Suýt nữa là tôi đã tin vào giả thuyết cổ lỗ sĩ và ngu ngốc rằng vỏ sò hóa thạch chưa bao giờ tồn tại, mà chúng được tạc ra từ đá để bắt chước theo những vỏ sò sống trên bãi biển ngày nay.
Tôi quý trọng những giờ giấc bất định được ở bên ông nội. Khi Giáng Sinh lờ mờ hiện ra từ phía đường chân trời thì những giờ phút ít ỏi ấy càng thêm hiếm hoi. Tôi phải làm việc trong bếp dưới sự chỉ đạo của cô Viola, dường như cô tỏ ra vất vả hơn thường lệ rất nhiều vì vừa phải nấu vừa phải dạy tôi.
J.B. hỏi tôi,“Callie à, còn bao lâu nữa thì đến Giáng Sinh?”
“Nhìn này J.B,” tôi đưa tay lên. “Thấy mấy ngón tay của chị không?”
“Thấy.”
“Ừm, ngón này đại diện cho hôm nay, ngón này thì là ngày mai, còn ngón còn lại là ngày hôm sau đó, cũng chính là Giáng Sinh đấy. Em thấy không?”
“Thấy.”
“Vậy bây giờ hiểu ra chưa?”
“Hiểu.”
“Tốt.”
“Nhưng chị Callie, bao lâu nữa mới tới Giáng Sinh?”
Câu hỏi cho Sổ Tay: Cho đến khi nào thì trẻ con mới nắm bắt được thời gian nhỉ? Ngay cả mấy con chuột treo báo hiệu năm giờ sáng sống dưới tường nhà chúng tôi còn biết được giờ giấc, sao J.B. lại không thể nhỉ? Nó làm tôi tức điên lên mất.
Tôi nhìn lại câu cuối này. Ông nội đã từng dạy rằng ghi chú khoa học chỉ là những thực tế về khoa học chứ không được để ý kiến cá nhân chen vào. Tôi vội xóa nó đi, cũng may là viết bằng viết chì đấy.
Bố và Alberto vào nhà với cây thông khô họ tìm thấy trong bụi sồi (mấy cây xanh không thông dụng lắm trong vùng này). J.B. trở nên vô cùng háo hức. “Nhìn nhìn kìa chị Callie, cây thông Giáng Sinh của chúng ta kìaaaaaaaaaaaa! Vậy là tới Giáng Sinh rồi!”
Chúng tôi dành cả buổi chiều để trang trí cho cây thông bằng giấy màu và cắm mấy cây nến nhỏ tí vào những chân đế nhỏ nhắn treo trên cành. Harry cắt giấy cạc-tông màu bạc thành hình ngôi sao rồi cắm lên ngọn cây mà không cần dùng thang leo, cái cây nhỏ nhắn đến mức đấy ấy. Cuối cùng cho phần hoàn thiện, chúng tôi sắp xếp mấy quả bông lên cành cây giả tuyết rơi, thứ mà mọi người chỉ mới nghe chứ chưa từng được thấy bao giờ.
Ðạo Tin Lành Fentress chia ra làm hai quan điểm, một số gia đình mở quà vào đêm Giáng Sinh và một số lại mở vào đúng ngày Giáng Sinh. May mắn thay chúng tôi thuộc trường phái mở quà vào đêm Giáng Sinh. Theo lời của mục sư Cornelius Barker, tặng quà là vô ý nghĩa, xa xỉ và là quan niệm lệch lạc của kẻ ngoại đạo. Nhưng có lẽ phải chúc ông may mắn trước khi phải giải thích quan điểm này với bảy đứa trẻ nhà tôi. Mẹ cũng không thành công trong việc thuyết phục này và cả cha Barker cũng bó tay, nhưng nói cho cùng thì cha Barker cũng chưa thật sự cố gắng hết sức. Mỗi tháng ông đến dùng bữa tối với gia đình tôi một lần và theo tôi thấy thì ông là một trong những người khách mà ông nội mong đợi. Họ đặt biệt danh cho nhau là Walter và Cornelius làm mẹ chướng tai gai mắt. Mỗi lần gặp là họ lại dính vào nhau thao thao bất tuyệt về Nguồn Gốc Các Loài và Vết Tích Hóa Thạch. Nhưng mẹ vẫn chịu mời cha sứ đến nhà dùng bữa ăn khuya sau khi làm lễ cầu nguyện cho Ðêm Giáng Sinh.
Chúng tôi dành hầu hết thời gian của ngày Giáng Sinh để tắm rửa sạch sẽ - không vương một chút bụi đường nào, và để làm được việc này thì phải đun một lượng nước nóng cực lớn. Sau đó tất cả tập trung ra tiền sảnh để tiến hành kiểm tra. Lần đầu tiên không ai bị bắt quay lại nhà tắm để kì cọ cho sạch cần cổ hay móng tay cả.
Ðêm ấy, trời trong và lạnh giá, chúng tôi rúc người vào những chiếc áo khoác và khăn choàng dày nhất của mình. Harry nhốt lũ chó lại không cho chúng lẽo đẽo bám theo, rồi mọi người ra đường, chỉ trừ ông nội ở lại nhà giữ lửa trong phòng khách và một mình thưởng thức bầu không khí im ắng thanh bình. Alberto và SanJuanna đánh xe ngựa đến Tượng Ðức Mẹ Ðồng Trinh Guadapule Của Chúng Tôi ở Martindale. Cô Viola thì dự lễ riêng của mình ở khu Những đứa trẻ của Chúa. Tôi thích đi cùng cô hơn nhưng chẳng bao giờ được cho phép cả. Tôi từng đi ngang qua nhà thờ cô ấy đến và nghe tiếng nhạc vang ra từ ngôi nhà có nóc ghép bằng ván ép xiêu vẹo ấy; những tiếng hát và lời tuyên bố ngập tràn niềm vui, còn những nhà thờ khác đối với tôi lúc nào cũng im ắng và ảm đạm.
Chúng tôi cầm theo đèn lồng và hát vang những khúc nhạc Giáng Sinh trên đường đi. Tôi nắm tay J.B. và chỉ cho nó xem những chòm sao.
“Nhìn kìa J.B., bên đó là Chòm sao Chó Lớn và Chòm sao Chó Nhỏ.”
J.B. thắc mắc. “Làm gì có con chó nào trên trời hả chị Callie.”
“Chúng không phải chó mà là những ngôi sao em à. Những người xưa nghĩ chúng nhìn giống hình dạng con chó thôi em.”
“Chúng nhìn đâu giống Ajax, cũng không giống Matilda. Em nghĩ chị đang nói xạo, phải vậy không. Mẹ dặn mình không được nói xạo mà.”
Chính tôi cũng khó tưởng tượng ra hình dáng con chó, bò mộng hay sư tử từ những đốm sáng nhấp nháy ở nơi xa xôi ấy. Sao người xưa lại tưởng tượng vớ vẩn như thế nhỉ?
Chúng tôi rẽ vào nhà thờ Tin Lành với hàng ngàn chiếc đèn lồng thắp sáng. Tất cả chúng tôi cùng ngồi vào chỗ dành riêng cho mình, trừ Harry phải lên hỗ trợ cô Brown đánh đàn. Cô chơi thật mạnh mẽ, uốn tay lên rất điệu đàng ở mỗi nốt cuối và đạp pê-đan đệm điên cuồng trong khi Harry lật trang sách nhạc. Chúng tôi hát bài “Nghe đây, những thiên thần báo tin cất tiếng hát,” và dường như âm nhạc làm tôi có cảm tình hơn với cô Brown đôi chút.
Khi buổi lễ kết thúc, ông Barker đi cùng chúng tôi về nhà. Sam Houston nhéo tôi, thách thức tôi dám hét lên khi đang đi sau lưng người lớn. Tôi liền hích vai xô anh vào vũng nước mưa để trả thù. Ðôi giày ướt sũng đó sẽ dạy cho anh ấy một bài học.
Khi vừa rẽ vào khúc quanh vào nhà, chúng tôi ngửi thấy được mùi thơm tỏa ra từ ống khói nhà mình. Cô Viola đã đi cầu nguyện về và cùng ông nội đứng đợi trước cửa. Khi mọi người vào nhà, cô thắp sáng tất cả những ngọn nến nhỏ nhắn trên cây thông Giáng Sinh, chúng lấp lánh như những ánh sáng nhiệm màu. Ngọn lửa trong lò sưởi được thắp bùng lên. Trên chiếc bàn phụ, một chiếc tô pha rượu bằng thủy tinh lấp lánh, bên trong chứa đầy rượu đỏ như lá đinh hương. Còn có chiếc bình bạc đựng rượu táo nóng cho trẻ con (dĩ nhiên là rượu nồng độ nhẹ thôi). Tôi để ý thấy một sự thay đổi âm thầm ghi lại một dấu mốc mới: Lần đầu tiên, anh Harry có ly rượu Giáng Sinh riêng.
Bố mẹ tôi định hôn nhau chúc mừng Giáng Sinh, lần duy nhất họ hôn nhau chùn chụt trước mặt chúng tôi; nhưng mẹ chợt nhớ ra sự có mặt của mục sư nên ngại ngùng gục đầu xuống. Bố bèn hôn tay bà thay vì hôn môi và thì thầm, “Ôi Margaret.”
Mục sư hỏi thăm ông tôi tin tức của Cây Nhỏ. Tôi dám chắc là ông ấy cũng hứng thú về Cây Nhỏ như ông Hofacket.
“Chưa nhận được tin tức gì Cornelius ạ.” Ông châm một điếu xì-gà rồi lịch sự phà khói lên trần nhà. “Ông không thể nôn nóng với khoa học được, phải cần nhiều thời gian lắm.”
Sau khi dùng thịt xông khói cho bữa ăn khuya xong, nhìn thấy lũ trẻ nôn nóng, bố mẹ tôi liền phân phát quà. Mặc dù vẫn bảo lưu quan điểm về quà tặng Giáng Sinh của mình nhưng ông Barker vẫn ở lại và đánh giá về những món quà của chúng tôi.
Với gia đình đông đúc như nhà tôi, quà tặng gồm có: một chiếc kính nhìn nổi kiểu mới cho bọn trẻ cùng chia nhau dùng (cơ hội xảy ra thật mong manh). Thiệp tham quan có hình Kim Tự Tháp Ai Cập, Bạch thành Chicago, Cuộc Sống Kì Thú Của Dân És-ki-mô. Mỗi người được một trái cam to tươi mọng, thứ hiếm có và đắt đỏ trong mùa đông giá lạnh. Tôi sẽ để dành nó lại để ăn sau.
J.B. được tặng một con ngựa bập bênh mới toanh, nó đã chơi cái xích đu cũ đến tan tành hết rồi. Con ngựa được bọc da bò và có chiếc đuôi bằng lông ngựa thật. Sul Ross thì được tặng rất nhiều đồ chơi bằng gỗ và con vụ xoay. Travis nhận cuốn sách về nuôi dạy thỏ để giải trí và kiếm lời, cùng một chiếc lược chải lông thú. Tôi biết nó mong được tặng một con lừa nhưng nó vẫn tỏ ra vui vẻ. Lamar nhận được một chiếc hộp trong đó đựng thước đo góc, cây thước và chiếc compa. Sam Houston thì được cho sách Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes. Harry được may cho bộ vest màu xanh dương đậm lịch thiệp, rất hoàn hảo cho một thanh niên chuẩn bị vào đời tung hoành ngang dọc. Và đương nhiên tất cả đều nhận được những đôi tất nâu được đan bởi một tấm lòng chân thật và bằng năng lực trồi sụt khác thường. Ðôi đầu tiên cho J.B. thì lổn nhổn và xộc xệch, nhưng đến khi đan cho mấy anh trai, kỹ thuật của tôi cũng tàm tạm rồi; thậm chí tôi còn đan họa tiết vào đôi tất của bố và ông nội nữa kìa. Ða số đều được làm từ đôi tay mới học việc này đây, mặc dù cũng không tệ hại đến xấu hổ gì lắm, nhưng cũng không chắc chắn nhận được sự tán thưởng. (Tôi nghi ngờ đã có sự sắp đặt trước nào rồi đây.)
Tôi tặng mẹ vài bông hoa ép. Bà còn nhận được đôi hoa tai màu đen có hạt ngọc hồng lựu từ bố, và bà tặng lại ông bộ vest ca rô xanh lá cây lịch lãm để bố mặc đi họp ở Austin.
Cô Viola phụ trách việc bếp núc nhưng cũng đã nhận được quà lúc sáng sớm từ mẹ là hộp thuốc lá ngửi và chiếc áo khoác dày màu đỏ làm bằng vải fla-nen.
Ông nội thì được tặng một hộp xì-gà đặt tận Cuba. Nhãn giấy trên hộp in hình màu một cô gái đang nhảy múa trong chiếc đầm dài dạ hội; chiếc hộp trông rất hấp dẫn và có kích thước vừa vặn để đựng đồ quý. Tôi nhận thấy anh Lamar đang mê nó lắm nhưng không dám xin ông.
“Xin đi,” tôi thì thầm. “Chỉ cần hỏi xin ông cho chiếc hộp thôi. Ông không làm gì đâu mà sợ.”
“Ông không làm gì em thôi, nhưng sẽ ra tay với anh đấy.”
“Ðừng có hèn nhát thế chứ anh Lamar,” tôi dùng từ để khích tướng anh. Lần nào chiêu này cũng hiệu quả.
Anh mon men đến bên ông. “Ông ơi, khi ông dùng xong thuốc thì cho cháu chiếc hộp này được không ạ?”
Ông ngạc nhiên nhìn anh. “Dĩ nhiên là được rồi... Travis ạ.”
Lamar chớp chớp mắt. “Cám ơn ông,” rồi lật đật về chỗ ngồi.
“Thấy chưa?” tôi thì thầm. “Tìm hiểu rồi anh sẽ thấy ông rất tốt bụng.”
“Ông gọi anh là Travis kìa,” anh thì thào.
Tôi khúc khích cười làm anh lườm tôi. Tôi bảo, “Thì ít ra anh cũng xin được chiếc hộp rồi còn gì.”
“Sao em lại không xin nhỉ?”
“Em có hai - à, không, ba - tận ba cái rồi.”
“Vậy à, hoan hô em đấy.”
Ðôi lúc Lamar quả thật rất khó ưa.
Rồi, xem nào, xem tôi được gì nào? Chà, mấy đứa em cho tôi một túi đầy kẹo còn mấy anh trai thì tặng nơ buộc tóc. Bố mẹ thì tặng tôi một chiếc hộp bạc ấn tượng, bên trên có khắc mấy chữ cái đầu của tên tôi và một món quà khác nữa. Tôi đoán được ngay là quyển sách mặc dù nó được gói trong tờ giấy màu nâu. Ôi, sách, thật thú vị khi lại có thêm được một cuốn trong bộ sưu tập nhỏ nhắn trên kệ sách phòng tôi. Cuốn sách thật dày và nặng trịch nên tôi biết ngay là sách tham khảo hoặc có thể là bách khoa toàn thư. Tôi xé dần giấy gói, chữ Khoa học nằm trong vòng xoắn trang trí từ từ hiện ra.
“Ô,” tôi thốt lên. Tuyệt vời quá! Nhưng ngoài cuốn sách đang rành rành nằm trong tay thì điều làm tôi sung sướng hơn cả là bố mẹ đã hiểu ra điều gì đang cần thiết để nuôi sống tôi. Tôi phấn khích nhìn bố mẹ và cười toe toét. Họ cũng mỉm cười và gật đầu nhìn tôi. Tôi xé hết phần giấy gói còn lại, phơi bày ra toàn bộ tựa sách: Khoa học Nội trợ.
“Ôi trời!” tôi ngớ ngẩn nhìn nó. Tôi chẳng hiểu gì cả. Từ này có nghĩa gì nhỉ? Nó được viết bằng tiếng Anh thật không đấy hả trời? Khoa học Nội trợ, tác giả Josiah Jarvis. Không thể như thế được. Tay đôi như hóa đá. Tôi lóng ngóng mở sách ra và đọc mục lục: “Nghệ thuật nấu ăn cho người không có năng khiếu.”, “Nước xốt và đồ chua thông dụng.”, “Tẩy rửa những vết bẩn cứng đầu.” Tôi nhìn chăm chăm vào mấy chuyên mục chán ngấy ấy.
Những mẩu đối thoại thưa thớt dần và không gian trở nên im ắng, chỉ còn tiếng kẽo kẹt của J.B. đang cưỡi ngựa gỗ trong góc phòng. Tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn về tôi. Tôi nhìn ông đang nhíu mày suy ngẫm. Tôi nhìn mẹ đang chuyển từ mặt tái thành đỏ bừng. Tôi đã mắc tội làm xấu hổ mẹ trước khách khứa rồi. Sắc mặt bà sa sầm lại.
Bà đanh giọng, “Con vừa nói gì đấy Calpurnia?”
Calpurnia vừa nói gì à? Tôi có thể nói gì đây? Rằng tôi muốn vứt bỏ, à không, tốt nhất là ném nó ngay vào lò sưởi ấy chứ? Rằng tôi muốn thét gào phản đối sự bất công này? Rằng giây phút này tôi có thể trở nên cực kì bạo lực và đấm vào mặt họ, kể cả ông nội? Vâng, ngay cả ông nội luôn. Ông cứ ủng hộ khích lệ tôi cho dù ông biết rằng chẳng có thời đại hay cuộc sống mới nào cho cô bé này cả. Án tử hình đã được bố mẹ phán lên mình tôi. Chẳng có lệnh khoan hồng hay miễn xá gì cả. Không có một sự giúp đỡ đến từ nơi nào, kể cả ông hay bất cứ ai khác. Mề đay lại bắt đầu nổi đầy lên cổ tôi rồi.
“Calpurnia?”
Sự mệt mỏi cùng cực đổ ập lên tôi như cơn sóng thủy triều, nhấn chìm nốt cả cơn giận. Tôi đã quá đuối rồi, không còn sức lực nào để chống trả. Rồi tôi làm một việc khó khăn nhất trong đời mình. Tôi lặn hụp xuống đến đáy nhân cách và trồi lên nở một nụ cười nhạt nhẽo.
Tôi thì thầm, “Cám ơn.” Chỉ ngắn gọn hai từ. Chỉ là hai từ miễn cưỡng phát ra từ cái miệng giả dối của tôi mà thôi. Mắt ngân ngấn lệ, tôi cảm thấy mình như đang tan rã hết cả ra.
Ngay lúc đó J.B. ngã khỏi con ngựa gỗ và khóc thét ầm ĩ. Trong sự bối rối của cả nhà, tôi gom đồ đạc của mình rồi lẻn lên phòng, một mình ngồi bên bệ cửa sổ trông ra màn đêm. Vài phút sau, tôi trông thấy ánh đèn lồng của mục sư xa dần mập mờ như chú đom đóm trong đêm tối. Sul Ross và J.B. đang chạy chơi đùa giỡn ầm ĩ trên cầu thang. Tôi thay váy ngủ rồi chui vào giường. Tôi nhìn lại những món quà nằm trên bàn gương cạnh chiếc hộp thủy tinh đựng tổ chim ruồi: mấy cái nơ, chiếc hộp bạc và quyển sách. Rồi tôi nhắm mắt lại, mệt nhoài, nức nở đến khi chìm vào giấc ngủ.