặt của mẹ, và bà phải dùng đến phương sách là ực một muỗng to Hợp chất Thực vật của Lydia Pinkham, thứ thuốc tốt nhất để lọc máu cho phụ nữ.

Đêm đó, trên tay là chiếc kéo cắt may, tim đập thình thịch trong niềm hân hoan, tôi xén đi 2,5cm tóc đầu tiên. Tôi ngắm nhìn mớ tóc mềm mại như cỏ khô đang cuộn lại trong lòng bàn tay. Tôi đang sải bước đón chào một tương lai trong Thời Đại Mới huy hoàng, vâng, chỉ vài tháng nữa thôi. Giây phút này thật trọng đại trong đời tôi. Đêm ấy, tôi ngủ chập chờn trong niềm lo âu chờ trời sáng.

Hôm sau, tôi nín thở rón rén từng bước chân xuống nhà ăn sáng. Miếng bánh rán hồ đào hôm nay chả khác nào một miếng giấy cạc-tông trong miệng tôi. Và bạn có biết điều gì đã xảy ra không? Hoàn toàn chẳng có gì cả. Không có ai nhận ra chút gì. Dĩ nhiên tôi cảm thấy cực kì nhẹ nhõm nhưng một ý nghĩ khác lại vẩn vơ trong lòng: Chẳng phải gia đình này vốn dĩ luôn hờ hững như thế sao. Và sự thật là bốn tuần sau, khi hơn 10cm tóc đã bị xén đi, cũng không có ai nhận ra; đến một buổi sáng nọ, duy có chị bếp Viola là nhìn tôi trừng trừng. Song chị ấy cũng chẳng nói tiếng nào.

Trời ngày càng nóng đến độ lần đầu tiên trong lịch sử mẹ không thắp nến cho chiếc đèn chùm vào bữa tối. Bà còn cho phép tôi và Harry nghỉ học đàn piano trong hai tuần. Lý do dẫn đến quyết định này là Harry đổ quá nhiều mồ hôi đến độ sau khi chơi xong một phần của bản Minuet in G thì mấy phím đàn bị nhơ nhớp hết cả. Dù mẹ hay SanJuanna có cố gắng bằng mọi cách thì màu óng ánh của lớp sứ trên phím đàn cũng chẳng thể nào trở lại như trước được nữa. Còn một yếu tố khác là cô giáo Brown dạy đàn cho bọn tôi đã lớn tuổi lắm rồi, và cả con ngựa cô dùng để kéo chiếc xe hai bánh của mình suốt 4,8km từ Prairie Lea đến đây cũng đã quá già nua. Trong lúc này mà đi chắc họ sẽ gục ngã trên đường mất thôi. Suy đi tính lại thì ý kiến này không tồi chút nào.

Khi bố biết được việc bọn tôi nghỉ học đàn, ông thản nhiên bảo, “Thế cũng tốt mà. Đàn ông con trai mà học đàn thì chả khác nào rắn mặc váy.”

Mấy lời lẽ này chả lọt tai mẹ tí nào. Bà luôn mong con lớn Harry của mình, năm nay đã mười bảy tuổi, trở thành một quý ông thực thụ. Bà đã có cả một kế hoạch hẳn hoi cho Harry vào đại học Austin cách nhà 80km khi anh ấy tròn mười tám tuổi. Theo thông tin trên báo chí thì trường đại học đó có năm trăm sinh viên, mười bảy người trong số họ được kèm cặp các nàng học tại Trường Mỹ thuật Tự Do (tùy chọn các ngành âm nhạc, Anh Văn hoặc tiếng Latin). Còn bố thì lại có dự định khác; ông muốn Harry trở thành một doanh nhân, và trong tương lai sẽ tiếp quản xưởng tỉa hột bông vải, những thửa vườn hồ đào và tham gia vào Hội Tam điểm giống như ông bây giờ vậy. Còn đối với tôi, nếu ông có quan tâm, thì ông cũng không phản đối việc tôi học đàn.

Đến cuối tháng 6, tờ Fentress Indicator cho biết nhiệt độ ở bên ngoài tòa báo đã lên tới 106 độ F (khoảng 41 độ C). Nhưng tờ báo lại không nhắc đến nhiệt độ dưới bóng râm là bao nhiêu cả. Tại sao lại không chứ, một người sáng suốt sẽ chẳng dại gì đứng ngoài nắng mà sẽ nhanh chóng tìm lấy một bóng râm dưới tán cây, trong chuồng bò hoặc là trong một luống cày. Theo tôi nghĩ thì nhiệt độ dưới bóng mát sẽ có ích cho người dân trong thị trấn này hơn. Nghĩ là làm, tôi thảo ngay một Bức Thư gửi Biên tập viên đề xuất vấn đề này và thật là ngạc nhiên, họ cho đăng tải nó ngay trong số báo tiếp theo. Và gia đình tôi còn ngỡ ngàng hơn khi tờ báo bắt đầu đăng tải cả nhiệt độ dưới bóng râm từ dạo ấy. Khi biết dưới bóng mát nhiệt độ chỉ có 98 độ F (tương đương 36,7 độ C), dường như ai nấy cũng cảm thấy mát mẻ hơn được đôi chút.

Sau đó, chợt phong trào diệt côn trùng dấy lên khắp nơi, trong nhà lẫn ngoài phố. Hàng đàn châu chấu bu quanh bụng mấy con ngựa. Đom đóm không biết từ đâu túa ra cùng nhau hợp thành một buổi trình diễn hoành tráng làm đọng lại một mùa hè không thể ấn tượng hơn trong tâm trí mọi người. Mỗi buổi tối, mấy anh em nhà tôi cùng ra trước hiên nhà, thi xem ai sẽ là người phát hiện ra đốm lập lòe đầu tiên. Hương vị chiến thắng thật thú vị và càng tự hào hơn nữa khi mẹ làm cho bọn tôi một mề đay bằng lụa xanh với chiếc tua đuôi dài phấp phới. Ở giữa hai đầu mề đay, bà còn thêu lên dòng chữ GIẢI THƯỞNG CUỘC THI ĐOM ĐÓM CỦA FENTRESS bằng sợi chỉ sồi vàng óng. Chiếc mề đay thật trang nhã và làm cho động lực đoạt giải được nâng cao lên hẳn. Và người thắng cuộc được quyền giữ nó đến đêm hôm sau.

Tiếp theo đó là cuộc xâm lăng vào nhà bếp có quy mô lớn nhất từ trước đến nay của hằng hà sa số kiến. Chúng hành quân đều tăm tắp xuyên qua kẽ nứt của miếng gỗ ốp dưới chân tường, đến cửa sổ rồi thẳng tiến đến bồn rửa chén. Bọn kiến đang khát nước trầm trọng và sẽ chẳng ai ngăn cản được bước chân của chúng. Viola giơ tay lên dọa dẫm nhằm đuổi chúng nhưng chẳng ăn thua. Mọi người đều cho rằng đom đóm là ơn trời, còn lũ kiến là thảm họa; nhưng rồi lần đầu tiên trong đời tôi tự hỏi vì sao lại có sự phân biệt đối xử này. Cũng như bọn tôi, chúng cũng đều là những sinh vật đang cố gắng sống sót qua tháng ngày khô hạn mà thôi. Theo tôi, Viola nên để cho chúng được yên, nhưng đến khi tôi phát hiện mấy hạt tiêu đen trong đĩa xà lách trộn hoàn toàn không phải là tiêu thì tôi đã phải suy nghĩ lại.

Trong khi nhiều loại côn trùng xuất hiện tràn ngập thì một số loài khác thường cư trú trong sân nhà, như giun đất chẳng hạn, lại biến mất. Mấy ông tướng nhà tôi suốt ngày than vãn vì không tìm đủ giun để câu cá và phải đào xuống những khoảnh đất khô cứng mới tìm ra chúng, rất vất vả. Có khi nào bạn tự hỏi rằng có thể huấn luyện giun đất hay không? Ở đây tôi xin thưa, vâng, có thể đấy. Tôi nhận ra từ một sự thật hiển nhiên: Giun đất luôn trồi lên khi trời mưa xuống và việc tạo mưa thật dễ dàng. Tôi xách một thùng thiếc đầy nước ra cánh đồng cỏ rộng hai hecta, chọn một khoảnh đất gần bụi rậm rồi tưới đều đặn xuống đó trong vài ngày. Bốn ngày sau, tôi vừa xuất hiện với chiếc thùng trên tay là lũ giun đã trồi lên theo từng bước chân tôi, chờ đợi những dòng nước mát lành. Tôi chỉ việc xúc chúng lên và bán cho Lamar với giá một xu một tá giun. Lamar cứ hoạnh họe bắt ép tôi khai ra nơi đào giun nhưng dĩ nhiên là tôi không đời nào hé miệng. Tuy nhiên tôi thổ lộ phương thức của mình cho anh Harry, người mà tôi yêu quý nhất và là người tôi không giấu giếm bất cứ chuyện gì. (À không, hầu hết thôi).

“Callie Vee,” anh gọi tôi, “anh có cái này cho em nè.” Nói rồi anh lục trong hộc tủ ra một cuốn sổ tay bọc bìa da màu đỏ, bên trên đóng dấu QUÀ LƯU NIỆM CỦA TRƯỜNG AUSTIN.

“Nhìn đi,” anh bảo. “Anh chưa viết gì trong này. Em có thể dùng nó để ghi chép lại những quan sát khoa học của mình. Em là một nhà tự nhiên học bẩm sinh đấy.”

Anh ấy đang nói về cái quái gì ấy nhỉ, nhà tự nhiên học là gì? Tôi cũng chẳng hiểu lắm, nhưng suốt cả mùa hè năm ấy, tôi cố gắng hết sức để thực hiện theo lời anh. Nếu chỉ việc ghi chép lại những gì mình quan sát thấy hằng ngày thì tôi có thể làm được. Bên cạnh đó, từ khi có được sổ để ghi chép lại, tôi lại càng nhận ra nhiều thứ hơn trước đây.

Đầu tiên, tôi ghi chép về lũ chó. Trong tiết trời nóng bức, chúng nằm im như chết trên mặt đất. Ngay cả khi mấy đứa em trai của tôi dùng cây làm mồi nhử chơi rượt bắt cho đỡ buồn, chúng cũng chẳng màng ngóc đầu lên. Chúng chỉ đứng dậy một lúc để liếm láp chút nước rồi lại nằm phịch xuống làm bụi tung lên từ đám đất trũng hai bên hông. Đặc biệt đối với Ajax, chú chó cưng dùng để đi săn chim của bố, thì bạn đừng hòng làm nó hoảng sợ ngay cả khi bắn một phát súng săn sát mõm nó. Nó nằm đó, lưỡi thè lè ra, chiếc mõm há hổn hển và để yên cho tôi đếm số răng. Từ điều này, tôi phát hiện ra vòm họng của loài chó có những lằn gợn một chiều liên tiếp xuống đến cổ họng; thảo nào chả phải nghi ngờ gì khi cấu trúc này chỉ cho phép con mồi giãy giụa về một hướng, là hướng đến một BỮA ĂN TỐI. Tôi liền ghi chép nhận định này vào Sổ Tay.

Tôi quan sát thấy cảm xúc của chó thường biểu hiện rất rõ ràng qua chuyển động của lông mày. Tôi ghi lại: Vì sao chó lại có lông mày? Vì sao chó cần có lông mày?

Tôi hỏi Harry nhưng anh không biết. Anh bảo, “Đi mà hỏi ông nội ấy, mấy điều này thì chắc ông biết mà.”

Nhưng tôi không làm theo lời khuyên của anh. Ông sở hữu một đôi lông mày rậm rạp đầy vẻ hung tợn, nhìn như của loài rồng vậy, và nói chung ông quá oai nghiêm làm tôi cảm giác mình thật nhỏ bé, như một đứa trẻ sơ sinh vậy. Mà theo tôi nhớ thì ông cũng chưa trò chuyện với tôi bao giờ, và thật ra tôi cũng chưa chắc ông có biết tên tôi không nữa.

Tiếp đó tôi chuyển qua để ý đến lũ chim. Chẳng biết vì lý do gì mà năm đó ở chỗ chúng tôi xuất hiện rất nhiều chim giáo chủ. Harry làm tôi sướng rơn người khi anh nói rằng bọn tôi sẽ thu hoạch được một mẻ lớn, cứ như là chúng tôi đang tính toán về số lượng, gom góp những cái xác tươi roi rói của chúng rồi treo lủng lẳng trên những tán cây dọc theo con đường trải sỏi làm vật trang trí Noel. Do hạn hán đã làm hao hụt đáng kể lượng thức ăn của chúng như hạt giống hay quả ngọt thông thường nên vào thời điểm này, những con chim đực ra sức chống chọi một cách quyết liệt để giành quyền kiểm soát trên từng cây gỗ sếu. Kết quả cho cuộc chiến này được tôi phát hiện qua một xác chim tơi tả nằm trong bụi cây, thật là một cảnh tượng bất ngờ và buồn bã. Trong buổi sáng vài ngày hôm sau, một con chim mái sà xuống chiếc ghế đan bằng liễu gai cạnh chỗ tôi ngồi. Tôi im lặng bất động. Lúc đó dường như tôi có thể vươn ngón tay ra chạm lấy nó. Có một cục gì đó màu nâu xám đang đong đưa trên chiếc mỏ màu mơ nhạt của nó. Nhìn có vẻ như là một chú chuột nhắt, nhỏ như cái đê (dùng để bảo vệ và để đẩy kim chỉ khâu vá), đang hấp hối hay đã tắt thở rồi.

Khi tôi đề cập vấn đề này trong bữa ăn tối, bố bảo, “Calpurnia à, chim giáo chủ không ăn chuột đâu. Chúng chỉ ăn thực vật thôi. Này Sam Houston, lấy hộ bố khoai tây nào.”

“Vâng, con chỉ nói vậy thôi, thưa bố,” tôi ngượng ngùng đáp, và sau đó thì cảm thấy giận bản thân vì không dám lên tiếng bảo vệ cho điều chính mắt mình thấy. Mỗi lần nghĩ về biểu hiện bất thường của mấy con chim giáo chủ làm tôi cảm thấy kinh tởm. Chắc tiếp theo chúng sẽ ăn thịt cả đồng loại mất. Tối hôm đó, trước khi đi ngủ, tôi lấy một ca đầy những hạt yến mạch từ chuồng ngựa rồi rải đều dọc bờ sông. Rồi tôi ghi vào Sổ Tay: Cứ theo tình hình không đủ lương thực thế này thì năm tới sẽ còn được bao nhiêu chú chim giáo chủ nhỉ? Nhớ đếm đấy nhé.

Tiêu đề tiếp theo trong Sổ Tay của tôi là về hai chủng loại hoàn toàn khác nhau của châu chấu xuất hiện vào mùa hè năm ấy. Chủng loại chúng tôi thường thấy có màu xanh lục tươi với những đốm đen tô điểm dọc thân. Ngoài ra còn có những con màu vàng, to gấp đôi, lù đù, thân bóng như sáp và phốp pháp làm cho những nhánh cỏ chúng đáp xuống bị oằn xuống. Từ trước đến nay tôi chưa từng thấy loại này bao giờ cả. Tôi bèn thăm dò ý kiến của tất cả mọi người trong nhà (trừ ông nội) để tìm ra nguồn gốc của chủng loại màu vàng lạ kỳ này, nhưng chẳng ai biết cả. Nói cho cùng, chẳng có ai thèm để ý đến việc này chút nào.

Rốt cuộc tôi đành chọn phương án cuối cùng là đánh liều chui vào phòng thí nghiệm của ông nội. Tôi đẩy tấm vải bố dùng làm cửa tạm sang một bên rồi run rẩy đứng ngay trước ngưỡng cửa. Ông đang rót một thứ dung dịch trông bẩn thỉu màu nâu vào mấy cái bình cổ cong và cốc thí nghiệm trên bàn, ông giật mình ngạc nhiên ngước nhìn tôi. Nhưng ông chẳng màng kêu tôi vào. Tôi lập cập trình bày vấn đề nan giải về mấy con châu chấu trong khi ông đang lom lom dòm tôi như đang bối rối không biết đặt tôi vào đâu trong cái xó xỉnh này.

“Ồ,” ông ôn tồn đáp, “ông nghĩ một đứa trẻ thông minh như cháu sẽ tự tìm được câu trả lời mà thôi. Khi nào xong nhớ quay lại nói cho ông nghe nhé.” Nói rồi, ông quay lưng lại và tiếp tục hí hoáy ghi chép vào cuốn sổ của mình.

Cuộc đối thoại với rồng của tôi đã diễn ra như thế đấy. Một khởi đầu không đến nỗi tồi. Dù sao đi nữa thì ông cũng không phun ra lửa đốt cháy tôi, nhưng chủ yếu là ông chẳng giúp được gì cho tôi cả. Có lẽ nếu tôi kéo Harry đi theo thì ông sẽ chú ý đến tôi nhiều hơn chăng. Mặc dù ông cũng đã nói chuyện khá điềm đạm nhưng tôi cảm nhận được rằng ông cũng bực bội vì bị cắt ngang công việc. Và tôi cũng biết được ông đang làm gì. Chẳng hiểu vì lý do gì khiến ông tin tưởng rằng sẽ có thể tìm được cách chiết xuất ra rượu whisky từ trái hồ đào. Hình như là ông đã từng lý luận rằng, người ta đã có thể chế ra rượu ngon từ những bắp ngô và khoai tây tầm thường thì tại sao với quả hồ đào lại không thể? Và có Chúa Trời chứng giám một thực tế là chúng tôi đang sống ngập trong hai mươi bốn hecta hồ đào bạt ngàn nơi đây.

Tôi trở về phòng, ngồi săm soi câu đố về loài châu chấu của mình. Tôi có nuôi một chú châu chấu xanh trong lọ để trên bàn trang điểm, đành ngắm nó để lấy cảm hứng vậy. Lạ kì thay tôi không thể bắt được một con châu chấu vàng to lớn nào mặc dù chúng chậm chạp hơn rất nhiều.

“Tại sao chúng mày lại khác nhau vậy?” tôi hỏi, nhưng đáp lại là một sự im lặng.

Sáng hôm sau, tiếng ẩu đả vọng vào từ bức tường bên ngoài phòng đánh thức tôi dậy như thường lệ. Đó là tiếng động của mấy con chuột treo trở về tổ như mọi ngày. Ngay sau đó, tôi nghe tiếng chị SanJuanna mở cửa sổ phòng khách ngay bên dưới phòng tôi, tiếng thanh kim loại bên trong khung cửa trượt kêu lách cách. Tôi ngồi dậy trên chiếc giường bằng đồng cao cao của mình và chợt một ý nghĩ ùa tới, phải chăng châu chấu vàng là một loài hoàn toàn mới, khác hẳn với loài châu chấu xanh, và tôi - Calpurnia Virginia Tate - đã phát hiện ra chúng. Chẳng phải người có công phát hiện ra giống động vật mới sẽ được đặt tên cho nó hay sao? Tôi sẽ trở nên nổi tiếng! Tên tôi sẽ được ca tụng và lan truyền rộng rãi; thống đốc sẽ đến bắt tay tôi; trường đại học sẽ trao bằng chứng nhận cho tôi nữa chứ.

Nhưng mà bây giờ thì tôi phải làm gì? Làm sao để tôi tuyên bố phát hiện mới về thế giới thiên nhiên này đây? Tôi mơ hồ nghĩ đến việc viết thư cho ai đó để đăng ký phát hiện của mình, một ai đó có thẩm quyền ở Washington.

Tôi đã từng nghe cuộc thảo luận trên bàn giữa ông nội và mục sư của chúng tôi - ông Baker - về cuốn sách Nguồn gốc các loài của Charles Darwin; về cả những con khủng long bị vùi chôn dưới lòng đất ở Colorado; và ý nghĩa của chúng trong việc hình thành Cuốn sách của Nguồn Gốc. Họ nói về quy luật đào thải của Thế giới Tự nhiên, kẻ mạnh sẽ tồn tại, kẻ yếu sẽ dần bị diệt vong. Cô Harbottle, giáo viên trong trường của bọn tôi, buông lời phê phán ngài Darwin và cô có vẻ không đồng tình. Chắc hẳn rằng một cuốn sách viết về nguồn gốc của vạn vật sẽ cho tôi biết mình phải làm gì. Nhưng làm sao tôi có được nó đây trong khi cuộc tranh luận vẫn đang nổ ra dữ dội ngay góc nhà nhỏ của mình? Trong sách còn có cả một chương hữu ích là Cộng đồng Thế giới phẳng ở San Antonio nữa.

Chợt tôi nhớ ra Harry được giao nhiệm vụ đánh xe hàng có giường nằm đến Lockhart để mua lương thực. Lockhart là trung tâm của tỉnh Caldwell, ở đó có thư viện tỉnh và đương nhiên chứa rất nhiều sách. Điều tôi cần làm là năn nỉ nhờ Harry chở tôi đến đó, và Harry thì chẳng bao giờ có thể từ chối tôi điều gì cả.

ĐẾN LOCKHART, sau khi mua bán xong, Harry la cà ở góc đường mải mê ngắm dáng ngọc của các quý bà tản bộ qua lại trong những bộ đầm lộng lẫy mới nhất của các nhà thiết kế địa phương. Tôi thì thầm lời xin phép rồi khẽ lướt qua khoảng sân của trụ sở tòa án. Đến thư viện, tôi cảm nhận được sự mát mẻ và mờ tối. Tôi lững thững cất bước đến bàn quầy, bà cô thư viện đang đưa vài cuốn cho một người đàn ông mập mạp trong bộ cánh bằng vải lanh trắng. Sắp đến lượt tôi rồi. Ngay lúc đó, chợt một người phụ nữ xuất hiện cùng đứa con trai nhỏ. Hóa ra là bà Ogletree cùng cậu bé Georgie mới được 6 tuổi. Georgie và tôi học cùng một cô giáo dạy đàn dương cầm, và điều đó cũng có nghĩa là bà biết mẹ tôi.

Ôi thôi rồi. Bị bắt gặp quả tang trong lúc này là điều tôi không muốn nhất.

“Chào cháu Callie,” bà mở lời. “Mẹ cháu có đây không?”

“Mẹ cháu đang ở nhà, thưa cô Ogletree. Khỏe không, Georgie.”

“Ừm, chào Callie,” nhóc đáp. “Chị làm gì ở đây vậy?”

“Ừm... chỉ tìm vài cuốn sách thôi mà. À, cô chọn được sách rồi à. Cô lên đăng ký trước đi ạ.”

Tôi lùi lại và niềm nở vẫy ra hiệu cho hai mẹ con tiến lên phía trước.

“Ồ, như thế làm sao được, cám ơn cháu nhé Callie,” bà đáp. “Thật là ngoan quá đi mất. Lần sau gặp mẹ cháu cô phải khen cháu vài câu mới được.”

Thời gian trôi qua như cả thế kỉ, rồi họ cũng ra về. Tôi dáo dác nhìn quanh xem còn có ai đến nữa không. Bà quản thư nghiêm nghị nhìn tôi. Rồi tôi cũng tiến tới quầy và thỏ thẻ, “Thưa bà, bà có cuốn sách của ngài Darwin không ạ?”

Bà hơi chồm người ra khỏi quầy rồi hỏi, “Cháu vừa nói gì thế?”

“Sách của ngài Darwin, bà biết chứ ạ, cuốn Nguồn gốc các loài.”

Bà nhăn mặt rồi chụm tay ra sau tai. “Cháu nói lớn lên chút được không.”

Tôi run rẩy nói to hơn. “Sách của ngài Darwin. Cuốn ấy đấy ạ.”

Ánh mắt cau có của bà làm tôi cứng hết cả người lại, “Chắc chắn là bà không có giữ cuốn sách đó trong thư viện này. Nhưng ở thư viện Austin thì có đấy, và bà phải đặt họ gửi qua bưu điện đến đây. Tốn 50 cents, cháu 50 cents ở đó không?”

“Không thưa bà.” Tôi cảm thấy mặt mình đang đỏ bừng lên. Tôi đã bao giờ có được 50 cents trong cuộc đời này đâu.

“Còn nữa,” bà nói tiếp, “bà còn cần mẹ cháu viết thư cho phép cháu đọc loại sách đó nữa. Cháu thư đó không?”

“Không thưa bà,” tôi xấu hổ đáp. Cổ tôi bắt đầu ngứa ngáy, dường như báo trước rằng tất cả những điều gian dối sẽ bị lộ tẩy hết ra thôi.

Bà khịt mũi. “Vậy là không có rồi phải không. Bây giờ ta phải sắp xếp sách lên kệ nữa. Đừng làm phiền ta nữa nhé.”

Tôi muốn khóc òa lên vì tức giận và nhục nhã, nhưng tôi quyết không rơi nước mắt trước mụ già này. Tôi rời khỏi thư viện với sắc mặt tím tái và thấy Harry đang thơ thẩn trước tiệm tạp hóa. Anh nhìn tôi vẻ đầy lo ngại.

Tôi gãi lằn đỏ đang nổi trên cổ rồi hét lên, “Có thư viện để làm gì mà không cho người ta mượn sách chứ?”

Harry dáo dác nhìn quanh. “Em đang nói cái gì vậy?”

“Có mấy người không xứng đáng để quản lý thư viện,” tôi đáp. “Em muốn về nhà ngay.”

Đường về nhà thật dài và nóng bức trong chiếc xe chở đầy ắp hàng hóa, Harry ngoái đầu lại nhìn tôi. “Có chuyện gì thế, em gái cưng của anh?”

“Không gì cả,” tôi cáu kỉnh đáp. Mà thật sự cũng đâu có gì đâu ngoài việc tôi đang nghẹn trong cay đắng và tủi hổ, chẳng có tâm trạng gì để nói cả. Lần đầu tiên tôi cảm thấy cái nón rộng vành mẹ đưa tôi để chống tàn nhang đang đem lại một khoảnh khắc riêng tư thật hữu ích.

“Em có biết cái gì đang ở trong cái thùng kia không?” Harry hỏi. “Cái nằm ngay sau em đấy?” Tôi chẳng buồn đáp lại. Tôi không biết và cũng chẳng quan tâm. Tôi đang ghét cả thế giới này.

“Là một cái quạt gió đấy,” anh đáp, “mua cho mẹ.”

Nếu là bất cứ một người anh em nào khác hẳn tôi đã quát vào mặt anh: Đừng có vớ vẩn như vậy - làm gì có thứ đó trên đời này.

“Thật mà,” anh khẳng định. “Rồi em sẽ thấy.”

Về đến nhà, tôi không chịu được sự phấn khích của mọi người khi tháo dỡ hàng hóa xuống khỏi xe. Tôi bèn lủi ra sông. Tôi lột mũ, cởi phăng áo khoác, cởi hết cả váy rồi đầm mình xuống nước ngay giữa bầy rùa và nòng nọc đang bơi lội. Tốt lắm. Bà già thủ thư ấy vừa phá hoại ngày hôm nay của tôi và tôi đang muốn làm điều tương tự với một ai - hay một thứ gì đó. Tôi ngụp đầu xuống nước rồi hét thật lớn, thật dài, âm thanh vang dội lùng bùng trong tai. Tôi ngóc đầu lên, lấy hơi rồi làm lại một lần nữa. Và rồi thêm một lần nữa cho đỡ tức. Quả thật dòng nước mát đã làm dịu lòng tôi đi rất nhiều. Nói cho cùng, cuốn sách đó có ý nghĩa gì với tôi chứ? Thật sự chẳng có nghĩa lý gì cả. Một ngày nào đó tôi sẽ sở hữu tất cả các cuốn sách trên thế giới này, xếp đầy trong những kệ sách. Thậm chí tôi sẽ sống trong cả một tòa tháp đầy sách nữa kìa. Tôi sẽ vừa ăn đào vừa đọc sách suốt ngày. Lúc đó, nếu có những chàng hiệp sĩ trẻ tuổi khoác áo giáp, cưỡi trên lưng những con bạch mã và nài nỉ tôi buông sách xuống nghỉ ngơi đôi chút thì tôi sẽ lấy hột đào ném họ túi bụi đến khi họ chịu đầu hàng quay trở về nhà mới thôi.

Tôi nằm ngửa mặt lên trời ngắm nhìn đôi chim nhạn đang chao lượn trên mặt nước, nhào lộn như những nghệ sĩ xiếc mải mê đuổi bắt mấy con bọ vô hình. Mặc dù có nhiều thời gian tự do nhưng mùa hè này chẳng trôi qua theo ý tôi chút nào. Chẳng có ai quan tâm đến những Câu Hỏi mà tôi viết trong Sổ Tay. Và cũng chẳng có ai chịu giúp đỡ tôi tìm câu Trả Lời cả. Cái nóng đã cướp đi sinh lực và cuộc sống không chỉ của mọi người mà còn của mọi thứ khác nơi đây.

Chợt tôi nghĩ mà thương cho ngôi nhà tuy to lớn nhưng cũ kĩ của gia đình, giờ đang phải nằm phơi mình giữa đám cỏ xác xơ vàng úa. Thông thường, đám cỏ này xanh mướt và mềm mại lắm, luôn như gọi mời mọi người cởi bỏ giày dép ùa lên đó chơi trò Keng, nhưng giờ này chúng đã thành những chiếc gai nhọn mọc tua tủa hăm he chọc vào bàn chân của bất cứ ai vô tình bước vào. Màu cỏ úa này còn làm cho tôi khó khăn hơn trong việc phát hiện ra loài châu chấu vàng to lớn mới mẻ của mình. Chẳng thể nào thấy được trừ khi đạp phải chúng. Lúc đó chúng bay vù lên, nặng nề lách cách vỗ cánh rồi lại chợt biến mất vào trong bãi cỏ. Vì vậy cho dù chúng to béo chậm chạp nhưng muốn bắt được thì chẳng dễ chút nào. Điều này thật nực cười bởi trong khi đó, lũ châu chấu xanh tuy nhỏ nhắn, nhanh nhẹn hơn nhưng quá dễ nhìn thấy nên việc bắt chúng lại trở thành đơn giản hơn nhiều. Hằng ngày, lũ chim nuốt lấy nuốt để những chú châu chấu xanh, trong khi lũ châu chấu vàng trốn ngay bên cạnh chế nhạo những người anh em xấu số của chúng.

Và rồi tôi đã hiểu ra. Chẳng có một giống loài mới nào cả, tất cả bọn chúng đều thuộc một chủng loại châu chấu mà thôi. Loài khi sinh ra có màu vàng hơn sẽ sống sót lâu hơn qua mùa nắng hạn vì lũ chim không thể tìm thấy chúng trong đám cỏ vàng úa; còn loài châu chấu xanh thì đều bị chim ăn hết nên không kịp phát triển to lớn hơn. Lũ châu chấu vàng tồn tại được cũng nhờ thích nghi được tốt hơn với thời tiết nóng bức khô hạn này. Vậy là ngài Charles Darwin đã đúng. Bằng chứng đều nằm trong sân nhà tôi chứ chẳng ở đâu xa.

Tôi thả người trên mặt nước mà lòng vẫn chưa hết hụt hẫng, ngước nhìn lên trời để cố tìm ra sơ hở trong lý luận và kết luận của mình nhưng chẳng thể nghĩ được gì hơn. Rồi tôi vùng vẫy rẽ nước, nắm lấy lá khoai nước đu lên bờ; vắt khô áo khoác, mặc đồ vào thật nhanh và chạy về nhà.

Về đến nơi, tôi thấy cả nhà đang tụ tập xung quanh chiếc thùng đã mở toang ở tiền sảnh. Ở giữa lớp đệm nhồi nhét là một cái máy thấp bằng kim loại màu đen, có bốn cánh quạt ở trước và chiếc bình đựng nhiên liệu bằng thủy tinh phía sau; bố tôi đang đổ dầu hỏa vào trong đó. Ở giữa cánh quạt, một dòng chữ bằng đồng khắc nổi thành vòng tròn: Quạt Gió Tốt Nhất Chicago.

Chợt bố ra lệnh, “Đứng lùi hết lại.” Nói rồi bố châm mồi lửa cho cỗ máy hoạt động. Mùi dầu hỏa bay khắp phòng song song với luồng gió mát rượi. Mấy anh em trai của tôi hoan hô nồng nhiệt. Tôi cũng reo hò nhưng vì một lý do khác.

Từ đó, cuộc sống trong nhà tôi dễ thở hơn hẳn. Mẹ được nghỉ ngơi buổi trưa bên chiếc quạt máy; cuộc sống của mọi người đều tốt đẹp hơn, nhất là cho bố vì đôi lúc được mẹ gọi vào nghỉ cùng bà.

Phải cả tuần sau thì tôi mới dám trở lại thăm ông nội. Ông đang ngồi trên chiếc ghế bành xiêu vẹo, ruột ghế bị lũ chuột moi ra lòng thòng.

Tôi thưa, “Bây giờ cháu đã biết vì sao châu chấu lớn màu vàng còn nhỏ thì màu xanh rồi ạ.” Rồi tôi kể cho ông nghe về phát hiện của mình và làm thế nào tôi đã tìm ra điều đó. Hai chân tôi dịch chuyển qua lại còn ông thì lặng im nhìn tôi. Một lúc sau, ông hỏi, “Cháu tự tìm ra điều này mà không có ai giúp à?”

“Vâng thưa ông,” tôi đáp, và kể cho ông nghe về chuyến đi đầy xấu hổ đến thư viện Lockhart của mình. Ông nhìn tôi chằm chặp một lúc lâu bằng nét mặt kì lạ, chẳng biết là ngạc nhiên hay sửng sốt nữa; cứ như tôi là một chủng loại gì đó mà trước nay ông chưa từng gặp vậy. Ông bảo, “Đi theo ông.”

Trên đường vào nhà, ông chẳng hé nửa lời. Thôi rồi, tôi thật dại dột khi dám làm phiền lúc ông đang làm việc không những một mà đến hai lần. Chẳng lẽ ông đang định giao tôi cho mẹ để được giảng đạo một trận ra trò? Nhưng không như tôi nghĩ, ông lại dẫn tôi vào thư viện, nơi mà bọn trẻ không được phép lui tới; chắc ông định tự mình giảng đạo cho tôi đây mà. Sẽ như thế nào nhỉ, ông sẽ mắng mỏ cái lý thuyết vụng về của tôi hay sẽ vặn cổ tôi đây. Càng lúc nỗi sợ hãi của tôi càng tăng lên. Tôi - Callie Vee Tate của tỉnh Fentress, bang Texas - là cái quái gì mà dám suy ngẫm về những điều như vậy chứ? Tôi chẳng là cái thá gì cả.

Mặc dù đang sợ hãi nhưng tôi vẫn quan sát xung quanh thư viện một cách kĩ càng vì biết rằng mình chẳng còn cơ hội trở vào đây nữa. Thư viện tối lờ mờ mặc cho chiếc rèm cửa nặng nề màu xanh tím đã được vén lên bên khung cửa sổ hai cánh cao nghệu. Ngay cạnh cửa sổ là một chiếc ghế bành bằng da đồ sộ, kế đó là cái bàn mây đang đỡ trên mình chiếc đèn đọc sách. Vài cuốn sách nằm vương vãi trên sàn nhà cạnh chiếc ghế, và còn rất nhiều chồng sách khác trên giá cao được đóng từ những cây hồ đào đã khô héo (chúng tôi chả bao giờ thoát khỏi cái bóng của cây hồ đào xung quanh cuộc sống của mình cả). Kia là chiếc bàn bằng gỗ sồi to lớn, bên trên đặt toàn những thứ lạ kì thú vị: một cái trứng đà điểu đã nở đặt trên chân đứng bằng gỗ chạm trổ hoa văn, một chiếc kính hiển vi bọc trong da thuộc màu xanh lục, một chiếc răng của cá voi chạm khắc hình một người phụ nữ với bộ ngực quá khổ như chực bung ra khỏi áo ngực. Cuốn Kinh Thánh của gia đình cùng quyển từ điển to oạch và chiếc kính lúp nằm kề nhau kế bên cuốn album bọc vải nhung, bên trong chi chít hình ảnh của ông bà tổ tiên đã quá cố. Rồi, vậy là tôi sẽ được giảng một bài Kinh Thánh hay một bài học vì đã làm Xấu-Hổ-Cả-Dòng-Họ đây? Tôi đành đứng chờ xem ông sẽ quyết định chọn phương cách nào. Tôi đưa mắt nhìn xung quanh các bức tường được lấp đầy bởi những chiếc hộp nông, bên trong ghim đầy những loài côn trùng và bươm bướm đủ các sắc màu. Ở dưới mỗi vật thể sặc sỡ ấy đều được ông nội ghi chú bằng những miếng đồng khắc nổi rất tỉ mỉ. Tôi quên cả mọi thứ xung quanh và bước lại gần hơn để quan sát.

“Con gấu,” chợt ông nội lên tiếng.

Cái gì cơ chứ? Tôi thầm nghĩ.

“Cẩn thận con gấu kìa,” ông bảo, ngay vừa lúc tôi vấp chân phải tấm thảm bằng da gấu đen với chiếc mõm đang mở ra nhăn nhở, nanh vuốt của nó là chiếc bẫy luôn rình rập những ai bất cẩn.

“Vâng, cháu thấy con gấu rồi thưa ông!”

Ông nội rút chìa khóa từ trên dây đồng hồ ra. Rồi ông mở chiếc tủ bằng kính cao nghệu nhét đầy sách, chim nhồi bông, những chiếc lọ đựng xác thú và nhiều thứ quí hiếm khác nữa. Viễn cảnh đó quá hấp dẫn làm tôi không thể cưỡng lại được nên rón rén xích lại gần hơn để chiêm ngưỡng. Một con ta-tu[1] méo mó đập vào mắt tôi, nó bị uốn cong oằn lại lổn nhổn, rõ ràng là được làm bởi một tay không chuyên vụng về. Mà sao ông lại có được nó nhỉ? Tôi làm còn đẹp hơn thế nữa. Cạnh đó là một chiếc lọ thủy tinh dày dung tích khoảng 11 lít, bên trong là một con thú lạ nhất mà tôi chưa thấy qua bao giờ. Nó mập mạp, có nhiều tay, đôi mắt to sáng ngời nhìn như hai chiếc đĩa to qua lớp kính; nhìn con này nhiều có lẽ sẽ gặp ác mộng mất. Cái quái gì thế này nhỉ? Tôi vừa nghĩ vừa bước lại gần hơn.

Lúc này ông nội đang lục lọi trong đống sách. Tôi thấy cuốn Địa ngục của Dante nằm cạnh cuốn Khoa học về Khinh khí cầu. Ngoài ra còn có Thuyết tái tạo động vật có vúLuận đề về vẽ tranh phụ nữ khỏa thân. Rồi ông rút ra một quyển sách bọc bằng da dê dày màu xanh mạ vàng. Ông lấy tay áo chùi cho nó sạch bóng mặc dù tôi chả thấy có hạt bụi nào trên đó cả. Chợt ông cúi đầu rất kiểu cách và đưa nó cho tôi. Tôi nhìn xuống và thấy tựa sách Nguồn gốc các loài. Không ngờ tôi được nhận cuốn sách này ngay trong nhà của mình. Tôi đưa hai tay ra kính cẩn đón lấy, còn ông nội chỉ nhìn tôi mỉm cười mà thôi.

Và từ đó, tôi bắt đầu thân với ông nội.

❀ ❀ ❀

[1] Thú có vú thuộc họ Dasypodidae ở miền Nam Bắc Mỹ và Nam Mỹ.

Nguyên tác: The Evolution of Calpurnia Tate Người dịch: Lâm Thanh Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.