Quyền của Eva

Lượt đọc: 108 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 9
PETEY

❊ ❊ ❊

Đặc tính riêng của con tằm thường sẽ xuất hiện vào thời kì thành sâu bướm hoặc giai đoạn làm kén.

MÙA HÈ CỨ THẾ TRÔI QUA, tôi dành nhiều thời gian hơn để nghiên cứu khoa học và dĩ nhiên là ít tập đàn dương cầm hơn. Nhưng việc này có vẻ chẳng hay ho chút nào vì mỗi lần trốn học là tôi phải tập lại và còn phải tập thêm nửa tiếng đồng hồ nữa chứ. Vào thứ 7, sau khi tập suốt hai tiếng đồng hồ (!), tôi chuồn ra thư viện với cuốn Sổ Tay.

“Vào đi cháu,” ông nói vọng ra. Ông đang săm soi mấy hình ảnh trong Bản đồ sinh vật siêu vi vùng ao hồ.

“Cháu vừa thực hiện xong nghĩa vụ văn hóa của ngày hôm nay phải không?” ông nói mà chẳng buồn ngẩng mặt lên, lúc đầu tôi thoáng ngỡ ngàng nhưng rồi tôi chợt nghiệm ra rằng với ô cửa sổ mở toang thế này thì dĩ nhiên ông nghe được tôi dập tay ầm ầm lên đàn từ phòng khách hết cả rồi. “Thật sự là ông cũng thích bài Nhạc nước đó, và ông hi vọng rằng cháu sẽ không chán nó vì phải tập quá nhiều đến nỗi ghét nó cả đời. Đó là hậu quả nghiêm trọng của việc phải tập đàn quá tải đấy. Ông hi vọng rằng Margaret có thể hiểu ra điều đó.”

“Mẹ bảo cháu tập lại nửa tiếng vào ngày mai. Ồ,” tôi thốt lên khi nhìn thấy mấy hình ảnh qua vai ông, “đó là hình mà cháu từng vẽ phải không?” Nói rồi tôi mở Sổ Tay đến chỗ mấy tấm ảnh phác họa sinh vật ao hồ siêu vi đã vẽ hôm nọ. Chiếc chùy trung cổ tôi vẽ nhìn có vẻ giống một con trong sách. “Volvox,” tôi đọc lên “Vôn-vóc-xờ. Đọc như vậy đúng không ông?”

“Ừm, đúng rồi. Thật là một hình dáng không chê vào đâu được. Ông phải thừa nhận rằng trong các con thuộc bộ Chlorophyta thì ông luôn bị rung động bởi nó.”

“Nhìn kìa,” tôi kêu lên, “thêm một con nữa này.” Hình ảnh phác họa của tôi không còn là thứ tầm phào nữa rồi, tôi tự cảm thấy hài lòng quá thể.

“Hãy chú thích lại tên của chúng trong Sổ Tay của cháu đi,” ông bảo, “đồng thời ghi lại số trang trong cuốn bản đồ để cháu có thể tra cứu lại chúng mỗi khi cần thiết.”

Tôi quyết định dùng bút mực thay vì bút chì làm cho công việc trở nên căng thẳng hơn hẳn, nhưng rốt cuộc nhìn nó như một vết lem nhỏ mà thôi.

Rồi tôi hỏi ông, “Cháu phải cho Petey ăn gì ông nhỉ?”

“Ai cơ chứ?” ông hỏi.

“Petey, con sâu bướm á.”

“Calpurnia, chẳng lẽ ông phải chỉ cho cháu từng chút một như em bé à? Chắc chắn là cháu có thể tự nghiệm ra chứ. Hãy nghĩ về vấn đề này đi, cháu có nhớ là đã tìm thấy nó ở đâu không? Nó sống trên cây gì?”

“À,” tôi chợt nghĩ ra và lon ton chạy đi tìm loại lá giống cái cây nơi hai ông cháu đã nhận nuôi Petey. Mọi thứ cũng hợp lý nhỉ. Công việc duy nhất của sâu bướm là ăn cho nên chẳng bao giờ tìm thấy nó lảng vảng ở nơi nào có thức ăn mà nó không thích cả. Tôi vừa bỏ lá vào lọ thì Petey liền mê mẩn cuộn mình lại ngay. Tôi thay luôn cành cây ngắn ngủn hôm nọ bằng một nhánh cây to hơn để tiện hơn cho Petey vận động và tiêu khiển theo nhu cầu tất yếu của nó. Tôi để chiếc lọ chứa Petey cạnh cái tổ chim ruồi và một tô nòng nọc mà tôi đang nghiên cứu trên bàn trang điểm làm nó ngày càng chật chội hơn. Nửa tiếng sau khi tôi nhìn lại đã thấy Petey nhóp nhép trên nhúm lá và trông có vẻ hài lòng lắm, nhưng thật ra nó buồn hay vui thì tôi làm sao biết rõ được?

Trước khi đi ngủ tôi lại ghé thăm Petey, nó nằm im bất động, giãn hết cả người ra trên nhánh cây, hình như đang ngủ. Tôi cũng mong rằng nó chỉ đang ngủ thôi chứ không phải là đã chết. Tôi quan sát xem Petey có mắt hay không và nó có đang nhắm mắt hay không. Nhìn hai đầu của nó đều như nhau, nhưng khi soi kĩ bằng kính lúp, tôi phát hiện ra hai chấm đen nhỏ tí nằm ẩn mình dưới lớp lông ở một đầu. Chắc là mắt của nó rồi, nhưng hình như chẳng thấy mí mắt đâu cả.

Tôi liền viết câu hỏi vào Sổ Tay: Vì sao sâu bướm lại không có mí mắt? Chẳng phải nó tiếp xúc với ánh nắng mặt trời suốt ngày như vậy thì lẽ ra phải có mí mắt chứ nhỉ!

Đến sáng hôm sau đến lượt Travis săm soi Petey và đưa ra một quan điểm mà tôi chưa từng nghĩ tới, “Tại sao chị lại đặt tên nó là Petey, làm sao biết được nó là con đực cơ chứ?”

“Thật tình chị cũng không biết nữa,” tôi đáp.“Có lẽ chúng ta sẽ biết được khi nó thành bướm. Hơn nữa chị cũng chẳng biết là nó sẽ hóa thân thành loài bướm nào nữa kìa.”

Lại thêm vài câu hỏi vào trong Sổ Tay: Sâu bướm có phân biệt giống đực và cái hay không? Có khi nào chúng chuyển hóa giới tính từ trong kén hay không? Ông từng nói cho tôi nghe về ong vò vẽ có thể lựa chọn giống đực hay cái trong giai đoạn phôi thai. Thật là một điều thú vị, tôi không hiểu vì sao trẻ con lại không được quyền chọn như vậy trong giai đoạn còn hôi sữa nhỉ, đến khoảng năm tuổi ấy. Với tất cả những gì tôi chứng kiến từ cuộc sống của con trai và con gái, chắc chắn tôi sẽ chọn làm con trai rồi.

MẸ CHẲNG THÍCH THÚ gì sự có mặt của Petey nhưng vẫn bao dung vì biết nó sẽ hóa thành một con bướm xinh đẹp. Mẹ luôn yêu quý cái đẹp trong cuộc sống này. Bà tài trợ cho Dàn hợp xướng Lockhart và cho chúng tôi đi xem múa ba-lê ở Austin mỗi năm một lần. Đi mất nửa ngày bằng xe lửa để đến đó, rồi nghỉ lại tại khách sạn Driskill nơi bọn tôi sẽ được ăn kem sô-đa cạnh đài phun nước và uống trà chiều tại phòng Pha Lê.

Tháng nào mẹ cũng nghiền ngẫm mấy tờ tạp chí đặt gửi qua đường bưu điện: The Ladies’ Home JournalMcCall’s. Từ đấy bà vẽ hoa văn, cắt may những bông hoa lụa để trưng trong phòng khách. Mặc dù chúng tôi có cả cánh đồng hoa dại nở rộ mỗi độ xuân về nhưng mẹ chẳng bao giờ động đến cả. Đôi lúc tôi cũng hái cả bó rồi cắm vào lọ hoa cạnh đầu giường, nhìn cũng đẹp đấy nhưng một hai ngày sau là héo hết cả, chỉ còn lại chiếc bình đầy nước nặng mùi.

Petey chẳng màng gì đến cuộc sống xung quanh cả, hay nói đúng hơn là nó chẳng để ý tới bất kì thứ gì khác ngoài bó lá tôi bỏ vào mỗi ngày. Nó chỉ ngủ rồi ăn, ăn rồi ngủ, thỉnh thoảng giữa hai hoạt động đó, nó thải ra mấy hạt đặc keo màu xanh từ phần đuôi. Thế là ngày nào tôi cũng phải dành thời gian để dọn dẹp chỗ ở cho nó cả. Tôi đã không chuẩn bị để làm việc này nên một thời gian sau là bắt đầu cảm thấy ngán ngẩm, nhưng rồi lại tự nhủ với bản thân rằng hãy tiếp tục cố gắng vì sau này sẽ được đền đáp bằng một con bướm tuyệt đẹp. Petey lớn nhanh như thổi, tròn quay như cây xúc xích. Một hôm tôi hái nhầm lá, thế là nó hờn dỗi không thèm ăn. Tôi bực bội định vứt nó ra đường để bớt phiền phức, hơn nữa nó cũng chẳng phải là vật nuôi dễ thương gì cả.

Khi tôi bày tỏ ý định này thì bị ông mắng cho một trận, “Calpurnia, cháu phải nhớ rằng Petey không phải thú nuôi của cháu mà chỉ là một thành phần trong chuỗi sinh vật tự nhiên mà thôi. Những con vật cấp cao sẽ thú vị hơn nhiều, ông cũng phải thừa nhận rằng chính bản thân mình đôi cũng khi chán nản, nhưng không phải vì thế mà chúng ta có thể bỏ qua việc nghiên cứu các động vật cấp thấp. Điều này chỉ chứng tỏ cho việc làm không có mục đích và học thức kém mà thôi.”

Và vì khoa học, tôi lại tiếp tục dọn phân cho sâu bướm. Rồi chẳng rõ vì lý do gì Petey không chịu ăn gì cả. Tôi kiểm tra lại thức ăn, vẫn đúng loại lá đó, nhưng nó lại chẳng màng quan tâm tới. Tôi nghĩ, Mày tiêu rồi phải không con sâu bướm hay hờn dỗi kia. Chắc tao phải ném mày ra bãi cỏ cho mày đi chơi với mấy con chim, xem lúc đó mày sẽ thế nào.

Sáng hôm sau, tôi ngỡ ngàng khi thấy Petey đã đóng thành kén. Vậy không phải nó đang hờn dỗi mà là đang chuẩn bị cho quá trình chuyển hóa của mình. Suýt chút nữa tôi đã quẳng đi con sâu bướm vô tội ấy đi.

Cả ngày nó cứ phun ra những sợi xám từ miệng (tôi đoán vậy) rồi miệt mài cuộn qua cuộn lại, tô điểm cho cái kén hỗn độn ấy hết hướng này qua hướng khác, nhìn thấy thật cẩu thả. Trình độ đan len của nó chẳng khá gì hơn tôi cả, làm tôi cảm thấy đồng cảm hơn. Nó dần dần bao bọc thân mình vào chiếc bao con nhộng.

“Ngủ ngon nhé Petey,” tôi ra lệnh cho nó. Petey khẽ trở mình lần cuối rồi lại nằm im trong chiếc cũi tự tạo. Cái kén cứ thế bất động suốt hai tuần liền, ở trong đó, Petey đang chậm rãi tiến hành cuộc chuyển hóa diệu kỳ, sắp xếp lại các bộ phận của mình trong giấc ngủ. Tôi cảm thấy có gì đó rất kì diệu và huyền bí, sâu xa hơn nữa là một cảm giác rợn người, làm cho ta nghĩ đến Sự Sống và Cái Chết.

Tôi chưa từng chứng kiến người chết bằng xương bằng thịt nào cả, gần nhất là hình chụp bằng phương pháp Daguerre của chú Crawford Steele, chú ấy mất lúc 3 tuổi vì bệnh bạch cầu và được quấn trong một mớ dây trắng. Nhìn thấy những phần trắng trên đôi mắt trũng sâu làm tôi biết chắc rằng chú ấy không phải đang ngủ, và điều này chẳng ổn chút nào. Tôi lại gần Harry rồi hỏi, “Anh có nhìn thấy người chết bao giờ chưa?”

Anh đáp, “Chưa. Mà sao em lại hỏi anh như vậy?”

“Chẳng có lý do gì đặc biệt cả.”

“Tại sao em lại nảy ra những ý nghĩ đó nhỉ? Thỉnh thoảng em làm anh sợ đấy.”

“Em ư? Làm anh sợ ư?” Cái ý nghĩ rằng tôi có thể hù dọa ông anh lớn to khỏe của mình thật nực cười. “Em đang tưởng tượng quá trình Petey sắp xếp lại bộ phận của nó làm em nghĩ đến những động vật sống, rồi lại nghĩ đến những động vật chết. Lúc nào có đám tang trong thị trấn anh dẫn em đi xem nhé!”

Callie Vee à.”

“Đâu có gì ghê gớm lắm đâu, là nghiên cứu khoa học thôi mà. Ông Backy Medlin nhìn có vẻ già yếu hom hem lắm rồi đấy. Anh có biết ông ấy bao nhiêu tuổi rồi không?”

“Sao em không tự đi mà đếm răng ông ấy luôn đi?”

“Ý hay đấy anh Harry ạ, nhưng chắc ông ấy chẳng còn chiếc nào đâu. Ông ấy sẽ chết sớm thôi, anh nhỉ?”

Ngày nào tôi cũng đi học ngang qua trước xưởng tỉa hột bông, chỗ ông Backy Medlin thường ngồi tụ tập cùng mấy ông lão lẩm cẩm khác, la lối, văng nước bọt tranh luận những câu chuyện về thời chiến, rằng nó xảy ra thế này, không phải thế kia và nhiều thứ vớ vẩn khác. (Cái tên Backy xuất phát từ việc ông ta thường nhai rất nhiều thuốc lá rồi luôn nhổ trật khỏi bô rác. Ông ta hay nhổ liên tục, thô tục và bừa bãi, bởi vậy xung quanh ông ta lúc nào cũng la liệt những bã thuốc màu nâu, ai đi ngang cũng phải dè chừng). Chẳng còn ai thèm đoái hoài đến đám người già này nữa cả. Đôi lúc khi chán tán gẫu, họ lại ngồi chơi đô-mi-nô với những quân cờ cũ mèm được dùng hàng triệu lần đến nỗi chẳng thể đọc nổi có mấy chấm trên đó nữa. Những quân cờ lách cách trên bàn, thỉnh thoảng một ông hô lên “Ha!” báo hiệu vừa quẳng ra một nước đi tốt.

“Vậy anh sẽ dẫn em đi đám tang của ông Backy chứ?” Tôi hỏi.

Harry đáp, “Có phải em không vậy Callie, ăn nói thế chẳng hay ho gì đâu.”

“Em đâu có trù ông ấy chết đâu. Em chỉ tò mò thôi mà. Ông bảo sự tò mò là yếu tố qu... quy... ế...”.

“Quyết định chứ gì?”

“Đúng rồi, yếu tố quyết định cho nghiên cứu khoa học của thế giới.”

“Được thôi. Nhưng em đã tập đàn chưa? Ngày mai cô Brown sẽ đến đấy.”

“Anh càm ràm chẳng khác mẹ chút nào cả. Em chưa tập, nhưng em sẽ tập đây. Harry này, mình còn phải học bao nhiêu năm nữa nhỉ? Em chán tập piano lắm rồi, còn anh thì sao? Sao không để mấy đứa khác học nhỉ? Em còn vô khối thứ hay ho hơn để làm.”

“Mấy thứ hay ho khác làm với ông chứ gì.”

“Dạ, vâng.”

“Lần trước anh có hỏi qua nhưng em không trả lời. Nào, bây giờ thì cho anh biết em thường làm gì với ông vậy?”

“Tuyệt lắm Harry ạ, có nhiều thứ để kể lắm. Nào là sâu bọ, rắn rết, chó mèo, đến cả mèo hoang, cây cối, ong bướm, chim chóc, mây mưa, nắng gió, gấu, rái cá nữa... mặc dù khó mà tìm thấy chúng ở gần đây. Còn cả chuyện về tàu săn cá voi và...”

“Rồi rồi, đủ rồi.”

“Về những vùng biển phía Nam và Grand Canyon[1]. Rồi về những hành tinh và những ngôi sao.”

“Rồi rồi.”

“Cả những nguyên tắc về công đoạn chiết xuất. Anh biết ông đang nghiên cứu để làm rượu hồ đào đúng không? Thú thật là chẳng đâu vào đâu cả, nhưng đừng nói lại với ông là em nói vậy nhé!”

“Được mà,” Harry đáp.

“Nào là định luật Newton này, lăng kính, kính hiển vi...”

“Anh biết rồi.”

“Trọng lực, ma sát, thấu kính...”

“Đủ rồi nghe không!”

“Chuỗi thức ăn này, nguyên tắc tuần hoàn của mưa này, quy luật thứ tự trong tự nhiên này. Anh đi đâu vậy Harry? Còn có nòng nọc, cóc, thằn lằn và ếch nữa. Đừng đi chứ. Em còn được thấy siêu vi, mấy con vi trùng ấy, qua kính hiển vi. Rồi còn bướm và sâu bướm, bởi vậy em mới đem Petey về đấy; đừng quên nó nhé anh! Harry ơi?”

MỘT BUỔI SÁNG tôi bị đánh thức bởi tiếng lích chích như lũ chuột thường huyên náo trong tường, nhưng lần này nó lại phát ra từ chiếc lọ đựng Petey. Trong phòng tối quá nên tôi kéo rèm ra rồi đặt chiếc lọ lên bệ cửa sổ. Cái kén phập phồng tứ phía. Khi ánh sáng tràn dần qua ô cửa, Petey vùng vẫy và từ từ đục cái kén, nó chẳng thấy mặt tôi đang gí sát bên thành lọ, mà chắc cũng chẳng thèm để ý làm gì. Rốt cuộc nó cũng đục thủng được một lỗ to ở đầu kén rồi cố hết sức dần dần trồi ra.

Và kìa, khác với trí tưởng tượng của tôi về một sinh vật đẹp rạng ngời, thay vào đó là một con bướm thân hình mập mạp với đôi cánh ẩm ướt đang cụp lại. Nó rùng mình, cố tự tách cánh ra. Tôi chợt nhận ra rằng nó không còn là Petey ngày nào nữa, phải tìm tên mới cho nó để biểu đạt cho vẻ đẹp mà tôi từng mong chờ bấy lâu thôi. Gì nhỉ... là Fleur vì nó sống trên mật hoa, hay là Shapphire, hay Ruby, tùy vào màu cánh của nó. Cuối cùng tôi quyết định để cho nó tiếp tục một mình và xuống nhà ăn sáng.

Tôi công bố hùng hồn trên bàn ăn, “Petey đã nở rồi và đang đợi cho cánh khô.”

“Tuyệt quá, nó màu gì?” mẹ hỏi.

“Con chưa biết nữa mẹ à. Nó vẫn chưa tách xong cánh. Nhưng chắc chắn phải có tên mới vì nó không còn là sâu bướm Petey nữa rồi.”

“Nào các con, có ý kiến gì không?” mẹ hỏi.

Bé Sul Ross bảy tuổi tuyên bố, “Mình nên đặt tên nó là... là...,” nó bối rối, “... là Bướm.”

“Cũng được đấy cưng ạ,” mẹ bảo.

“Tên Belle, đại diện cho sắc đẹp có được không,” Harry nói.

“Cũng hay đấy Harry. Còn ý kiến nào khác không?”

Ông chen vào, “Cháu nên chờ xem nó nom ra sao đã.”

Thật là một lời góp ý kì quặc, nhưng nếu nói đến sự hiểu biết về loài bướm thì không ai hơn được ông, chắc chắn phải có lý do chính đáng.

“Vâng, vậy chờ xem nó nhìn ra sao rồi hãy đặt tên vậy, mặc dù tên Belle nghe cũng được đấy.” Sul Ross tiu nghỉu cố nói thêm, “Bướm nghe cũng hay vậy chị Sully. Hay em gọi nó là Bướm Belle nhé.”

“Nó là đực hay cái vậy Callie?” Travis hỏi.

“Chẳng biết nữa,” tôi vừa nhồm nhoàm bánh rán vừa đáp.

“Đừng có vừa ăn vừa nói như thế chứ,” mẹ mắng.

Ăn sáng xong, ba đứa em trai nối gót tôi lên phòng để làm lễ đặt tên cho chú bướm vừa chào đời. Kìa, Petey, hay Belle, đang tự hào dang rộng đôi cánh to tướng choán hết cả chiếc lọ. Nó thật vĩ đại, nhợt nhạt và phủ đầy lông lá. Nó chắc là con nhậy to nhất thế giới.

“Con bướm này nhìn ngộ nhỉ,” Sul Ross bảo.“Nó bị làm sao ấy nhỉ?”

“Nó đâu phải bướm, Sully,” Travis nói. “Nó là con nhậy. Chị có biết nó là nhậy không vậy Callie?”

“Ừm,” tôi hơi lùi lại bên cạnh em mình, “cũng không rõ nữa.”

“Lạy Chúa, em chưa bao giờ thấy con nhậy nào to như vậy cả,” Travis thốt lên.

“Em cũng vậy, nhìn nó ghê ghê phải không?” Sul Ross bảo.

“Ừ...” Thật sự là nó ghê ghê thật, nhưng tôi chẳng bao giờ thừa nhận đâu. Tôi chẳng ngờ là nhậy có thể to như vậy, nhất là con này chỉ mới nở thôi đấy.

“Chị định làm gì với nó đây?” Travis hỏi.

“Dĩ nhiên chị sẽ nghiên cứu nó,” tôi nói nhưng trong lòng chẳng hiểu mình phải làm cái quỷ gì với con quái vật này nữa.

“Được rồi, nhưng chị định nghiên cứu về cái gì đây?”

“À, xem nào... thói quen ăn uống, đại loại vậy á. Rồi thói quen chọn bạn đời. Đúng rồi, khu vực sống, kích thước cánh, mấy thứ giống vậy á.”

“Chị có phải chạm vào nó không?” Sul Ross rụt rè.“Còn em thì chắc chắn là không muốn đụng vào nó rồi.”

“Chắc là chưa đâu, nó mới bung kén thôi mà, cần thời gian để thích nghi chứ.” Tôi đáp.

“Chị phải nhanh chóng tìm cho nó một cái lọ khác to hơn thôi Callie ạ, nó sắp làm vỡ cái này rồi đấy.”

“Chị không nghĩ là nó sẽ lớn hơn thêm đâu.”

“Hay là chị để cho nó bay vòng vòng trong phòng này cũng được đấy,” Travis đề nghị.

Còn lâu mới được.

“Eo ôi,” Sul Ross giật lùi người lại thốt lên.“Thôi em đi đây.”

“Em cũng vậy,” Travis đồng tình.“Tới giờ đi học rồi.”

“Này!” Tôi gọi với theo, “Quay lại đây đi, đâu có gì phải sợ, chị sẽ không thả nó ra đâu!”

Giờ thì tính sao đây? Tên Petey hay Belle hay một cái tên bất kì nào đây hỡi cái con vật đang đập cánh loạn xạ trong lọ kia ơi. Tiếng đập cánh thật khô khan, yếu ớt như báo hiệu điềm gở. Tôi chuẩn bị đi học, cố không nhìn về phía nó, nhưng mỗi khi nghe tiếng đập cánh, lòng tôi lại nao nao. Tôi hiểu rõ rằng mình phải thả nó ra khỏi cái lọ đó thôi, nhưng tôi lại gạt ý nghĩ ấy đi. Và hôm đó, mỗi giây phút trôi qua trên ghế nhà trường tôi đều phải cố gắng để không phải nghĩ về Petey.

Về đến nhà, sau khi bị mẹ bắt lên lầu thay áo khoác, tôi trườn xuống nhà tập đàn. Sau đó tôi lết lên phòng, khi chạm vào tay nắm cửa, chợt một nỗi lo lắng dâng đầy trong tim: Nếu nó bay mất rồi thì sao? Lúc sáng tôi đã vặn chặt nắp lọ chưa nhỉ? Nếu như nó đang bay nhởn nhơ trong phòng thì sao? Rồi tôi tự tĩnh tâm lại. Nào nào Calpurnia Virginia Tate, mày thật vớ vẩn, mày có phải là một nhà khoa học hay không. Thôi nào, dù sao nó cũng chỉ là một con nhậy thôi mà.

Sau khi tự trấn an mình, tôi bước vào và lia mắt một vòng quanh phòng. Kia rồi, Petey vẫn ở lì trong lọ y như lúc sáng, nó quá to để có thể quay đi hướng khác. Nó cục cựa, hai cánh đập liên hồi vào thành lọ.

“Petey à, tao phải làm gì với mày đây? Tao phải tìm ra mày thuộc giống gì và phải cho mày một chỗ ở rộng rãi hơn,” tôi thì thầm.

Tôi lôi quyển Phân loại thế giới côn trùng của ông từ trên kệ sách và lật đến phần Lepidoptera (bộ cánh phấn). Dựa trên màu sắc và kích thước khủng thì nó phải thuộc loài Saturniidae (Bướm ngài). Để phân biệt được chủng loại này thì phải xem độ dang rộng của cánh nhưng hiện giờ không đủ không gian để thực hiện. Tôi cũng đang không tìm được cái gì hay hơn, một là phải tìm một cái lọ to hơn, hai là phải thả nó đi thôi. Tôi dán mắt vào nó một lúc, thật ra nhìn quen cái kích thước khủng của nó rồi thì cũng chẳng có vấn đề gì, và nó cũng có hai cái râu mỏng manh dễ thương đấy chứ. Tôi đã nuôi dưỡng nó đến lúc này. Bây giờ nó đang kẹt trong cái lọ kia cũng vì tôi, tôi không thể bỏ mặc coi như không có nó trên đời này được.

“Được rồi, Petey à, đi gặp và xem ông nói gì nhé.” Tôi cầm cái lọ lên, giơ ra xa rồi đem xuống nhà, trên đường đi nó vẫn tiếp tục vẫy vùng.

Chợt tôi va vào Harry trong tiền sảnh. Anh liếc mắt qua Petey rồi thốt lên, “Trời đất, con bướm của em đó hả? Trông to như chim hải âu ấy nhỉ.”

“Hả,” tôi ngỡ ngàng, “hả.”

“Em có biết là nó sẽ nở ra cái thứ này không?” Harry hỏi.

“Dĩ nhiên rồi,” tôi miễn cưỡng đáp.

Harry nhìn tôi chăm chăm và bảo, “Cho anh xem nó nào. Nếu như Hội chợ Fentress có cuộc thi cho loài nhậy thì nó sẽ chiến thắng là cái chắc đấy.”

Cũng là ý hay đấy nhỉ. Bên cạnh heo, gia súc và vật nuôi trong nhà thì cũng có thể có một phân khúc cho nhậy chứ. Điều này bất chợt làm tôi nhớ lại phần thi thú cưng của trẻ em được tổ chức thường niên tại hội chợ. Lũ trẻ thường đem đến mèo, chó, vẹt đuôi dài, đại loại là những con vật quen thuộc và nhàm chán. Tại sao lại không có một con thú vị hơn như con nhậy chẳng hạn nhỉ?

“Harry, anh nói xem, Petey có thể tham gia cuộc thi thú cưng được không?” tôi hỏi.

“Nó đâu phải thú cưng đâu Callie Vee,” Harry cười khẩy đáp lại.

“Thì đã sao nào? Năm ngoái Dovie Medlin đem đến con cá vàng Bubbles đó, cũng đâu phải thú cưng gì đâu. Vả lại bọn chúng đâu phải biểu diễn hay làm trò gì đâu, chỉ nằm đó cho ban giám khảo xem qua thôi mà. Nhiều khi nó lại còn được thêm điểm vì sự khác biệt của nó nữa phải không anh?”

“Cũng có thể, nhưng còn mấy tháng nữa mới đến hội chợ mà,” Harry bảo. “Em định sẽ nuôi nó thế nào? Em đâu thể nhốt nó trong cái lọ đó mãi được.”

“Dĩ nhiên là không rồi,” tôi đáp lại.“Em đang tìm nhà cho nó đây. Nhưng nhậy sống được bao lâu nhỉ?”

“Anh đâu biết, em mới là nhà tự nhiên học mà. Theo anh đoán thì chỉ chừng vài tuần mà thôi.” Harry đáp.

Chợt mẹ bước ra từ bếp rồi đứng bất động nhìn Petey như không tin vào mắt mình.

“Con đựng cái quái gì trong lọ vậy Calpurnia?” mẹ lên giọng.

Tôi thở dài đáp.“Petey đấy mẹ ạ,” rồi tôi lí nhí thêm vào, “hay mẹ gọi nó là Belle cũng được.” Cứ như một cái tên đẹp có thể che đậy được cái vật quái gở này vậy. Petey khẽ cựa quậy một cách khô khan làm mẹ lùi lại một bước, mắt vẫn dán chặt vào Petey.

“Chuyện gì xảy ra với con... con bướm xinh đẹp của con rồi?” Mẹ hỏi.

“Nó không nở ra thành bướm mà lại thành nhậy mẹ à,” tôi vừa nói vừa đưa cái lọ ra cho bà nhìn rõ hơn làm mẹ lùi lại thêm bước nữa.

“Con vứt nó ngay cho mẹ. Trời ạ, nó là nhậy đấy. Hãy tưởng tượng xem to như nó thì sẽ làm hại đến đồ len tới cỡ nào!” Tôi quên rằng mẹ và SanJuanna luôn luôn tuyên chiến với hàng ngàn con nhậy nâu nhỏ bé để bảo vệ lấy chăn mền và quần áo mùa đông, nhưng vũ khí thô sơ bằng vỏ bào tuyết tùng và tinh dầu hoa oải hương chẳng thể nào ngăn được thế lực của Tự nhiên cả.

“Nó không ăn len đâu mẹ ạ,” tôi bảo. “Con nghĩ vậy đấy. Nó chỉ ăn mật hoa hay không ăn gì tùy theo nó thuộc loài nào. Một số khi lớn lên không cần ăn gì cả, nhưng con chưa tìm hiểu được cho rõ ràng thôi.”

Mẹ đưa cả hai tay lên. “Đừng bao giờ để nó thoát ra và bay trong nhà này ở bất cứ trường hợp nào nghe chưa. Mẹ muốn nó biến khỏi đây. Con có nghe không?”

“Vâng, con nghe rồi.”

Bà lấy tay xoa thái dương rồi quay người lên lầu.

Harry lên tiếng, “Tiếc quá. Anh rất muốn thấy nó có mặt trong buổi trình diễn thú cưng đấy. Nào nào, các bạn hãy đứng lên và lại gần đây xem Calpuria Virginia Tate và con nhậy khổng lồ của cô ấy nào!”

“Thôi dẹp anh đi, chả có gì buồn cười cả. Được thôi, em sẽ thả nó đi, nhưng trước hết phải cho ông xem qua đã.” Tôi đi tìm ông nhưng không thấy trong thư viện. Tôi có thể đi vòng ra ngoài cửa chính rồi đi đường dài qua phòng thí nghiệm hay cắt ngang bếp để rồi đón nhận lấy thêm nỗi khiếp sợ và giải thích cho nhiều người. Tôi quyết định giấu nó trong tay rồi đi ngang qua bếp. Viola liếc qua rồi hỏi, “Cháu mang theo cái gì vậy?”

“Chẳng có gì đâu ạ,” tôi đáp rồi tiếp bước ra cửa sau. Petey vẫn cựa mình trong lọ, tôi ước gì nó nằm yên giùm một lát. Tôi đã quen với kích thước của nó nhưng cái âm thanh đó thì không, nó vẫn mang điều gì đó hoang sơ và đầy điềm gở làm cho lông măng trên tay tôi cứ dựng đứng hết cả lên.

Rồi tôi tìm thấy ông đang lom khom trên chồng sổ tay kế toán.

“Ông ơi, nhìn xem cháu có gì này,” tôi đưa chiếc lọ ra.

“Xem nào, thật là một mẫu vật khỏe mạnh đấy. Ông chưa bao giờ thấy con nào to như vậy. Cháu có biết được nó thuộc loài nào chưa?”

“Cháu nghĩ nó thuộc loài Saturniidae hoặc Sphingidae (Bướm sư tử),” tôi vừa nói vừa tự hào với khả năng phát âm của mình.

“Cháu định làm gì với nó?”

“Cháu định sẽ cho nó đi trình diễn thú cưng ở hội chợ, nhưng Harry nghĩ nó không sống lâu được vậy, còn ông thì luôn bảo cháu nó không phải là thú nuôi, và mẹ thì nhất quyết đuổi nó ra khỏi nhà. Nghĩa là cháu có thể giết nó rồi để vào bộ sưu tập hoặc thả nó đi.”

Ông nhìn tôi rồi hai ông cháu cùng nhìn Petey đang đập cánh loạn xạ trong lọ. “Nó là một mẫu vật tuyệt vời đấy. Có thể cháu chẳng bao giờ có được con thứ hai như vậy đâu,” ông bảo.

“Cháu biết chứ,” tôi chau mày lại.“Ông đã từng cảnh báo cháu đừng đặt tên cho nó. Nhưng cháu đã nuôi nấng nó đến bây giờ rồi, làm sao mà nỡ sát hại nó được.”

KHI HOÀNG HÔN BUÔNG XUỐNG, bọn tôi túm tụm lại trên bãi cỏ trước nhà đợi chờ những chú đom đóm đầu tiên xuất hiện, mấy cậu em ngồi trước hiên nhà còn chiếc lọ đựng Petey chễm chệ giữa bãi cỏ. Ông đong đưa trên chiếc xích đu vừa nhâm nhi rượu whisky ngô mua ở cửa hàng. Tôi mở nắp lọ rồi đứng lùi lại.

Petey co mình lại nằm im trong vòng một phút, sau đó trồi lên miệng lọ, ra khỏi chiếc kén bằng thủy tinh của mình. Trong khi Petey đang lảo đảo trên bãi cỏ thì Ajax lon ton xuất hiện từ góc nhà. Petey run rẩy dang rộng đôi cánh. Nhưng quá muộn rồi, tôi liếc xéo thấy Ajax đang lao tới, hai tai phấp phới, có vẻ hứng thú tột cùng với trò chơi đuổi bắt mới. Petey yếu ớt tung mình lên không trung nhưng chỉ được vài chục centimet, trong khi Ajax vẫn phóng tới rất nhanh. Nó đang chuẩn bị nuốt chửng mất mẫu vật đẹp nhất, dự án khoa học hay chính Petey của tôi rồi. Đồ con chó ngu ngốc, cơn giận trong tôi chợt sục sôi! Tôi chạy về phía Ajax rồi thét lên Ajax!, lớn đến nỗi chính tôi cũng phải giật mình, không ngờ là tôi có nhiều hơi đến vậy. Mấy chú chim trên cây bay tán loạn, còn Ajax thì thoạt lưỡng lự. Tôi định chụp lấy vòng cổ của Ajax nhưng nó tránh sang một bên, chắc đang nghĩ đây là trò tiêu khiển mới. Rồi nó lại vồ lấy Petey, lần này Petey phóng lên được tới tầm ngang ngực, trông như gà mái đang tập đập cánh vậy.

“Không!”, tôi hét lên, và lần này Ajax dường như nhận ra hiệu lệnh quen thuộc. Thoáng bối rối, nó nhìn tôi trong khi Petey đang nằm trong tầm với mấy móng vuốt của mình. Chắc chỉ là trò vận động hay ho đối với Ajax thôi phải không? Nhiệm vụ của nó là săn bắt chim mà đúng không? Tôi lại vội vàng phóng về hướng con chó trong khi Petey nỗ lực hết sức mình vụt lên không trung, vào giây phút đó nó đã chính thức chuyển từ cư dân mặt đất thành một thứ khác, một sinh vật trong gió lộng, một thành viên của trời mây.

Tôi ngạc nhiên đứng nhìn. Dường như Petey sẽ bay, bay cao mãi. Ajax thì giận dỗi kéo rị vòng cổ và tôi thả nó ra, giờ này thì không thể đuổi bắt được Petey nữa rồi.

“Wao!”, mấy cậu em trai huyên náo. “Chị tuyệt lắm Callie, thế mà em cứ nghĩ con nhậy ấy tiêu đời là cái chắc rồi.”

Ông nâng ly lên chúc mừng khi nhìn thấy Petey khuất bóng sau bụi cây.

Đêm đó tôi ngồi một mình trước hiên nhà nhìn màn đêm dần buông xuống, cố gắng thức đến khi những chiếc hoa loa kèn ở lối đi trước nhà cũng chìm vào bóng tối. Chúng mập mờ trong đêm như những ngôi sao nhạt nhòa vừa hạ thế xuống trái đất này. Chợt có con gì đó bay vèo qua hướng thẳng tới mấy đóa hoa loa kèn, sục sạo hết bông này đến bông khác. Nghe chừng như chim ruồi nhưng tôi không thể nhìn thấy rõ. Chẳng lẽ chim ruồi bay vào ban đêm sao? Tôi không nghĩ vậy đâu. Hay là một con dơi ăn mật hoa nhỉ? Tôi cũng chẳng biết nữa, nhưng dù không thấy gì tôi cũng nghĩ đó là Petey. Tôi tự nhủ với lòng mình như vậy.

Tôi thích có một kết thúc có hậu hơn.

❀ ❀ ❀

[1] Grand Canyon là một khe núi dốc được tạo ra bởi sông Colorado ở bang Arizona của Hoa Kỳ, với độ dài 446km, rộng 0,4 đến 24km và sâu hơn 1.600m.

Nguyên tác: The Evolution of Calpurnia Tate Người dịch: Lâm Thanh Tùng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.