Quyền của Eva

Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 3
ĐẠI CHIẾN CHUỘT TREO[9]

❊ ❊ ❊

Cây trồng từ một loại quả giống nhau, và những con vật đẻ cùng lứa, đôi khi lại khác nhau một cách đáng kể, mặc dù cả con nhỏ hay cha mẹ... đều được trưởng thành trong cùng một điều kiện sống...

ĐẠI CHIẾN CHUỘT TREO LẠI NỔ RA làm náo động cả hiên sau nhà. Một cuộc chiến có vẻ thụ động, không có xung đột ghê gớm nhưng có thể nói là rất dữ dội. Đêm nào sự việc cũng diễn ra như nhau và thật tiện lợi cho tôi nghiên cứu về nó. Một chú chuột treo béo ú, bụi bặm xuất hiện từ dưới sàn nhà, đi săn đêm tìm bữa sáng từ những mẩu thức ăn vụn hay mấy thứ linh tinh trong nhà bếp. Bất thình lình, nó bắt gặp một chú Mèo Sân Vườn đang lảng vảng ở hiên sau nhà như đang tuần tiễu trên địa phận riêng của nó. Cả hai cùng bị sốc, mắt mở to nhìn nhau trừng trừng, rồi chú chuột treo gầm gừ và bất thần phóng xuống đất. Chú nằm im, thân thể cứng đơ không động đậy, môi nhăn nhó hở ra hàm răng nhỏ nhọn như kim. Mắt chú im lìm, lông dựng đứng. Đây chính là hình ảnh Chuột Treo Giả Chết.

Con mèo ngơ ngẩn nhìn, lần nào gặp phải tình cảnh này phản ứng của loài mèo cũng như vậy. Nó thận trọng tiến lại gần cái xác rồi ngửi ngửi xung quanh thăm dò. Sau đó nó cuộn mình lại nhìn giống ổ bánh mì nhằm thể hiện lòng kiêu hãnh của loài mèo trước đối thủ vừa bị đánh bại, nhiệm vụ của nó đã hoàn thành mỹ mãn. Một lúc sau, chú mèo bắt đầu chán rồi lảng vảng đi lại quanh cửa bếp chờ Viola bố thí cho vài miếng ăn. Cái xác chuột nằm bất động thêm 5 phút nữa rồi chẳng đợi báo động hay nghi lễ tưởng niệm gì, lừ đừ chống chân đứng dậy, tiếp tục cất bước đi tìm thức ăn như chưa từng có gì vừa xảy ra.

Cảnh tượng này cứ thế tiếp diễn hằng đêm, suốt cả mùa hè. Cả tôi và hai phe thù địch đều không nhàm chán. Thật tuyệt khi một cuộc chiến không đổ máu diễn ra và cả hai bên đều thu được chiến thắng cho riêng mình.

Mỗi sáng, cứ đúng 5 giờ là chú chuột treo trở về tổ. Nó luồn xuống dưới sàn nhà rồi trèo lên bức tường đằng sau giường ngủ của tôi. Tiếng sột soạt nó gây ra luôn đánh thức tôi hiệu quả không thua gì một chiếc đồng hồ, ôi chú chuột treo 5 giờ của tôi. Tôi không kể cho ai nghe chuyện này vì nếu mẹ biết thì hẳn bà sẽ bảo anh Alberto, chồng chị SanJuanna, bịt lại cái lỗ dưới sàn nhà và đặt bẫy bắt chúng. Còn bản thân tôi thì không khó chịu khi chung đụng dưới một mái nhà với mấy chú chuột treo này. (Tôi đặt một câu hỏi trong Sổ Tay: Làm sao lũ chuột treo lại có thể biết giờ chính xác như vậy?)

Tôi hỏi ông nội về vấn đề này. Ông trả lời một cách nghiêm túc, “Có lẽ nó đeo đồng hồ trong túi như con thỏ của Alice[1].”

“À, chắc là vậy thật,” tôi vừa nói vừa nhịn cười rồi ghi chú vào Sổ Tay để kể cho cô bạn thân nhất của mình, Lula Gates.

MỘT CHIỀU NỌ, trong khi ông nội đang mày mò mấy công thức để chế biến rượu hồ đào, tôi ngồi trên chiếc ghế cao ngay kế cùi chỏ của ông, nhìn ông làm việc. Khu ở cũ của nô lệ được ông trưng dụng làm chỗ treo mười mấy cái đèn dầu, lủng lẳng ở những độ cao khác nhau, đi qua phải dè chừng tránh không bị va vào đầu. Cả cụm đèn lung linh ánh vàng tràn ngập không gian nhỏ bé. Mẹ lúc nào cũng sợ đèn dầu đổ làm cháy nhà nên bảo chú Albert đặt những thùng cát ẩm lớn (lấy từ dưới sông lên) ở cả bốn góc phòng. Cửa sổ ở đây không gắn kính, chỉ treo hờ mấy tấm bạt hay mấy cái túi cói để chống côn trùng bay vào. Và nơi đây đã trở thành thiên đường trú ngụ của loài bướm đêm.

Ông đã bỏ nhiều năm trời để tìm cách chiết xuất rượu từ quả hồ đào. Thực nghiệm này chẳng làm tôi thích thú gì nhưng ông vừa làm việc vừa nói chuyện với tôi, và những đề tài đó thì không bao giờ làm tôi chán cả. Tôi lấy đồ đạc cho ông, chuốt nhọn mấy cây bút chì trong cái chén bằng gỗ bào.

Mỗi khi công việc tiến triển tốt đẹp, ông thường khe khẽ ngâm nga mấy khúc nhạc vui của Vivaldi; còn khi không tốt, ông lại khẽ rít hơi qua bộ râu rậm rạp. Tôi chọn ngay lúc ông đang ngâm nga một nốt nhạc cao mà hỏi, “Ông à, ông luôn là một nhà nghiên cứu tự nhiên học phải không ạ?”

“Cháu hỏi gì?” ông hỏi. Ông đưa một chiếc cốc chứa chất lỏng màu nâu đặc vào dưới ngọn đèn lập lòe ấm áp rồi đeo kính lên, ngắm nghía lớp cặn kết tủa dưới đáy cốc, nhìn giống lớp bùn dưới sông. “Ồ. Không, không phải lúc nào cũng là nhà nghiên cứu tự nhiên học đâu cháu.”

“Vậy ông nội của ông có phải là nhà nghiên cứu tự nhiên học không ạ?” tôi hỏi tiếp.

“Ông cũng chẳng biết nữa,” ông đáp. “Ông chẳng biết nhiều về ông ấy, ông nội của ông mất lúc ông còn nhỏ lắm.” Ông nhấp một ngụm chất lỏng sẫm màu đó rồi đổi sắc mặt. Chiết xuất, nhấp thử, rồi nhăn mặt. Sau đó thường là ông sẽ chửi thề. Đó là những gì ông thường làm.

“Khốn kiếp thật,” ông lên tiếng, “cái thứ nước gớm ghiếc này...”

Vậy là chưa có tiến triển gì tốt đẹp cả.

“Ông nội của ông mất lúc ông mấy tuổi ạ?” tôi hỏi.

“Ông nghĩ khoảng 5 tuổi.” Và dường như đoán trước được câu hỏi tiếp theo của tôi ông tiếp lời. “Ông ấy mất vì những vết thương còn lại sau cuộc chiến với người Cô-man-si thuộc mấy bộ tộc ở Oklahoma.”

“Chà, vậy ông ấy có thích thú về khoa học không?” tôi hỏi.

“Theo ông biết là không. Ông ấy buôn bán da hải ly và da bò; ông không nghĩ rằng ông ấy quan tâm đến cái gì khác ngoài việc làm ăn. Lọc chất lỏng trong này ra giùm ông nhé? Rồi đổ vào cái chai kia và đề ngày hôm nay lên nhãn. Hi vọng rằng lần sau sẽ tốt hơn. Không thể có chuyện tệ hơn cái thứ này được.”

Tôi cầm lấy cái cốc từ tay ông rồi lược chất lỏng trong đó qua cái rây vào trong một chiếc chai rỗng hiệu Lydia Pinkham của mẹ. Đôi khi mẹ cũng thường phải hớp vài ngụm cái thứ này khi bị mấy anh em tôi chọc tức (mà việc này xảy ra khá thường xuyên). Tôi nút chai lại rồi dùng bút chì sáp màu đỏ viết lên: ngày 1 tháng 7 năm 1899. Rồi tôi xếp nó lên kệ cạnh nhiều “đồng chí” thất bại khác của nó.

“Vậy ông bắt đầu thích thú đến khoa học như thế nào?” tôi hỏi.

Ông dừng lại rồi trầm ngâm nhìn ra ngoài cửa sổ, nhưng tôi biết rằng về đêm thì chẳng thể nhìn ra bên ngoài qua tấm vải bao bì, mà chỉ ngó từ ngoài vào trong mà thôi.

Một lúc sau ông cất lời, “Điều đó bắt đầu từ một buổi chạng vạng năm 1865. Mọi chuyện như vừa xảy ra ngày hôm qua. Thật ra, ông còn nhớ về ngày đó hơn những gì của ngày hôm qua ấy chứ. Tuổi già thật oan nghiệt, Calpurnia ạ!” Ông nhìn tôi rồi ôn tồn bảo, “đừng để điều đó xảy đến với cháu nhé!”

“Không đâu thưa ông.” Tôi đáp.

“Lúc ấy ông là sĩ quan lãnh đạo một nhóm nài ngựa vòng quanh Texas. Tất cả bọn họ đều là những người nài ngựa cừ khôi, họ trưởng thành trên lưng ngựa mà. Ai cũng đều nghĩ mình sẽ trở thành kỵ binh nhưng rốt cuộc họ lại bị bổ nhiệm làm bộ binh. Mỗi ngày phải hành quân như vậy, trời ạ, khi họ biết sự thật, họ than phiền dữ dội! Chắc hẳn cháu chưa từng được nghe những lời tục tĩu đầy sáng tạo như vậy đâu. Họ ghét đi bộ lắm, đừng nói gì đến việc phải diễu binh. Nhưng ngoài sự phản kháng thì dù sao họ cũng là những con người ngoan cường.

“Vào tháng tư năm ấy, khi hoàng hôn buông xuống, bọn ông dựng trại bên dòng sông Sabine. Khi thấy bóng người trinh sát, ông vẫy tay ra hiệu và đột nhiên một chuyện phi thường xảy ra, một vật gì đó bay đâm sầm vào tay ông. Trong cơn bàng hoàng, tay ông nắm chặt lấy vật thể đó và ông càng ngạc nhiên hơn nữa khi cảm thấy được lớp lông ấm trong lòng bàn tay mình. Thì ra trong tay ông đang nắm chặt một chú dơi con nằm yên đầy kinh ngạc.”

“Ôi không,” tôi thì thào. “Không thể nào.”

“Thật đấy,” ông bảo. “Lúc đó ông cũng choáng váng như một chú cừu non.”

“Rồi ông làm gì?”

“Ông và chú dơi trao đổi ánh mắt trong vài phút. Chú ta có đôi mắt lanh lợi và bộ lông ấm áp, mềm mại. Nhìn không khác một chú cáo con là mấy. Đôi cánh như có lớp da, nhưng không lạnh ngắt và kinh tởm đâu nhé, trái lại, nó rất mềm dẻo và ấm áp như đôi găng trẻ con được mẹ ấp ủ vậy.”

Tôi vẩn vơ suy nghĩ nếu có chú dơi bay vào tay mình thì sao. Chắc tôi sẽ hét lên và buông nó xuống ngay. Có khi tôi ngất xỉu mất không chừng. Tôi chợt nghĩ về trường hợp này nhiều hơn. Tôi chưa ngất đi bao giờ nhưng xem ra đó cũng là một trải nghiệm thú vị đấy chứ.

“Ông lấy chiếc khăn tay cuối cùng của mình bọc nó lại rồi cho vào trong áo để giữ ấm cho nó. Chú dơi chẳng hề phản kháng gì trước những hành động này của ông cả. Rồi ông đem nó vào lều. Trước khi ngủ, ông lấy nó ra, chúc ngược đầu nó xuống rồi treo chân nó lên sợi dây phơi quần áo. Mặc dù nó còn lạ lẫm với mọi vật xung quanh, chân nó vẫn quắp lấy sợi dây, ông nghĩ đó là phản ứng tự nhiên, rồi nó cuộn mình lại treo mình lủng lẳng như đang ở ngoài thiên nhiên hoang dã vậy; lúc này nó như một gói hàng nho nhỏ rất gọn gàng và nhìn thật thích mắt.

“Ông để miếng bạt lều mở toang, rồi ông chợt bừng tỉnh trong tiết trời đêm lạnh giá và run rẩy - một từ diễn tả chính xác cảm giác của ông lúc ấy - khi nhìn thấy chú dơi lượn một vòng quanh đầu mình rồi mất hút trong bóng đêm. Trong lòng ông thầm cầu Chúa ban phước lành cho nó.”

Nghe ông kể, lòng tôi bỗng trào lên một cảm giác cực kỳ lạ lẫm, không biết nên vui mừng hay rơi lệ nữa.

“Nhưng câu chuyện chưa chấm dứt ở đó,” ông tiếp lời. “Đưa ông cái ống cao su dài kia đi cháu. Hôm sau ông thức dậy trước bình minh. Lúc đó bọn ông không có lửa nên lính đưa cho ông một thau nước lạnh để làm vệ sinh buổi sáng. Ông mặc đồ và chuẩn bị rời khỏi lều trong khi gió ù ù bên tai. Và thật ngạc nhiên khi anh bạn của ông đã trở lại, đang treo mình lủng lẳng trên sợi dây phơi đồ.”

“Nó quay lại hả ông?” tôi kêu lên.

“Ừm, chính chú dơi thân yêu của ông đấy,” ông đáp, “hay ông tưởng chính là nó. Trong mắt thường mấy con dơi trông giống như nhau cả mà. Nó cứ lủng lẳng ở đó, điềm tĩnh nhìn ông rồi ngủ thiếp đi. Ông đoán nó là con đực, nhưng đương nhiên lại chẳng có chứng cớ xác thực nào cho phỏng đoán đó cả. Sau này, việc xác định giới tính của dơi con rất đơn giản, nhưng vào lúc đó thì ông hoàn toàn mù tịt.”

“Ông có giữ nó lại không ạ?” tôi hỏi. “Có không ông?”

“Chú ta làm trú khách trong lều cả ngày hôm ấy và đánh một giấc ngon lành.” Rồi ông mỉm cười, nụ cười sáng lên trong ánh vàng lập lòe của đèn dầu, đắm chìm trong kí ức tươi đẹp. Bỗng nét mặt ông thay đổi.

“Ông không bao giờ quên ngày hôm ấy,” ông kể tiếp. “Quân đội Liên bang tấn công bọn ông hai tiếng sau khi mặt trời mọc và truy đuổi đến khi mặt trời lặn. Bọn chúng kéo theo hai khẩu đại bác 12 pound[2] và oanh tạc bọn ông tơi bời hoa lá đến khi tai ông không còn cảm nhận được tiếng pháo và mắt không còn nhìn thấy gì trong khói bụi mù mịt. Đạn Minie[3] gây thiệt hại nặng nề. Bọn ông bị siết chặt trong vòng vây địch.

“Cả ngày hôm đó ông cố gắng phá vòng vây, khích lệ binh sĩ bằng mọi cách. Ông cử một rồi hai người để chuyển tin cầu cứu đến Thiếu tá Duncan ở hạ lưu, nhưng không một ai trở lại.” Nói tới đây, ông đưa tay lên cọ cọ vào trán.

“Cứ mỗi lần đạn pháo vượt qua lằn ranh, ông lại lo âu nhìn về phía cái lều. Cháu biết không, ông thật sự lo lắng cho chú dơi. Ông lo rằng tiếng ồn và khói sẽ làm nó hoảng sợ, nhỡ nó dại dột bay ra lạc vào đường đạn thì sao. Bấy giờ, nó đã chính thức trở thành con dơi của ông rồi, cháu thấy không?”

Tôi gật đầu. Tôi nhận ra điều đó chứ.

“Khói bụi thuốc súng ngập tràn khắp không gian đến khi mặt trời bị che phủ, không thể thấy quá 5 yard[4] về cả hai phía.

“Đến buổi hoàng hôn, cuộc tấn công dịu dần, ông nghĩ mấy tên lính Liên bang đang chia nhau bữa tối. Trong khi đó, binh lính của ông lẩn trốn trong hầm và ăn bánh quy nguội lạnh. Những người có bút viết tranh thủ biên vài dòng cho gia đình rồi dúi vào tay ông và năn nỉ rằng nếu ông còn sống thì hãy gửi đi giùm họ. Rất nhiều người siết chặt tay ông tạm biệt, yêu cầu ông cầu nguyện cho linh hồn và người nhà của họ. Một binh sĩ theo ông đến tận lều nài nỉ ông viết hộ lá thư. Ông mở cửa lều và mong rằng chú dơi đã hoảng sợ và bay đi mất.”

Tôi nín thở và ngồi im như tượng.

“Nhưng nó vẫn còn đấy, ngủ say. Theo ông thấy thì nó chẳng thay đổi tư thế treo ngược ấy cả ngày. Cho dù cậu binh sĩ có nhìn thấy nó thì cũng chẳng để ý, tâm trí cậu ta bây giờ chỉ hướng về gia đình nơi xa xôi.

“Ông viết thư cho mẹ và chị cậu ấy ở Elgin. Cậu bảo họ đừng quá đau buồn và nhớ thu hoạch bắp vào tháng 6. Cậu ấy kể rằng ở đó chẳng còn người đàn ông nào và cậu nghĩ rằng không có cậu, họ sẽ chẳng thể hoàn thành công việc đó được. Nghĩ đến hoàn cảnh của gia đình mình, cậu ứa nước mắt. Lúc đó cậu ấy chẳng nghĩ đến bản thân mình nữa. Suốt cả đêm ấy, ông nắm tay và bảo cậu ấy hãy tin rằng ông sẽ gặp người nhà của cậu. Cậu ấy ôm chầm lấy ông và kêu ông là Đại úy, miệng không ngừng cám ơn rằng ông đã giải tỏa được tâm lý cho cậu, và cậu sẽ yên lòng nhắm mắt. Sau đó cậu ấy rời khỏi lều ông và quay trở lại vị trí nơi chiến tuyến.”

Ông rút chiếc khăn tay to lớn màu trắng ra khỏi túi và lau nước mắt.

“Rồi ông nhìn về chú dơi,” ông kể tiếp. “Ông kéo ghế lên rồi quan sát nó ở khoảng cách rất gần. Nó thật hoàn hảo về mọi mặt.Thật hoàn hảo. Có lẽ nó cảm nhận được sự có mặt của ông vì ông thấy nó khẽ chớp mắt nhìn ông. Nó cực kì điềm tĩnh. Tiếng ồn và sự rung lắc bên ngoài dường như chẳng ảnh hưởng gì đến nó cả. Nó dang cánh ra trong giây lát, ngáp rồi lại cuộn mình và tiếp tục ngon giấc. Lúc đó, ông cảm giác rằng mình chẳng bao giờ muốn rời khỏi chiếc lều này nữa.

“Nhưng rồi đạn pháo lại tiếp tục nổ. Ông quan sát nó đến khi phải tiếp tục nhiệm vụ. Nhưng thật tình ông chẳng muốn đi chút nào.”

Hai ông cháu ngồi lặng im. Rồi tôi hỏi, “Anh ấy có chết không ạ?”

Ông nhìn tôi thắc mắc.

“Cái anh đến từ Elgin ấy ạ,” tôi nói rõ hơn.

“Cậu ấy không chết vào hôm đó.” Một lúc sau ông tiếp lời, “cậu ấy bị đạn pháo bắn vào đầu gối, rồi nằm đó trên bãi chiến trường, chết dần chết mòn, miệng vẫn liên tục đòi nước uống, nhớ đến mẹ và cầu xin sự tha thứ. Cả ngày hôm ấy bọn ông phải chịu đựng những tiếng than khóc cứ yếu dần đi, đến khi màn đêm buông xuống mới dám bò ra kéo họ vào. Bác sĩ quân y làm việc suốt cả đêm dưới ánh sáng của những cây nến lõi bấc leo lét trên đầu. Những binh sĩ bị thương nhẹ ông cho ngồi đợi. Những người bị thương quá nặng, ông sẽ để qua một bên, cho họ một bi-đông nước và một ít thuốc giảm đau và tất cả những thứ tốt nhất ông có thể lấy từ cha tuyên úy. Những người bị tan nát tay chân phải tiến hành cắt cụt tức thời để tránh bị mất máu đến chết hay bị lên mủ, bị hoại tử.

“Lúc mặt trời mọc là đến phiên cậu thanh niên đến từ Elgin. Cậu ấy đang rất yếu. Bọn ông bế cậu ấy lên bàn mổ, bấy giờ nó đang đóng đầy máu. Khi ông chụp chiếc phễu thuốc mê lên mặt thì cậu ấy nhìn ông rồi cười và nói, ‘Đừng lo cho tôi Đại úy ạ. Tôi không sao đâu.’

“Rồi ông kéo chân cậu ấy thật mạnh trong khi bác sĩ cưa. Đột nhiên cái chân rời ra trên tay ông, ông ôm lấy nó ngây ngô như một đứa trẻ. Cháu biết không, ông chẳng ngờ là chân con người lại nặng đến thế. Ông cứ đứng đó giữ lấy nó. Ông chẳng muốn quăng nó vào đống chân tay khác, nhưng rốt cuộc ông cũng phải làm như vậy.”

“Ông đã cứu được cậu ấy phải không ông?” tôi hỏi.

Một lúc sau, ông đáp, “Cậu ấy không tỉnh lại.” Ông nhìn chăm chăm vào góc phòng thật lâu rồi tiếp lời, “Hai ngày sau, bọn ông nhận được tin chiến tranh đã kết thúc. Họ ra lệnh cho bọn ông chưa được về nhà vội mà phải thu dọn mọi thứ dự trữ và dụng cụ, nhưng chẳng còn được bao nhiêu. Chỉ còn một nắm đạn, một hay hai pound đậu, một cái chăn ẩm mốc; chỉ còn lại bấy nhiêu cho phần trợ cấp thôi đấy. Ông biết là mình sẽ rất cần cái lều nhưng chú dơi vẫn còn đó. Ông chẳng thể bỏ nó lại nhưng cũng chẳng biết làm sao để đem nó theo. Rốt cuộc ông qua lều của bác sĩ phẫu thuật và trộm chiếc Cờ Kiểm Dịch trong rương. Cháu biết Cờ Kiểm Dịch là gì không?”

“Không ạ,” tôi thì thào.

“Nó là lá cờ thông báo bệnh vàng da - cần phải tránh xa tức thì. Bệnh này đã cướp đi cả ngàn người, quét sạch cả nhiều trung đội, có lẽ số người chết vì nó cũng nhiều như chết vì hỏa lực của quân Liên bang. Ông dùng dây da buộc lá cờ vào chiếc lều rồi khoét một lỗ trên nóc. Ông chắc rằng chú dơi sẽ được bình yên một thời gian. Tất cả ông có thể làm chỉ có vậy.

“Ông đã phải vượt qua nỗi đau để tạm biệt chú dơi thân yêu. Mặc dù trước đó ông đã châm lửa đốt cả núi chân tay mà chẳng cảm thấy gì. Ngay cả khi quăng xác của cậu thanh niên từ Elgin xuống hào với những binh sĩ khác, ông cũng chẳng có cảm giác.

Ông mất 18 ngày để đến được Elgin. Ông thông báo tin tử cho mẹ và các chị em gái của cậu ấy ở phòng khách. Ông nói rằng cậu ấy đã mất như một vị anh hùng nhưng không cho họ biết cái chết của cậu cũng không có ý nghĩa gì trong cuộc chiến. Họ bảo rằng rất biết ơn vì ông đã đến đưa tin. Ông ở lại đó ba tháng để giúp họ thu hoạch bắp và sắp xếp mọi thứ cho ổn thỏa. Ông cũng đã gửi tin cho bà nội cháu rằng ông sẽ về nhà sau - ông nghĩ rằng bà ấy sẽ chẳng bao giờ tha thứ khi ông không chịu về gặp bà ngay. Nhưng đổi lại tất cả bắp được thu hoạch, từng chuyến từng chuyến về nhà trên lưng con la, ngay cả đứa con gái nhỏ nhất cũng tham gia làm việc.”

Rồi ông chợt nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên. “Hình như lúc đó nó bằng tuổi cháu bây giờ đấy.”

Tôi chợt nghĩ đến hình ảnh của những người theo bước con la trên những cánh đồng của làng tôi. Họ là những người đàn ông với cẳng tay chắc nịch và bàn tay to bè nứt nẻ; tùy vào mùa thu hoạch mà họ sẽ lấm lem bụi xám hay bùn đen. Nhưng tôi không thể tưởng tượng ra cảnh thu hoạch bắp của ông ngày ấy.

“Lẽ ra ông không nên kể cho cháu nghe.” Ông vuốt mặt, nhìn ông thật già cỗi, làm tôi chợt sợ sệt trong lòng. “Cháu còn quá nhỏ để nghe về chuyện này.”

Tôi tiến tới dựa vào ông, còn ông vòng tay ôm tôi vào lòng. Hai ông cháu cứ giữ yên như thế trong cả phút. Chợt ông dịu dàng hôn lên trán tôi.

Vài phút sau, ông bảo, “Nào, chúng ta làm việc tới đâu rồi? À. Đưa cho ông cái đồ lọc kia đi cháu.”

Tôi đưa đồ lọc cho ông rồi hai ông cháu tiếp tục làm việc trong im lặng.

TÔI NGHĨ ĐẾN NHỮNG NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH GIÀ run rẩy thường ngồi ở vỉa hè trước chiếc máy tời bông, họ khạc nhổ thuốc lá và làm phiền người khác bằng những câu chuyện cũ rích kể đi kể lại suốt hàng thập kỉ. Cháu chắt của họ chẳng còn màng nghe tới nữa. Những người như vậy tôi thường gặp hằng ngày.

Mấy con nhậy gây bệnh đủ kích thước cứ bay vào chúng tôi trước khi lao mình vào mấy chiếc đèn dầu hết lần này đến lần khác. Một con đầy lông lá vướng vào tóc mái làm tôi nhột không chịu được. Tôi gỡ nó ra, kéo tấm bạt lên rồi quẳng nó ra ngoài màn đêm. Nó lập tức nhanh chóng bay ngược vào mặt tôi như thể vừa bị cuốn vào một cơn gió lớn. Tôi chỉ biết thở dài. Tôi chắc chắn học được một thứ: không thể thắng được lớp Insecta, thuộc bộ Lepidoptera.

Hai ông cháu tôi phải nghiên cứu về nó thôi.

❀ ❀ ❀

[1] Chú thỏ Alice trong truyện “Alice lạc vào xứ thần tiên” của Lewis Carroll.

[2] Là loại đại bác bắn đạn nặng 12 pounds (tương đương 5,45kg).

[3] Đầu đạn hình nón trong súng trường vào thế kỷ 19.

[4] 1 yard tương đương 0,914 mét.

Nguyên tác: The Evolution of Calpurnia Tate Người dịch: Lâm Thanh Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.