Thuở trước, tại Damascus thuộc xứ Syria, có một vị vua tên là Abd-El-Melik, con trai của Marwan. Một hôm, khi ngài đang ngự thiện cùng các vị đại thần trong triều, bao gồm các bậc vua chúa và quốc vương, một cuộc thảo luận đã diễn ra giữa họ về những giai thoại của các triều đại tiền nhân. Họ nhớ lại những câu chuyện về vua Solomon, con trai của David, cùng vương quyền mà Thượng Đế đã ban cho người trên loài người, loài jin, loài chim và muông thú. Họ nói: "Chúng ta từng nghe những người đi trước kể lại rằng Thượng Đế chưa từng ban cho bất kỳ ai quyền năng lớn lao như Ngài đã ban cho Solomon, đến mức người có thể giam cầm loài jin và ác quỷ trong những chiếc bình bằng đồng, rồi đổ chì nóng lên trên và niêm phong nắp lại bằng nhẫn tín vật của mình."
Bấy giờ, Talib, một trong số các quốc vương, kể rằng có một lần nọ, một người đàn ông cùng đoàn tùy tùng đã xuống tàu hải hành đến đảo Sicily. Họ cứ thế tiến bước cho đến khi một trận cuồng phong nổi lên, cuốn họ trôi dạt đến một vùng đất vô danh. Sự việc này xảy ra giữa màn đêm tối mịt mờ, và khi ánh bình minh ló dạng, từ những hang động trên vùng đất ấy, những con người có làn da đen đúa, thân hình trần trụi như dã thú bước ra; họ không hiểu ngôn ngữ loài người. Họ có một vị vua cùng giống loài, và chẳng ai trong số họ biết tiếng Ả Rập ngoại trừ nhà vua. Thế nên, khi thấy con tàu cùng những người trên đó, nhà vua liền tiến ra với một nhóm tùy tùng, chào hỏi và chào mừng họ. Họ bèn kể cho nhà vua nghe hoàn cảnh của mình, và ngài bảo họ rằng: "Sẽ chẳng có tai họa nào giáng xuống các ngươi đâu; chưa từng có bất kỳ người con nào của Adam đến với chúng ta trước các ngươi." Rồi ngài khoản đãi họ một bữa tiệc gồm thịt chim, dã thú và cá. Sau đó, những người trên tàu xuống bờ để vãn cảnh thành phố, và họ bắt gặp một ngư dân đang giăng lưới bắt cá dưới biển. Khi người này kéo lưới lên, ôi chao, trong đó có một chiếc bình bằng đồng được bịt kín bằng chì, có niêm phong nhẫn tín vật của Solomon, con trai của David. Người ngư dân bước tới và đập vỡ nó; tức thì, từ trong bình bay ra một làn khói lam hòa lẫn với những đám mây trên trời, và họ nghe thấy một giọng nói rùng rợn vang lên: "Sám hối! Sám hối! Hỡi Tiên tri của Thượng Đế!" Rồi từ làn khói ấy hiện lên một hình hài gớm ghiếc, vóc dáng khủng khiếp, đầu chạm tới tận mây xanh; đoạn, kẻ ấy biến mất trước mắt họ. Về phần những người trên tàu, tim họ gần như muốn rụng rời, nhưng những người da đen thì chẳng mủi lòng hay sợ hãi trước sự việc ấy. Một người bèn quay lại hỏi nhà vua về chuyện này, và ngài đáp: "Hãy biết rằng đây là một trong số loài jin từng bị vua Solomon, con trai của David, giam cầm trong những chiếc bình này khi ngài nổi giận với chúng. Ngài đã đổ chì lên trên rồi ném chúng xuống biển. Khi ngư dân thả lưới, thường thì họ sẽ vớt được những chiếc bình này; và khi chúng bị đập vỡ, một tên jin sẽ bay ra, tưởng rằng vua Solomon vẫn còn sống; thế nên hắn mới sám hối và kêu lên: 'Sám hối! Hỡi Tiên tri của Thượng Đế!'"
Vương gia của các tín đồ, Abd-El-Melik, vô cùng kinh ngạc trước những lời này và nói: "Nhân danh Thượng Đế, trẫm rất muốn tận mắt thấy một vài chiếc bình như thế!" Talib bến tâu: "Muôn tâu Vương gia của các tín đồ, ngài hoàn toàn có thể làm được điều đó mà vẫn ở lại trong vương quốc của mình. Hãy truyền lệnh cho vương huynh Abd-El-Azeez rằng ngài ấy hãy viết thư cho Tổng đốc Moosa, giục ông ta rời miền Tây đến ngọn núi mà chúng ta vừa nhắc tới, rồi mang về cho ngài những chiếc bình theo ý muốn; bởi vùng đất xa xôi nhất trong lãnh địa của ông ta vốn giáp ranh với ngọn núi ấy." Vương gia của các tín đồ rất ưng thuận lời khuyên đó và phán: "Hỡi Talib, ngươi nói phải lắm, và trẫm muốn ngươi làm sứ giả của trẫm đến gặp Moosa vì việc này." Talib đáp: "Thần xin tuân mệnh, thưa Vương gia của các tín đồ."
Nhà vua liền phán: "Hãy lên đường với ơn phước và sự trợ giúp của Thượng Đế." Sau đó, ngài ra lệnh viết một bức thư gửi vương huynh Abd-El-Azeez, tổng đốc của ngài ở Ai Cập, và một bức thư nữa gửi Moosa, tổng đốc của ngài ở miền Tây, ra lệnh cho chính ông ta lên đường tìm kiếm những chiếc bình của Solomon. Ngài niêm phong hai bức thư rồi trao cho Talib, giục hắn lên đường thật nhanh, đồng thời ban cho hắn tiền tài, kỵ binh lẫn bộ binh để phò trợ dọc đường.
Thế là Talib lên đường đến Ai Cập. Khi Tổng đốc Moosa hay tin hắn sắp tới, ông bèn ra đón tiếp, mừng rỡ chào mừng sự hiện diện của hắn, và Talib trao tận tay ông bức thư. Moosa cầm lấy, đọc kỹ, thấu triệt ý nghĩa, đoạn đặt thư lên đỉnh đầu và nói: "Ta nghe và tuân lệnh Vương gia của các tín đồ." Ông quyết định triệu tập các vị đại thần của mình; họ lập tức tề tựu, và ông đem những điều trong bức thư ra hỏi ý kiến họ. Các đại thần liền tâu: "Thưa Tổng đốc, nếu ngài muốn tìm một người dẫn đường đến nơi ấy, hãy tìm đến Sheikh Abd-Es-Samad; bởi ông ấy là bậc thông thái, từng đi nhiều nơi, am tường về các sa mạc, vùng hoang vu, biển cả cùng cư dân và những kỳ quan của chúng, cũng như tường tận mọi xứ sở và các vùng miền. Vậy ngài hãy thỉnh cầu ông ấy, ông ấy sẽ chỉ dẫn ngài đến với điều ngài hằng mong ước." Ông bèn ra lệnh triệu kiến Abd-Es-Samad, và vị này xuất hiện trước mặt ông—ôi chao, đó là một lão ông đã già nua cằn cỗi bởi sự xoay vần của năm tháng và thời gian.
Tổng đốc Moosa chào hỏi vị sheikh rồi bảo: "Hỡi Sheikh Abd-Es-Samad, chúa công của chúng ta, tức Vương gia của các tín đồ, đã hạ lệnh cho chúng ta thế này thế nọ, mà ta lại chẳng mấy am hiểu về vùng đất đó, ngặt nỗi người ta lại bảo rằng ông rất tường tận về xứ sở cùng những con đường đi lối lại. Vậy ông có sẵn lòng hoàn thành tâm nguyện của Vương gia của các tín đồ chăng?" Vị sheikh đáp: "Thưa Tổng đốc, hãy biết rằng con đường này vô cùng hiểm trở, kéo dài dằng dặc và rất ít dấu chân người qua lại." Tổng đốc hỏi: "Sẽ phải mất khoảng thời gian bao lâu?" Ông đáp: "Đó là hành trình mất hai năm hơn cho cả đi lẫn về; dọc đường đầy rẫy hiểm nguy, kinh hoàng cùng những điều kỳ lạ và phi thường. Dù vậy," ông nói thêm, "Thượng Đế chắc chắn sẽ làm cho mọi việc trở nên dễ dàng với chúng ta nhờ ơn phước đi kèm bên ngài, hỡi Tổng đốc của Vương gia của các tín đồ."
Sau đó, họ lên đường và tiếp tục hành trình cho đến khi tới một tòa cung điện. Vị sheikh liền bảo: "Hãy cùng chúng tôi tiến vào cung điện này, nơi chứa đựng bài học sâu sắc cho những ai biết suy ngẫm."
Tổng đốc Moosa bèn tiến vào đó cùng với Sheikh Abd-Es-Samad và các cận thần cốt cán cho đến khi tới lối vào. Họ thấy cổng mở toang, với những góc tường cao vút cùng những bậc thềm—trong đó có hai bậc thềm rộng làm bằng đá cẩm thạch có màu sắc tuyệt mỹ mà người đời chưa từng thấy trước đây. Trần và tường nhà được trang trí bằng vàng, bạc cùng các loại khoáng chất, và phía trên lối vào có một tấm bia khắc những dòng chữ Hy Lạp cổ. Sheikh Abd-Es-Samad liền hỏi: "Thưa Tổng đốc, ngài có muốn thần đọc nó không?" Tổng đốc đáp: "Hãy bước tới và đọc đi." Ông bèn đọc, và kìa, đó là những vần thơ:
Nơi đây từng có một dân tộc, sau những công trình của họ, ngươi sẽ thấy người ta khóc thương cho vương quyền đã mất;
Và trong cung điện này là khúc khải hoàn ca cuối cùng về những bậc vương giả đã hóa thành cát bụi.
Thần Chết đã tiêu diệt và chia rẽ họ, để rồi trong lòng đất họ đánh mất cả những gì từng tích lũy;
Ngỡ như họ chỉ đặt gánh nặng xuống để nghỉ ngơi chốc lát: vậy mà họ đã vội vã ra đi!
Tổng đốc Moosa bật khóc và cất lời: "Không có thần linh nào ngoài Thượng Đế, Đấng Hằng Sống, Đấng Vĩnh Hằng chẳng bao giờ lụi tàn!"
Đoạn, họ cẩn thận quan sát khắp cung điện; chà, nơi đây hoàn toàn vắng bóng người, không một bóng gia nhân hay chủ nhân: sân đình hoang phế, các gian phòng điêu tàn. Giữa lòng cung điện là một căn phòng được che chở bởi mái vòm cao chót vót vươn thấu tận trời xanh, xung quanh có bốn trăm ngôi mộ.
Tổng đốc Moosa tiến lại gần căn phòng mái vòm, và kìa, nơi đó có tám cánh cửa làm bằng gỗ đàn hương, đinh nạm vàng, được trang trí bằng những ngôi sao bạc khảm đủ loại ngọc quý. Ông nhìn thấy bên trong một ngôi mộ dài với vẻ ngoài đáng sợ, đặt trên đó là một tấm bia bằng sắt xứ Trung Hoa. Sheikh Abd-Es-Samad bước đến gần và đọc dòng chữ khắc trên đó:
Nếu ngươi nghĩ về ta sau khi thời gian dài đã trôi qua, cùng sự đổi dời của muôn vàn dâu bể,
Ta chính là con trai của Sheddad, kẻ từng thống trị loài người và mọi góc nhỏ trên khắp mặt đất.
Mọi đạo quân cứng đầu nhất đều phải khuất phục trước ta, từ Esh-Sham cho tới tận Misr và Adnan.
Ta trị vì trong vinh quang, hạ nhục các vị vua của chúng, khiến muôn dân trăm họ phải khiếp sợ uy quyền của ta;
Ta từng thu phục mọi bộ tộc và quân đoàn trong tầm tay, thấy các quốc gia và cư dân nơi đó run rẩy trước mặt ta.
Mỗi khi ngự trên yên ngựa, ta thấy đại quân của mình gồm một triệu chiếc cương ngựa tung vó hý vang;
Và ta sở hữu khối tài sản khổng lồ không sao đếm xuể, được tích lũy để phòng khi hoạn nạn,
Tâm nguyện dốc toàn bộ của cải chỉ để kéo dài thêm quãng đời ngắn ngủi của mình.
Nhưng Thượng Đế chẳng màng điều gì ngoài việc thực thi ý định của Ngài; và cứ thế, ta bị tách rời khỏi những người anh em.
Thần Chết, kẻ chia rẽ nhân loại, đã tìm đến ta, và ta bị tước đoạt vinh quang để tống vào chốn đọa đày nhục nhã;
Và ta phải nhận lấy quả báo cho mọi hành vi quá khứ mà ta phải gánh chịu: bởi ta là kẻ tội lỗi!
Vậy ngươi hãy tự vấn bản thân, kẻo rơi vào bờ vực thẳm; và hãy dè chừng hiểm họa! Chúc ngươi tìm được lối đi đúng đắn!
Tổng đốc Moosa lại một lần nữa rơi lệ khi ngẫm nghĩ về số phận của con người. Sau đó, trong lúc họ đang rảo bước qua các căn phòng khác nhau của cung điện, chăm chú ngắm nhìn từng gian phòng và nơi vui chơi giải trí, họ đến trước một chiếc bàn có bốn chân bằng ngọc thạch anh, trên đó có khắc dòng chữ:
Bên chiếc bàn này đã có một ngàn vị vua một mắt và một ngàn vị vua lành lặn cả hai mắt cùng quây quần ăn uống. Tất cả bọn họ giờ đây đều đã rời bỏ trần gian, tìm cho mình chốn dung thân nơi nghĩa trang và mồ mả.
Tổng đốc Moosa bèn chép lại tất cả những điều ấy. Sau đó, ông bước ra ngoài, chẳng mang theo thứ gì từ cung điện ngoại trừ chiếc chiếc bàn.
Đoàn quân tiếp tục tiến bước, với Sheikh Abd-Es-Samad đi trước dẫn đường, cho đến khi ngày đầu tiên trôi qua, rồi ngày thứ hai, ngày thứ ba. Họ đi đến một ngọn đồi cao, và khi nhìn lên, ôi chao, trên đỉnh đồi có một kỵ sĩ bằng đồng, trên đầu ngọn giáo của kẻ đó gắn một lưỡi mác rộng và sáng lấp lánh đến mức suýt làm người nhìn lóa cả mắt, trên đó có khắc:
Hỡi kẻ đến trước ta, nếu ngươi không biết con đường dẫn đến Thành phố Đồng, hãy xoa tay lên bức tượng kỵ sĩ, hắn sẽ quay người lại rồi dừng bước. Dù hắn dừng lại theo hướng nào, hãy cứ tiến thẳng theo hướng ấy, không sợ hãi, chẳng ngại ngần; bởi con đường đó sẽ dẫn ngươi đến Thành phố Đồng.
Khi Tổng đốc Moosa xoa tay lên bức tượng kỵ sĩ, nó quay phắt đi nhanh tựa chớp nhoáng làm chói mắt người xem, và đối mặt với một hướng khác hẳn với hướng họ đang đi.
Đoàn người bèn đổi hướng và tiếp tục cuộc hành trình, và đó quả thực là con đường đúng đắn. Họ theo lối đó, tiếp tục bước đi suốt ngày hôm ấy và đêm hôm sau cho đến khi vượt qua một vùng đất rộng lớn. Đang lúc tiến bước, một ngày nọ, họ bắt gặp một cột đá màu đen, trong đó có một sinh thể bị lún sâu đến tận nách, hắn có hai chiếc cánh khổng lồ và bốn cánh tay; hai chiếc giống như tay của con người, còn hai chiếc kia giống như chân trước của loài sư tử có vuốt sắc. Trên đầu hắn mọc đầy tóc trông như đuôi ngựa, đôi mắt rực cháy như hai hòn than hồng, và hắn còn có con mắt thứ ba nằm giữa trán giống như mắt linh cẩu, từ đó phát ra những tia lửa điện. Hắn đen đúa và cao lớn; miệng gào thét: "Ngợi ca sự hoàn mỹ của Chúa tể tôi, Đấng đã giáng xuống tôi hình phạt khắc nghiệt và nỗi thống khổ đớn đau này cho đến Ngày Phục Sinh!"
Khi đoàn người nhìn thấy hắn, lý trí của họ suýt bay biến, họ chết trân trước hình hài ấy và hoảng hốt thối lui. Tổng đốc Moosa bèn hỏi Sheikh Abd-Es-Samad: "Đây là thứ gì thế?" Ông đáp: "Thần cũng không rõ hắn là sinh vật gì." Tổng đốc liền bảo: "Hãy đến gần hắn và tìm hiểu ngọn nguồn xem sao: biết đâu hắn sẽ thổ lộ, và ông sẽ rõ được câu chuyện về thân thế của hắn."
Sheikh Abd-Es-Samad bèn tiến lại gần, cất tiếng hỏi: "Hỡi sinh thể kia, ngươi tên là gì, bản chất ngươi ra sao, và điều gì đã đặt để ngươi ở chốn này theo cách thức này?" Sinh thể ấy đáp: "Còn ta, ta là một tên efreet thuộc loài jin, tên ta là Dahish, và ta bị giam hãm nơi đây bởi uy quyền của Thượng Đế." Tổng đốc Moosa liền bảo: "Hỡi Sheikh Abd-Es-Samad, hãy hỏi hắn nguyên nhân vì sao lại bị giam trong cột đá này." Ông bèn gặng hỏi về chuyện đó, và tên efreet trả lời: "Quả thực câu chuyện của ta vô cùng kỳ lạ, cụ thể là thế này:
"Xưa kia, có một đứa con của Iblees sở hữu một pho tượng thần bằng ngọc mã não đỏ, và ta được giao trọng trách canh giữ nó. Từng có một vị Vua của Biển cả, vô cùng quyền uy, lãnh đạo một triệu chiến binh jin chuyên múa kiếm tòng vong và sẵn sàng đáp lại lời ngài trong những lúc ngặt nghèo, tôn sùng bức tượng ấy. Những tên jin tuân lệnh ngài cũng nằm dưới quyền kiểm soát và sự chỉ huy của ta, răm rắp nghe theo lời ta mỗi khi ta sai khiến: tất cả bọn họ đều nổi dậy chống lại vua Solomon, con trai của David; và ta thường nhập vào thân xác pho tượng thần để ban lệnh hay cấm đoán họ. Bấy giờ, ái nữ của vị vua ấy là một tín đồ vô cùng sùng kính bức tượng, chăm chỉ phụng thờ nó, và nàng là thiếu nữ đẹp nhất trong số những người cùng thời, sở hữu dung mạo kiều diễm, đáng yêu, tao nhã cùng vẻ đẹp hoàn mỹ. Ta đã đem dung nhan nàng kể cho vua Solomon nghe—cầu bình an cho người! Thế nên ngài liền sai sứ giả đến gặp phụ vương nàng, nhắn rằng: 'Hãy gả con gái ngươi cho trẫm, đập vỡ pho tượng mã não đỏ ấy, và làm chứng rằng không có thần linh nào ngoài Thượng Đế, và rằng Solomon là Tiên tri của Thượng Đế. Nhưng nếu ngươi từ chối, trẫm sẽ mang đại quân đến đánh ngươi tan tác như ngày hôm qua vừa qua đi.'
"Khi sứ giả của Solomon đến gặp, Vua của Biển cả vô cùng ngạo mạn, kiêu căng và hếch mặt lên trời. Ngài liền bảo các vị tể tướng của mình: 'Các ngươi nghĩ sao về việc này của Solomon? Bởi hắn đã sai sứ đến đòi cưới con gái trẫm, lại còn ra lệnh cho trẫm đập vỡ pho tượng mã não đỏ và cải theo tôn giáo của hắn.' Họ tâu: 'Tâu Đại vương, Solomon có thể làm gì được ngài khi ngài đang ở giữa vùng biển cả bao la này chứ? Hắn không thể thắng nổi ngài đâu; vì loài jin sẽ chiến đấu bên cạnh ngài; và ngài có thể cầu cứu pho tượng mà ngài hằng phụng thờ. Sáng suốt nhất là ngài hãy thỉnh ý pho tượng mã não đỏ, và lắng nghe xem ngài ấy đáp lại thế nào: nếu ngài ấy khuyên chiến, hãy chiến đấu; bằng không thì thôi.'
"Ngay lập tức, nhà vua đến tẩm điện của pho tượng, dâng lễ vật và sát sinh hiến tế, đoạn sụp lạy trước tượng rồi bắt đầu khóc lóc cầu xin chỉ thị.
"Bấy giờ, vì sự ngu muội của bản thân cùng mối bận tâm về chuyện của Solomon, ta đã nhập vào thân xác pho tượng và ngâm lên hai câu thơ này:
'Phần ta, ta chẳng hề sợ hãi hắn; bởi ta tường tận mọi điều.
Nếu hắn muốn gây chiến với ta, ta sẽ xuất trận và tước đoạt linh hồn hắn.'
"Khi nhà vua nghe thấy câu trả lời của ta, tâm can ngài như được tiếp thêm sức mạnh, và ngài quyết định gây chiến với Solomon, Tiên tri của Thượng Đế, để quyết một trận sống mái. Thế là, khi sứ giả của Solomon quay lại, ngài đã sai người đánh đập hắn nhừ tử, tuôn ra những lời lăng mạ nhục mạ rồi đe dọa ngược lại Solomon qua lời sứ giả: 'Ngươi dùng lời lẽ dối trá để dọa dẫm ta ư? Hoặc là ngươi tự thân đến gặp ta, hoặc chính ta sẽ đến tìm ngươi.'
"Sứ giả trở về gặp Solomon, thuật lại toàn bộ sự việc. Khi Tiên tri của Thượng Đế nghe xong, ý chí của ngài bùng cháy, ngài liền triệu tập quân đội gồm loài jin, loài người, muông thú, chim chóc và loài bò sát. Ngài ra lệnh cho tể tướng Ed-Dimiryat, vị vua của loài jin, tập hợp chúng từ muôn nơi; thế là hắn tụ hội cho ngài sáu trăm triệu tên quỷ dữ. Ngài cũng lệnh cho Asaf, tể tướng loài người của mình, huy động binh lính là nhân thế, với số lượng lên đến một triệu người hoặc hơn. Ngài cho chuẩn bị quân trang, vũ khí, rồi cùng đại quân ngự trên chiếc thảm phép thuật, với đàn chim bay lượn phía trên đầu và muông thú bước đi rầm rộ bên dưới chiếc thảm, cho đến khi hạ trại tại bờ biển của kẻ thù, bao vây hòn đảo và khiến binh lính phủ kín cả mặt đất.
"Đoạn ngài sai sứ đến gặp vua của chúng ta, nhắn nhủ rằng: 'Hãy xem, trẫm đã đến nơi: vì thế hãy quy phục quyền lực của trẫm, thừa nhận sứ mệnh của trẫm, đập vỡ pho tượng của ngươi, thờ phụng Đấng Tối Cao duy nhất, gả con gái cho trẫm theo đúng luật pháp, và ngươi cùng những kẻ đi theo hãy tuyên bố rằng: Ta làm chứng không có thần linh nào ngoài Thượng Đế, và ta làm chứng rằng Solomon là Tiên tri của Thượng Đế. Nếu ngươi nói thế, hòa bình và an lạc sẽ thuộc về ngươi. Nhưng nếu ngươi từ chối, việc ngươi cố thủ trên hòn đảo này cũng chẳng cứu nổi ngươi đâu: bởi Thượng Đế đã ra lệnh cho gió tuân theo trẫm, và trẫm sẽ sai nó chở trẫm đến chỗ ngươi trên chiếc thảm này, rồi sẽ trừng phạt ngươi làm gương cho kẻ khác.'
"Sứ giả đến nơi, truyền đạt lại thông điệp của vị Tiên tri! Nhưng nhà vua bảo hắn: 'Chẳng có cách nào để thực hiện điều mà hắn đòi hỏi cả: vì thế hãy nhắn lại rằng ta sắp sửa xuất trận nghênh chiến đây.' Sứ giả bấy giờ trở về thưa lại với Solomon.
"Nhà vua liền truyền chỉ đến muôn dân trong nước, tập hợp cho mình một triệu tên jin dưới quyền; ngài còn chiêu mộ thêm những tên quỷ dữ ngụ trên các hải đảo và ngọn núi. Sau đó, ngài chuẩn bị quân ngũ, mở kho vũ khí và phân phát binh khí cho họ. Về phần Tiên tri của Thượng Đế, ngài bố trí đội hình, ra lệnh cho muông thú chia thành hai cánh, đứng bên phải và bên trái đại quân, đồng thời sai loài chim đậu sẵn trên các hòn đảo. Ngài cũng ra lệnh cho chúng khi trận chiến bắt đầu, hãy dùng mỏ mổ nát mắt kẻ địch và dùng cánh tát vào mặt chúng; còn muông thú thì phải xé xác ngựa của chúng. Chúng đáp: 'Chúng tôi xin tuân lệnh Thượng Đế và ngài, hỡi Tiên tri của Thượng Đế!'
"Rồi Solomon tự chuẩn bị cho mình một chiếc ngai bằng ngọc thạch anh được trang trí bằng ngọc quý, dát những tấm vàng ròng; ngài cho vị tể tướng Asaf ngồi bên phải, tể tướng Ed-Dimiryat ngồi bên trái, các vị vua loài người bên phải, các vị vua loài jin bên bên trái, còn muông thú, rắn rết thì chầu chực ở phía trước.
"Sau đó, họ ồ ạt tấn công chúng ta, và đôi bên giao tranh trên một vùng đất rộng lớn suốt hai ngày trời; đại họa giáng xuống đầu chúng ta vào ngày thứ ba, và thánh chỉ của Thượng Đế đã được thực thi giữa chúng ta. Kẻ lao lên xung phong đầu tiên chống lại Solomon chính là ta và thuộc hạ của ta; ta bảo các chiến hữu: 'Hãy giữ vững vị trí trên chiến trường trong khi ta ra mặt thách đấu với Ed-Dimiryat.' Kìa, hắn xuất hiện như một quả núi lớn, ngọn lửa bùng cháy ngút trời, khói cuồn cuộn bay lên; hắn tiến đến, phóng ra ngọn lửa hừng hực tấn công ta, và sức mạnh của hắn đã áp đảo ngọn lửa của ta. Hắn thét lên một tiếng vang động trời khiến ta ngỡ như bầu trời sắp sụp xuống, và núi non rung chuyển trước tiếng thét của hắn.
"Rồi hắn ra lệnh cho thuộc hạ, và chúng ồ ạt lao vào chúng ta; chúng ta cũng xông lên nghênh chiến: lửa bốc cao, khói ngút trời, tâm can các chiến binh như muốn xé đôi và trận chiến trở nên vô cùng khốc liệt. Loài chim giao chiến trên không trung, muông thú chiến đấu dưới mặt đất. Ta quần thảo với Ed-Dimiryat cho đến khi cả hai bên đều kiệt sức; sau đó thuộc hạ và quân đoàn của ta suy yếu, các bộ tộc của ta tháo chạy. Ta bay trốn khỏi Ed-Dimiryat, nhưng hắn đuổi theo ta suốt ba tháng trời cho đến khi bắt kịp. Ta ngã quỵ vì kiệt sức, hắn bấy giờ chồm tới tóm lấy ta và bắt làm tù binh. Ta liền van xin: 'Nhân danh Đấng đã tôn vinh ngươi và hạ nhục ta, hãy rủ lòng thương và dẫn ta diện kiến Solomon.'
"Nhưng khi ta diện kiến Solomon, ngài đối xử với ta vô cùng tồi tệ: ngài ra lệnh đục rỗng cột đá này, tống ta vào trong và niêm phong bằng nhẫn tín vật của mình; sau đó, ngài trói xiềng ta lại, và Ed-Dimiryat áp giải ta đến nơi này, đặt ta ở chốn ngươi đang thấy; và cột đá này chính là nhà tù giam giữ ta cho đến Ngày Phục Sinh."
Đoàn người vô cùng kinh ngạc trước câu chuyện và hình thù gớm ghiếc của hắn; Tổng đốc Moosa thốt lên: "Không có thần linh nào ngoài Thượng Đế!"
Sheikh Abd-Es-Samad bèn hỏi tên efreet: "Hỡi ngươi, ta muốn hỏi ngươi về một việc, hãy giải đáp cho chúng ta." Tên efreet đáp: "Cứ hỏi những gì ngươi muốn." Vị sheikh hỏi: "Ở nơi này có tên efreet nào bị giam trong những chiếc bình đồng từ thời Solomon hay không?" Hắn đáp: "Có, tại Biển El-Karkar, nơi có một cộng đồng hậu duệ của Nô-ê mà trận hồng thủy không chạm tới được, họ bị cách ly khỏi phần còn lại của con cháu Adam ở đó."
"Thế," vị sheikh hỏi tiếp, "đường đến Thành phố Đồng và nơi cất giấu những chiếc bình nằm ở đâu? Khoảng cách từ chỗ chúng ta đến đó là bao xa?" Tên efreet đáp: "Nó ở gần đây thôi."
Đoàn người bèn rời khỏi chỗ hắn và tiếp tục lên đường. Từ đằng xa, họ trông thấy một khối đen khổng lồ với hai ngọn lửa đối xứng nhau qua một vị trí nhất định; Tổng đốc Moosa liền hỏi vị sheikh: "Khối đen lớn kia cùng hai ngọn lửa đối xứng ấy là gì vậy?" Người dẫn đường đáp: "Hãy vui mừng đi, hỡi Tổng đốc; bởi đây chính là Thành phố Đồng, và hình ảnh của nó y hệt như những gì ta thấy được miêu tả trong Sách Kho Báu Bí Mật: rằng tường thành được xây bằng đá đen, và thành có hai ngọn tháp bằng đồng mà người nhìn vào sẽ thấy giống như hai ngọn lửa tương ứng; đó cũng là lý do nó có tên là Thành phố Đồng."

Họ cứ thế tiến bước cho đến khi đặt chân tới nơi; chà, nó sừng sững, được kiên cố hóa vững chắc, vươn cao thấu tận trời xanh và bất khả xâm phạm: chiều cao tường thành lên tới tám mươi cubit, có hai mươi lăm cánh cửa, nhưng chẳng có cánh cửa nào mở được nếu không dùng đến mưu mẹo. Họ dừng chân trước cửa thành, cố gắng tìm kiếm lối vào nhưng đành bất lực. Tổng đốc Moosa bèn hỏi Sheikh Abd-Es-Samad: "Hỡi sheikh, ta chẳng thấy cánh cửa nào dẫn vào thành phố này cả." Vị sheikh đáp: "Thưa Tổng đốc, trong Sách Kho Báu Bí Mật miêu tả đúng là như vậy: thành có hai mươi lăm cửa, và không một cửa nào có thể mở được nếu không thao tác từ bên trong thành." Tổng đốc hỏi: "Vậy chúng ta phải làm thế nào để đột nhập vào trong và chiêm ngưỡng những kỳ quan của nó đây?"
Tổng đốc Moosa liền ra lệnh cho một cận vệ cưỡi lạc đà đi một vòng quanh thành, với hy vọng tìm thấy dấu vết của cánh cửa nào đó. Người cận vệ vâng lệnh, kiên trì giục lạc đà đi vòng quanh suốt hai ngày đêm không ngơi nghỉ. Đến ngày thứ ba, anh ta quay lại hội quân với mọi người, tỏ vẻ kinh ngạc tột độ trước quy mô rộng lớn và chiều cao của thành phố. Anh ta tâu: "Thưa Tổng đốc, vị trí dễ tiếp cận nhất chính là nơi ngài và mọi người đang dừng chân đây."
Ngay sau đó, Tổng đốc Moosa dẫn theo Talib và Sheikh Abd-Es-Samad trèo lên một ngọn núi đối diện, nhìn xuống toàn cảnh thành phố. Khi lên đến đỉnh núi, họ thu vào tầm mắt một thành phố vĩ đại chưa từng thấy trong đời. Những tòa lâu đài cao ngất, mái vòm sáng lấp lánh; dòng nước chảy róc rách, cây trái sum suê và những khu vườn ngập tràn hoa quả chín mọng. Đó là một thành phố với những cánh cửa bất khả xâm phạm, hoang vắng, tĩnh mịch, chẳng một tiếng động ngoại trừ tiếng cú vọ kêu vang trong các góc khuất, tiếng quạ gào thét trên các con phố chính như đang khóc thương cho những con người từng sống ở đó.
Và khi họ trèo lên ngọn núi đó, họ nhìn thấy một thành phố mà mắt thường chưa từng thấy nơi nào vĩ đại hơn.
Tổng đốc Moosa ngất lịm đi vì đau đớn; nước mắt giàn giụa trên má, ông thốt lên: "Nhân danh Thượng Đế, sự dửng dưng với cõi trần thế này mới là con đường đúng đắn và chắc chắn nhất!"
Khi quay trở lại với đại quân, họ dành trọn cả ngày bàn tính kế hoạch đột nhập vào thành. Tổng đốc Moosa hỏi các vị sĩ quan chủ chốt xung quanh: "Làm thế nào chúng ta có thể vào được thành phố để chiêm ngưỡng những kỳ quan của nó? Biết đâu chúng ta sẽ tìm thấy thứ gì đó có thể dùng làm quà dâng lên Vương gia của các tín đồ." Talib đáp: "Hãy dựng một chiếc thang, trèo lên đó, may ra chúng ta sẽ tiếp cận được cánh cửa từ phía bên trong."
Tổng đốc bảo: "Đây cũng là điều vừa lóe lên trong đầu ta, quả là một ý kiến tuyệt vời." Ông bèn gọi thợ mộc và thợ rèn tới, ra lệnh cho họ chọn những thanh gỗ thẳng, chế tạo một chiếc thang được bọc các tấm sắt bên ngoài. Họ vâng lệnh làm việc cật lực và dựng nên một chiếc thang vô cùng chắc chắn. Phải mất ròng rã một tháng trời với rất nhiều nhân công tham gia chế tạo. Khi dựng lên và áp sát vào tường thành, chiếc thang cao vừa vặn đúng bằng bức tường, tựa hồ như nó được đo đạc chính xác để dành riêng cho bức tường ấy từ trước vậy. Tổng đốc Moosa vô cùng kinh ngạc và thốt lên: "Nguyện Thượng Đế phù hộ các ngươi! Nhìn tay nghề tinh xảo của các ngươi kìa, ngỡ như nó được thiết kế chuẩn xác đến từng centimet cho bức tường này vậy."
Đoạn, ông hỏi đại quân: "Ai trong số các ngươi dám trèo lên chiếc thang này, bước lên đỉnh tường thành, đi dọc theo đó và tìm cách trèo xuống thành phố để thám thính tình hình, rồi quay lại báo cho chúng ta cách mở cửa thành?"
Một người bước ra thưa: "Thưa Tổng đốc, thần xin trèo lên, xuống thành và mở cửa cho ngài."
Tổng đốc bảo: "Hãy leo lên đi. Nguyện Thượng Đế phù hộ ngươi!"
Người đó bèn trèo lên thang cho đến tận đỉnh; khi đứng vững trên đó, anh ta hướng mắt nhìn vào trong thành, vỗ tay và gào lên bằng hết sức lực: "Ngươi thật đẹp làm sao!" Đoạn, anh ta lao mình xuống thành phố và bỏ mạng.
Tổng đốc Moosa thốt lên: "Nếu chúng ta đối xử với tất cả các thuộc hạ như thế này, chẳng còn lại mống nào; và chúng ta sẽ chẳng thể hoàn thành tâm nguyện của mình lẫn tâm nguyện của Vương gia của các tín đồ nữa. Thôi, rút lui đi; chúng ta chẳng dính dáng gì đến thành phố này nữa."
Nhưng một người trong đoàn lên tiếng: "Biết đâu người tiếp theo sẽ bình tĩnh và vững vàng hơn anh ta thì sao."
Thế là người thứ hai trèo lên, rồi người thứ ba, thứ tư, thứ năm; họ cứ thế nối tiếp nhau trèo lên đỉnh tường thành qua chiếc thang ấy cho đến khi mười hai người lần lượt lặp lại hành động hệt như kẻ đầu tiên. Thấy vậy, Sheikh Abd-Es-Samad liền nói: "Chẳng ai lo nổi việc này ngoài ta đâu, kẻ có kinh nghiệm dẫu sao cũng khác với kẻ khờ khạo." Nhưng Tổng đốc Moosa ngăn lại: "Ông không được làm thế, ta không cho phép ông trèo lên đỉnh bức tường này đâu; vì nếu ông ngã chết, tất cả chúng ta sẽ bỏ mạng và chẳng ai sống sót nổi, bởi ông chính là người dẫn đường của đoàn." Vị sheikh đáp: "Biết đâu tâm nguyện sẽ thành thông qua ta, nhờ ý chí của Thượng Đế, Đấng được tôn vinh danh tiếng!" Trước quyết tâm đó, tất cả mọi người đều đồng ý để ông trèo lên.
Abd-Es-Samad bèn đứng dậy, cất tiếng: "Nhân danh Thượng Đế, Đấng Rất Mực Nhân Từ, Đấng Rất Mực Khoan Dung!"—rồi ông bắt đầu bước lên thang, vừa đi vừa tụng niệm ngợi ca Thượng Đế cùng những Câu Kinh Bình An cho đến khi lên đến đỉnh tường thành. Tới nơi, ông vỗ tay và đảo mắt nhìn quanh. Mọi người bên dưới hốt hoảng la lên: "Hỡi Sheikh Abd-Es-Samad, đừng gieo mình xuống đó! Nếu Abd-Es-Samad ngã xuống, tất cả chúng ta đều mất mạng!"
Abd-Es-Samad ngồi im lặng một hồi lâu, miệng không ngớt tụng ca Thượng Đế và đọc các Câu Kinh Bình An. Sau đó, ông đứng vụt dậy với phong thái kiên quyết, cất cao giọng hô lớn: "Hỡi Tổng đốc, sẽ chẳng có tai họa nào giáng xuống các vị đâu; bởi Thượng Đế đã hóa giải giúp ta mưu mô quỷ quyệt của Ma Quỷ."
Tổng đốc liền hỏi: "Hỡi sheikh, ông đã nhìn thấy gì vậy?"
Ông đáp: "Khi vừa lên đến đỉnh tường, ta nhìn thấy mười thiếu nữ đẹp tựa vầng trăng, họ ra hiệu bằng tay như muốn gọi: 'Hãy đến đây với chúng tôi!' Và ta có cảm giác bên dưới mình là một vùng biển nước mênh mông, khiến ta thèm thuồng muốn gieo mình xuống giống như các thuộc hạ đã làm; nhưng khi nhìn thấy họ đều đã phơi thây, ta lập tức kiềm chế bản thân, đọc vài câu kinh trong sách của Thượng Đế, và Ngài đã giúp ta xua đi ảo ảnh của những ả thiếu nữ ấy; thế là chúng biến mất, và ta không nhảy xuống nữa. Chắc chắn đây là một thứ bùa phép mà cư dân thành phố này giăng ra để xua đuổi bất cứ kẻ nào có ý định đột nhập vào đây."
Nói đoạn, ông bước dọc theo tường thành cho đến khi đến hai ngọn tháp bằng đồng, và nhận ra chúng có những cánh cửa bằng vàng nhưng hoàn toàn không thấy dấu vết của ổ khóa hay cơ chế mở. Quan sát kỹ lưỡng, vị sheikh nhìn thấy ở chính giữa mặt trước thân bức tượng kỵ sĩ có một chiếc chốt nhỏ, trên đó có khắc dòng văn bản mà sheikh đọc được nội dung như sau:
Hãy xoay chiếc chốt nằm giữa ngực tượng kỵ sĩ mười hai lần, cánh cửa sẽ tự động mở ra.
Ông bèn xoay chiếc chốt đủ mười hai lần; tức thì, cánh cửa bật mở với tiếng động vang dội tựa sấm sét, và vị sheikh bước vào trong. Ông là một bậc uyên bác, am tường mọi thứ tiếng và văn tự. Ông bước qua một hành lang dài, đi xuống vài bậc thềm và phát hiện ra một căn phòng có những chiếc băng ghế gỗ đẹp đẽ, trên đó là những thây người đã chết. Phía trên đầu họ treo những chiếc khiên tinh xảo, thanh gươm sắc bén, cung đã lên dây và những mũi tên có ngạnh. Phía sau cánh cửa tiếp theo là một thanh xà bằng sắt, những khúc gỗ chắn ngang, các ổ khóa chế tác tinh vi cùng cơ chế phòng thủ kiên cố. Vị sheikh thầm nghĩ: "Biết đâu chìa khóa đang ở chỗ những người này."
Ông quan sát kỹ và nhìn thấy một vị lão ông trông có vẻ cao tuổi nhất trong số họ, đang ngồi trên chiếc băng ghế gỗ cao giữa đám thây ma. Abd-Es-Samad tự nhủ: "Liệu chìa khóa thành phố có đang giữ bởi vị sheikh này không? Có lẽ ông ấy là người giữ cửa thành, và những người này thuộc quyền quản lý của ông ta." Ông bèn tiến đến gần, vén y phục của vị lão ông lên, và kìa, chùm chìa khóa được đeo lủng lẳng bên thắt lưng. Vừa nhìn thấy chúng, Abd-Es-Samad vô cùng mừng rỡ; ông tháo chùm chìa khóa, mở các ổ khóa, kéo then cửa chắn ngang cùng các cơ chế khác, và cánh cửa rầm rộ mở tung với tiếng động đinh tai nhức óc tựa tiếng sấm. Bấy giờ, vị sheikh cất tiếng hô lớn: "Thượng Đế vĩ đại nhất!" và đoàn người bên ngoài cũng đồng thanh hô vang theo ông, hân hoan mừng rỡ trước sự kiện này. Tổng đốc Moosa cũng khấp khởi mừng vui vì sự bình an của Abd-Es-Samad lẫn việc cổng thành đã được mở. Mọi người gửi lời cảm ơn ông vì chiến công vừa lập, và toàn quân vội vã ùa qua cổng thành.
Nhưng Tổng đốc Moosa lớn tiếng ngăn lại: "Hỡi đồng bào, nếu tất cả chúng ta cùng vào, nhỡ có tai nạn bất ngờ xảy ra thì khó lòng xoay sở. Một nửa hãy vào, một nửa ở lại bên ngoài."
Tổng đốc Moosa bước qua cổng thành cùng một nửa số quân nhân mang theo vũ khí chiến đấu. Họ chứng kiến cảnh các thuộc hạ của mình đã tử nạn nên tiến hành chôn cất họ chu đáo. Họ cũng nhìn thấy lính gác cửa, gia nhân, thái giám và các quan chức nằm chết trên những chiếc giường bằng lụa. Họ tiến vào khu chợ trong thành, thấy các gian hàng đều mở toang, cân đĩa treo sẵn, đồ dùng bằng đồng được xếp ngay ngắn và các kho hàng ngập tràn hàng hóa đủ chủng loại. Họ thấy các thương gia đã chết gục trong tiệm của họ: da dẻ đã khô quắt lại, trở thành bài học nhãn tiền cho những ai biết suy ngẫm.
Họ rời nơi này, đi tiếp đến khu chợ bán lụa, nơi bày bán lụa là, gấm vóc dệt bằng chỉ vàng rực và chỉ bạc tinh khiết trên nền vải đa sắc màu, còn các chủ nhân thì đã chết, nằm ngửa trên những tấm thảm da, trông cứ ngỡ như họ sắp cất lời nói đến nơi.
Rời khỏi đây, họ tiến vào khu chợ ngọc bích, trân châu và hồng ngọc; rồi qua khỏi đó, họ tới khu đổi tiền, nơi những người đổi tiền đã chết nằm đè lên muôn vàn tấm lụa là, còn cửa hàng của họ thì chất đầy vàng với bạc. Qua khỏi những nơi ấy, họ tiến đến khu chợ của những người bán nước hoa, và ôi chao, các cửa tiệm ngập tràn nước hoa đủ loại, những túi xạ hương, long diên hương, trầm hương và băng phiến; tất cả chủ nhân đều đã tử vong và chẳng mang theo bên mình chút thức ăn thức uống nào.
Khi bước ra khỏi khu chợ nước hoa, họ tìm thấy gần đó một cung điện được trang hoàng lộng lẫy và xây cất kiên cố. Họ bước vào và bắt gặp những lá cờ bay phấp phới, gươm giáo tuốt trần, cung căng sẵn dây cùng khiên chiến treo lủng lẳng bởi những sợi dây xích bằng vàng bạc, và những chiếc mũ trụ mạ vàng ròng. Dọc theo các hành lang của cung điện là những chiếc ghế dài làm bằng ngà voi, chạm trổ các tấm vàng óng ánh cùng lụa là, trên đó là những con người có lớp da đã khô cứng bám chặt vào xương; kẻ vô tri nhìn vào sẽ ngỡ như họ đang chìm vào giấc ngủ, nhưng thực chất họ đã chết vì đói khát và nếm trải mùi vị của cõi chết.
Tổng đốc Moosa tiến sâu vào bên trong cung điện. Tại đây, ông nhìn thấy một đại sảnh lớn cùng bốn căn phòng rộng rãi, cao ngất, đối diện nhau, vô cùng rộng lớn và được trang hoàng lộng lẫy bằng vàng, bạc cùng nhiều màu sắc rực rỡ. Chính giữa đại sảnh là một đài phun nước lớn bằng ngọc thạch anh, bên trên che một tấm lều bằng vải gấm; còn trong các căn phòng kia là những đài phun nước được lát đá cẩm thạch, những rãnh nước chảy róc rách dọc theo sàn nhà, bốn dòng suối hội tụ về một chiếc bể lớn lát đá cẩm thạch đa sắc.
Tổng đốc Moosa quay sang bảo Sheikh Abd-Es-Samad: "Hãy cùng chúng ta bước vào các căn phòng này."
Họ bước vào căn phòng thứ nhất và thấy nó ngập tràn vàng, bạc trắng, ngọc trai, đá quý, hồng ngọc cùng các loại khoáng chất quý hiếm. Họ cũng tìm thấy ở đây những chiếc rương đầy ắp gấm vóc màu đỏ, vàng và trắng. Họ đi tiếp sang căn phòng thứ hai, mở một chiếc tủ chứa đồ ra, và kìa, nó đầy ắp gươm giáo và vũ khí chiến chiến tranh, gồm những chiếc mũ trụ mạ vàng, áo giáp sắt, gươm, giáo, chùy và các binh khí giao tranh khác.
Rồi họ chuyển sang căn phòng thứ ba, nơi có những chiếc tủ có ổ khóa đóng kín, bên ngoài phủ những tấm rèm thêu thùa đủ kiểu tinh xảo. Họ mở một trong những chiếc tủ đó và thấy nó chứa đầy vũ khí được trang trí tinh vi bằng vàng, bạc và đá quý. Họ lại tiến sang căn phòng thứ tư, ở đó họ cũng tìm thấy những chiếc tủ, mở một chiếc ra và thấy nó chứa đầy đồ dùng ăn uống, gồm các loại bát đĩa bằng vàng bạc, đĩa pha lê, tách khảm ngọc trai rực rỡ, tách ngọc mã não cùng nhiều vật dụng khác. Họ bèn bắt đầu chọn lấy những thứ vừa ý, mỗi binh sĩ mang theo những gì mình có thể vác nổi.
Khi họ định bước ra khỏi các căn phòng đó, họ nhìn thấy một cánh cửa được khảm ngà voi và gỗ mun, trang trí các tấm vàng óng ánh. Phía trên treo một tấm rèm lụa thêu thùa đủ họa tiết, và trên cửa có những ổ khóa bằng bạc trắng mở bằng cơ chế mưu mẹo chứ không cần chìa khóa. Sheikh Abd-Es-Samad liền tiến đến các ổ khóa ấy, dùng kiến thức và tay nghề siêu việt của mình để mở chúng. Đoàn người bước vào một lối đi được lát đá cẩm thạch, hai bên treo những tấm rèm thêu hình muông thú và chim chóc đủ loại bằng chỉ vàng đỏ lẫn bạc trắng, đôi mắt của chúng được làm bằng ngọc trai và hồng ngọc: bất cứ ai nhìn thấy đều phải choáng váng.
Họ tiếp tục đi và tìm thấy một gian sảnh được xây bằng đá cẩm thạch đánh bóng đính ngọc quý. Kẻ nhìn vào sẽ có cảm giác như mặt sàn đang có dòng nước chảy qua, và nếu ai bước lên đó chắc chắn sẽ trượt ngã. Tổng đốc Moosa bèn ra lệnh cho Sheikh Abd-Es-Samad ném thứ gì đó xuống sàn để họ có thể đi qua; ông vâng lệnh và tìm cách giúp mọi người vượt qua an toàn.
Họ tìm thấy bên trong đó một mái vòm lớn được xây bằng những viên đá mạ vàng ròng. Suốt hành trình từ đầu đến giờ, đoàn người chưa từng chứng kiến thứ gì lộng lẫy hơn thế. Ngay chính giữa mái vòm là một cấu trúc mái vòm lớn bằng ngọc thạch anh, bao quanh là các khung cửa sổ có chấn song được trang trí tinh xảo, khảm ngọc lục bảo thuôn dài—thứ mà không một vị vua chúa nào thời bấy giờ có thể kiếm được. Bên trong đó là một chiếc lều bằng vải gấm, dựng trên những cột trụ bằng vàng ròng, bên trong lều có những con thú bằng chim chóc với đôi chân làm bằng ngọc lục bảo; bên dưới mỗi con chim là một tấm lưới ngọc trai lấp lánh trải trên một đài phun nước. Ngay bên bờ đài phun nước đặt một chiếc ngả lưng được khảm ngọc trai, đá quý và hồng ngọc, trên đó ngự một thiếu nữ xinh đẹp tựa vầng thái dương rực rỡ. Mắt phàm chưa từng chứng kiến dung nhan nào kiều diễm hơn thế. Nàng khoác trên mình bộ y phục bằng ngọc trai lấp lánh, đầu đội vương miện vàng ròng nạm chuỗi ngọc, cổ đeo chiếc vòng ngọc quý với những viên bảo thạch rực sáng ở chính giữa, và trên trán khảm hai viên đá quý phát ra thứ ánh sáng tựa vầng dương. Trông nàng cứ như đang sống, đang đưa mắt quan sát mọi người sang hai bên.
Khi Tổng đốc Moosa nhìn thấy thiếu nữ ấy, ông vô cùng kinh ngạc trước vẻ đẹp kiều diễm của nàng, choáng váng trước dung mạo tuyệt mỹ, đôi má ửng đỏ cùng mái tóc đen nhánh. Bất cứ ai nhìn vào cũng đinh ninh rằng nàng vẫn còn sống chứ không phải đã chết. Họ cất tiếng chào: "Bình an cho nàng, hỡi thiếu nữ!"
Nhưng Talib can thiệp: "Muôn xin Thượng Đế ban phước lành cho ngài! Xin hãy biết rằng thiếu nữ này đã chết. Chẳng có chút sự sống nào trong người nàng cả. Làm sao nàng có thể đáp lời chào?" Hắn nói thêm: "Thưa Tổng đốc, nàng đã được ướp xác một cách vô cùng tinh xảo; đôi mắt của nàng đã bị móc ra sau khi chết và được bơm thủy ngân vào bên dưới, rồi đặt trở lại vị trí cũ; thế nên chúng mới long lanh như vậy. Mỗi khi có luồng gió thổi qua làm chúng chuyển động, người xem sẽ lầm tưởng nàng đang chớp mắt, dẫu thực chất nàng đã tử vong."
Về phần chiếc ngả lưng nơi thiếu nữ đang nằm, nó có những bậc thềm, và trên các bậc thềm có hai bức tượng nô lệ đứng hầu, một trắng một đen; một người tay cầm binh khí bằng thép, người kia cầm thanh gươm nạm ngọc chói lóa cả mắt. Phía trước hai người nô lệ là một tấm bia bằng vàng khắc dòng chữ:
Nhân danh Thượng Đế, Đấng Rất Mực Nhân Từ, Đấng Rất Mực Khoan Dung. Ngợi ca Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa muôn loài; Ngài là Chúa tể của các chúa tể, là Nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Hỡi ngươi, nếu ngươi chưa biết ta, ta sẽ cho ngươi rõ danh tính và dòng dõi của ta. Ta là Tedmur, ái nữ của Nhà vua xứ Amalek. Ta sở hữu những thứ mà không một vị vua nào có được, trị vì nhân dân trong công lý, đối xử công bằng với thần dân; ta ban phát bổng lộc và sống cuộc đời dài lâu trong hạnh phúc, nhung lụa cùng vô số nữ tì và nam nô được phóng thích. Ta cứ sống như thế cho đến khi sứ giả của cái chết tìm đến tẩm điện, và tai họa giáng xuống đầu chúng ta. Sự tình là thế này: Bảy năm liền hạn hán liên tiếp kéo dài, không một giọt nước rơi từ trên trời xuống, cũng chẳng có ngọn cỏ nào mọc nổi trên mặt đất. Chúng ta đành ăn cạn những thực phẩm trữ sẵn trong nhà, rồi sau đó phải ăn thịt cả muông thú cho đến khi chẳng còn gì sót lại. Vì lẽ đó, ta đã cho mang kho báu ra, đong đếm bằng thùng rồi phái những bề tôi trung thành mang đi khắp các ngả đường, không bỏ sót một thành phố lớn nào để tìm kiếm lương thực. Nhưng họ tìm mãi chẳng ra; và đành quay về tay không sau một chuyến đi đằng đẵng. Trước hoàn cảnh ấy, chúng ta đành phơi bày của cải tài sản, khóa chặt các cổng pháo đài trong thành và phó mặc số phận cho ý Chúa, trao phó cơ đồ cho Đấng Tối Cao. Và thế là tất cả chúng ta đều chết đói như ngươi đang thấy, bỏ lại sau lưng những gì từng gầy dựng và tích cóp. Đó là câu chuyện của chúng ta: Bất cứ ai đặt chân đến thành phố này và bước vào, hãy lấy những của cải trong khả năng, nhưng tuyệt đối không được chạm vào bất cứ thứ gì trên thân thể ta; bởi đó là y phục che thân của ta. Vì thế hãy kính sợ Thượng Đế và đừng tước đoạt bất cứ thứ gì trên người ta, kẻo ngươi tự chuốc lấy diệt vong. Chúc các ngươi bình an! Ta cũng cầu xin Thượng Đế cứu rỗi các ngươi khỏi chước cám dỗ và bệnh tật hiểm nghèo.
Khi Tổng đốc Moosa nghe xong những dòng chữ này, ông lại bật khóc và cảm thấy thấm thía sâu sắc trước bài học nhãn tiền chứng kiến tận mắt. Ông quay sang bảo các thuộc hạ: "Hãy mang các bao tải ra và nhét đầy vàng bạc, châu báu cùng những món vật phẩm quý hiếm này vào."
Lúc bấy giờ, Talib, con trai của Sahl, liền thưa với Tổng đốc Moosa: "Thưa Tổng đốc, chúng ta sẽ bỏ mặc thiếu nữ này cùng những báu vật trên người nàng thế sao? Chúng là những thứ vô tiền khoáng hậu, chẳng nơi nào sánh bằng, giá trị còn lớn hơn cả số tài sản ngài vừa thu gom, và đây sẽ là món quà tuyệt vời nhất để ngài dâng lên Vương gia của các tín đồ."
Nhưng vị tổng đốc đáp: "Ngươi không nghe thấy những gì thiếu nữ này căn dặn qua dòng chữ khắc trên tấm bia sao? Hơn thế nữa, nàng đã phó thác nó trong sự tin tưởng, và chúng ta không phải là hạng người bội bạc phản trắc."
Tể tướng Talib vẫn cố cãi: "Chỉ vì dăm ba câu chữ đó mà ngài nỡ bỏ lại số tài sản và ngọc ngà châu báu này khi nàng đã chết rồi ư? Nàng còn cần gì đến chúng nữa, khi đây vốn là vật trang hoàng cho trần thế, là thứ để người sống chưng diện? Thiếu nữ này chỉ cần một tấm vải bông để quấn thân là đủ, và chúng ta xứng đáng sở hữu chúng hơn nàng."
Nói đoạn, hắn bước tới các bậc thềm, leo lên tận vị trí giữa hai bức tượng nô lệ. Kìa, ngay khoảnh khắc đó, một trong hai bức tượng giáng một đòn mạnh vào lưng hắn, còn bức tượng kia dùng thanh gươm trên tay chém phăng đầu hắn xuống đất, khiến hắn ngã quỵ và tử vong ngay tại chỗ.
Tổng đốc Moosa nhìn xác hắn rồi thốt lên: "Nguyện Thượng Đế chẳng thèm rủ lòng thương xót cho chốn dung thân của ngươi! Số của cải này vốn dĩ đã quá đủ rồi; sự tham lam chỉ tổ chuốc lấy nhục nhã cho kẻ nào vướng vào nó mà thôi!"
Ông lập tức ra lệnh cho đại quân tiến vào, và họ chất đầy những bao tải của cải khoáng sản lên lưng lạc đà. Sau đó, Tổng đốc Moosa ra lệnh đóng cổng thành lại y như trạng thái ban đầu.
Đoàn người tiếp tục hành trình dọc theo bờ biển cho đến khi trông thấy một ngọn núi cao hướng ra biển. Trên đó có rất nhiều hang động, và kìa, bên trong là một cộng đồng người da đen mặc trang phục bằng da thú, đội mũ trùm đầu cũng bằng da, nói một thứ ngôn ngữ không ai hiểu nổi. Khi nhìn thấy đoàn quân, họ hoảng sợ tháo chạy tán loạn, trong khi phụ nữ và trẻ em thì đứng tụ tập ở cửa hang.
Tổng đốc Moosa liền hỏi: "Hỡi Sheikh Abd-Es-Samad, những người này là ai vậy?" Ông đáp: "Họ chính là mục tiêu mà Vương gia của các tín đồ muốn tìm kiếm."
Họ bèn hạ trại, dựng lều, đặt kho báu xuống; và khi chưa kịp nghỉ ngơi, vị vua của người da đen đã từ trên núi đi xuống, tiến về phía đoàn quân. Ông ta thông thạo tiếng Ả Rập, thế nên khi đến trước Tổng đốc Moosa, ông liền cất tiếng chào; tổng đốc đáp lễ và đón tiếp ông ta vô cùng trọng thị.
Vị vua da đen hỏi tổng đốc: "Các ngươi là loài người, hay là loài jin?"
Tổng đốc đáp: "Về phần chúng ta, chúng ta là con người; còn các ngươi, chắc chắn các ngươi là loài jin rồi, bởi vì các ngươi sống ẩn dật trên ngọn núi bị cách ly khỏi thế giới này, lại có vóc dáng to lớn phi thường."
Nhưng vị vua da đen đáp lời: "Không, chúng ta là hậu duệ của con cháu Adam, thuộc dòng dõi Ham, con trai của Nô-ê—cầu bình an cho người! Còn vùng biển này, nó được biết đến với tên gọi El-Karkar."
Tổng đốc Moosa bèn nói với ông ta: "Chúng ta là thuộc hạ của Quốc vương xứ Hồi giáo, Abd-El-Melik con trai của Marwan; chúng ta đến đây vì những chiếc bình bằng đồng nằm dưới vùng biển của các người, trong đó giam cầm những tên quỷ dữ từ thời Solomon, con trai của David. Ngài đã ra lệnh cho chúng ta mang về một vài chiếc để ngài chiêm ngưỡng và thưởng ngoạn."
Vị vua da đen đáp: "Rất hân hạnh."
Ông ta khoản đãi họ một bữa tiệc cá, rồi ra lệnh cho các thợ lặn xuống biển vớt lên những chiếc bình của Solomon. Họ vớt được mười hai chiếc bình mang dâng Tổng đốc Moosa. Tổng đốc vô cùng phấn khởi, Sheikh Abd-Es-Samad và toàn quân cũng mừng rỡ khôn tả vì đã hoàn thành nhiệm vụ mà Vương gia của các tín đồ giao phó. Tổng đốc Moosa bèn trao tặng vị vua da đen rất nhiều quà cáp và sính lễ giá trị. Ngược lại, vị vua da đen cũng gửi tặng Tổng đốc Moosa những sản vật kỳ lạ từ dưới đáy đại dương.
Đoạn, họ chào từ biệt ông ta, lên đường quay trở về xứ Syria và diện kiến Vương gia của các tín đồ. Tổng đốc Moosa tường thuật lại cho ngài nghe toàn bộ những gì mình đã chứng kiến, mọi biến cố trải qua liên quan đến những vần thơ, giai thoại, bài học cảnh tỉnh, đồng thời kể lại cái chết của Talib con trai của Sahl.
Vương gia của các tín đồ lắng nghe xong liền thốt lên: "Ước gì trẫm được đi cùng các ngươi để tận mắt chứng kiến những cảnh tượng kỳ vĩ ấy!" Ngài liền cho mang những chiếc bình ra, lần lượt mở từng chiếc một, và những tên quỷ dữ từ trong bình bay ra kêu la hoảng hốt: "Sám hối, hỡi Tiên tri của Thượng Đế! Chúng tôi thề sẽ không bao giờ tái phạm những hành vi đó nữa!" Abd-El-Melik con trai của Marwan vô cùng kinh ngạc trước cảnh tượng này.
Sau đó, Vương gia của các tín đồ cho tập trung toàn bộ số của cải mang về để phân phát cho thần dân, rồi tuyên bố: "Thượng Đế chưa từng ban cho bất kỳ ai những đặc ân lớn lao như Ngài đã ban cho Solomon, con trai của David."
Đến đây là khép lại toàn bộ câu chuyện về Thành phố Đồng mà chúng ta được truyền tụng lại. Và Thượng Đế là Đấng Thấu Tường Mọi Vật.