Khi Frank Shabata về đến nhà tối hôm đó, anh ta thấy con ngựa cái của Emil ở trong chuồng nhà mình.
Sự hỗn láo ấy khiến anh ta vô cùng kinh ngạc. Giống như bao người khác, Frank đã có một ngày đầy kích động. Từ trưa đến giờ, anh ta uống quá nhiều rượu và đang rất bực dọc. Vừa cất ngựa, anh ta vừa lầm bầm chửi rủa trong cay đắng, và khi bước lên lối đi, thấy ngôi nhà tối om, anh ta lại càng cảm thấy mình bị tổn thương sâu sắc. Anh ta rón rén đến gần và đứng lắng nghe ngoài bậc cửa. Không nghe thấy động tĩnh gì, anh ta mở cửa nhà bếp, nhẹ nhàng bước qua từng căn phòng. Rồi anh ta lục soát lại ngôi nhà một lượt, từ trên lầu xuống dưới nhà, nhưng chẳng thu được kết quả gì khá hơn. Anh ta ngồi phịch xuống bậc thang cuối cùng của chiếc cầu thang hộp, cố thu gom lại tâm trí. Trong sự tĩnh lặng bất thường ấy, chẳng có âm thanh nào ngoài tiếng thở hồng hộc của chính anh ta. Bỗng nhiên, một con cú cất tiếng kêu u u ngoài cánh đồng. Frank ngẩng đầu lên. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu anh ta, và cảm giác bị xúc phạm cùng uất hận dâng trào mạnh mẽ. Anh ta bước vào phòng ngủ và lấy khẩu súng Winchester .405 chết người của mình ra khỏi tủ.
Khi Frank cầm súng bước ra khỏi nhà, anh ta hoàn toàn không có chút ý định nào sẽ dùng đến nó. Anh ta không hề tin rằng mình có điều gì ấm ức thực sự. Nhưng cảm giác được làm một kẻ liều lĩnh lại khiến anh ta thỏa mãn. Anh ta đã nhiễm thói quen luôn nhìn nhận bản thân đang ở trong những bước đường cùng. Tính tình bất hạnh của anh ta giống như một chiếc lồng; anh ta chẳng bao giờ thoát ra được; và anh ta cảm thấy những người khác, đặc biệt là vợ mình, chính là kẻ đã nhốt anh ta vào đó. Frank chưa bao giờ nghĩ – hoặc chỉ thoáng nghĩ rất mơ hồ – rằng chính anh ta là người gây ra sự bất hạnh cho bản thân. Dù mang những dự tính đen tối trong đầu khi cầm lấy khẩu súng, anh ta sẽ chết khiếp vì sợ hãi nếu biết rằng có dù chỉ một xác suất nhỏ nhất là mình sẽ thực hiện bất cứ điều gì trong số đó.
Frank chậm rãi đi xuống cổng vườn cây ăn trái, dừng lại và đứng thẫn thờ suy nghĩ một lúc. Anh ta quay bước kiểm tra lại chuồng ngựa và gác chứa cỏ khô. Sau đó, anh ta đi ra đường cái, rẽ vào lối mòn chạy dọc phía bên ngoài hàng rào vườn cây. Hàng rào cao gấp đôi người Frank, và rậm rạp đến mức chỉ có thể nhìn xuyên qua nếu dán mắt vào kẽ lá. Dưới ánh trăng, anh ta có thể nhìn thấy con đường mòn trống trải kéo dài một đoạn xa. Tâm trí anh ta hướng về phía trước, đến chỗ cái bậc cửa mà anh ta vẫn đinh ninh là bị ma ám bởi Emil Bergson. Nhưng tại sao hắn lại để con ngựa ở lại đây?
Đến góc ruộng lúa mì, nơi hàng rào vườn cây chấm dứt và con đường mòn băng qua bãi cỏ dẫn đến nhà người Bergson, Frank dừng lại. Trong bầu không khí đêm ấm áp và ngột ngạt, anh ta nghe thấy một thứ âm thanh rầm rì, hoàn toàn không rõ lời, nhẹ tựa tiếng nước rỉ ra từ một mạch ngầm nơi không có thác ghềnh hay sỏi đá cản trở. Frank căng tai lắng nghe. Âm thanh ngưng bặt. Anh ta nín thở và bắt đầu run rẩy. Chống báng súng xuống đất, anh ta nhẹ nhàng dùng tay rẽ những chiếc lá dâu tằm rồi dòm qua hàng rào vào những bóng đen trên thảm cỏ, dưới tán cây dâu. Anh ta có cảm giác như họ phải cảm nhận được ánh nhìn của anh ta, phải nghe thấy tiếng thở của anh ta. Nhưng họ không hề hay biết. Frank, kẻ từ trước đến nay luôn muốn nhìn nhận mọi việc tồi tệ hơn thực tế, thì lần này lại chỉ muốn tin ít đi những gì mắt thấy. Người phụ nữ đang nằm trong bóng râm kia rất có thể chỉ là một cô bé làm thuê nhà Bergson.... Lại tiếng rầm rì ấy, giống như nước trào ra từ lòng đất. Lần này anh ta nghe rõ hơn, và bản năng của anh ta hành động nhanh hơn lý trí. Anh ta bắt đầu hành động, hệt như một kẻ ngã vào lửa bắt đầu vùng vẫy. Khẩu súng chồm lên vai, anh ta ngắm bắn một cách máy móc và siết cò liền ba phát không dừng lại, rồi khựng lại mà chẳng hiểu vì sao. Hoặc là anh ta nhắm nghiền mắt, hoặc là anh ta bị chóng mặt. Anh ta chẳng thấy gì trong lúc nổ súng. Anh ta tưởng mình nghe thấy một tiếng thét vang lên cùng lúc với phát súng thứ hai, nhưng không chắc lắm. Anh ta lại dòm qua hàng rào về phía hai bóng đen dưới gốc cây. Chúng đã ngã lệch sang hai bên và nằm bất động – Không, không hẳn hoàn toàn; trong một vệt sáng trắng nơi ánh trăng xuyên qua kẽ lá, bàn tay của một người đàn ông đang co giật bấu lấy thảm cỏ.
Đột nhiên người phụ nữ cựa quậy và thét lên một tiếng, rồi tiếng thứ hai, thứ ba. Cô ấy vẫn sống! Cô ấy đang lê người về phía hàng rào! Frank quăng súng, quay đầu chạy ngược lại con đường mòn, người run lẩy bẩy, vấp váp, thở hổn hển. Anh ta chưa bao giờ tưởng tượng nổi sự kinh hoàng nhường này. Những tiếng kêu vẫn đuổi theo sau anh ta. Chúng nhỏ dần và nghẹn lại, tựa như cô ấy đang bị bóp cổ. Anh ta quỵ xuống gối cạnh hàng rào, co ro như một con thỏ, lắng nghe; nhỏ dần, nhỏ dần; một âm thanh giống như tiếng rên rỉ; rồi lại – một tiếng rên – một tiếng khác – im bặt. Frank lồm cồm bò dậy, vừa rên rỉ vừa cầu nguyện rồi chạy tiếp. Theo thói quen, anh ta chạy về phía ngôi nhà, nơi anh ta thường tìm thấy sự xoa dịu mỗi khi lún sâu vào cơn điên cuồng giận dữ, nhưng vừa nhìn thấy ô cửa đen ngòm đang mở rộng, anh ta giật mình lùi lại. Anh ta biết mình vừa sát hại ai đó, rằng có một người phụ nữ đang chảy máu và rên rỉ ngoài vườn cây, nhưng trước đó anh ta chưa hề nhận ra đó chính là vợ mình. Cánh cổng đập thẳng vào mắt anh ta. Anh ta giơ hai tay ôm lấy đầu. Phải rẽ hướng nào đây? Anh ta ngẩng khuôn mặt đầy đày đọa lên nhìn bầu trời. “Lạy Mẹ Thánh Chúa, xin đừng để cô ấy chịu đau đớn! Cô ấy là một người phụ nữ tốt – xin đừng để cô ấy đau đớn!”
Trước kia Frank vốn hay tự đặt mình vào những tình huống kịch tính; nhưng giờ đây, khi đứng cạnh chiếc cối xay gió, trong khoảng sáng rực giữa chuồng ngựa và ngôi nhà, đối diện với ô cửa đen ngòm của chính mình, anh ta hoàn toàn không còn nghĩ đến kịch bản nào cho bản thân nữa. Anh ta đứng ngây ra như con thỏ khi bầy chó săn đang ập đến từ mọi phía. Và anh ta cắm cổ chạy như một con thỏ, chạy đi chạy lại trong khoảng không gian ngập ánh trăng ấy, trước khi có thể quyết định bước vào chuồng ngựa tối thui để dắt ngựa. Ý nghĩ phải bước qua một khung cửa khiến anh ta vô cùng khiếp hãi. Anh ta chộp lấy miếng đúp nịt hàm của con ngựa nhà Emil rồi dắt nó ra. Anh ta không đời nào tự mình quàng được chiếc dây cương lên đầu con ngựa nhà mình được. Sau hai ba lần cố gắng, anh ta trèo được lên yên và khởi hành đi Hanover. Nếu bắt kịp chuyến tàu lúc một giờ, anh ta có đủ tiền để đi đến tận Omaha.
Trong lúc tâm trí phần nào tê dại đang luẩn quẩn suy nghĩ về điều đó, thì các giác quan nhạy bén hơn của anh ta cứ lặp đi lặp lại những tiếng kêu mà anh ta đã nghe thấy trong vườn cây. Nỗi kinh hoàng là thứ duy nhất ngăn cản anh ta quay trở lại với cô ấy, nỗi sợ hãi rằng cô ấy có thể vẫn là cô ấy, rằng cô ấy có thể vẫn đang chịu đựng đau đớn. Một người phụ nữ, bị tàn phế và đang chảy máu trong vườn cây nhà mình – chính vì đó là một người phụ nữ nên anh ta mới sợ hãi đến thế. Thật không thể tưởng tượng nổi việc anh ta lại đi làm tổn thương một người phụ nữ. Anh ta thà bị thú dữ ăn thịt còn hơn phải thấy cô ấy quằn quại trên mặt đất như đã làm trong vườn. Sao cô ấy lại bất cẩn thế cơ chứ? Cô ấy thừa biết anh ta giống như một kẻ phát điên khi nổi giận. Đã hơn một lần cô ấy giật lấy khẩu súng đó khỏi tay anh ta và giữ chặt nó, những khi anh ta tức giận với người khác. Có bận súng đã cướp cò trong lúc hai vợ chồng giằng co. Cô ấy chưa bao giờ sợ hãi. Nhưng khi đã hiểu rõ tính anh ta, sao cô ấy không cẩn thận hơn chứ? Chẳng lẽ cô ấy không có cả mùa hè phía trước để yêu đương với Emil Bergson hay sao mà lại phải đánh đổi bằng những canh bạc liều lĩnh như thế? Chắc là cô ấy cũng đã gặp cả thằng nhóc nhà Smirka ở dưới vườn cây đó nữa. Anh ta mặc kệ. Cô ấy thích gặp tất cả đàn ông trên vùng Divide này cũng được, xin cứ tự nhiên, miễn là đừng mang cái tai họa này giáng xuống đầu anh ta.
Một sự dằn vặt xé tâm can dấy lên trong đầu Frank. Thực tình anh ta không tin cô ấy là người như vậy. Anh ta biết mình đang oan uổng cho cô ấy. Anh ta dừng ngựa lại để thừa nhận điều đó với chính mình một cách rõ ràng hơn, để suy ngẫm thấu đáo hơn. Anh ta biết lỗi thuộc về mình. Ba năm trời, anh ta đã tìm cách bẻ gãy ý chí của cô ấy. Cô ấy có thói quen tìm thấy mặt tích cực trong mọi hoàn cảnh, điều mà anh ta cho là một thứ ra vẻ văn vẻ sướt mướt. Anh ta muốn vợ mình phải tỏ thái độ bất mãn vì anh ta đang chôn vùi những năm tháng đẹp nhất đời mình giữa những con người ngu ngốc và không biết trân trọng này; thế nhưng cô ấy lại có vẻ thấy những con người ấy hoàn toàn ổn. Nếu sau này giàu có, anh ta dự định sẽ mua cho cô ấy những bộ quần áo đẹp, đưa cô ấy đi California trên một toa tàu hạng sang, và đối xử với cô ấy như một quý bà; nhưng trong lúc chờ đợi, anh ta lại muốn cô ấy cảm thấy cuộc đời này bi đát và bất công y hệt như những gì anh ta cảm nhận. Anh ta đã cố biến cuộc đời cô ấy thành một chuỗi ngày tẻ nhạt. Anh ta từ chối chia sẻ bất kỳ niềm vui nhỏ nhoi nào mà cô ấy đã dũng cảm tự tạo ra cho chính mình. Cô ấy có thể vui vẻ vì bất cứ điều cỏn con nào trên đời; nhưng bắt buộc cô ấy phải vui! Hàng ngày khi mới về với anh ta, niềm tin và sự ngưỡng mộ cuồng nhiệt mà cô ấy dành cho anh ta – Frank đấm mạnh một cú vào con ngựa cái. Tại sao Marie lại buộc anh ta phải làm điều này; tại sao cô ấy lại giáng họa vào đầu anh ta? Anh ta bị nhấn chìm bởi một tai ương ghê tởm. Bỗng nhiên anh ta lại nghe thấy tiếng kêu cứu của vợ – anh ta đã quên bẵng đi trong chốc lát. “Maria,” anh ta nức nở thốt lên, “Maria!”
Khi Frank đi được nửa đường đến Hanover, chuyển động của con ngựa khiến anh ta lên một cơn nôn mửa dữ dội. Sau khi cơn nôn qua đi, anh ta tiếp tục lên đường, nhưng chẳng thể nghĩ được điều gì ngoài sự suy sụp thể xác và khao khát được vợ vỗ về. Anh ta chỉ muốn được rúc vào chiếc giường quen thuộc của mình. Giá như vợ anh ta đang ở nhà, có lẽ anh ta đã quay đầu ngoan ngoãn trở về với cô ấy rồi.