Một người yếu đuối vẫn có thể thực hiện được rất nhiều thứ dựa vào sức mạnh của sự chọn lọc nhân tạo của anh ta...
DẦU GAN CÁ. Vài tiếng sau, ám ảnh kinh hoàng của một muỗng đầy thứ dầu nồng nặc mùi ấy chợt xộc lên óc tôi khi nghe tiếng xe ngựa chở bố mẹ và ba đứa em trai lọc cọc vào sân nhà. Nếu mẹ nghĩ tôi ngất xỉu vì ốm thì tôi bị ép uống thuốc là cái chắc. Sau đó Harry nói cho tôi biết rằng anh và Fern quay lại hội chợ tìm bố mẹ để kể lại mọi việc. Harry nhấn mạnh về chi tiết cái lều đầy ngạt khói thuốc để tránh cho tôi một liều thuốc chết người, và dường như anh đã thành công. Thêm vào đó, tôi cố tình chạy ra trước hiên chào đón họ một cách hoạt bát và vui vẻ nhất có thể, với chiếc nơ giải thưởng trên áo, nhảy cỡn lên với tất cả sức lực của một bé gái khỏe mạnh.
“Nhìn này, nhìn con thắng được cái gì này. Mọi người có vui không?” tôi rối rít chỉ trỏ vào chiếc nơ của mình. Thật ra tôi cũng không phải là đứa lừa đảo ghê gớm gì, chỉ dùng một vấn đề có thật nhảm nhí nhất thế giới để đánh lạc hướng một cơn mưa hiểm họa mà thôi.
“Chúa ơi! Phần thưởng!” Bao nhiêu lời tán thưởng vang lên. Mẹ trông có vẻ ngỡ ngàng và rất hài lòng. Mẹ có nhắc tới dầu gan cá nhưng cũng hỏi, “Con có thấy ổn thật không Callie? Sắc mặt con không bình thường đâu. Alfred à, anh có nghĩ mình nên cho nó đi gặp bác sĩ Walker không?”
Bố bảo, “Nhìn nó ổn mà, nhưng nếu em lo lắng thì...”
“Con không bị ốm đâu ạ,” tôi khăng khăng. “Con chỉ phấn khích quá vì được giải thưởng, chỉ vậy thôi.”
Jim Bowie chất vấn, “Sao chị lại được nơ trắng trong khi Travis được nơ xanh vậy?”
“Vì chị rất đặc biệt J.B. à.”
“Thật không? Chúa ơi, chị Callie.”
“Không, không đâu, chị đùa với em đấy. Nơ xanh giá trị hơn nơ trắng nhiều. Travis và Bunny mới giành giải vinh dự nhất đấy.” Khi nói ra điều này, tôi sợ mẹ bắt phải giải thích rõ ràng về tác phẩm của mình, nhưng bà vẫn đang bận ngắm nhìn chiếc nơ của tôi, mắt long lanh. Thật kì lạ. Sau đó tôi nhận ra rằng mẹ không hề biết, cũng có thể là bà không để ý, hay bà không đi xem lều dự thi, hoặc là Lula và Dovie đã tháo tác phẩm dự thi của họ trước khi bà đến. Mẹ tỏ ra rất lấy làm hài lòng. Tôi có bắt buộc phải tự thú với bà không nhỉ?
“J.B. này,” tôi nói lớn, “đan đăng-ten không được chú trọng lắm năm nay.”
“Hả?”
Tôi liếc nhìn mẹ, bà đang trò chuyện cùng Travis.
Tôi cao giọng. “Những tác phẩm dự thi không quá xuất sắc.”
“Cái... gì...”
“Ai cũng có thể giành nơ giải thưởng cả J.B. ạ, ý chị là vậy đấy.”
“Sao chị nói lớn vậy? Chị cho em chiếc nơ được không? Em chưa bao giờ thắng được Giải Thưởng Ðếm Ðom Ðóm cả. Em muốn có chiếc nơ.”
Mẹ dường như chẳng nghe tôi nói gì. Dũng khí của tôi, ngay từ đầu đã lưỡng lự và yếu ớt, nay có vẻ tan đi hết. Tôi tháo cái thứ gọi là giải thưởng ra rồi dán lên áo J.B., nó liền lí lắc chạy đi tự ngắm nghía mình trước gương trong đại sảnh. Mẹ bước lên bậc thang để tháo nón ra.
“Mẹ ơi, anh Harry đâu?” tôi hỏi với theo.
Bà dừng chân ở đỉnh thang, một tay vịn cầu thang, một tay với lên chiếc móc treo nón. “Nó đi bộ cùng Fern Spitty về nhà con bé rồi,” bà đáp. Nét mặt mẹ có vẻ gì đó xìu xuống.
“Và...”
“Và gì nữa? Và không có gì cả.”
“Con chỉ không biết...” Tôi chỉ không biết đây là dấu hiệu tốt hay xấu thôi mà. Nhưng tôi không có ý can thiệp vào chuyện này.
“Ðừng có nghĩ lung tung nữa, Calpurnia. Mỗi lần con nghĩ ngợi là có chuyện ngay thôi.” Mẹ tiếp tục bước lên cầu thang. “Và đừng có can thiệp vào đấy.”
Lại nữa rồi, mẹ lại đọc được ý nghĩ của tôi rồi. Thật đáng sợ. Và tôi là người nguy hiểm à? Thật nực cười. Ít nhất tôi cũng biết được: Fern là dấu hiệu tốt. Nhưng nếu mẹ cho rằng việc anh Harry tán tỉnh chị Fern là tốt thì ước vọng cho anh Harry học đại học để đâu? Tôi chẳng hiểu nổi nữa.
VÀI NGÀY SAU, Harry đến nhà Spitty ở đường San Marcos để dùng bữa tối. Khi anh về nhà thì mọi người gần như đã đi ngủ hết. Tôi để ý rằng chẳng ai hỏi han anh điều gì trong bữa sáng hôm sau cả. Tôi định mở miệng hỏi một hai lần gì đó nhưng rồi lại thôi. Sau đó, chị Fern cùng bố mẹ đến nhà tôi dùng trà chiều vào chủ nhật. Ðiều này rất trái ngược với những nghi thức trang trọng mà gia đình tôi thường làm nhiều năm qua. Tôi tự hỏi sao họ lại đến uống trà mà không phải đến ăn tối. Chuyện này có ảnh hưởng gì đến việc bọn trẻ chúng tôi bị xua đuổi khỏi những trò tiêu khiển thượng lưu vào buổi chiều này không? Hay vì ông nội sẽ không bao giờ tham gia vào những buổi trà chiều thế này?
Tôi nhìn thấy Fern đến trước khi bọn tôi bị bắt ra ngoài chơi (đồng nghĩa với việc biến đi cho khuất mắt). Chị vận một chiếc đầm lụa màu hoa hồng. Chiếc nón là sự kết hợp hài hòa giữa vải the và những chiếc lông vũ, được nhuộm tiệp màu với áo đầm. Từ chị toát ra một vẻ quyến rũ, không như cô nàng Goodacre đáng ghét kia.
Tôi đi ra ngoài qua đường bếp. Cô Viola đang cúi người bên chiếc bánh tinh xảo, nín thở để đặt mấy viên sô-cô-la đường cuối cùng làm vật trang trí, nhìn như mấy cục vàng nhỏ tí ấy lại ăn được, và giòn tan tuyệt vời giữa hai hàm răng. SanJuanna thì đang sắp xếp bánh sandwich dài và kẹo hình bông hoa lên chiếc khay bạc. Chẳng ai ngước lên nhìn tôi. Không khí thật căng thẳng. Cả hai cùng mặc bộ đồ sẫm màu tươm tất và đeo tạp dề trắng phau dùng cho các buổi lễ, từ vai hai miếng đăng-ten dựng đứng lên cứ như đôi cánh vậy. Tôi bước ra cửa sau đến phòng thí nghiệm. Tại sao phải tốn thời gian để “đi chơi” trong khi tôi có thể dành thời gian bổ ích hơn với ông nội chứ? Ông chẳng bao giờ cho là nguy hiểm mỗi khi tôi tự hỏi điều gì mà còn luôn khuyến khích nữa cơ.
“Chào cháu, Calpurnia,” ông nói. “Cháu không uống trà chiều hôm nay à?”
“Mẹ bảo chúng cháu phải ra ngoài chơi khi nhà Spitty đến chơi. Chắc mẹ nghĩ cháu sẽ dọa họ chết ngất đấy.”
“Chắc là vậy,” ông bảo, “nhưng vì sao Margaret nghĩ cháu là đứa trẻ đáng sợ thì ông không hiểu.”
“Cám ơn ông. Cháu cũng không hiểu.”
“Tốt rồi, vậy là ông cháu mình đồng quan điểm. Cho cái lọ này vào đợt thí nghiệm tiếp theo đi cháu.”
Hai ông cháu bận bịu trong phòng thí nghiệm cũ kĩ trong khi buổi khiêu vũ hợp đôi đang diễn ra trong phòng khách.
“Buồn cười thật” tôi bảo, “con gái thì phải xinh đẹp. Còn trong Tự nhiên thì giống đực mới là loài phải khoe mẽ. Nhìn chim giáo chủ, nhìn con công thì biết. Sao chúng lại khác với ta nhỉ?”
“Vì giống cái là loài được chọn lựa trong Tự nhiên,” ông giải thích, “vì vậy giống đực phải khoác lên mình bộ cánh đẹp nhất để gây chú ý. Còn các anh em trai của cháu thì được quyền chọn bạn gái, vì vậy mấy cô nàng ấy phải ăn diện thật đẹp để bắt mắt họ chứ.”
“Có quá nhiều thứ phải làm,” tôi bảo. “Nào là quần áo, nào là nón, rồi làm tóc nữa. Khi cháu đi diễn piano, mẹ đã tốn bao thời gian ăn diện cho cháu, vì sao lại thế. Và cả áo ngực nữa! Bà Parsons ngất xỉu bao lần vào mùa hè vì mang áo ngực còn gì. Cháu không hiểu sao họ chịu nổi chúng nữa.”
“Ông cũng vậy. Mấy thứ đó thật vớ vẩn. Bà của cháu thì không thích mấy thứ đó đâu.”
“Ông à.”
“Hả?”
“Kể cho cháu về bà đi.”
“Cháu muốn biết gì về bà?”
“Tất cả mọi thứ. Cháu đã được biết gì về bà đâu. Bà mất trước khi cháu ra đời mà.”
“Vậy à? Ừ, đúng rồi nhỉ. Bà đã chịu những ngày cuối đời khốn khổ.”
“Bà có hứng thú về khoa học không ạ?”
“Nói chung là không. Cháu nên nhớ rằng thời gian đó mọi người đều cực khổ vực dậy sau cuộc chiến. Nền kinh tế trì trệ. Lúc đó ông chỉ lo xây dựng doanh nghiệp và không có chút thời gian nào để nghiên cứu về thế giới tự nhiên hay bất cứ thứ gì khác. Ðưa ông chiếc lọ kia nào. Bà là một người nội trợ cừ khôi và rất thích đọc tiểu thuyết trong thời gian rảnh rỗi.”
“Cháu giật giải làm đăng-ten đấy ông.” Tôi nhăn nhó.
“Vậy à? Ông không nghĩ rằng cháu lại có hứng thú với mấy thứ đó.”
“Cháu đâu có thích. Cháu ghét nó và cũng chẳng có chút năng khiếu nào cả. Chỉ là cháu chưa nói cho mẹ biết là cháu đứng thứ ba trong cuộc thi chỉ có ba người thôi ông ạ.”
“Chẳng có vấn đề gì đâu. Ðan đăng-ten cũng không phải là thế mạnh của ông.”
Tôi nghĩ là ông đang đùa, nhưng ai mà biết được. Hai ông cháu vai kề vai làm thí nghiệm được vài giờ yên ả đến khi cô Viola rung chuông báo hiệu giờ ăn tối. Tôi thật biết ơn những giờ phút ấy. Bao lâu nay tôi thật sự rất nhớ ông.