Quy luật chọn lọc của tự nhiên sẽ thay đổi cấu trúc của thế hệ sau so với thế hệ trước và của bố mẹ so với con cái.
“HỆ THỐNG LULA” tôi áp dụng tỏ ra hiệu quả, ít nhất cũng trong vài tuần. Tôi rủ Lula về nhà tập vài bài song tấu piano sau giờ học theo yêu cầu của mẹ. Nhưng chỉ là giải trí thôi vì bọn tôi sẽ không phải biểu diễn chúng. Một hôm, tôi mắc sai lầm nghiêm trọng khi rủ Lula về nhà làm đồ án Nghệ thuật Nội trợ làm mẹ phát hiện được đường kim mũi chỉ khéo léo của bạn ấy. Chúa ơi, sao con có thể ngu ngốc đến nhường này nhỉ?
Vài ngày sau, mẹ gọi tôi lại và bảo ban, lần nào nghe giọng điệu này tôi cũng lo sợ “Calpurnia, đến lúc con thôi đan khăn choàng và tập đan tất rồi đấy. Không có gì sánh được với những đôi tất len dày ấm áp được đan từ bàn tay đầy yêu thương đâu con. Nếu con bắt đầu đan từ bây giờ thì sẽ kịp tặng cho tất cả các anh em trai, thậm chí cho cả bố, cả ông con trước lễ Giáng Sinh đấy. Thế có tốt không? Nào, đem giỏ đồ nghề đan len lại đây, mẹ con mình sang phòng khách thực hành nào.”
Áp lực bắt đầu xuất hiện rồi đây.
Tôi thở dài rồi đặt chiếc kính lúp xuống. Tôi đang dở tay ép mẫu vật bướm rất đẹp thuộc loài Viceroy vào khung kính để treo cạnh mấy mẫu khác của ông trong thư viện, nhưng trời đang mưa và công việc này đòi hỏi tính chính xác cao nên cũng khó làm vì thiếu sáng.
Mẹ nhìn có vẻ hài lòng với cuộn len mới lấy từ trong giỏ, trên đó cắm đầy kim đủ loại lớn nhỏ. Mớ len màu nâu sô-cô-la đậm và được búi lại thành một nùi dày cui. Mẹ ngồi hai tay dang ra như mái chèo trong khi tôi loay hoay gỡ nùi len ra quấn lại thành cuộn tròn xoay. Mặc dù tôi chẳng thích thú gì việc đan tất cả nhưng nhịp điệu tới lui đều đặn của len thật lôi cuốn, và thú thật rằng cũng chẳng có gì hay ho để làm trong tiết trời mưa gió thế này. Tôi tạm nghĩ như vậy thôi. Mẹ cũng tỏ ra thoải mái và thư thái khi làm công việc nội trợ dài vô tận này; nhất là việc đan len dường như xua đi cơn đau đầu của bà và không cần đến thần dược Lydia Pinkham như mọi bận nữa.
Thời tiết cũng đang dần lạnh hơn. Dù chẳng có thông báo gì nhưng một vài thanh củi hồ đào bập bùng cháy trong lò sưởi cũng đủ minh chứng cho một mùa hè đã là dĩ vãng. Travis thì loanh quanh với Jesse James và Billy The Kid rồi quẳng ít len ra trước mặt và chúng bắt đầu vờn qua lại, một lúc sau là nhảy toán loạn trên thảm. Lamar vừa bước vào thì mẹ bảo anh bật máy hát đĩa than, bản nhạc của Schubert vang lên dập dìu.
“Bây giờ mình đan tất cho Jim Bowie trước nhé,” mẹ bảo, “Chỉ đan tất trơn nhỏ trước thôi, sau đó sẽ tập đan họa tiết sau. Xem nào, đan một hàng 40 mũi nhé, bắt đầu đan từ ngoài vào nào.” Nói rồi mẹ đưa tôi bốn cây kim đan len.
“Sao tới bốn cây lận? Con phải làm gì với bốn cây kim này đây?” tôi cau có.
“Con dùng chúng để đan theo vòng lặp xuyên suốt nên sẽ không cần quay lại ở cuối mũi đan.”
Cứu tôi với! Với hai cây kim đan thôi cũng làm tôi khổ sở vì tính vụng về của mình rồi huống hồ bốn cây thế này. Mẹ lên tiếng động viên con gái mình thực hiện hàng len đầu tiên cho chiếc tất đầu đời. Các đầu kim đâm lên từ đủ hướng như lông nhím.
“Nhìn này,” mẹ bảo, “ nếu con quấn len vòng quanh ngón áp út như này thì sẽ cảm giác được lực căng và kim đan cũng nằm vững hơn.” Tôi cố làm theo lời mẹ, quả nhiên hàng len thứ hai nhìn đỡ hơn hẳn, và những hàng sau đó ngày càng đẹp hơn. Càng làm tôi càng nhận ra rằng một khi đã vào guồng thì cây kim đan sẽ lên xuống nhịp nhàng đến không ngờ.
“Nào, bây giờ phải canh khoảng cách để đan phần gót chân. Ðấy, đúng rồi.”
Chầm chậm - rất rất chậm - mớ len hỗn độn trong tay tôi dần dần thành hình. Buổi chiều dần qua đi, mặc dù đối với tôi việc đan len này chẳng thú vị gì nhưng cũng không quá tệ như tôi nghĩ. Kết quả cuối cùng là một vật nhỏ xinh, ngây ngô bằng len nằm gọn trong tay tôi. Tôi cầm lên ngắm nghía và nhìn nó cũng ra dáng một chiếc tất đàng hoàng đấy chứ. Mẹ cũng tỏ ra hài lòng về thành quả của tôi và bảo, “Nhìn cũng giống chiếc tất đầu tiên mẹ đan lúc đang ở độ tuổi của con đấy.”
“Rồi, thế là xong rồi nha mẹ,” tôi nói rồi dọn dẹp rổ dụng cụ đan len.
“Xong thế nào mà xong? Con đi đâu đấy?”
Tôi nhìn mẹ tỏ vẻ thắc mắc.
“Tiếp tục làm chiếc nữa chứ con,” mẹ tiếp lời.
“Chiếc nữa là sao?” tôi tru tréo. Mẹ điên à? Mất đến mấy tiếng tôi mới đan xong nổi một chiếc cỏn con này đấy.
“Dĩ nhiên là phải đan tiếp rồi, và đừng có lên giọng với mẹ như thế. Jim Bowie làm được cái gì với độc mỗi chiếc tất này đây?”
“Làm sao con biết được,” tôi đáp, thật ra trong lòng định nói rằng con quan tâm đến việc đó làm gì, nó dùng làm con rối cũng được mà.
“Còn mấy anh em khác thì sao? Còn bố? Và cả ông con nữa?” mẹ tiếp tục giảng giải.
Tôi lẩm nhẩm, có sáu anh em này, cộng luôn bố này và cả ông nữa, tổng cộng lại là hàng tá bàn chân ấy chứ. Muốn đan hết cho họ thì phải làm quần quật hết ngày mai, ngày kia rồi ngày kìa, ngày kĩa... Tôi xây xẩm mặt mày. Vậy là tôi phải dành cả đời này cho việc đan len mất, tưởng tượng đến cảnh ngáp ngắn ngáp dài để đan cả một dây treo đầy tất kéo dài vô tận đến cuối trời, tôi phát ốm mất thôi.
“Làm ơn đi mẹ,” tôi cất giọng não nề, “cho con làm tiếp vào ngày mai nhé. Mắt con mỏi lắm rồi.”
Nhìn cử chỉ của mẹ thì chắc có vẻ lời tôi đã làm bà động lòng rồi. Cũng có thể bà không chấp nhận được viễn cảnh đen tối khi phải đeo thêm cặp kính dày cộp cho con gái duy nhất của mình. Vậy là tôi vừa phát hiện thêm một điểm yếu của mẹ có thể để dành lợi dụng trong tương lai. Hoặc tôi cũng có thể giả vờ đau đầu nữa cơ mà.
“Thôi được, hôm nay đến đây là đủ rồi,” bà đáp.
Tôi vội vàng vớ lấy rổ đựng đồ nghề đan len rồi ra khỏi phòng trước khi mẹ kịp nghĩ đến một kĩ năng nội trợ nào khác cho tôi thực tập. Tôi để chiếc rổ lên phòng rồi phóng nhanh xuống nhà qua phòng thí nghiệm tối om, nhưng lúc này ông lại không có mặt, có lẽ đang ra ngoài tìm kiếm mẫu thực vật rồi. Mùa mưa là thời điểm tốt nhất để thu thập mẫu thực vật mà, vả lại lúc này cũng chẳng tìm được thú vật hay côn trùng nào vì chúng đều trú ẩn đến khi nắng lên mới xuất hiện trở lại. Tôi thắp sáng một cây đèn rồi thả mình lên chiếc ghế nệm lò xo cũ kĩ của ông, ngồi quan sát những hàng chai lọ lấp lánh, nghe mưa dần nhẹ hạt lộp độp trên mái nhà.
Tôi giật mình dậy khi nghe tiếng ông treo tấm bạt che mưa lên cây đinh trên tường, nước còn nhỏ giọt lõng tõng.
“Chào cháu Calpurnia. Cháu khỏe không?”
“Cháu khỏe ạ, nhưng đang phát ốm vì phải ngồi đan len cả ngày nay ông ạ.”
“Cháu thấy đan len thú vị chứ?”
“Cũng không phải là thứ khủng khiếp nhất đời này,” tôi thừa nhận, “nhưng cháu phải làm nhiều quá. Cháu phải đan tất chân cho mọi người trước dịp Giáng Sinh, và như vậy là phải đan hàng tỉ chiếc tất ấy chứ. Cháu mong rằng ông thích tất trơn vì cháu chưa học cách đan hoa văn gì cả.”
“Ông thích tất trơn và ông cũng chưa học đan hoa văn bao giờ cả.”
“Ông biết đan à?” tôi ngạc nhiên hỏi.
“Ừ, đan giỏi là đằng khác. Nhiều người trong trung đoàn của ông đều là tay đan len cừ khôi đấy.”
Ông nhìn nét mặt tôi rồi tiếp, “Bọn ông phải tự lực cánh sinh trên mặt trận. Khi cần tất mới là phải tự đan thôi. Lúc đó chẳng có vợ, chị hay cháu nào để được chăm sóc cho cả, còn bưu kiện gửi từ gia đình thì hiếm khi tới nơi. Ông còn nhớ có lần một trung sĩ viết thư về nhà trước Giáng Sinh và nhờ vợ đan cho một đôi găng tay thỏ mới. Nhưng đến hè thì chúng mới được gửi tới nơi, lúc đó thì ông ấy đã mất hai ngón tay do bị hoại tử vì rét. Nhưng dù sao vẫn còn được ngón tay cái nên ông ấy vẫn vui vẻ dùng chúng. Dĩ nhiên là găng tay bị trống mất hai chỗ và lại ngay vị trí bóp cò, cuối cùng ông ta tự cắt hai ngón đó đi rồi may lại, cũng ổn ra phết nếu ông không nhớ lầm.”
“Tự lực cánh sinh.” Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi tự nhủ. Nếu như những người lính phải học đan len, đến ông cũng biết đan thì tôi học cũng đâu có chết chóc gì.
Ông nhìn tôi rồi nói tiếp. “Ông nghĩ mẹ còn muốn cháu học nấu ăn nữa phải không? Bọn ông cũng phải tự nấu nướng đấy.”
“Ông à, ông đang cố an ủi cháu phải không?”
Ông mỉm cười đáp. “Có lẽ vậy.”
“Mẹ ép cháu phải học nấu món mới hàng tuần. Thật ra cũng không phải khó khăn gì lắm, nhưng thử nghĩ xem, mất hàng giờ để nấu rồi ăn hết trong 15 phút. Sau đó còn phải lau dọn bếp, kệ bếp. Vừa xong là lại đến giờ phải chuẩn bị nấu tiếp, chẳng kịp ngơi tay. Làm thế thì chứng tỏ được gì? Tại sao cô Viola lại có thể chịu đựng được nhỉ?”
“Ðó là điều duy nhất Viola biết làm,” ông đáp. “Và khi cháu chỉ biết làm duy nhất một thứ gì đó thì phải chấp nhận làm thôi. Có một điều ông chắc rằng: nếu không nấu ăn thì cuộc sống của Viola sẽ khổ sở hơn nhiều. Bây giờ ít nhất Viola cũng được ‘làm việc nội trợ’ còn hơn là ‘việc đồng áng’. Mấy cô chú của Viola ở Bastrop đều phải đi chặt cây bông gòn bằng cuốc tay và khuân vác bao bố hằng ngày đấy.”
“Bố chẳng bao giờ cho phép động vào cuốc tay cả.”
“Cháu biết vì sao không?” ông hỏi.
“Dạ không ạ.”
“Vì khi ở độ tuổi của cháu, ông đã cho bố cháu nếm mùi dùng cuốc tay suốt cả một ngày làm việc trên đồng rồi nên biết vất vả như thế nào. Hi vọng bố cháu sẽ tiếp tục truyền lấy kinh nghiệm này cho các anh em của cháu.”
“Ông có nghĩ bố sẽ cho cháu thử không?”
“Ông không nghĩ là bố cháu sẽ cho con gái rượu của mình ra đó đâu.”
“Chà. Vậy hôm nay ông thu hoạch được gì nào?”
Ông lôi mắt kính ra khỏi túi áo rồi đặt túi đeo vai lên bàn. “Có vài mẫu vật đẹp của sangre de drago, hay còn gọi là máu rồng. Thổ dân thường dùng nó để trị bỏng. Ông tìm thấy cây me rừng tím nhưng chúng ta có đủ thứ này rồi. Và nhìn đây nữa này, bó bã đậu, ông chưa từng thấy chúng nở muộn thế này, mọi người còn gọi nó là bụi bã đậu đấy. Nào, thử trồng nó xem.
Thực vật chẳng làm tôi thích thú bằng sâu bọ, và sâu bọ thì không hay ho bằng động vật, nhưng ông đã cho tôi biết về sự liên hệ giữa chúng và tôi cần phải nghiên cứu mọi loài để nắm bắt được tất cả một cách thấu đáo. Vì vậy tôi vẫn quan sát mớ cây héo trong tay ông để xem có học hỏi được gì không.
“Cháu có nhớ cây đậu tằm đầy lông mà ông cháu mình tìm thấy dạo trước không? Cái cây có thể là dạng đột biến ấy?” ông hỏi.
Tuy cái cây đó chán òm nhưng tôi vẫn nhớ ra nó.
“Tìm nó ra đây hộ ông được không?” ông bảo. “Chắc là nó còn ở đâu quanh đây thôi. Từ hôm nọ đến giờ ông chưa có thời gian đụng đến nó.”
Tôi lục lọi qua đống chai lọ và bìa đựng rốt cuộc cũng ra nó, một mớ màu nâu khô khốc chẳng lấy gì làm hấp dẫn.
“Cây biến dzị này ông,” tôi đưa ông.
“Phải đọc đúng là ‘biến dị’.”
“Ðánh vần chính xác như thế nào ông? Ðừng bắt cháu đi tra từ điển nhé.”
“Ðơn giản là B-I-Ế-N-D-Ị.”
“Cháu cảm thấy đọc như cháu nghe hay hơn. Biến dzị là gì ông nhỉ?” tôi bảo.
“Ngài Darwin có nói qua về nó đấy, cháu chưa đọc đến đó à?”
Tôi không ngại thừa nhận với ông rằng quyển sách đó quá khó đọc. “Cháu vẫn còn đang mày mò ở chương Sự Lựa Chọn Nhân Tạo. Cuốn này nhiều chữ quá nên mất nhiều thời gian hơn cháu tưởng.”
“Ðối với lứa tuổi của cháu thì cuốn này hơi nặng là đúng rồi,” ông vừa ngắm chiếc lọ vừa nói. Ðoạn ông mở lọ rồi lôi mẫu vật ra để trên miếng giấy thấm hình vuông còn mới. “Ðưa ông cái kính lúp nào,” ông bảo.
Ông nghiên cứu cây đậu tằm khoảng một phút rồi chợt bặm môi, “Hừm.” Lạ nhỉ, bình thường ông luôn nói một câu dài đầy đủ ý nghĩa cơ mà.
“Hừm?”
“Ra ngoài nhìn nó rõ hơn nào.” Thời tiết vẫn còn u ám, nhưng dù sao ánh sáng ngoài trời vẫn tỏ hơn bóng tối mập mờ trong phòng thí nghiệm. Thế là hai ông cháu mang mẫu vật ra ngoài rồi ông ngắm nghía nó suốt một lúc lâu. Tôi cố kiên nhẫn chờ đợi đến khi không thể chịu được nữa đành lên tiếng.
“Có gì lạ vậy ông?”
Ông trầm ngâm đáp, “Ông cũng chẳng biết nữa.” Cái này còn lạ hơn nữa ấy, ông thì cái gì mà không biết nhỉ. “Nhìn nó có vẻ là một chiếc lá móc sống dựa vào nhánh cây chính, nhưng cũng khó nói vì nó đã khô héo quá rồi. Ông không nhớ là đã có đọc qua nó từ sách vở nào không. Và ông cũng chưa nhìn thấy bức phác họa nào giống nó mặc dù trong cuốn bản đồ của Mallon cũng đã tập hợp rất đầy đủ đấy.”
“Vậy là sao hả ông?”
“Nó khô quá nên cũng khó nói chính xác được. Nó có thể là một mẫu biến dị hay chẳng là gì cả.” Chợt ông nhìn tôi bảo. “Hoặc cũng có thể chúng ta đã tìm được một giống mới hoàn toàn đấy.”
“Không thể nào,” tôi thốt lên.
“Có thể lắm chứ. Ngồi xuống làm vài ly và nghĩ thêm nào.” Hai ông cháu vào lại phòng thí nghiệm, ông để cây đậu tằm lên bàn rồi ngồi phịch xuống ghế, mớ lò xo bên trong lại đàn hồi kẽo kẹt, tiếng động này thường làm tôi cười khúc khích. Ông nhìn chằm chặp về cây đậu tằm.
“Ông để dành một chai rượu quý trên nóc tủ trong góc phòng cho những dịp đặc biệt này,” ông bảo. “Lấy nó xuống đây cho ông nào, cháu ngoan.”
Chai rượu màu xanh nặng trịch và đóng đầy bụi bặm qua năm tháng, trên đó đề RƯỢU WHISKY NGÔ HẢO HẠNG KENTUCKY và hình một con ngựa đang chồm lên.
Ông rót một cốc đầy rồi nốc cạn một hơi. Tiếp đó ông lại làm thêm cốc nữa, rồi rót một ly cho tôi. Tôi rùng mình khi nhớ lại ly whisky đầu tiên từng uống (dĩ nhiên là sẽ ho sặc sụa rồi). Nhưng ông đang tập trung vào mẫu vật quá nên không để ý rằng tôi đang từ chối. Tôi đành cầm lấy cái ly rồi để qua một bên. Tôi nín thở chờ đợi.
Một lúc lâu sau ông thì thầm, “Tốt quá, tốt quá, ông đã chờ đợi ngày này lâu lắm rồi.” Ðoạn ông ngẩng mặt lên. “Và ngày này đã đến thật rồi.”
“Ông chắc chứ?” Tôi thì thầm hỏi lại. “Làm sao chúng ta biết chắc được hả ông?”
“Chúng ta phải tìm lại mẫu vật tươi rồi phân tích nó ngay. Ta phải làm bản vẽ chi tiết, phải đánh dấu vị trí đã tìm ra trên bản đồ, rồi chụp hình nó gửi tới Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Hoa Kỳ, sau đó gửi cả mẫu vật đến nữa. Sau đó chờ kết quả thôi.” Ông hít một hơi thật sâu. “Cháu có muốn làm một ly nữa không?”
“Không ạ, nhưng ông cứ uống nữa đi,” tôi nói rồi đưa lại cái ly cho ông.
“Ðương nhiên ông sẽ uống, ông sẽ phải uống nữa chứ,” ông bảo.
Ông lại uống cạn rồi hai ông cháu kính cẩn nhìn nhau. “Nào, làm việc thôi. Ta phải lấy một mẫu vật tươi để hoàn thành bộ hồ sơ, và thêm nhiều mẫu nữa để chọn ra được một mẫu tốt nhất. Ông cháu mình đã tìm thấy nó ở đâu nhỉ?”
Tôi cầm cái lọ lên rồi nhìn vào nhãn tên. Nhưng ngay dưới chữ “biến dzị”, nơi tôi thường chú thích nơi thu thập mẫu vật như ông dặn lại là... một mảng trắng. Cả trời đất như sụp đổ, tim tôi như ngừng đập, mặt mày tối sầm lại. Tôi nhìn ra hướng khác rồi nhìn lại, cho đôi mắt lừa dối của mình ngưng ngay trò lừa đảo lại, để thứ lẽ ra phải ở đó sẽ xuất hiện. Tôi chớp mắt liên hồi rồi nhìn lại cái nhãn. Vẫn chẳng có gì.
Lấy hết can đảm, tôi hít một hơi cho không khí tràn đầy vào phổi.
“Cháu bị gì vậy Calpurnia?”
Tôi phùng má lên như con cá trê trên cạn, “ừ, ồ, ừ, ờ, ừ, ồ.”
Ông đứng bật dậy. “Ông hiểu đây là giờ phút trọng đại. Có lẽ cháu nên ngồi xuống một lúc đi. Ngồi xuống nào,” ông nói rồi đẩy chiếc ghế qua cho tôi.
Tôi không thể thốt ra lời, tôi không thể nói với ông được.
“Ông có cần gọi mẹ cháu không?” ông hốt hoảng hỏi.
Tôi lắc đầu nguầy nguậy rồi lấy lại nhịp thở. “Không đâu ông.”
“Cháu có cần uống ít rượu không?” ông hỏi.
“Không ông à!” tôi la lên che giấu sự sợ hãi.
“Yên nào và nói cho ông biết có chuyện gì vậy,” ông bảo.
“Cái cây đậu tằm ấy,” tôi mếu máo. “Cháu không ghi lại, không tìm thấy rồi.”
Ông cầm cái lọ lên nhìn qua rồi thầm nói. “Ôi, Calpurnia”. “Ôi, Calpurnia.” từng chữ nhẹ phát ra như từng cơn gió lớn táp vào mặt tôi.
Tôi gục đầu vào tay mình. “Cháu xin lỗi,” tôi nức nở. “Cháu sẽ tìm lại nó, cháu sẽ tìm lại nó mà!”
“Tại sao chuyện này lại xảy ra được nhỉ?” ông nói.
“Cháu nhớ những gì ông bảo,” tôi khóc lóc, “cháu nhớ mà. Ông cháu mình đang trên đường từ sông về nhà. Cháu đang nghĩ về con rùa mà Ajax bắt được. Rồi cháu nghĩ về sự lựa chọn của tự nhiên.” Tôi rút khăn tay từ trong túi ra. “Ôi, cháu hứa sẽ tìm ra nó mà. Ông đừng giận cháu nhé, cháu sẽ tìm nó mà.”
“Ông biết rồi,” ông lặng lẽ đáp.
“Cháu sẽ đi tìm ngay bây giờ.”
“Calpurnia à, trời tối rồi.”
“Nếu cháu đi ngay sẽ kịp thôi,” tôi nói rồi bật dậy chụp lấy cái lọ. “Bút chì đâu rồi, cháu cần bút chì, chắc chắn phải có một cây ở quanh đây chứ,” tôi lắp bắp.
“Thôi đi, bây giờ trễ lắm rồi. Mai rồi hãy đi tìm cháu ạ. Bây giờ thì bình tĩnh ngồi xuống đi. Cố nhớ lại xem. Cháu nói lúc đó đang đi từ bờ sông về nhà phải không,” ông gợi ý.
Tôi lại ngồi xuống.
“Nhắm mắt lại và tưởng tượng đi cháu,” ông bảo.
Tôi nhắm mắt, nhưng không thể tập trung được. Tôi nghe từng lời ông nói và cố điều chỉnh nhịp thở chậm lại. “Chúng ta đang soi kính hiển vi cạnh con lạch nhỏ.”
“Ông nhớ rồi,” ông bảo. “Hít sâu vào. Bình tĩnh và nghĩ tiếp xem. Rồi chúng ta đi về từ con lạch đó.”
“Chúng ta đang đi về từ con lạch đó,” tôi lầm bầm lại câu nói của ông. “Ðúng rồi, lúc đó Ajax bắt được con rùa lần đầu tiên trong đời. Cháu nhớ đã giật con rùa lại. Ông dẫn Ajax đi để cháu thả con rùa ra. Rồi còn... rồi còn cái gì nữa ngoài Ajax... nhưng cháu không thể nhớ ra.”
“Ông chắc là cháu sẽ nhớ được mà,” ông bảo. Giọng ông làm tôi bình tâm hơn.
Ajax và cây biến dzị. Cây biến dzị và Ajax. Tôi biết mình đang đi đúng hướng. Hai thứ này có liên quan đến nhau, nhưng cụ thể là như thế nào đây chứ? Tôi lướt qua mảng kí ức của mình như chú chó săn để tìm lại manh mối. Bằng lối này hay cách kia, cuối cùng vẫn là ngõ cụt. Lúc đó Ajax làm gì nhỉ? Hình như là một thứ gì đó rất phiền phức, nhưng thật ra, lúc nào mà nó chẳng gây phiền phức khi đang hứng lên, vì vậy điểm này chẳng giúp ích được gì cả. Dường như lúc đó nó đang ve vãn Matilda? Nhưng sau đó thì sao?
“Ôi,” tôi rên rỉ, “cháu không nghĩ được gì cả. Nó chỉ ở đâu đó trong này thôi,” - tôi đập thùm thụp lên trán - “nhưng cháu không thể tìm nó ra được.”
“Calpurnia à, ông nghĩ rằng cháu phải đi ngủ đi. Chúng ta sẽ tìm ra nó. Chúng sẽ phải tìm ra nó dù có phải sục sạo từng nhánh cây ngọn cỏ trong vùng này.”
Ông buồn rầu nhìn ngắm chiếc lọ biến dzị rồi chợt thở dài não nề. Mặc dù tôi không thấy sự trách móc nào hiện lên từ mặt ông nhưng trong lòng tôi vẫn vỡ tan ra từng mảnh. Tôi quyết tâm rằng sẽ bò trườn lê lết bằng cả tay và đầu gối với chiếc kính lúp để lùng sục nó trên suốt 240 héc ta đất của nhà trong bao lâu cũng được nếu cần thiết. Rồi hai ông cháu đóng cửa phòng thí nghiệm lại và lặng lẽ đi vào nhà. Chưa bao giờ tôi thấy khổ sở tồi tệ như lúc này.
BẠN CÓ NGHĨ RẰNG tôi có thể ngủ tí nào đêm đó không? Tôi nằm trên giường như một xác chết, chẳng còn chút năng lượng nào để lăn qua lăn lại nữa. Một câu hỏi cho cuốn Sổ Tay: Tại sao Calpurnia Tate lại có thể ngu ngốc đến thế? Thật là một câu hỏi xuất sắc đấy. Ông đã dặn tôi rất kĩ rằng phải ghi lại vị trí của tất cả các mẫu vật và tôi đã thực hiện rất nghiêm túc điều đó, nhưng đến lúc cần thiết và quan trọng nhất thì lại quên mất. Lại thêm một câu hỏi cho Sổ Tay: Làm sao dám trông chờ ông tha thứ cho tôi? Rồi, lại thêm một câu hỏi nữa rồi Calpurnia ạ. Có lẽ ông sẽ chẳng bao giờ thứ tha, thậm chí chẳng thèm nhìn mặt mày nữa đấy, nếu mà như vậy thì coi như mày tiêu đời rồi.
Sáng hôm sau tôi thức dậy với hai vầng trăng khuyết đen sì dưới mắt làm mẹ nhìn tôi lo lắng. Lúc ăn sáng tôi cũng chẳng dám nhìn ông.
Ðến trường lại là sự hành hạ mệt mỏi và áp lực căng thẳng. Tôi bị cô Harbottle bắt lên bảng giải một bài toán chia phức tạp và rồi làm sai, suýt chút nữa thì tôi đã cãi ngược lại cô và chắc sẽ bị đứng phạt ở Góc Xấu Hổ cả đời mất.
Vào giờ giải lao Lula lại hỏi thăm, “Cậu bị gì vậy Callie?”
“Không có gì đâu Lula, tớ rất ổn mà!” tôi ré lên. Bạn ấy tránh xa tôi ra rồi sang chơi với con nhỏ Dovie Medlin dở hơi. “Lula ơi, quay lại đây đi, cho tớ xin lỗi,” tôi gọi với theo, nhưng ngay lúc đó cô Harbottle đã rung chuông báo hiệu vào lớp.
Tôi lê thân mình về nhà sau giờ học, bị mấy anh em trai bỏ xa cả đoạn, họ đã cố gắng kéo tôi ra khỏi tâm trạng này nhưng đều thất bại. Cứ mỗi bước chân tôi lại nghĩ đến Ajax. Nếu không quá mệt mỏi chắc tôi sẽ bắt não bộ của mình tập trung suy nghĩ hơn rồi. Con chó ngu ngốc ấy chính là chìa khóa để giải đáp bí ẩn này. Xem nào, tôi giật con rùa, nó bỏ đi khỏi bờ sông, tôi nắm lấy dây đeo cổ của nó, vì... vì... vì nó chúi mũi vào một cái hố to.
“Ðúng rồi!” tôi thét lên làm mấy anh em giật mình quay lại nhìn. Tôi vừa nhảy tưng tưng vừa thét, “Ðúng rồi! Con lửng, con lửng! Mình biết nó ở đâu! Biết cây đậu tằm từ đâu ra rồi!” Tôi chạy đến dúi đống sách vào tay Lamar và Sam Houston. “Cầm hộ sách về nhà giúp em nhé, em phải đi tìm cây biến dzị đây!” Rồi tôi lao vào bụi cây, theo lối hươu chạy.
“Em làm gì thế, cây biến dzị là cái gì?” Lamar gọi với theo.
Nhưng tôi đang vội lao xuyên qua bụi cây, tim đập theo nhịp đúng, đúng, đúng trên từng bước chạy. Ðó là cái lỗ của con lửng to nhất tôi từng thấy, tôi cũng đã định bụng sẽ quay lại khám phá nó mà. Hai ông cháu đã tìm thấy mẫu cây đậu tằm cách đấy khoảng vài mét mà. Tôi có thể tìm nó, không, tôi sẽ tìm ra nó. Thế giới này là của tôi, ông sẽ lại là của tôi mà thôi.
Sau ba tiếng đồng hồ mồ hôi nhễ nhại, khát khô cổ và đầy vết cào xước, tôi đến được cái tổ con lửng ấy khi trời chạng vạng tối, mắt cá chân tôi như vỡ làm đôi. Tôi cũng làm con lửng thức giấc. Nó phản ứng bằng những tiếng khè giận dữ từ sâu trong hố làm tôi rút chân ra cực nhanh mặc cho nó đang bị đau nhói.
Không còn nhiều thời gian, chút nữa là trời sẽ tối om, chẳng thể thấy gì nữa vả lại, con lửng sẽ chui ra để dọa mấy con chuột đồng và rùa đất. Nên tránh con lửng cáu kỉnh đó thì tốt hơn. Tôi nhảy lui ra xa và nghĩ. Xem nào, chúng tôi đi về từ bờ sông và đi về nhà, có nghĩa là chúng tôi đã đi ngang qua... lối này. Tôi cất bước khập khiễng, mắt dán chặt xuống đất. Và kia rồi, một bụi cây xanh có vẻ là đậu tằm. Tôi quỳ phịch hai đầu gối xuống, lầm bầm cầu nguyện phải là cây này nhé, phải là nó nhé, làm ơn là phải nhé. Tôi đào xới phần đất khô cứng bằng móng tay, cố lấy ra càng nhiều rễ cây càng tốt, vừa làm vừa tự rủa mình vì không chịu đem theo cái xẻng và lọ nước.
Mất năm phút thì lấy được nó ra khỏi đất, tôi thở hổn hển trong lo sợ. Rồi tôi đứng bật dậy chạy vụt đi, mặc kệ cơn đau nơi mắt cá chân hành hạ. Tôi có thể nghỉ lâu hơn một chút nhưng ngửi được mùi nồng nặc và tiếng thở nặng nề của con lửng ngay sau lưng tôi.
Hôm đó, tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của cô gái khập khiễng đi tìm báu vật.
VIOLA RUNG CHUÔNG TỪ HIÊN SAU NHÀ khi tôi vừa về đến. Cứ mỗi lần về muộn giờ ăn tối thì thế nào cũng gặp rắc rối, nhất là trong lúc tôi đang bẩn thỉu như vậy nữa. Trong nhà tôi việc về đúng giờ ăn tối là cực kì quan trọng, nhưng nếu tôi đi vào ngay bây giờ thì sẽ phải giải thích rồi phải đi tắm rửa nữa, tất cả mọi thứ sẽ làm chậm việc ngâm cây đậu tằm vào nước mất. Nghĩ vậy tôi bèn núp sau mấy bụi cây, đi vòng ra phòng thí nghiệm, vậy là sẽ càng trễ giờ ăn và tăng thêm hậu quả mà chút nữa tôi phải đối mặt tại bàn ăn.
Phòng thí nghiệm tối om. Trên bàn đầy những chiếc lọ rỗng và bình đựng nước uống. Tôi rót nước vào một chiếc lọ rồi thả mẫu cây đậu tằm vào, trong đầu cứ lẩm bẩm, Làm ơn đúng là cây này nhé. Nếu không chắc mình phải tự tử hoặc bỏ nhà mà đi quá. Rồi tôi đi vào cửa hậu, trong đầu thầm nhẩm xem mình đã để dành được bao nhiêu tiền trong chiếc hộp thiếc giấu dưới gầm giường. Ðếm đi đếm lại, rốt cuộc là tôi đã có được hai mươi bảy cent để dành cho hội chợ Fentress. Với hai mươi bảy cent này tôi đâu có bỏ đi xa được. Tốt nhất là đừng nên bi quan như thế chứ Calpurnia. Chắc chắn là nó rồi.
Tôi vừa đi qua cửa hậu ngay lúc cô Viola lôi thịt quay ra khỏi lò còn SanJuanna thì đang đứng đợi bưng vào phòng ăn.
“Cháu về trễ rồi, vào ăn nhanh đi,” cô Viola bảo.
“Cháu xin lỗi,” tôi đáp. “Mẹ có giận không ạ?”
“Giận chứ.”
Tôi xả nước từ bồn rửa chén rồi lấy bàn chải chà rửa tay liên hồi.
“Cháu xin lỗi.”
“Cô nghe rồi.”
Tôi chợt nhìn xuống cái váy rách bươm dơ bẩn của mình.
“Cởi ra đi,” cô Viola bảo. “Cháu không còn làm được gì hơn nữa đâu. Ði vào đó đi.”
Tôi cởi váy ra rồi treo lên chiếc móc cạnh bồn rửa rồi tập tễnh núp sau SanJuanna và đĩa thịt quay để đi vào phòng ăn. Hình như tôi đã cường điệu hóa dáng đi khập khiễng của mình hay sao mà mọi người chợt im lặng ngoái nhìn. Tôi cúi gằm mặt lí nhí “con xin lỗi” rồi ngồi xuống ghế. Mấy anh em trai háo hức nhìn qua tôi rồi lại nhìn mẹ.
“Calpurnia, con về trễ rồi. Sao lại đi khập khiễng như vậy?” mẹ hỏi.
“Con giẫm vào cái hố con lửng to nhất thế giới và bị thương. Con thành thật xin lỗi vì đã về trễ thưa mẹ. Vì bị đau và nhiều yếu tố khác nên con đi rất lâu mới về được đến nhà.”
“Ăn xong đi rồi mẹ sẽ nói chuyện với con,” mẹ lạnh lùng đáp.
Mấy ông anh thất vọng khi không có sự khiển trách công khai nào xảy ra nên lại tiếp tục ăn, chỉ có cu cậu Jim Bowie ngọng nghịu, “Chị Callie ơi, chị đi đâu vậy? Em nhớ chị.”
“Chị đi thu thập mẫu thực vật J.B. à,” tôi nói giọng sang sảng và hồ hởi. Cả bố lẫn mẹ đều ngước nhìn. “Sau đó mới bị đạp vào hố con lửng, chắc mắt cá chân chị bị vỡ mất rồi,” tôi thêm vào.
“Thật không?” J.B. hỏi. “Em xem được không? Em chưa bao giờ thấy mắt cá chân bị gãy cả.”
“Ðể sau đi em,” tôi lầm bầm.
Mẹ thì lại tiếp tục ăn, chỉ có ông nhìn tôi chằm chằm. Suýt nữa là tôi đã cười phá lên rồi.
Tôi quay qua bảo Jim Bowie, “J.B. à, có thể chị vừa tìm được một mẫu thực vật cực kì đặc biệt. Ðúng, thật sự rất đặc biệt. Chị để ở ngoài phòng thí nghiệm ấy, mai mốt chị sẽ cho em xem nếu em muốn. Này, tốt nhất là đừng có vọc đĩa đậu như vậy chứ.”
Tôi liếc trộm sang ông. Còn ông thì vẫn nhìn tôi chằm chặp. Chúng tôi bắt đầu ăn sang phần thịt, còn đến 30 phút nữa mới tới lúc được uống rượu vang nhưng đột nhiên ông làm một việc lần đầu tiên xảy ra trong Lịch Sử Bữa Tối: Ông rời khỏi bàn khi chưa dùng rượu. Ông đứng bật dậy, lấy khăn ăn chùi râu rồi cúi mình sang mẹ bảo, “Một bữa ăn ngon như thường lệ Margaret à. Bố phải đi có việc đây.” Nói rồi ông đi qua bếp ra khỏi nhà trong khi mọi người vẫn há hốc mồm ngạc nhiên. Tôi nghe tiếng ông đóng cửa sau nhà và những bước chân vội vã. Chưa ai thấy cảnh tượng này bao giờ cả. Mẹ bắt đầu trấn tĩnh lại rồi liếc sang tôi.
“Con có liên quan gì đến việc này không đấy?” mẹ hỏi.
“Không đâu ạ.” Tôi nhìn chằm chằm vào đĩa thức ăn của mình.
“Anh Alfred à,” mẹ quay sang bố dò hỏi, “bố Walter có bị sao không vậy?”
“Chắc vậy rồi,” bố lúng túng đáp.
Thấy thế, Jim Bowie đang vọc đĩa đậu thay vì cố ăn cho hết bèn thừa cơ hội nói, “Mẹ ơi, vậy con có được miễn...”
“Không, đừng có vớ vẩn nhé!”
“Nhưng ông được phép...”
“Thôi ngay đi J.B.”
Bữa ăn còn lại trôi qua trong im lặng. Sau đó tôi bị bắt ngồi lại bàn cả tiếng đồng hồ khi SanJuanna dọn dẹp và không được thi đếm đom đóm. Nhưng ai thèm để ý đến trò chơi đó chứ? Tôi chỉ cảm thấy khó chịu khi không được ra phòng thí nghiệm thôi. Chợt tôi phát hiện mình đang siết chặt tay, trước giờ tôi chỉ đọc qua hành động này trong mấy quyển sách tình cảm ủy mị mà thôi. Tôi chuồn khỏi ghế và rón rén đi qua nhà bếp trước khi đồng hồ dừng tiếng điểm chuông. Lúc đó cô Viola đang cho chú mèo nhà Idabella ăn còn SanJuanna thì rửa chén.
“Này cháu...” cô Viola gọi với theo khi tôi chuồn ra cửa sau. Rồi chợt tôi đứng sững người lại khi thấy ông đang đứng trên bậc thềm sau nhà, hút thuốc, mắt nhìn xa xăm lên bầu trời đêm và vuốt ve mấy con Mèo Sân Vườn trong bóng tối. Sau lưng tôi, tiếng bát đĩa lanh canh vang ra từ nhà bếp, còn từ bóng tối, lũ chim đêm bông đùa ríu rít. Tôi cứ đứng đó, cả thế giới như lắng đọng xung quanh mình.
“Calpurnia à,” ông bảo, “đêm nay trời thật đẹp. Cháu lại đây ngồi với ông nhé?”