Quyền của Eva

Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 23
HỘI CHỢ FENTRESS

❊ ❊ ❊

Ước muốn sao trôi qua quá nhanh và sự nỗ lực của con người cũng ngắn ngủi như vậy! Thời gian mới ít ỏi làm sao! Vì vậy sản phẩm của con người luôn luôn không thể so sánh được với những gì mà thiên nhiên tích trữ tạo nên...

TÔI KHÔNG CÓ QUYỀN LỰA CHỌN. Cô Harbottle ra lệnh tất cả nữ sinh trong trường phải đem đồ may thêu của mình tham dự mấy cuộc thi ở hội chợ và mẹ tôi hưởng ứng nhiệt liệt. Hôm đó, tôi phải bày biện ra tất cả những sản phẩm của mình lên giường trong phòng để mẹ và cô Viola vào phòng kiểm tra. Có tổng cộng ba đôi tất len màu nâu tôi đan cho mấy anh em, một chiếc áo khoác đan bằng kim móc tặng cho người nghèo, một chiếc cổ áo bằng đăng-ten xấu xí méo mó, phần đầu thì xộc xệch nhưng về sau cũng gọn gàng hơn. Tôi còn thêu một chiếc chăn bông, nhưng nó thô sơ đến nỗi nhìn như tác phẩm của Toddy Gates, đứa em bị thiểu năng của Lula, làm ra vậy. Mẹ rùng mình quay mặt đi rồi bàn bạc với cô Viola và xem xét mấy mẫu còn lại. Sau bao tiếng thở dài, họ chọn ra được chiếc cổ áo bằng đăng-ten đi dự thi.

Mẹ cứ suy tư vẩn vơ khi gói nó vào miếng khăn giấy, “Không biết có phải ghi họ của nhà mình lên đây không nhỉ.” Bà nhìn lên và bắt gặp vẻ mặt thảng thốt của tôi và cô Viola nên vội vã tiếp lời, “chắc chắn là phải ghi rồi.”

Nhưng ngược lại, để vô danh lại là một ý hay đối với tôi, “Mẹ có nghĩ rằng con có thể dự thi mà không cần ghi họ tên không? Con không có vấn đề gì cả.”

Mẹ đỏ mặt bảo, “Ðừng vớ vẩn thế. Con phải dành tâm huyết cho nó khi con làm ra nó chứ, dĩ nhiên phải để họ tên con - à, họ tên chúng ta - lên đó chứ.” Mặc dù vậy bà vẫn tỏ vẻ rất suy tư. Cho dù mẹ có xin phép cô Harbottle về việc không để tên hay không cũng chẳng có ý nghĩa gì với tôi cả, tên tôi sẽ dính trên đó mà thôi. Thật đáng đời tôi mà.

Không có nam sinh nào bị bắt buộc phải dự thi cả nhưng Travis xung phong tham gia với chú thỏ Angora (thỏ lông mượt và dài) tên Bunny của nó. Bunny là một chú thỏ mập mạp, ngoan ngoãn, với lớp lông dài trắng muốt mà Travis chải chuốt hằng ngày. Sau đó nó đưa Bunny cho một người thợ quay tơ trong vùng để làm cho mẹ một mớ len mềm mại nhất thế giới. Travis còn định bụng cho con bê tham gia cuộc thi thú nuôi một tuổi nữa, nhưng may mắn là Harry đã kịp thời can ngăn khi nhắc nhở cho nó điều gì sẽ chắc chắn xảy ra cho con thú đoạt giải trong cuộc thi này. Vừa nghe xong điều này, Travis đã khiến cho chúng tôi và ban tổ chức hội chợ điên đầu vì hỏi đi hỏi lại để chắc chắn Bunny đang tham gia vào cuộc thi lông thỏ nào đẹp chứ không phải là thi thịt thỏ nào ngon hơn.

Sam Houston thì khắc cả tiểu sử của Tổng thống McKinley lên một miếng gỗ hồ đào, loại gỗ này rất khó dùng để chạm khắc, và tham gia vào cuộc thi chạm khắc nghiệp dư.

Trừ phần dự thi thảm hại của tôi thì ngày hôm nay quả thật rất tuyệt vời, nhất là bọn tôi ai cũng rủng rỉnh tiền trong túi từ lúc làm thêm ở xưởng tỉa hột bông; tôi còn có thêm 15 xu kiếm được từ việc trông trẻ trong mùa thu hoạch sau khi đã trừ phần chia lại cho Sul Ross. Tôi dự định sẽ dùng một phần tiền này để thử uống loại nước mới có tên Coca-Cola.

Khi bình minh ló dạng, mặc dù chỉ phải đi một dặm để đến cuối thị trấn, nhưng cả nhà tôi, kể cả ông nội đều đã yên vị trên xe ngựa to hết rồi. Travis cho Bunny vào trong chiếc lồng kẽm nhốt gà chật chội. Lông con thỏ cấn vào thành lồng và lòi hết cả ra ngoài, những sợi lông trắng bay phấp phới trong nắng như những sợi mây tí hon bồng bềnh. Chúng tôi đậu xe vào bãi cỏ, nơi ngổn ngang những xe ngựa nông trại, xe ngựa hai bánh, xe chó đầy màu sắc gần những chiếc lều nơi tổ chức cuộc thi.

Mẹ dặn dò chúng tôi lần cuối trước khi mỗi người tản ra một nơi. Travis đem Bunny tới lều Ðộng Vật Sống Nhỏ, còn tôi thì tiến đến lều Nghệ thuật Nội trợ với tác phẩm gói ghém cẩn thận trong bìa giấy nâu để không ai có thể thấy được.

Tôi đi ngang chiếc lều to được trang trí bởi vô số lọn giấy bắt ruồi, nơi đang tổ chức cuộc thi nhảy thưởng bánh. Ngoài các loại bánh, nhiều cô gái trẻ của tỉnh còn mang theo bữa ăn trưa để cùng ăn với mọi người hoặc đem ra đấu giá xem chàng trai nào được ngồi ăn chung với mình. Tất cả số tiền này được quyên góp cho Ðội Cứu hỏa Tình nguyện. Tôi đoán sự trao đổi này rất công bằng và dân dã.

Tôi nhanh chóng nộp bài dự thi rồi đi dạo vòng quanh. Ban nhạc Những Người Bạn Lạ Kì đang tấu liên tục những điệu valse và khúc quân hành vang dội khắp hội chợ. Tôi thấy bóng các anh em trai thấp thoáng đó đây và cả những bạn bè cùng trường cũng có mặt. Tôi đứng xem Sam Houston thắng được chiếc còi bằng thiếc từ cuộc thi ném vòng, và sau đó tôi thấy chiếc còi ấy trong tay Lula nhưng bạn ấy cầm nó rất hờ hững và chẳng lấy gì làm chú tâm thích thú đến nó cả.

Tôi đi ngang qua gian hàng HOFACKET NHỮNG BỨC ẢNH ÐẸP CHO NHỮNG KHOẢNH KHẮC ÐÁNG NHỚ - và ông thợ chụp ảnh cũng có mặt. Ông dựng tạm gian hàng này để kiếm mối làm ăn từ những người đi xem hội chợ trong quần là áo lụa và túi rủng rỉnh tiền. Ông đang bận bịu tạo dáng cho một cặp tình nhân trẻ nên không chú ý đến tôi. Thật may mắn vì gần đây ông có gửi thư cho tôi hỏi thăm về Cây Nhỏ nhưng tôi còn chưa có thời gian trả lời bức thư trước đó nữa, thật phiền phức. Chẳng còn hứng thú nào về thư từ khoa học ở đây nữa cả.

Rồi tôi trở lại lều Nghệ thuật Nội trợ, bấy giờ đang sực nức mùi thơm của đồ ăn nướng. Ngài thị trưởng Alexrod lên bục phía trước và bắt đầu bật loa xướng danh những người đoạt giải, bắt đầu từ lớp thực tập. Lần lượt từ bánh mì, bánh mì kiểu, bánh trái cây, và các loại bánh khác. Sau đó là đến phần thêu thùa.

Ông rà lại danh sách rồi đọc lớn, “Hạng ba, Thực Tập Ðăng-Ten, cô Calpurnia Virginia Tate!”

Cái gì? Cái gì?

“Calpurnia Tate, cháu đâu rồi? Lên đây nào!” ông hô lớn.

Trong tâm trạng hoang mang tôi len lỏi qua đám khán giả rồi bước lên bục. Có vài tiếng vỗ tay lác đác phát ra từ đám đông và tiếng hò reo vang mừng dễ nhận ra của mấy anh em tôi từ đằng sau lều. Ngài Axelrod gắn chiếc nơ trắng lên áo tôi. Nhưng lúc này lại chẳng thấy mẹ đâu cả.

“Về nhì là cô Dovie Medlin!”

Dovie mỉm cười điệu đàng bước lên và đứng cạnh tôi cho ngài thị trưởng gắn nơ đỏ lên áo. Cô nàng cười khúc khích cảm tạ. Tôi thật thỏa dạ khi Dovie không giật giải nhất; nhìn nó thật đáng ghét đến khó cưỡng. Tôi luôn chờ đợi nó quay lại và khua môi múa mép với tôi, con người nó là vậy mà.

“Thưa quý bà, quý ông, các bé trai bé gái, chiếc nơ chung cuộc bộ môn đăng-ten thực tập được trao cho... cô Lula Gates! Xin cho một tràng pháo tay nào!”

Lula bước lên. Tôi muốn bạn ấy đứng cạnh tôi nhưng lại phải đứng cạnh Dovie và nhận chiếc nơ xanh. Tôi vẫn còn hoang mang và ngó nghiêng những gương mặt đứng trong lều đang ngó lên bục để tìm gia đình mình. Làm sao tôi có thể đoạt giải được nhỉ? Cái cổ áo đăng-ten của tôi có ra hồn gì đâu? Sau tràng pháo tay cuối cùng tôi nhảy xuống bục để nhận lấy những cái vỗ vai và những lời tán thưởng.

“Chúc mừng cậu, Lula,” tôi nói, một câu nói dễ dàng thốt ra khi tham gia một cuộc chiến không cân sức. “Cậu hoàn toàn xứng đáng đoạt giải nhất. Kĩ thuật làm đăng-ten của cậu là nhất đấy.”

“Sao biết được?” Dovie hối hả lướt qua. Suýt nữa tôi đấm cho nó một cú nếu xung quanh không có quá nhiều nhân chứng thế này rồi.

Lula từ tốn đáp, “Cám ơn cậu Callie. Tớ cũng chắc rằng cậu xứng đáng nhận nơ thưởng mà.”

“Vấn đề ở chỗ là tớ có xứng đáng đâu,” tôi đáp. Và thật sự là tôi không xứng thật mà, mặc dù mẹ biết tin thì sẽ sung sướng đến chết ngất mà thôi. Cô Gates tiến đến cạnh bọn tôi tràn ngập trong niềm hân hoan.

“Tuyệt lắm các cô gái,” bà bảo, “thật là một thời khắc tốt đẹp.”

“Chào cô Gates,” tôi đáp. “Lula làm rất tốt, bạn ấy xứng đáng đoạt giải lắm ạ.”

“Cám ơn cháu Callie. Cô chắc rằng cháu cũng xứng đáng mà,” cô Gates nói.

“Chà,” tôi hồ nghi. “Cô có nhìn thấy tác phẩm của cháu chưa? Cô có muốn xem mấy tác phẩm khác không?”

“Bọn cô cũng muốn lắm nhưng chắc không được. Lula còn tham gia vào cuộc thi đan thêu nữa.”

Tôi chúc hai mẹ con họ may mắn rồi quay lại bàn trưng bày, chen qua đám đông đến bàn để đồ đăng-ten. Mỗi tác phẩm dự thi được gắn trên một tấm bảng hình vuông nền tím sẫm làm nổi bật những chi tiết phức tạp của chúng. Những tác phẩm của người lớn thật sự là những tác phẩm nghệ thuật, những chiếc cổ áo, vải trùm ghế tinh tế đến từng chi tiết như mạng nhện. Cạnh đó thưa thớt vài mẫu của trẻ con. Tôi dấn tới một chút thì thấy mẫu cổ áo không cân xứng của mình nổi bật từng đường chỉ trắng trên nền bìa đen. Và ngay bên dưới là tên họ đầy đủ của tôi được viết nắn nót, nói cho cả thế giới biết ai là tác giả của tác phẩm này.

Tôi quan sát các tác phẩm trong nghi ngại. Ðúng là chỉ có ba mẫu. Mặc dù tôi hiểu rõ rằng mình chẳng có năng khiếu đan đăng-ten gì cả nhưng bị nhận xét công khai bởi người lạ như thế này quả là không dễ chịu chút nào. Tôi chua chát nghĩ về tương lai suốt ngày phải làm đăng-ten. Mặc dù tôi không có ý định đi theo con đường này nhưng bây giờ có người khác nói rằng tôi không thể làm được thì lạ lùng thay tôi lại cảm thấy buồn bã. Nếu như không thể nghiên cứu khoa học, không thể làm Nghệ thuật Nội trợ thì còn lại gì cho tôi trên thế giới này đây? Thật quá lớn lao và kinh khủng để nghĩ tới. Tôi tự an ủi mình bằng những lời của ông trong ghi chép xương hóa thạch và cuốn sách Nguồn gốc các loài: Hiểu được sự việc quan trọng hơn là thích nó. Sự thích thú không cần thiết đối với sự hiểu biết. Thích hay không sẽ chẳng đóng vai trò quyết định trong vấn đề này.

Tôi đi ra khỏi lều, trên ngực là chiếc nơ kì diệu. Tôi có nên tháo nó ra không nhỉ? Tôi không quan tâm gì đến tác phẩm dự thi thì cũng không cần thiết phải coi nặng giải thưởng làm gì. Tôi đặt tay lên định tháo nó xuống nhưng chợt ngập ngừng. Lý trí bảo tôi rằng “tháo xuống đi,” nhưng tay tôi lại phản kháng lại “không tháo”. Cứ thế tôi bước đi đến lều giải khát, tay vẫn đặt lên chiếc nơ, lòng ngập tràn trong sự mâu thuẫn. Tôi sẽ tự thưởng cho mình một ly Coca-Cola trong khi nghĩ ra sẽ phải làm gì với giải thưởng này của mình đây. Dù gì thì tôi cũng đang sẵn sàng nếm thử “thứ nước Giải khát Ngon lành”. Còn câu hỏi mang tính đạo đức đang đeo bám theo tôi nãy giờ thì luôn nan giải.

Cả một hàng dài đứng chờ đợi để được thưởng thức thứ nước uống mới được sáng tạo. Chợt tinh thần tôi chùng xuống khi phát hiện ông Grassel đang xếp hàng ngay sau lưng mình.

“Chào cháu Callie,” ông ta vui vẻ nói. “Ta thấy cháu được thưởng cái nơ kìa, cho ta xem nào.” Ông ta tỏ vẻ như muốn đụng vào cái nơ, và tôi chợt rụt người lại.

“Cái này là giải thưởng cho cuộc thị đan đăng-ten,” tôi lạnh lùng đáp. “Thưa ông.”

“Gia đình cháu khỏe chứ?” ông ta hỏi.

“Ðều khỏe hết ạ.”

Vừa lúc này thì Travis đang lon ton chạy tới, trên ngực là giải nơ màu xanh, lâu lắm rồi mới thấy nó vui vẻ như vậy. Nó đến khoe cho tôi xem, tôi liền kéo nó vào xếp hàng chung với tôi.

“Cho ta xem cái nơ của cháu nào,” ông Grassel đề nghị. “Cái nơ này cho cuộc thi gì nhỉ? À, ‘Cuộc thi thỏ Angora đẹp nhất’. Thỏ Angora kiếm được nhiều tiền lắm đấy. Chuẩn bị hốt bạc chưa, chú bé?”

“Cám ơn ông,” Travis tỏ vẻ ngạc nhiên, “nhưng Bunny là thú cưng của cháu, cháu không bán nó đâu. Nó là con thỏ to và nhiều lông nhất mà cháu từng có đấy ạ.”

“Ðâu có ai bảo cháu phải bán nó,” ông Grassel đáp. “Cháu chỉ cần cho nó đi lai giống và thu tiền phí thôi.”

Travis rất lấy làm thích thú khi nghe thấy vậy. Nó chuyên nuôi mèo nhưng chưa ai gợi ý cho nó đem Jesse James và Bat Masterson đi gieo giống để kiếm tiền cả.

“Vậy là không phải bán con thỏ đi hả ông?” nó hỏi.

“Không Travis à,” ông Grassel đáp. “Chỉ là có ai đó thuê Bunny trong vòng 1 giờ cho ở chung với thỏ cái để sinh thỏ con thôi.”

“Rồi cháu sẽ nhận lại nó hả ông?”

“Ðương nhiên rồi,” ông Grassel đáp.

“Và vậy là kiếm được tiền à?”

“Tiền mặt ngay luôn ấy,” ông đáp.

“Chúa ạ, thế mà cháu chẳng bao giờ nghĩ ra cả. Ông nghĩ là Bunny sẽ không cảm thấy phiền chứ?”

“Ồ,” ông Grassel nháy mắt và nở một nụ cười nham hiểm, “ông cá là Bunny sẽ thích lắm ấy chứ. Nó sẽ còn rất hứng thú để làm thế nữa kìa.” ông ta cười khúc khích.

Travis trầm ngâm, tôi biết rằng cả một chân trời mới đang từ từ mở ra trong đầu nó theo từng bước chân gần tới quầy bán nước.

Tôi đứng quay lưng lại với ông Grassel và giả vờ nhìn ngắm chiếc cờ in quảng cáo màu trắng đỏ phấp phới bay phía trước. Ông Grassel nhanh chóng bắt chuyện với mấy người đứng sau và để cho chúng tôi được yên. Rốt cuộc cũng đến lượt chúng tôi, mỗi người mất một đồng kẽm cho một ly Coca-Cola. Chúng tôi cẩn thận cầm ly nước ra ngoài. Travis hớp một ngụm rồi phán, “Ôi ! Nó làm em nhột quá!” Tôi cũng nâng ly lên và cảm thấy những bong bóng nhỏ nhảy nhót trên môi mình, rồi tôi hớp một ngụm, cảm giác như nó đốt cháy cổ họng, rất ngọt ngào chân thực, chưa bao giờ tôi có cảm giác này cả. Làm sao còn có thể uống nước hay sữa sau khi thưởng thức thứ này nhỉ? Chúng tôi uống cạn ly trong cơn thèm khát rồi nhanh chân quay lại quầy tiếp tục xếp hàng. Lần này chúng tôi mua một lần hai ly, tiêu hết sạch cả tiền tiết kiệm. Rồi hai đứa nhấp thật chậm, ngắm những bọt bong bóng bập bùng trong ly như không bao giờ muốn nó cạn đi. Hai chị em đều cảm thấy hăng hái và thật sự có thể nói là rất sảng khoái. Travis ợ một hơi thật to làm cả hai không nhịn được cười.

“Ðừng có để mẹ nghe thấy em làm vậy đấy!” tôi bảo.

“Không, không!” ...ợ... ợ... “Ðâu phải tại em!” u... ợ... ợ...

Lula và cô Gates đi ngang, trên người Lula đeo đầy nơ giải thưởng, trông chẳng khác nào cây Noel di động ấy. Lula và Travis vẫy tay chào nhau rồi dĩ nhiên là cậu em tôi nhanh chóng chạy theo đuôi cô nàng. Tôi không còn quan tâm rằng mình xếp hạng ba trong cuộc thi đan đăng-ten nghiệp dư nữa rồi. Ai thèm quan tâm chứ? Tôi không biết ông nội đang ở đâu trong khi tôi được nhận vinh dự này. Lamar đi ngang, đang tìm Lula. “Lamar à, anh thấy ông nội ở đâu không?” tôi hỏi.

“Lúc nãy anh thấy ông trong lều kim khí điện máy. Chắc là ông sẽ ở trong đó cả ngày thôi. Nó nằm cạnh lều thú nuôi ấy. Callie này, em cho anh vay một đồng kẽm nhé?”

“Em chẳng còn xu nào cả.”

Lamar tỏ vẻ nghi ngờ. “Tiền thưởng của em đâu?”

Tôi phì cười. “Tiền thưởng nào! Tức cười thật đấy! Họ thưởng cho em cái nơ này này.”

“Cái nơ này thì làm được trò trống gì cơ chứ? Sao em cười như thế? Sao họ lại không thưởng cho em một chút tiền nhỉ? Anh đang cần tiền đi chơi trò bắn súng. Anh chẳng có đồng nào cả.”

“Anh kiếm được nhiều tiền ở xưởng tỉa hột bông lắm mà. Tiền đâu hết rồi?”

“Không có,” anh rầu rĩ đáp.

“Anh xài hết tiền ở cửa hàng rồi phải không? Mua kẹo dẻo cả rồi phải không?” anh ngậm thinh chẳng trả lời. Tôi để cho anh tự càu nhàu về vấn đề tài chính của mình rồi qua lều kim khí điện máy. Dĩ nhiên là ông nội sẽ ở đó rồi, lẽ ra tôi phải nghĩ ra sớm hơn chứ. Thú nuôi và vải cô-tông đâu còn ý nghĩa gì với ông nữa. Càng đến gần lều thì mùi thuốc lá càng nồng nặc. Từng đám khói bốc ra khỏi cửa lều và len qua những khe hở. Có quá nhiều đàn ông đang hút thuốc bên trong tạo cảm giác chiếc lều đang sắp sửa bị bốc cháy.

Vừa ho húng hắng vừa đi vào trong, tôi phải len qua hàng tá đàn ông và mấy cậu bé đang hứng thú tập trung xung quanh máy cày và máy đập lúa mới. Nhưng đám đông hiếu kì thật sự lại nằm ở cuối lều cơ. Tôi bèn chen lấn xuống đấy, liên tục phải nói xin phép lấn qua trong bầu không khí náo nhiệt ồn ào, và bất chợt gặp Harry đang cố mở đường cho Fern Spitty đi qua.

“Anh Harry!” tôi hét lên. “Anh có thấy ông nội ở đâu không?”

“Ông đang đứng kế bên nó cả ngày trời á.”

“Nó là cái gì?” tôi hét hỏi.

“Ðứng kế bên chiếc ô-tô ấy!”

“Ô!” tôi và chị Fern vẫy tay và ra dấu chào nhau rồi Harry dẫn chị đi. Tôi nhìn thấy họ đang tay trong tay rồi nhé.

Chỗ này đông nghịt người. Mất năm phút tôi mới chen được qua chỗ trưng bày ô-tô, không thở nổi với khói xì-gà và tẩu thuốc, nhưng cũng may là tôi đứng ở chỗ không khí trong lành hơn. Trong lúc này thì không thể nào thấy nổi cái gì trên nóc lều vì tất cả bị mờ khuất sau những lọn khói dày đặc. Ðến lúc tưởng chừng như sẽ ngất xỉu vì hơi khói thì rốt cuộc tôi cũng len lỏi qua được vòng khán giả cuối cùng để được tận mắt chiêm ngưỡng một thứ nguy nga huy hoàng nhất từ trước đến nay: một cỗ xe kéo không cần ngựa.

Làm sao để miêu tả nó nhỉ? Nhìn như hiện thân của tốc độ, từng đường nét mang sức mạnh của gió. Những thiết bị được làm bằng đồng thau sáng bóng, miếng chắn bùn cong cong duyên dáng, ghế bọc da đen. Trên chiếc ghế đó, ông nội tôi đang ngồi chễm chệ, mắt chăm chú không rời khỏi tay lái một cách mê mẩn. Cạnh ông là một người đàn ông cao ráo đang hét vào tai ông và múa may gì đó trên bảng điều khiển. Hóa ra ông là chủ của chiếc xe và ông nội đang thương lượng để mua lại ngay chiếc đó bằng tiền mặt, ông nội trả lên gấp hai, gấp ba rồi đến gấp năm lần giá gốc nhưng ông ta nhất quyết không bán bằng bất cứ giá nào. Tôi bò đến bên cạnh chiếc xe rồi kéo áo ông nội khi người đàn ông kia quát “Xin lỗi! Chiếc xe này không phải để bán!” rồi leo ra khỏi xe.

Ông nội nhìn thấy tôi bèn nói gì đó với ông chủ xe rồi chỉ về phía tôi. Tôi không nghe rõ được ông đang nói gì nhưng hình như ông bảo tôi là cháu ông, thế là vài giây sau ông chủ xe liền bế tôi lên đặt vào ghế ngồi cạnh ông nội. Ðám đông tỏ ra vô cùng thích thú từ tiếng khởi động máy rì rì và một lúc sau chuyển sang âm thanh vang rền inh ỏi. Tiếng ồn đó mê hoặc tôi ngay tức khắc, lúc này tôi chỉ biết là phải kéo váy xuống ngang đầu gối để da đùi không bị dính vào lớp da bọc ghế. Chỉ vài giây sau thì có ai đó bế xốc tôi ra khỏi chỗ ngồi đặt xuống đất. Ông nội cũng leo ra khỏi xe và ông chủ lại gật đầu cho phép hai người khác đang nôn nóng đứng đợi lên ngồi thử xe. Không có ai dám hỏi đến việc thử cho xe chạy, vì chỉ kể đến cảm giác được ngồi lên đó đã quá tuyệt vời rồi; được nhìn thấy, được chạm vào và đồng hành cùng sự xuất hiện của nó cũng đủ thỏa mãn.

Ông nội nắm lấy tay tôi rồi hai ông cháu lại chen lấn qua đám đông ra cửa. Tiếng ồn, khói thuốc và mọi người xô đẩy làm tôi choáng váng, mệt nhoài. Tôi thầm nghĩ, Rồi, đến lúc sẽ biết bị ngất xỉu là như thế nào rồi, nhưng nếu mình ngất xỉu ở đây thì cũng phải đứng thôi vì chẳng có chỗ nào để nằm xuống cả. Chắc xỉu lần đầu là như vậy. Ðến lúc tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi nữa thì hai ông cháu thoát được ra ngoài, cùng đứng thở hổn hển bầu không khí trong lành.

Tôi phì phò thở, “Ông đang cố gắng mua cái xe ấy phải không ạ?”

“Ông ấy không chịu bán với bất cứ giá nào, nhưng ông cũng chẳng trách ông ấy được,” ông nội bảo. “Về nhà nhanh thôi. Ông phải viết thư, à không, phải gọi điện ngay cho nhà máy Duryea ở Massachuseets và đặt mua ngay một chiếc mới được. Ðộng cơ đốt trong, nghĩ về nó đi! Nó có sức mạnh ngang với sức kéo của bốn con ngựa đấy!”

“Cháu cảm thấy không được khỏe ông ơi,” tôi bảo. “Chắc cháu phải ngồi nghỉ một lát. Ông cứ đi trước đi.”

Ông nhìn tôi chăm chăm rồi nói, “Mặt cháu đỏ quá. Cháu có chắc là mình không sao không?”

“Chỉ tại hít nhiều khói thuốc quá thôi. Cháu ổn mà,” tôi yếu ớt đáp rồi thấy trời đất tối sầm lại và ngã ngửa ra sau.

RỒI, BÂY GIỜ LÀ NGẤT XỈU. Một vấn đề mà tôi luôn thắc mắc bấy lâu nay. Những nhân vật nữ trong truyện rất hay ngất xỉu, họ quay một vòng cầu kỳ rồi ngã xuống chiếc ghế đệm hay vòng tay êm ái của người đàn ông đang đeo đuổi họ. Những người này luôn rất yểu điệu và lúc nào cũng ngã theo một tư thế trang nhã được sắp đặt sẵn, sau đó sẽ được cho ngửi chiếc lọ chạm khắc cầu kì chứa amoniac và tỉnh lại.

Còn tôi thì lại ngã bật ngửa ra như con bò mộng vừa bị đâm, cũng may là ngã lên cỏ nếu không chắc đã vỡ toác đầu ra rồi. Và tôi cũng không được đánh thức bằng chiếc lọ amoniac mà bằng nửa thùng nước lạnh dội vào mặt. Tôi mở choàng mắt và ngơ ngác nhìn lên trời. Cả một vòng tròn của bao nhiêu mặt người chụm đầu lại nhìn tôi. Ôi trời xanh xanh thẳm, tôi thầm nghĩ. Và kia là những đám mây ti, nhìn như lông của Bunny ấy, sao người nhà lại nhìn tôi như thế nhỉ, và đứa anh hay em ngu ngốc nào vừa dội nước tôi đấy?

“Cưng, cưng ơi, nghe anh nói không?” Tiếng Harry văng vẳng.

Tôi xác định được mặt Harry, nhưng thật kì lạ, nhìn mặt anh cứ như bị gợn sóng, rồi tôi hét lớn đáp lại, “Có chứ Harry.”

Chị Fern Spitty đang đứng cạnh anh. Chị ấy run bần bật rất kì lạ, chiếc nón to tướng trên đầu che khuất một phần đẹp nhất của đường chân trời. Và mặc dù đã gặp chị ấy cả chục lần, tôi vẫn mơ màng nói, “Xin chào, rất vui được làm quen với chị.” Nói xong câu này thì tôi lãnh trọn nốt nửa thùng nước còn lại vào mặt.

Thôi đủ rồi đấy. Tôi gượng người đứng dậy rồi lắc đầu cho nước văng ra khỏi mặt như một con chó ướt rồi lườm một vòng những người đang đứng quanh mình. Ông nội cầm tay nghe nhịp đập của tôi. “Calpurnia,” ông hỏi, “loài nhện nào thường được biết đến với cái tên nhện bố chân dài?”

“Opiliones ạ,” tôi chanh chua đáp.

“Tốt rồi. Ta chắc là nó đã ổn rồi đấy,” ông bảo.

“Ngừng dội nước ngay,” tôi hét lên với vòng người.

Travis và Sam Houston đang đứng cạnh ông, tôi không thấy cái thùng nào cả, chắc chắn là chúng đang giấu sau lưng rồi. Sau đó dĩ nhiên mọi người lại quan trọng hóa vấn đề khi giúp tôi đứng dậy, phủi hết cỏ ra khỏi mặt, cho uống một cốc nước chanh và mượn một chiếc xe ngựa chở tôi về. Nhà gần như vậy nhưng chẳng ai chịu cho tôi đi bộ cả. Không tìm được bố mẹ nên Harry đánh xe ngựa về, bên cạnh anh kè kè chị Fern.

Luồng gió mát trong lành thổi ngang qua mặt khi xe phi nước kiệu về nhà làm tôi cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều. Sự quan tâm lúc đầu có vẻ ấm áp nhưng rồi nhanh chóng trở thành ngột ngạt khi tôi hoạt bát trở lại.

Cô Viola gặp bọn tôi ở trước cửa nhà, liếc mắt nhìn tôi và hỏi, “Chúa ơi, gì nữa đây ông Harry?”

Tôi không nghĩ có việc gì mà cô phải dùng cái giọng ấy với Harry cả, nhất là trước mặt khách khứa như vậy nữa.

“Không có gì đâu cô,” tôi nghiêm trang đáp. “Cháu ngất xỉu, chỉ có vậy thôi. Không có gì cần cô quan tâm đâu.”

“Nó ổn thôi cô Viola ạ,” Harry nói. “Trong lều nóng và ngột ngạt khói thuốc nhiều quá. Vào nhà ngồi nghỉ thôi. Spitty ơi, vào nhà dùng một tách trà hay nước chanh nhé?”

Rồi Spitty bảo nước chanh sẽ tuyệt vời hơn nên cô Viola đi pha. Chúng tôi ngồi ở phòng khách nhìn nhau. Tôi nhìn kĩ mặt chị ấy và không thấy chút vẻ hám của nào giống như Minerva Goodacre cả. Chị Spitty có mái tóc vàng hung đỏ, mặc dù màu này lỗi thời rồi nhưng tôi lại thấy nó rất đẹp. Da dẻ chị ấy ngả màu hồng nhạt, mắt xanh da trời, và mặc dù nhìn chung chung thì có vẻ nhợt nhạt và thanh tao nhưng tính hoạt bát và năng động làm chị không nhạt nhẽo chút nào. So với cô nàng Goodacre đáng ghét kia thì chị ấy hơn hẳn. Có lẽ tôi nên ban tặng sự đồng tình cho chị ấy thôi, rồi mọi người đều sẽ cảm thấy hài lòng. Chị nhìn sang tôi mỉm cười và tôi cũng hé nở môi đáp lại; trên mặt lò sưởi đồng hồ vẫn tích tắc kêu.

Cô Viola quay lại, đặt khay đựng bộ tách trà sứ đẹp nhất nhà xuống bàn. Cô nhìn tôi bảo, “Cô Calpurnia à.”

“Gì ạ?”

“Cô nghĩ đến lúc cháu phải nghỉ ngơi rồi đấy, vừa ngất xỉu xong mà.”

“Cháu khỏe mà.”

“Cô nghĩ,” cô Viola lại tiếp, “đến lúc đi nghỉ rồi.”

“Cháu muốn uống trà mà,” tôi bảo.

“Cô nghĩ,” cô Viola cương quyết, “đến lúc rồi. Ði ngay bây giờ.”

“Ồ.”

“Cô sẽ mang trà lên phòng cho cháu,” cô bảo.

“Ðược thôi.” Lại làm người thừa rồi đây. Dù sao nghĩ tới việc nằm cuộn mình trong chăn, đầu đắp khăn lạnh, đọc Ðảo châu báu cũng tuyệt lắm. Tôi rời khỏi phòng khách lên lầu, để cho dàn hợp xướng của ly tách và tiếng lanh canh của muỗng trà hòa quyện vào nhau. SanJuanna đem lên cho tôi một bình nước lạnh và chiếc khăn sạch. Sau đó tới lượt cô Viola mang lên khay ấm trà sứ đẹp thứ nhì trong nhà để giảng hòa việc đã tống cổ tôi khỏi phòng khách lúc nãy.

Cô dặn dò, “Cháu phải cẩn thận với khay trà này nhé. Nếu làm bể một cái gì thì...”

“Cô không cần phải dặn thế đâu ạ.”

Cô đặt khay trà xuống rồi ngắm nghía chiếc nơ tôi đặt trên bàn gương.

“Cháu đoạt giải à,” cô hỏi. “Làm sao có chuyện này được nhỉ?”

“Thế theo cô đoán là vì sao?” tôi càu nhàu.

“Giám khảo bị mù à?”

“Ha ha.”

“Rồi cô hiểu rồi,” cô lờ mờ đoán. “Có ba tác phẩm dự thi thôi chứ gì.”

“Chính xác.”

“Ừm. Nhưng cháu cũng không cần tiết lộ điều này với ai đâu. Này, đừng có làm sứt mẻ thứ gì đấy nhé.”

Cô đi ra ngoài rồi đóng cửa lại. Tôi ngưỡng mộ họa tiết bông hồng màu hồng và vàng trên nền sứ trong mờ và nhận thấy rằng một số cách trang trí của nền văn minh khác cũng thật đẹp. Tôi nhấp một ngụm trà rồi quay về với những người bạn đồng hành suốt buổi chiều cùng tôi: những tên cướp biển, mấy con vẹt và biển cả.

Nguyên tác: The Evolution of Calpurnia Tate Người dịch: Lâm Thanh Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.