"Chắc bệ hạ cũng biết," người tù khốn khổ nói, "cha tôi tên là Mahmoud, từng là quân vương của đất nước này. Đây là vương quốc Quần đảo Đen, mang tên đó là do bốn ngọn núi nhỏ xung quanh; bởi xưa kia những ngọn núi ấy vốn là các hải đảo, còn kinh đô nơi phụ hoàng tôi ngự trị trước kia nay nằm ở vị trí hồ nước mà ngài vừa nhìn thấy. Phần sau của câu chuyện sẽ cho ngài biết nguyên nhân của những thay đổi ấy."
"Phụ hoàng tôi băng hà khi ngài vừa tròn bảy tuổi – ý tôi là bảy mươi tuổi; tôi vừa lên kế vị thì liền kết hôn, và người thiếu nữ tôi chọn để chia sẻ vương vị cùng mình chính là người em họ. Tôi vô cùng mãn nguyện trước tình cảm của nàng, và về phần mình, tôi yêu nàng sâu sắc đến mức không gì có thể sánh bằng sự hòa hợp giữa vợ chồng chúng tôi. Cuộc sống ấy kéo dài được năm năm, cho đến tận thời điểm tôi nhận ra hoàng hậu không còn mặn mà với sự quan tâm của tôi nữa."
"Một hôm, sau bữa trưa, trong lúc nàng đang tắm, tôi cảm thấy buồn ngủ nên bèn ngả mình xuống một chiếc ghế dài. Hai nữ tì của nàng khi ấy đang có mặt trong phòng liền tiến lại, một người ngồi phía đầu, người kia ngồi phía chân tôi, tay cầm quạt để làm dịu đi cái nóng và xua những con ruồi không cho chúng làm phiền giấc ngủ của tôi. Họ tưởng tôi đã ngủ say nên thì thầm to nhỏ với nhau; nhưng vì tôi chỉ nhắm hờ mắt nên đã nghe được toàn bộ câu chuyện của họ."
"Một người bảo người kia: 'Hoàng hậu thật sai trái khi không yêu một vị hoàng tử đáng mến nhường ấy phải không?' 'Chắc chắn rồi,' người kia đáp; 'Ta chẳng hiểu vì sao nữa, và cũng không tài nào tưởng tượng nổi tại sao đêm nào nàng cũng đi ra ngoài, để mặc một mình ngài ở đây! Lẽ nào ngài ấy không hề hay biết chuyện này?' 'Ôi chao!' người thứ nhất nói, 'làm sao ngài biết được chứ? Tối nào nàng cũng trộn vào thức uống của ngài nước cốt của một loài thảo mộc, khiến ngài ngủ say như chết suốt cả đêm để nàng có thời gian đi đến bất cứ nơi nào nàng muốn, rồi khi trời hửng sáng, nàng lại quay về đánh thức ngài bằng mùi hương của thứ gì đó mà nàng đặt dưới mũi ngài.'"
"Bệ hạ có thể đoán được tôi ngạc nhiên đến nhường nào trước cuộc trò chuyện ấy, và nó đã khơi gợi trong tôi những cảm xúc gì; thế nhưng dẫu cho cơn giận dữ có trào dâng đến đâu, tôi vẫn đủ tự chủ để che giấu, và vờ như vừa tỉnh giấc mà chưa hề nghe thấy một lời nào."
"Hoàng hậu từ phòng tắm trở về, chúng tôi cùng nhau dùng bữa tối, và nàng đưa cho tôi một chén đầy thứ nước mà tôi vẫn thường uống; nhưng thay vì đưa lên miệng, tôi bước đến bên ô cửa sổ đang mở, hất văng chỗ nước ấy đi nhanh đến mức nàng không hề hay biết, rồi quay trở lại."
"Chẳng bao lâu sau, tưởng rằng tôi đã ngủ say, nàng liền đứng dậy với thái độ bất cẩn đến mức thầm thì đủ lớn để tôi nghe rõ mồn một: 'Ngủ cho say vào, và đừng bao giờ tỉnh lại nữa!' Nói đoạn, nàng thay trang phục rồi bước ra khỏi phòng."
"Ngay khi hoàng hậu, người vợ của tôi, vừa khuất bóng, tôi liền vùng dậy, vớ lấy thanh mã tấu và bám theo nhanh đến mức chẳng mấy chốc đã nghe thấy tiếng bước chân của nàng ở phía trước, rồi cứ thế rón rén bước theo sau. Nàng đi qua mấy cánh cổng, tự động bật mở khi nàng cất lên vài câu thần chú, và cánh cổng cuối cùng nàng mở chính là cửa dẫn vào khu vườn. Tôi dừng lại ở cánh cổng này để nàng không trông thấy mình khi đi dọc theo luống hoa; đoạn nhìn theo bóng nàng cho đến khi màn đêm che khuất, tôi thấy nàng bước vào một khu rừng nhỏ, với những lối đi được che chắn bởi hàng rào cây dày đặc. Tôi đi theo một lối khác, và khi đã nấp kỹ, tôi thấy nàng đang đi dạo ở đó cùng một người đàn ông."
"Tôi không quên chú ý lắng nghe từng câu từng chữ họ trò chuyện, và nghe nàng ngỏ lời với người tình thế này: 'Tôi không đáng,' nàng nói, 'để bị chàng trách mắng vì tội lơ đễnh. Chàng thừa biết lý do mà; nhưng nếu tất cả những minh chứng về tình yêu mà tôi từng dành cho chàng vẫn chưa đủ để thuyết phục chàng về lòng chung thủy của tôi, thì tôi sẵn sàng trao cho chàng những bằng chứng quyết liệt hơn: chàng chỉ việc ra lệnh, chàng thừa biết quyền năng của tôi; nếu chàng muốn, trước khi mặt trời mọc, tôi có thể biến thành thị trấn lớn này cùng cung điện nguy nga này thành những đống đổ nát hoang tàn, nơi chỉ có loài sói, cú mèo và quạ đen cư ngụ. Nếu chàng muốn tôi dời tất cả những phiến đá được xây cất kiên cố của những bức tường kia ra tận bên kia núi Caucasus, tận cùng cõi thế gian này, chàng chỉ cần cất lời, và mọi thứ sẽ thay đổi.'"
"Khi hoàng hậu dứt lời, nàng và người tình đi đến cuối lối đi, rẽ sang một lối khác và đi ngang qua chỗ tôi. Tôi đã sớm tuốt thanh mã tấu ra khỏi vỏ, và khi gã đàn ông vừa bước đến sát mình, tôi liền chém một nhát vào cổ hắn, hạ gục hắn xuống đất. Tôiinh rằng mình đã kết liễu đời hắn, thế nên vờ như chưa từng lộ diện trước mặt hoàng hậu, người mà tôi chọn cách tha thứ bởi nàng vẫn là máu mủ quyến thuộc của tôi."
"Vết thương tôi gây ra cho gã nhân tình là chí mạng; nhưng nhờ những phép thuật của mình, nàng đã duy trì cho hắn sự tồn tại lơ lửng giữa sống và chết. Khi tôi băng qua khu vườn để trở về cung điện, tôi nghe thấy tiếng hoàng hậu khóc than thảm thiết, và qua những tiếng gào thét ấy, tôi đoán được nàng đau đớn nhường nào, lòng thầm thấy may vì đã tha mạng cho nàng."
"Ngay khi về đến phòng, tôi lên giường nằm, và với sự mãn nguyện vì đã trừng trị kẻ đồi bại dám phản bội mình, tôi chìm vào giấc ngủ."
"Sáng hôm sau, tôi thức dậy, bước vào phòng riêng và mặc y phục. Sau đó tôi dự triều hội. Khi tôi trở về, hoàng hậu khoác tang phục, mái tóc rũ rượi và vương vãi những lọn tóc bị giật đứt, tiến đến trước mặt tôi và nói: 'Thần thiếp đến để cầu xin bệ hạ đừng ngạc nhiên khi thấy thiếp trong bộ dạng này. Nỗi đau đớn tột cùng của thần thiếp là do tin tức về ba tai họa vừa ập đến mà thiếp vừa hay tin.' 'Ôi chao! Đó là những chuyện gì thế, thưa hoàng hậu?' tôi hỏi. 'Cái chết của hoàng hậu, người mẹ kính yêu của thiếp,' nàng đáp, 'sự ra đi của phụ vương, người đã ngã xuống trên chiến trận, và một người anh trai của thiếp đã sảy chân rơi xuống vực sâu.'"
"Tôi không hề khó chịu khi nàng dùng những cái cớ ấy để che đậy nguyên nhân thực sự dẫn đến nỗi buồn của nàng. 'Thưa hoàng hậu,' tôi nói, 'trẫm chẳng những không trách cứ, mà còn xin cam đoan với nàng rằng trẫm vô cùng đồng cảm với nỗi đau đớn ấy. Trẫm sẽ lấy làm lạ nếu nàng dửng dưng trước những tai họa tợn nhường này: cứ khóc đi; những giọt nước mắt ấy chính là minh chứng cho tình cảm sâu sắc của nàng; nhưng trẫm hy vọng thời gian và sự chiêm nghiệm sẽ làm nguôi ngoai bớt nỗi đau.'"
"Nàng lui về phòng riêng, nơi nàng đắm chìm hoàn toàn trong đau khổ, trải qua ròng rã một năm trời trong tang tóc và sầu thảm. Khi khoảng thời gian ấy vừa khép lại, nàng xin phép được dựng một khu lăng mộ cho riêng mình nằm trong khuôn viên cung điện, nơi nàng sẽ ở lại đó cho đến cuối đời, nàng nói thế: tôi đồng ý, và nàng đã xây dựng một công trình uy nghi, đặt tên là Cung điện Nước mắt. Khi công trình hoàn tất, nàng cho người đưa đối tượng mà nàng hết mực nâng niu vào đó; bấy lâu nay nàng vẫn luôn ngăn chặn cái chết của hắn bằng những thứ thuốc mà nàng tự tay bào chế; và sau khi hắn được chuyển đến Cung điện Nước mắt, ngày nào nàng cũng tự tay mang thuốc đến cho hắn."
"Thế nhưng, dẫu có bao nhiêu phép thuật đi chăng nữa, nàng cũng không thể chữa lành cho gã khốn ấy; hắn chẳng những không thể tự đi lại hay đứng vững, mà còn mất luôn cả khả năng nói năng, chẳng còn biểu hiện gì của sự sống ngoại trừ ánh mắt."
"Mỗi ngày hoàng hậu đều đến thăm hắn hai bận thật lâu. Tôi thừa biết chuyện ấy nhưng vẫn vờ như không hay biết. Có lần, sự tò mò thôi thúc tôi đến Cung điện Nước mắt để quan sát cách ái thê của mình hành xử, và từ một góc khuất mà nàng không thể nhìn thấy, tôi nghe nàng thỏ thẻ với gã côn đồ bị thương thế này: 'Thiếp đau đớn khôn cùng khi chứng kiến chàng trong bộ dạng này,' nàng khóc lóc, 'thiếp thấu hiểu nỗi đau đớn xé gan xé ruột mà chàng đang gánh chịu chẳng kém gì chàng; thế nhưng, hỡi linh hồn bé bỏng của thiếp, thiếp cứ trò chuyện mãi với chàng mà chàng chẳng hề đáp lại: chàng còn định im lặng đến bao giờ? Hãy cất lên dù chỉ một lời: ôi chao, những khoảnh khắc ngọt ngào nhất trong cuộc đời thiếp chính là quãng thời gian được quây quần nơi đây để cùng san sẻ nỗi đau với chàng.'"
"Nghe những lời ấy, vốn bị cắt ngang bởi bao tiếng thở dài thườn thượt, tôi hoàn toàn mất hết kiên nhẫn; và khi lộ diện bước đến trước mặt nàng, tôi nói: 'Hoàng hậu, nàng đã khóc lóc đủ rồi, đã đến lúc chấm dứt nỗi sầu muộn làm ô danh cả đôi ta này đi; nàng đã quên sạch những gì nàng phải gánh vác đối với trẫm và với chính bản thân mình rồi.' 'Thưa bệ hạ,' nàng đáp, 'nếu ngài vẫn còn chút lòng nhân ái hay sự xót thương dành cho thiếp, xin ngài đừng câu thúc thiếp nữa; hãy để thiếp được đắm chìm trong nỗi đau thương mà thời gian vĩnh viễn chẳng thể nào xoa dịu.'"
"Khi nhận ra những lời can gián của tôi chẳng những không kéo nàng về với bổn phận, mà trái lại còn làm gia tăng thêm sự quằn quại trong tâm can nàng, tôi liền nín thặng và bước đi. Nàng vẫn tiếp tục đến thăm kẻ được nàng chăm sóc mỗi ngày, và ròng rã hai năm trời đằng đẵng, nàng hoàn toàn phó mặc bản thân cho nỗi buồn tủi và tuyệt vọng."
"Tôi đến Cung điện Nước mắt lần thứ hai trong lúc nàng đang ở đó. Tôi lại ẩn mình vào góc khuất và nghe nàng cất lời kêu than: 'Tính đến nay đã ba năm trôi qua kể từ ngày chàng cất lời nói với thiếp; chàng chẳng hề đáp lại những minh chứng về lòng tận tụy mà thiếp gửi gắm qua những tiếng thở dài và giọt nước mắt. Là vì chàng vô cảm, hay vì khinh miệt thiếp? Hỡi ngôi mộ kia! Hãy nói cho thiếp hay bằng phép màu nào ngươi lại trở thành chốn dung thân cho báu vật hiếm có nhất mà thế gian từng gìn giữ.'"
"Trẫm phải thú nhận, thưa bệ hạ, lúc ấy tôi giận đến tím cả mặt mày trước những lời lẽ ấy; bởi vì thực tình mà nói, con người được sùng bái ấy chẳng hề giống như những gì ngài có thể tưởng tượng. Hắn là một tên người Ấn Độ da đen, một trong những thổ dân bản địa của vùng đất này. Tôi vô cùng phẫn nộ trước những lời lẽ được thốt ra với hắn, đến mức tự mình bước ra ánh sáng, rồi quay sang hướng về phía ngôi mộ mà gầm lên: 'Hỡi ngôi mộ! Cớ sao ngươi không nuốt chửng cái giống quái thai gớm ghiếc đi ngược lại với luân thường đạo lý loài người ấy đi, hay đúng hơn, cớ sao ngươi không nuốt chửng cả đôi quái thai này luôn đi?'"
"Tôi vừa dứt lời thì hoàng hậu, kẻ đang ngồi cạnh tên da đen, liền vùng dậy như một con thú dữ: 'Đồ khốn nạn!' nàng thét lên, 'Chính mày là nguyên nhân gây ra nỗi đau đớn của ta; đừng tưởng ta không biết điều đó, ta đã nhịn nhục quá đủ rồi. Chính cái bàn tay tàn độc của mày đã đẩy người ta yêu thương vào cái hoàn cảnh thảm thương này; vậy mà mày còn nhẫn tâm đến đây để lăng mạ ta.' 'Phải,' tôi giận dữ đáp, 'chính trẫm là kẻ đã trừng trị tên quái vật ấy đích đáng; trẫm lẽ ra nên đối xử với ngươi y như thế; giờ thì trẫm hối hận vì đã không làm vậy; ngươi đã lợi dụng lòng tốt của trẫm quá lâu rồi.' Vừa thốt xong những lời đó, tôi tuốt thanh mã tấu và giơ cao tay để trừng trị nàng; thế nhưng nhìn thẳng vào tôi, nàng nở một nụ cười đầy nhạo báng và bảo: 'Hãy bớt giận đi.' Cùng lúc ấy, nàng lầm rầm những câu thần chú mà tôi chẳng thể tài nào hiểu nổi, rồi đoạn bồi thêm: 'Bằng uy lực của những phép thuật trong tay ta, ta truyền lệnh cho ngươi biến thành nửa đá nửa người.' Lập tức, thưa bệ hạ, tôi trở thành kẻ mà ngài đang nhìn thấy đây, một thây ma giữa cõi người sống, và một kẻ sống giữa cõi người chết. Sau khi mụ phù thủy tàn nhẫn, kẻ không xứng đáng mang danh hoàng hậu ấy biến hóa tôi như thế và mang tôi đến căn điện này, bằng một thứ phép thuật khác, nàng đã tàn phá kinh đô vốn dồi dào trù phú và đông đúc của tôi; nàng xóa sổ những ngôi nhà, những chốn công cộng và khu chợ, rồi san phẳng toàn bộ vùng đất ấy thành cái hồ nước và cánh đồng hoang vu mà ngài vừa chứng kiến; những con cá bốn màu dưới làn nước ấy chính là bốn nhóm cư dân thuộc các tôn giáo khác nhau từng sinh sống trong thành phố. Đỏ là người Ba Tư tôn thờ ngả lửa; xanh dương là những người theo đạo Thiên Chúa; và màu vàng là người Do Thái. Bốn ngọn núi nhỏ chính là bốn hòn đảo từng mang lại tên gọi cho vương quốc này. Tôi đã hay biết tất cả những chuyện ấy từ chính mụ phù thủy, kẻ để gia tăng thêm nỗi đau đớn cho tôi, đã thuật lại cho tôi nghe những hậu quả từ cơn thịnh nộ của mụ. Nhưng ngần ấy vẫn chưa là gì; sự trả thù của mụ vẫn chưa thỏa mãn với việc tàn phá giang sơn và biến đổi thể xác tôi, thế nên ngày nào mụ cũng đến, quất lên tấm lưng trần của tôi một trăm roi cho đến khi đầm đìa máu tươi. Khi đã hoàn tất phần trừng phạt ấy, mụ khoác lên người tôi một cỗ áo bằng lông dê thô ráp, và trùm bên ngoài chiếc áo gấm brocade này, chẳng phải để tôn vinh, mà cốt để nhạo báng tôi mà thôi."
Khi kể đến đoạn này của câu chuyện, vị vua trẻ không thể kìm nén được những giọt nước mắt; và bản thân vị quốc vương cũng cảm thấy xót xa trước câu chuyện ấy đến mức chẳng thể thốt nên lời an ủi nào. Chẳng bao lâu sau, vị vua trẻ ngước mắt nhìn lên bầu trời, cất lời kêu than: "Đấng Tạo Hóa vạn vật vĩ đại, thần xin cúi đầu tuân theo phán quyết của Ngài và những định mệnh do sự quan phòng của Ngài sắp đặt; thần sẽ kiên nhẫn chịu đựng những tai ương này, bởi đó là ý nguyện của Ngài; nhưng thần hy vọng sự nhân từ vô lượng của Ngài cuối cùng sẽ ban cho thần phần thưởng xứng đáng."

Khi chàng thuật đến đoạn này của câu chuyện, vị vua trẻ không tài nào kìm được những giọt nước mắt.
Vị quốc vương, vô cùng xúc động trước câu chuyện đầy bi thương này và nung nấu ý chí trả thù cho những bất hạnh của vị hoàng tử bất hạnh, liền cất lời: "Hãy cho trẫm hay mụ phù thủy phản trắc ấy lui về đâu, và có thể tìm thấy tên khốn nạn đê tiện bị chôn vùi trước cả khi chết ấy ở chốn nào." "Thưa bệ hạ," vị hoàng tử đáp, "tên người Ấn Độ, như thần đã bẩm báo với ngài, được đặt trong Cung điện Nước mắt, bên trong một lăng mộ nguy nga xây theo hình mái vòm; cung điện này nằm liền kề với lâu đài ở phía có cổng ra vào. Còn về phần hoàng hậu, thần không thể xác định chính xác mụ lui về đâu, nhưng cứ mỗi độ bình minh, sau khi trút xong cơn giận đẫm máu lên người thần, mụ lại đến thăm kẻ mà mụ chăm sóc; và như ngài thấy đấy, thần chẳng có lấy chút sức lực nào để tự vệ. Mụ mang theo thứ nước thuốc mà bấy lâu nay vẫn dùng để cứu mạng hắn khỏi cái chết, và lúc nào cũng cằn nhằn về việc hắn chưa từng cất lời trò chuyện với mụ kể từ ngày bị thương."
"Thưa hoàng tử," vị quốc vương nói, "hoàn cảnh của ngài thật bi thảm đến mức không gì bù đắp nổi: chẳng ai có thể thấu cảm với bất hạnh của ngài sâu sắc hơn trẫm đâu. Chưa từng có điều gì kỳ lạ nhường ấy lại giáng xuống đời một con người! Chỉ còn thiếu một điều duy nhất; đó là sự trả thù mà ngài đáng được hưởng, và trẫm sẽ dốc toàn lực để thực hiện điều đó."
Trong cuộc trò chuyện sau đó với vị hoàng tử trẻ tuổi, quốc vương đã tiết lộ thân phận của mình và mục đích vì sao ngài lại đột nhập vào lâu đài; đồng thời bày tỏ cho hoàng tử nghe phương án trả thù mà ngài đã vạch ra. Họ cùng nhau bàn bạc về những bước đi cần thiết để hoàn thành kế hoạch, nhưng hoãn lại thời điểm hành động cho đến tận hôm sau. Trong lúc đó, khi đêm đã về khuya, quốc vương tranh thủ nghỉ ngơi đôi chút; còn vị hoàng tử trẻ thì trải qua một đêm thức trắng như mọi khi, bởi ngài chưa từng chợp mắt kể từ ngày bị yểm bùa.
Sáng hôm sau, quốc vương thức dậy từ lúc rạng đông, sửa soạn sẵn sàng để thực hiện kế hoạch bằng cách tiến thẳng đến Cung điện Nước mắt. Ngài thấy nơi đây được thắp sáng rực rỡ bởi vô số ngọn đuốc làm bằng sáp ong trắng, lan tỏa thứ hương thơm ngào ngạt tỏa ra từ những chiếc đỉnh bằng vàng ròng chạm trổ tinh vi đến mức khó tin. Ngay khi nhìn thấy chiếc giường nơi tên người Ấn Độ đang nằm, ngài liền tuốt gươm kết liễu cuộc đời khốn nạn của hắn, lาก xác hắn ra khoảng sân của lâu đài và ném xuống một cái giếng. Xong xuôi, ngài bước đến nằm lên chiếc giường của tên da đen, giấu thanh mã tấu dưới lớp chăn mền và kiên nhẫn chờ đợi để hoàn tất mưu sự.
Chẳng mấy chốc hoàng hậu đã xuất hiện. Đầu tiên mụ tiến vào phòng của chồng mình, vị vua của Quần đảo Đen, lột sạch y phục trên người ông ra và tàn nhẫn quất một trăm roi với sự độc ác chưa từng thấy. Vị hoàng tử bất kham lấp đầy cung điện bằng những tiếng kêu la thảm thiết, thiết tha van nài mụ rủ lòng thương xót; thế nhưng mụ đàn bà tàn độc ấy chẳng thèm dừng tay cho đến khi đã nện đủ số roi quen thuộc. "Ngươi đã chẳng hề rủ lòng thương," mụ ta lạnh lùng nói, "thì cũng đừng hòng mong nhận được sự thương xót từ ta."
Sau khi quất chồng đủ một trăm roi, mụ phù thủy lại khoác tấm áo lông dê cùng chiếc áo choàng gấm lên người ông; đoạn mụ bước sang Cung điện Nước mắt, vừa đặt chân đến cửa là lại à lê bắt đầu những tiếng khóc lóc thảm thiết; rồi tiến sát đến chiếc giường mà mụ vẫninh là nơi tên người Ấn Độ đang nằm: "Ôi chao!" mụ cất lời, hướng về phía quốc vương vì đinh ninh đó là tên da đen, "Mặt trời của lòng thiếp, sinh mệnh của thiếp, lẽ nào chàng cứ mãi im lặng thế ư? Chàng định để thiếp chết đi mà không mảy may ban cho thiếp niềm an ủi được lắng nghe giọng nói của chàng hay sao?"
Vị quốc vương, vờ như vừa chợp tỉnh sau một giấc ngủ sâu và bắt chước cách phát âm của người da đen, cất giọng trầm trầm đáp lại hoàng hậu: "Chẳng có sức mạnh hay quyền năng nào ngoài Chúa Trời toàn năng." Nghe những lời ấy, mụ phù thủy, kẻ hoàn toàn không mảy may ngờ tới, liền thốt lên một tiếng kêu đầy sung sướng. "Hỡi đức lang quân yêu dấu," mụ gào lên, "thiếp không nghe nhầm đấy chứ, quả thực là chàng đang cất tiếng nói với thiếp phải không?" "Đồ đàn bà khốn khổ," quốc vương cất lời, "ngươi có xứng đáng để ta đáp lời hay không?" "Ôi chao!" hoàng hậu van nài, "cớ sao chàng lại trách mắng thiếp thế này?" "Những tiếng gào thét," quốc vương đáp lại, "những tiếng rên rỉ và giọt nước mắt của chồng ngươi, kẻ mà ngày nào ngươi cũng đối xử tàn nhẫn và vô nhân đạo, khiến ta chẳng thể tài nào chợp mắt nổi dẫu là ngày hay đêm. Giả như ngươi hóa giải bớp yểm bùa cho hắn, thì ta đã sớm được chữa lành từ lâu và khôi phục lại khả năng nói năng rồi. Đó chính là nguyên nhân khiến ta phải im lặng như ngươi vẫn hay cằn nhằn." "Được rồi," mụ phù thủy thưa, "để xoa dịu lòng chàng, thiếp sẵn sàng tuân theo mọi mệnh lệnh; chàng muốn thiếp trả lại hình hài cho hắn chứ?" "Phải," quốc vương đáp; "hãy mau chóng phóng thích hắn để ta không còn bị những tiếng kêu than của hắn làm phiền nhiễu nữa." Mụ phù thủy lập tức quay người bước ra khỏi Cung điện Nước mắt; mụ múc một chén nước rồi lầm rầm vài câu thần chú khiến nó sủi bọt hệt như đang bắc trên bếp lửa. Đoạn mụ tiến về phía vị vua trẻ, hắt chén nước lên người chàng và lầm bầm: "Nếu Đấng Tạo Hóa vạn vật đã nhào nặn nên ngươi với hình thù như hiện tại, hoặc nếu Ngài đang giận dữ với ngươi, thì cứ giữ nguyên như thế; nhưng nếu ngươi rơi vào hoàn cảnh này đơn thuần chỉ vì những phép thuật của ta, hãy lấy lại hình hài nguyên thủy và trở về con người trước kia của ngươi." Mụ vừa dứt lời thì vị hoàng tử liền cảm thấy cơ thể được hồi phục nguyên vẹn, chàng đứng dậy tri ân tạ ơn Thiên Chúa. Mụ phù thủy bấy giờ mới bảo chàng: "Cút xéo khỏi lâu đài này ngay, và đừng bao giờ quay trở lại nữa nếu không muốn mất mạng." Vị vua trẻ, đành cúi đầu khuất phục trước hoàn cảnh, lẳng lặng quay lưng bước đi mà không thốt nổi một lời, tìm đến một vùng đất xa xôi để kiên nhẫn chờ đợi kết quả từ kế hoạch mà vị quốc vương đã mở đầu vô cùng tốt đẹp. Trong khi đó, mụ phù thủy quay trở lại Cung điện Nước mắt, đinh ninh rằng mình vẫn đang trò chuyện với tên da đen, liền thưa: "Tình yêu dấu ơi, thiếp đã làm theo đúng những gì chàng đòi hỏi rồi đấy; giờ thì chẳng còn gì cản trở chàng đứng dậy và ban cho thiếp niềm hạnh phúc mà thiếp đã mòn mỏi chờ đợi bấy lâu nay nữa."
Vị quốc vương, vẫn tiếp tục nhại theo giọng điệu của người da đen, cất lời: "Những gì ngươi vừa làm hãy còn xa mới đủ để chữa lành cho ta; ngươi mới chỉ nhổ đi một phần của cái ác; ngươi phải nhổ tận gốc rễ của nó cơ." "Hỡi chàng da đen đáng yêu của thiếp," hoàng hậu ngạc nhiên hỏi, "ý chàng muốn nói gốc rễ là gì?" "Đồ đàn bà ngu muội," quốc vương quở trách, "ngươi không hiểu rằng ta đang ám chỉ thị trấn cùng toàn bộ cư dân ở đó, và bốn hòn đảo đã bị những phép thuật của ngươi hủy diệt hay sao? Cứ đúng nửa đêm là lũ cá lại nhoi đầu lên khỏi mặt hồ, cất tiếng kêu gào đòi trừng phạt ngươi và cả ta nữa. Đó mới chính là nguyên nhân thực sự khiến việc chữa lành cho ta bị trì hoãn. Hãy mau chóng lên đường, khôi phục mọi thứ về nguyên trạng như trước, rồi khi ngươi trở về, ta sẽ trao tay cho ngươi và ngươi sẽ giúp ta đứng dậy."
Mụ phù thủy, được truyền thêm hy vọng từ những lời ấy, sung sướng đến mức tột độ thét lên: "Hỡi trái tim, hỡi tâm hồn của thiếp, chàng sẽ sớm được bình phục thôi, vì thiếp sẽ lập tức làm theo mọi mệnh lệnh của chàng." Thế là ngay lập tức mụ ta tất tả lên đường, và khi vừa đặt chân đến bờ hồ, mụ vốc một ít nước trong lòng bàn tay, vung lên và lầm rầm đọc những câu thần chú hướng về phía đàn cá cùng mặt hồ, thế là thành phố lập tức được phục hồi nguyên trạng. Lũ cá biến thành đàn ông, đàn bà và trẻ em; những tín đồ Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Ba Tư hay Do Thái; thường dân hay nô lệ hệt như trước kia: ai nấy đều lấy lại được hình hài con người thật sự của mình. Những ngôi nhà và cửa hiệu ngay lập tức tràn ngập bóng dáng con người, họ tìm thấy mọi thứ vẹn nguyên như thuở chưa bị yểm bùa. Đoàn tùy tùng đông đảo của vị quốc vương, những người đang hạ trại ngay giữa quảng trường lớn, vô cùng kinh ngạc khi thấy mình bỗng chốc đứng giữa một đô thị rộng lớn, khang trang và đông đúc dân cư.
Trở lại với mụ phù thủy: Ngay khi hoàn tất phép màu kỳ diệu ấy, mụ vội vã quay trở lại Cung điện Nước mắt với tốc độ nhanh nhất để nhận phần thưởng. "Hỡi đức lang quân dấu yêu," mụ thốt lên ngay khi bước chân vào cửa, "thiếp đã làm mọi điều chàng yêu cầu rồi đấy, giờ thì xin chàng hãy đứng dậy và ban cho thiếp bàn tay của chàng." "Lại gần đây nào," quốc vương cất giọng, vẫn nhại theo cách phát âm của người da đen. Mụ tuân lệnh bước tới. "Vẫn chưa đủ gần," ngài tiếp lời; "tiến lại gần hơn nữa xem nào." Mụ răm rắp nghe theo. Ngay lập tức ngài vùng dậy, chộp lấy cánh tay mụ nhanh đến mức mụ chẳng kịp nhận ra đó là ai, và chỉ bằng một nhát gươm dứt khoát, ngài chém mụ đứt làm đôi, một nửa rơi sang một hướng còn nửa kia văng đi chỗ khác. Xong xuôi, ngài để mặc cái xác nằm ngổn ngang tại chỗ, bước ra khỏi Cung điện Nước mắt để đi tìm vị vua trẻ tuổi của Quần đảo Đen đang thấp thỏm đợi chờ ngài. Khi tìm thấy chàng, quốc vương ôm chầm lấy hoàng tử và bảo: "Hỡi hoàng tử, hãy vui mừng lên; từ nay ngài chẳng còn phải lo sợ điều gì nữa; kẻ thù tàn độc của ngài đã bỏ mạng rồi."
Vị hoàng tử trẻ cúi đầu tạ ơn quốc vương bằng những lời lẽ bày tỏ trọn vẹn sự biết ơn sâu sắc, đồng thời chúc ngài trường thọ và hạnh phúc. "Từ nay về sau," vị quốc vương bảo, "ngài có thể yên bình an cư lạc nghiệp tại kinh đô của mình, trừ khi ngài muốn cùng ta trở về vương quốc vốn ở ngay gần đây: ngài sẽ được chào đón nồng nhiệt và nhận những sự tôn kính hệt như khi đang ở trên chính ngai vàng của mình vậy." "Hỡi vị quân vương hùng mạnh, ân nhân mà thần mang ơn nặng như núi," vị nhà vua trẻ đáp, "ngài nghĩ rằng mình đang ở gần kinh đô của ngài sao?" "Phải," quốc vương đáp, "trẫm biết nơi đó chỉ cách chừng bốn năm tiếng đường đi." "Ngài sẽ mất ròng rã một năm trời mới có thể quay về đấy," vị hoàng tử từ tốn nói. "Thần tin rằng ngài đã đến đây từ kinh đô của mình trong khoảng thời gian vừa kể, bởi vì kinh đô của thần khi ấy đã bị yểm bùa; nhưng giờ đây khi lời nguyền đã được gỡ bỏ, mọi thứ đã thay đổi rồi: dẫu vậy, điều đó cũng chẳng thể ngăn cản thần đi theo ngài, dẫu cho có phải đến tận cùng góc bể chân trời đi nữa. Ngài chính là đấng cứu thế của thần, và để có thể dâng lên ngài những minh chứng cho lòng biết ơn ấy suốt quãng đời còn lại, thần nguyện ý đồng hành cùng ngài và sẵn sàng rời bỏ vương quốc của mình mà chẳng chút tiếc nuối."
Vị quốc vương vô cùng kinh ngạc khi hay tin mình đang ở nơi xa xôi cách trở đến thế đối với giang sơn của mình, và chẳng thể tài nào tưởng tượng nổi điều đó lại xảy ra, nhưng những lời quả quyết của vị vua trẻ tuổi của Quần đảo Đen đã thuyết phục ngài không còn mảy may nghi ngờ. Bấy giờ quốc vương mới đáp: "Không sao cả; nỗi nhọc nhằn trên đường trở về quê hương đã được đền đáp hoàn toàn bằng sự mãn nguyện vì đã giúp đỡ được ngài, và vì có được ngài làm con; bởi vì ngài đã ban cho trẫm vinh dự được tùng tiệm đồng hành, và vì trẫm không có lấy một mụn con, trẫm xem ngài như ruột thịt của mình, và từ khoảnh khắc này chính thức lập ngài làm người thừa kế lẫn nối ngôi."
Vị hoàng tử trẻ bận rộn chuẩn bị cho cuộc hành trình, và mọi việc được hoàn tất trong vòng ba tuần lễ, dẫu cho triều thần cùng muôn dân vô cùng tiếc nuối, nhưng họ cũng đồng thuận đón nhận một người họ hàng cận huyết của hoàng tử để làm bậc quân vương.
Cuối cùng vị quốc vương cùng vị hoàng tử trẻ cũng lên đường, mang theo một trăm con lạc đà chở đầy những báu vật vô giá trích từ ngân khố, theo sau là năm mươi vị khanh tướng tuấn tú cưỡi những con tuấn mã được yên cương và trang hoàng hoàn hảo. Chuyến hành trình diễn ra vô cùng thuận lợi; và khi vị quốc vương, người đã cử người đi trước báo tin về sự chậm trễ của mình cùng nguyên nhân dẫn đến chuyến phiêu lưu ấy, tiến gần đến kinh đô, các đại thần trong triều đã ra tận nơi nghênh đón và trấn an ngài rằng quãng thời gian vắng bóng đằng đẵng vừa qua không hề gây ra bất kỳ biến động nào cho đế nghiệp. Muôn dân cũng đổ ra đường đông như hội, reo hò chào đón ngài và tổ chức những chầu đại yến ăn mừng suốt nhiều ngày liền.
Ngày hôm sau khi vừa đặt chân về đến nơi, quốc vương thông báo với quần thần về việc ngài đã nhận vị vua của Quần đảo Đen, người sẵn sàng từ bỏ một vương quốc lớn để đi theo và sống cùng ngài, làm con nuôi; và để ghi nhận lòng trung thành của triều thần, ngài ban thưởng cho mỗi người những phần quà xứng đáng với phẩm trật của họ.
Còn về phần người đánh cá, vì chính ông là nhân duyên đầu tiên mang lại sự giải thoát cho vị hoàng tử trẻ, quốc vương đã ban cho ông một cơ ngơi sung túc, đủ để ông cùng gia đình tận hưởng những ngày tháng hạnh phúc dài lâu phần đời còn lại.