Quyền của Eva

Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 2
NHỊP ĐIỆU SỚM MAI

❊ ❊ ❊

Định luật di truyền gien vẫn là một điều bí ẩn; chưa ai có thể giải thích được tại sao... những đứa cháu lại thường mang một số tính cách đặc trưng giống ông của mình...

BA NGÀY SAU, tôi trườn xuống nhà dưới và ra ngoài hiên nhà từ rất sớm, trước khi sự huyên náo của mấy anh em trai kịp phá tan bầu không khí yên lành của buổi sáng mai. Cách đường chạy xe vào nhà khoảng 30 bước chân, tôi rải một nắm hạt hướng dương cho lũ chim ăn rồi ngồi xuống tấm nệm cũ rách rưới lôi ra từ phòng chứa đồ. Tiếp đó tôi viết ra danh sách những loài động vật vào trong Sổ Tay bìa da đỏ của mình. Mọi nhà nghiên cứu vạn vật học đều làm như vậy đúng không nhỉ?

Chợt một hạt hướng dương nhảy chồm chồm qua mấy viên đá phiến trên con đường trước nhà. Sao lạ thế nhỉ! Quan sát kĩ mới nhận ra nó là một con cóc nhỏ tí, chỉ dài khoảng 0,6cm, đang gắng sức nhảy liên hồi theo gót một động vật nhiều chân khác, không to hơn cọng chỉ là bao, cả hai đang tìm đến nơi trú thân thích hợp cho mình và biến mất vào bụi cỏ. Tiếp đó một chú nhện săn mồi với kích thước to lớn và thân hình lông lá đáng kinh sợ đang phóng nhanh qua bãi sỏi, tôi cũng không biết là nó đang săn một con vật nào bé hơn hay đang bị một loài vật lớn hơn nào đó rượt đuổi nữa. Tôi nghĩ chắc hẳn đang có rất nhiều những bi kịch xảy ra triền miên xung quanh đây. Nhưng việc ai là kẻ săn, ai là con mồi không quan trọng lắm vì chúng luôn phải đối diện với cái chết hằng ngày. Còn tôi chỉ là một kẻ ngoài cuộc, chỉ có thể đứng nhìn mà thôi. Trong khi đó, những cuộc chiến giữa loài vật ấy sẽ không bao giờ dừng lại.

Tiếp đó, một chú chim ruồi bay loạng choạng quanh góc nhà rồi lao vào giữa bông hoa tulip đang rũ xuống vì khô héo. Không tìm thấy thứ mà nó thích, chú chim bất thình lình bay ngược trở ra rồi sục sạo đến đóa hoa kế bên. Tôi ngồi chỉ cách đó chừng 1m, gần đến nỗi có thể nghe được tiếng u u nho nhỏ vẻ bực bội phát ra từ dưới đôi cánh của nó, tò mò bởi cảnh tượng đó, nhất là vẻ ngoài sặc sỡ và phong thái ung dung, linh động của chú chim ấy. Chợt nó dừng lại ngay trên miệng bông hoa rồi ngoái đầu lại và phát hiện ra tôi. Nó liền chao liệng lên không trung trong giây lát rồi thình lình phóng thẳng về hướng tôi. Tôi cứng hết cả người lại. Tôi thề là nó dừng lại cách mặt tôi chỉ một gang tay rồi dừng lại. Tôi cảm thấy được luồng gió thật nhẹ từ đôi cánh của nó ùa lên trán mình, và theo phản xạ tự nhiên, mắt tôi nhắm nghiền lại. Tôi ước gì mình mở mắt ra quan sát, nhưng đây là phản xạ vô điều kiện nên tôi chẳng thể điều khiển theo ý mình. Đến lúc tôi mở mắt ra được thì chú chim đã bay vút đi. Nó nhỏ như một quả hồ đào có cánh vậy. Lúc đó, không biết vì giận dữ hay tò mò, nó dám lao vào tôi mà không nghĩ được rằng chỉ cần một cú quạt tay nhẹ là tôi có thể hạ gục nó ngay.

Đã có lần tôi chứng kiến con chó cưng Ajax của bố thư hùng với một chú chim ruồi và bị thua cuộc. Chú chim lao vào Ajax mổ lấy mổ để làm cho nó hoảng sợ đến mức phải chạy rút vào hiên nhà trong nỗi nhục nhã. (Làm chó cũng được quyền cảm thấy nhục nhã mà, phải không các bạn). Rồi nó chạy qua chạy lại và bắt đầu liếm láp phần thân dưới, đây chắc chắn là hành động giấu giếm cảm xúc thật của loài chó.

Chợt cửa trước nhà bật mở, ông nội bước ra hiên với chiếc túi da cũ kĩ quàng chéo qua vai, một tay cầm chiếc vợt bắt bướm, tay còn lại nắm chặt cây gậy chống bằng mây.

“Chào buổi sáng nhé cháu Calpurnia,” ông mở lời. Vậy là rốt cuộc ông cũng biết tên tôi đó chứ.

“Chào buổi sáng, thưa ông!”

“Cho ông biết cháu đang cầm cái gì được không?”

Tôi giật nảy cả người lên. “Đây là Sổ Tay Khoa Học của cháu ạ,” tôi lễ phép đáp. “Anh Harry cho cháu đấy ạ. Cháu viết mọi thứ quan sát được vào trong này. Đây là những gì cháu ghi lại được trong sáng nay ông ạ.”

Quan sát không phải là từ tôi thường nói nhưng trong hoàn cảnh này tôi muốn cho ông thấy được sự nghiêm túc của mình trong công việc này. Ông đặt túi xuống đất làm phát ra những âm thanh lanh canh vui tai. Rồi ông lôi kính mắt ra và lướt qua danh sách của tôi:

Chim giáo chủ, đực và cái

Chim ruồi, và những giống chim khác

Vài chú thỏ

Mấy chú mèo

Thằn lằn xanh

Nhiều loại côn trùng

Châu chấu, to/ vàng, nhỏ/ xanh của C.V.Tate (thuộc cùng chủng loại)

Ông tháo kính xuống rồi gõ nhẹ vào trang sách và lên tiếng, “Một khởi đầu tốt đấy.”

“Một khởi đầu hả ông?” tôi đau lòng hỏi lại. “Cháu nghĩ như vậy là đủ mọi thứ rồi chứ ạ!”

“Cháu bao nhiêu tuổi rồi Calpurnia?”

“Mười hai ạ,” tôi đáp.

Ông nhìn tôi ngờ vực.

“Mười một tuổi chín tháng ạ,” tôi buột miệng đính chính. “Theo lý thuyết thì cháu cũng mười hai rồi mà. Đâu có khác gì lắm phải không ông?”

“Vậy cháu đã đọc về ngài Darwin và những kết luận của ông ấy tới đâu rồi?”

“Ồ, chúng thật tuyệt diệu, rất phi thường nữa ạ. Dĩ nhiên là cháu chưa đọc hết nhưng cháu vẫn đang tiếp tục ạ.” Thật ra, tôi đã đọc chương 1 rất nhiều lần nhưng nó quá phức tạp. Sau đó tôi lật thẳng sang phần “Sự chọn lọc của tự nhiên” nhưng vẫn gặp nhiều vấn đề trong ngôn ngữ.

Ông nội lại nhìn tôi với vẻ trang nghiêm. “Ngài Darwin không viết sách cho lứa tuổi mười-một-lẻ-chín-tháng-sắp-thành-mười-hai đâu cháu. Có lẽ chúng ta có thể thảo luận về những học thuyết của ông ấy. Cháu có muốn làm điều này không?”

“Vâng,” tôi hồ hởi đáp. “Dĩ nhiên là muốn rồi, thưa ông!”

“Ông đang định ra sông bắt thêm mẫu vật. Hôm nay đến phiên một loài Odonata khác, có lẽ là chuồn chuồn thường và chuồn chuồn kim. Cháu có muốn đi cùng không?”

“Vâng, thưa ông.”

“Mang theo Sổ Tay của cháu nhé.” Ông mở túi xách ra, tôi thấy trong đó có vài lọ thủy tinh, cuốn Hướng dẫn bắt côn trùng, hộp cơm trưa, và một chiếc bình thót cổ bằng bạc cỡ nhỏ. Rồi ông nhét quyển Sổ Tay màu đỏ cùng cây viết chì của tôi vào cạnh đó. Còn tôi thì cầm lấy chiếc vợt bắt bướm của ông rồi khoác lên vai.

“Xin mời?” ông hỏi và chìa tay ra như những quý ông thường làm để khoác tay các quý cô đi ăn tối. Tôi liền choàng tay mình vào tay ông. Ông quá cao so với tôi nên cả hai cứ loạng choạng va vào nhau khi bước xuống bậc thềm nhà, được một lúc thì tôi rút tay ra rồi đan ngón tay tôi vào tay ông. Bàn tay ông chai sần, móng tay dày cộp vồng cả lên, một tác phẩm diệu kì được tạo nên bởi da và sừng. Thoạt đầu ông tỏ vẻ ngạc nhiên nhưng sau đó thì bình thường trở lại, nguyên do vì sao thì tôi cũng không rõ. Nhưng chẳng sao vì bây giờ tay ông đang nắm chặt tay tôi rồi.

Chúng tôi rẽ lối băng ngang cánh đồng rộng lớn ra sông. Trên đường đi, ông nội hay dừng lại để săm soi vài chiếc lá, hòn đá, hay một đụn đất nhỏ, những thứ này chả hấp dẫn tôi tẹo nào cả. Điều tôi ấn tượng là cái cách ông khom người xuống, quan sát thật chăm chú vào một vật trước khi từ tốn cẩn trọng đưa tay ra chạm vào chúng. Ông nhẹ nhàng cẩn thận với bất cứ thứ gì ông đụng tới, quan sát xong một con bọ là đặt chúng lại vị trí cũ, đùn lại từng mô đất trở về nguyên trạng. Tôi chỉ biết kiên nhẫn đứng chờ với chiếc vợt bắt bướm, chân tay ngứa ngáy chỉ muốn chộp lấy một thứ gì ngay thôi.

“Calpurnia, cháu có biết là lớp Côn Trùng có số giống loài nhiều nhất mà con người từng khám phá ra không?”

“Nội à, không ai gọi cháu bằng cái tên Calpurnia trừ mẹ ra, và cái tên đấy chỉ dùng khi cháu đang gặp rắc rối to thôi ạ!”

“Có vấn đề nghiêm trọng gì về việc này nhỉ? Cái tên này dễ thương mà. Người vợ thứ tư mà Pliny the Younger[1] cưới vì tình yêu đích thực cũng tên Calpurnia đấy, và từ mối tình này mà ông đã để lại cho thế hệ sau bao bức thư tình tuyệt vời, bất hủ. Còn một loại cây lấy keo thuộc họ Calpurnia - cây kim tước, chủ yếu mọc gần lục địa Phi châu nữa. Ngoài ra còn vợ của Julius Caesar, được Shakespeare nhắc tới trong tác phẩm của mình cũng mang tên đó. Ông còn có thể liệt kê ra thêm nhiều bằng chứng hơn nữa đấy.”

“Ồ, bây giờ cháu mới biết đấy.” Sao chẳng ai nói cho tôi biết về mấy điều này nhỉ? Tất cả các anh em trai của tôi, trừ Harry ra, đều được đặt tên theo những vị anh hùng danh tiếng của Texas, hầu hết những người đó đều đã hi sinh anh dũng ở Alamo. (Harry được đặt tên theo một người chú độc thân giàu có không có con cái). Còn tên tôi thì được đặt theo chị gái của mẹ. Tôi nghĩ lẽ ra chuyện còn tồi tệ hơn nữa: các em của mẹ là Agatha, Sophronia và Vonzetta. Thật ra, tên của tôi lẽ ra còn có thể tệ hại hơn nhiều nữa ấy chứ, như con của Thống đốc Hogg, Ima chẳng hạn. Trời ạ, Ima Hogg! Bạn có thể tưởng tượng nổi không? Tôi không biết sắc đẹp và tiền tài của cô có đủ bảo vệ cô ta khỏi sự tra tấn bằng cái tên ấy suốt cả cuộc đời không nữa? Có lẽ nếu như bạn giàu có thì chả ai dám chế nhạo gì bạn cả. Còn tôi, với cái tên Calpurnia mà tôi ghét cay ghét đắng này, vì sao... vì sao nó lại là một cái tên thật đẹp chứ, một cái tên mang đầy tính thơ ca. Thật là... thật là bực bội khi chả ai trong nhà thèm nói cho tôi biết.

Rồi từ lúc đấy, tôi chấp nhận cái tên gọi Calpurnia này.

Chúng tôi tiếp tục rẽ qua những bụi rậm và rừng cây. Bất kể tuổi tác và chiếc kính lão, mắt của ông tỏ hơn của tôi rất nhiều. Những chỗ mà tôi chỉ thấy toàn là lá và cành khô thì ông lại phát hiện ra mấy chú bọ cánh cứng nằm im ngụy trang, mấy tên thằn lằn bất động và cả vài con nhện đang ẩn mình nữa.

“Nhìn kìa,” ông bảo. “Một con bọ hung, có lẽ thuộc loài Cotinus texana. Một loài bọ vô hại. Không dễ tìm thấy nó trong mùa hạn hán này đâu. Bắt nó vào vợt đi, nhẹ nhàng thôi nhé!”

Tôi quơ lưới và bắt được nó ngay. Ông gỡ con bọ ra, cầm trong tay và cùng tôi quan sát. Nó dài khoảng 2,5cm, màu hơi xanh, ngoài ra nhìn vẻ ngoài thì không có gì đặc biệt. Ông bèn lật ngửa nó lại, tôi nhìn thấy phần dưới bụng nó phát sáng, một màu xanh xanh, ngũ sắc ẩn hiện những ánh tím. Màu sắc dần thay đổi khi nó cựa mình trong sợ hãi. Nó làm tôi nhớ lại chiếc trâm cài tóc làm từ vỏ bào ngư của mẹ, rất đẹp và hiếm.

“Nó đẹp quá,” tôi thốt lên.

“Nó có họ hàng với bọ hung cánh cứng, con vật này được người Ai Cập xưa tôn sùng như hiện thân của mặt trời bình minh và kiếp sau. Đôi khi họ còn đeo nó như trang sức.”

“Thật hả ông?” trong đầu tôi thắc mắc làm sao để con bọ nằm yên trên áo được. Tôi tưởng tượng đến việc dùng kim dài ghim vào hay dán dính bằng keo dùng để dán giấy dán tường; nhưng có vẻ chẳng có ý tưởng nào thuyết phục cả.

“Cầm lấy này,” ông bảo rồi đưa nó cho tôi.

Ông bỏ nó vào lòng bàn tay tôi, thật tự hào khi tôi chẳng hề ngần ngại đón lấy. Con bọ cựa quậy trong tay tôi gây cảm giác nhồn nhột.

“Mình có cần giữ nó lại không ông?” tôi hỏi.

“Ông có một con trong thư viện rồi, cháu thả con này đi đi.”

Tôi đặt bàn tay xuống đất và rồi con bọ Cotinus texana nhảy ra, bò đi với vẻ vô sự.

“Cháu biết gì về Phương pháp Nghiên cứu Khoa học, Calpurnia?” Nghe giọng ông, tôi biết là mấy chữ đó được viết hoa rồi.

“Dạ cũng chút đỉnh thôi ạ.”

“Trong trường cháu học gì? Cháu có đi học mà, phải không?”

“Có chứ ạ. Cháu học môn Đọc, Đánh vần, Số học và Viết Chữ đẹp. À, còn Giáo dục Hành vi Ứng xử nữa. Cháu được 'khá' cho Dáng đi nhưng 'không đạt' cho Sử dụng khăn tay và Đê thêu. Mẹ có vẻ không hài lòng về điều này ạ.”

“Chúa ơi,” ông thốt lên. “Tệ hơn ông nghĩ nhiều.”

Một câu cảm thán của ông nhưng tôi không hiểu lắm.

“Và không có Khoa học? Không có Vật lý?” ông hỏi.

“Có một ngày chúng cháu được nghiên cứu Thực vật học. Còn Vật lý là gì vậy ông?”

“Cháu có từng nghe tới ngài Isaac Newton hay ngài Francis Bacon chưa?”

“Chưa ạ.” Những cái tên đó nghe thật buồn cười nhưng nhìn vẻ mặt nghiêm trang của ông, tôi biết rằng đề tài này cực kì nghiêm túc và nếu tôi không bàn thảo một cách nghiêm túc thì hẳn ông sẽ thất vọng lắm.

“Ông đoán họ còn dạy cháu rằng trái đất này hình phẳng và tồn tại những con rồng nuốt chửng được cả mấy con tàu rớt khỏi bờ vực của trái đất nữa, phải không.” Nói rồi ông ngó tôi chăm chăm. “Còn nhiều thứ để nói lắm, hi vọng là không quá muộn để cho cháu biết. Tìm chỗ nào đó để ngồi đi.”

Chúng tôi tiếp tục đi ra bờ sông và tìm thấy được một bóng mát dễ chịu dưới gốc cây hồ đào. Sau đó, ông nói rất nhiều thứ làm tôi mê muội cả đầu óc. Ông dạy tôi cách để biết được sự thật của mọi thứ, không phải chỉ ngồi nghĩ đến nó như Aristotle từng làm (Aristotle là một quý ông Hy Lạp thông minh nhưng hay ngượng ngùng) mà phải đi ra ngoài để chứng kiến tận mắt; phải lập ra Giả Thuyết và làm Thực Nghiệm, dùng các phương pháp Quan Sát để đưa ra Kết Luận, lặp đi lặp lại nhiều lần. Ông kể cho tôi về Nguyên lý dao cạo Occam[2], về Định lý Ptolemy[3], và con người đã nhận định sai lầm về mặt trời và những hành tinh suốt bao nhiêu thế kỷ ra sao. Ông còn giảng giải cho tôi về Linnaues[4] và hệ thống đặt tên động vật trong Hệ Tự Nhiên và con người hiện tại vẫn tuân theo quy tắc đó để gọi tên các loài giống mới phát hiện như thế nào. Rồi đến Copernicus[5] và Kepler[6] và vì sao quả táo Newton lại rơi xuống và không bay lên. Sau đó là mặt trăng luôn quay tròn theo quỹ đạo quanh trái đất như thế nào. Về sự khác nhau giữa phương pháp diễn dịch và quy nạp, ngài Francis Bacon[7] đã tìm ra và đặt tên chúng ra sao. Ông còn kể tôi nghe ông đã từng đến Washington vào năm 1888 để tham gia vào một tổ chức của những người tự gọi mình là Hiệp hội Địa lý Quốc tế. Họ cùng nhau đi đến những vùng hẻo lánh trên trái đất để kéo đất nước ra khỏi vũng lầy của sự mê tín và những suy nghĩ tiêu cực gây ra bởi chiến tranh giữa các tiểu bang. Những kiến thức về thế giới mà ông đang nhẫn nại giải thích cho tôi dưới tán cây đầy những con ong đang uể oải lượn lờ và những bông hoa dại này thực sự quá cao siêu so với Sử dụng khăn tay và Đê thêu.

Thời gian trôi qua, mặt trời dịch chuyển (hay nói chính xác hơn là chúng tôi đang di chuyển ở dưới mặt trời, chậm chạp chuyển từ ngày tiến về phía đêm tối). Chúng tôi cùng nhau chia một miếng sandwich dày đầy phô mai và hành tây, một miếng bánh hồ đào và một bi-đông nước. Ông hớp vài ngụm rượu trong chiếc bình nhỏ bằng bạc rồi hai ông cháu thiếp đi một chốc; xung quanh, mấy con bọ vo ve thi thoảng đốt trộm, cùng những bóng râm lốm đốm nắng nhảy nhót vòng quanh.

Một lúc sau, hai ông cháu thức dậy, lấy khăn tay nhúng xuống sông, lau mặt cho tỉnh ngủ rồi tiếp tục khám phá dọc bờ sông. Theo gót chân ông, tôi bắt được rất nhiều những động vật lạ đang bò, bơi lội và cả đang bay trên trời nữa; chúng tôi xem xét tất cả bọn chúng nhưng ông chỉ giữ lại một con và bỏ vào trong lọ hiệu Mason, bên trên nắp có đục những lỗ thông hơi, tôi biết xuất xứ của nó là từ nhà bếp. (Viola lúc nào cũng than phiền về đám chai lọ bị mất tích và mẹ luôn đổ tội cho mấy anh em trai của tôi, đến bây giờ tôi mới biết, lần đầu tiên trong lịch sử, bọn họ thật sự vô tội). Có một miếng giấy nhỏ dán gọn gàng trên lọ để làm kí hiệu. Theo chỉ dẫn, tôi ghi lại ngày tháng bắt mẫu vật, nhưng không biết ghi vị trí bắt là ở đâu.

“Hãy nghĩ xem bây giờ ông cháu mình đang ở đâu,” ông bảo. “Cháu có thể miêu tả nó một cách ngắn gọn để khi cần thiết mình có thể tìm lại địa điểm này ngay không?”

Tôi ngắm góc của ánh mặt trời rọi qua những ngọn cây và nhớ lại chúng tôi đã đi được bao xa. “Cháu ghi là cách nhà Tate 1,5 dặm về phía Tây, gần cây sồi ba nhánh có được không ạ?”

Ông đồng ý. Chúng tôi tiếp tục rảo bước đến khu vực lũ nai thường lảng vảng, xung quanh rải rác phân động vật. Hai ông cháu ngồi xuống và lặng im chờ đợi. Rốt cuộc một con hoẵng cái đuôi trắng nhẹ nhàng xuất hiện. Chỉ chút nữa thôi là tôi có thể chạm vào nó. Làm sao một con vật to lớn lại có thể di chuyển không tiếng động dưới những tán cây um tùm như thế nhỉ? Cô nàng ngoái chiếc cổ dài lại và nhìn thẳng về phía tôi, và lần đầu tiên trong đời mình tôi thực sự cảm nhận được sự quyến rũ của “đôi mắt nai”. Đôi mắt nâu to tròn sâu thăm thẳm, ánh nhìn dịu dàng và thật nao lòng. Hai vành tai hoạt động độc lập và có thể vẫy về mọi hướng. Chợt một vạt nắng rọi vào đôi tai đỏ mọng ấy làm chúng chuyển sang màu hồng rực rỡ. Trong tôi lúc này, đây chính là con vật đẹp nhất mà tôi từng thấy, một vài giây sau, thân mình phủ lông nâu vàng đốm trắng của nó lững thững hiện ra trong tầm mắt tôi. Ôi, tấm thân nâu vàng với những nét cong hoàn hảo, cái mặt xương xương, bộ lông còn hơi xù lên và bốn chiếc chân yếu đuối mong manh, tất cả như làm tim tôi tan chảy. Tôi chỉ muốn ôm chầm lấy nó vào lòng mình, bảo vệ nó khỏi những viễn cảnh đầy hiểm nguy dưới nanh vuốt của sói, cái đói và những tay thợ săn luôn rình rập. Mà sao có ai nỡ bắn giết con vật đáng yêu này cơ chứ? Chợt ngay sau đó, nàng nai thực hiện một động tác không tưởng: nó gập chân trước rồi đến chân sau, rạp người xuống đất và... biến mất. Những đốm trắng trên tấm lưng màu nâu của nó như trùng lắp với những hạt nắng nên một giây trước đó tấm thân nâu vàng ấy còn ở đây, nhưng ngay giây tiếp theo đã chẳng còn lại gì ngoài mặt đất trơ trọi.

Hai ông cháu ngồi lặng im mất cả năm phút sau rồi mới lặng lẽ gom đồ đạc đi tiếp. Chúng tôi cứ thế đi dọc theo bờ sông đến khi bóng chiều tà dần buông mới bắt đầu rẽ lối qua những bụi rậm về nhà. Trên đường về, ông tìm thấy một vật thuộc dạng hiếm hoi và mỏng manh nhất của thế giới hoang dã: một chiếc tổ chim ruồi cũ kĩ, được đan kết lại rất khéo léo, nhỏ hơn cái chén đựng trứng.

“Thật may mắn quá!” ông thốt lên. “Hãy quý trọng nó nhé, Calpurnia. Có lẽ suốt cả đời này cháu cũng chẳng có dịp thấy lại một cái khác đâu.”

Chiếc tổ chim được đan kết với một cấu trúc cực kì phức tạp, cứ như là được tạo thành bởi mấy nàng tiên nhỏ trong chuyện cổ tích. Xém chút nữa tôi buột miệng thốt ra điều này nhưng đã kìm lời kịp lúc. Một thành viên của hội khoa học không thể nói ra một điều như thế được.

“Chúng ta mang nó về bằng cách nào đây ông?” tôi hỏi. Tôi vẫn chưa dám chạm vào nó.

“Cứ cho nó vào lọ. Trong thư viện ông còn một chiếc hộp kính đựng vừa nó đấy. Cháu có thể trưng bày nó trong phòng, chứ giữ nó trong hộc tủ thì mất hết giá trị.”

Thư viện là cấm địa của ông, đến bố mẹ tôi cũng hiếm khi bước vào. Chị SanJuanna được vào quét dọn một lần trong mỗi quý. Còn bình thường thì ông luôn khóa kín cửa. Có điều ông không biết là trong những lúc người lớn không có nhà, mấy anh em trai của tôi công kênh nhau lên trèo qua đố cửa để vào phòng. Sam Houston, anh ba của tôi, có lần được xem kĩ cuốn sách ảnh về chiến tranh của Mathew Brady, sau đó anh thì thào thuật lại cho bọn tôi nghe về mấy con ngựa bị phanh thây nằm trong đống bùn, và mấy người lính chân trần đã chết nhưng mắt vẫn mở trừng trừng nhìn lên trời.

Chúng tôi về đến nhà khoảng 5 giờ. Jim Bowie cùng Ajax chạy ra đón mừng ngay lúc phát hiện hai ông cháu thấp thoáng đi từ bờ sông lên.

“Callie, chị gặp rắc rối rồi đấy.” J.B. phùng mang trợn má. “Mẹ đang rất giận đấy.” Nó chẳng màng đến sự có mặt của ông. “Mẹ bảo chị đã trốn giờ học đàn dương cầm hôm nay.”

Ừ nhỉ, lớp học dương cầm của bọn tôi đã bắt đầu lại rồi, và tôi biết rằng mình sẽ phải tập bù, cộng thêm nửa tiếng làm hình phạt. Luật là như vậy, nhưng tôi chẳng quan tâm. Hôm nay hoàn toàn xứng đáng để tôi hi sinh. Bị phạt thêm cả ngàn tiếng tập dương cầm cũng không sao ấy chứ.

Chúng tôi vào nhà, ông cho chiếc tổ chim ruồi vào hộp kính rồi đưa cho tôi. Sau đó tôi để mặc ông làm tiếp mấy việc vặt vãnh trong thư viện rồi đi tìm mẹ để biện hộ việc trốn giờ học dương cầm, mặc dù biết rằng chẳng có kết quả khả quan gì.

Rốt cuộc tôi cũng đã tranh thủ thực hiện hình phạt trước giờ ăn tối, nhưng hôm nay tôi chơi đàn với một tâm hồn trong trẻo, nhẹ nhõm, ít nhất là tự tôi cảm thấy vậy. Tối đó tôi đi ngủ với cơ thể mệt mỏi nhưng tâm trạng thì phấn khích tột độ; còn trên bàn gương, chiếc tổ chim ruồi chễm chệ cạnh mấy cây cài tóc và dây nơ của tôi.

Một tuần sau đó, danh sách quan sát trong buổi sáng của tôi bao gồm:

5g15 sáng, trong lành, có chút gió nam

8 con thỏ (7 con thỏ bông, 1 con thỏ rừng tai to)

1 con chồn hôi (con nhỏ, có vẻ đang đi lạc)

1 con chồn treo (lỗ tai trái hình chữ V)

5 con mèo (3 con mèo nhà tôi, 2 con mèo hoang)

1 con rắn (rắn cỏ, không nguy hiểm)

1 con thằn lằn (màu xanh giống màu cuống hoa huệ tây, rất khó phát hiện)

2 con diều hâu đuôi đỏ

1 con ó butêo

3 con cóc

2 chú chim ruồi (thuộc loài Rufous?)

Phân loại Odonata, Humenoptera, Arachnidae

Tôi đưa ông xem, ông gật gù. “Chỉ cần ngồi lặng im quan sát mà cháu đã thấy được nhiều thứ tuyệt vời, đúng không?”

❀ ❀ ❀

[1] Gaius Plinius Caecilius Secundus, (61 trước CN -112 trước CN), hay còn gọi là Pliny the Younger, là một luật sư, tác gia và một quan tòa của La Mã cổ đại.

[2] Nguyên lý Dao cạo Ockham (hay còn gọi là Occam) áp dụng trong triết học và khoa học, với nội dung rằng trong các lý thuyết để diễn dịch một thực kiện, lý thuyết càng đơn giản càng có khả năng đúng đắn. Nguyên lý này của William xứ Ockham (sinh khoảng 1248, mất khoảng 1348) - một thầy tu dòng Francis và triết gia kinh viện người Anh.

[3] Định lý Ptolemy hay Đẳng thức Ptolemy là đẳng thức trong hình học Euclid miêu tả quan hệ giữa độ dài bốn cạnh và hai đường chéo của một tứ giác nội tiếp đường tròn. Định lý này mang tên nhà toán học và thiên văn học người Hy Lạp cổ đại Ptolemy.

[4] Carl Linnaeus (1707 - 1778) là một nhà Thực vật học, một bác sĩ kiêm nhà Động vật học người Thụy Điển, người đã đặt nền móng cho hệ thống danh pháp hiện đại. Ông được biết đến như là cha đẻ của hệ thống phân loại hiện đại ngày nay. Ông cũng được tôn vinh là một trong những người tiên phong của ngành Sinh thái học hiện đại và được tôn vinh là “Hoàng tử của giới Thực vật học”.

[5] Nicolaus Copernicus (tên tiếng Ba Lan: Mikolaj Kopernik) (1473 -1543) là một nhà thiên văn học đã nêu ra hình thức hiện đại đầu tiên của Thuyết nhật tâm (Mặt trời ở trung tâm).

[6] Johannes Kepler (1571 - 1630), người Đức - một gương mặt quan trọng trong cuộc cách mạng khoa học, là một nhà toán học, nhà chiêm tinh học, nhà thiên văn học, và là một nhà văn ở buổi đầu của những truyện khoa học viễn tưởng. Ông nổi tiếng nhất với định luật về chuyển động thiên thể và cuốn sách giáo khoa Tóm tắt thiên văn học Copernicus.

[7] Francis Bacon (1561 - 1626) là một nhà triết học, chính khách và tiểu luận người Anh. Ông được biết đến là một nhân vật quan trọng của Cách mạng khoa học và được xem là cha đẻ của chủ nghĩa duy vật Anh và các ngành khoa học thực nghiệm hiện đại.

Nguyên tác: The Evolution of Calpurnia Tate Người dịch: Lâm Thanh Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.