Còn có rất nhiều nhà lịch sử học, đặc biệt là một số học giả chuyên nghiên cứu về Trung Quốc người Mỹ, như vị giáo sư quá cố và là nhân vật kỳ cựu của phái Harvard Mary C. Wright. Khi truy cứu tận gốc cuộc Cách mạng Tân Hỏa theo nghĩa hẹp, bà lại phát hiện ra rằng khởi nghĩa Vũ Hán là do "Văn học xã" và "Cộng tiến hội" gây dựng nên. "Đồng minh hội" hầu như không tham gia trên thực tế.
Chúng ta nếu nghiên cứu lịch sử cách mạng mà chỉ nhìn nhận từ một góc độ "tổ chức", thì lời này vốn không sai. Khi cuộc khởi nghĩa đầu tiên ở Vũ Hán nổ ra vào ngày 10 tháng 10 năm Tân Hỏa, Đồng minh hội và các đoàn thể khởi nghĩa đó quả thực không có quan hệ tổ chức trực tiếp. Nhưng "cách mạng" vốn dĩ là một "vận động quần chúng bùng nổ nhất thời" (spontaneous mass movement) dưới một hình thái ý thức đặc định nào đó. Trước khi bùng nổ, điều quan trọng hơn hết thảy là phải có một "ý chí được toàn quốc đồng lòng tin phục" (national consensus). Ý chí này, tuy quần chúng cách mạng ai nấy đều có, nhưng trong đó tổng hợp lại vẫn có một hai, hoặc thậm chí chỉ có một đoàn thể được ví như "chòm sao cùng hướng về", được các đoàn thể anh em tin phục và trở thành thủ lĩnh "nhìn theo cờ mã". Cách mạng Trung Quốc là thế, cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp, cách mạng Nga cũng đều như vậy cả.
Nói thật ra, trước và sau Cách mạng Tân Hỏa, ý thức chung mà quần chúng cách mạng nhất mực đinh ninh tin tưởng chỉ có tám chữ: "Khu trừ thát lỗ,Kiến lập dân quốc" (Đuổi giặc thù, lập dân quốc). (Cần phải biết rằng Viên Thế Khải chính là kẻ nắm lấy bốn chữ trên mà cướp đoạt thành quả cách mạng, ngồi lên ngôi vị chí tôn; hắn cũng chính là kẻ phản bội bốn chữ sau mà thân bại danh liệt, muôn đời mang tiếng nhơ). Mà Đồng minh hội lại chính là cội nguồn và là lực lượng thúc đẩy "ý chí chung" này. Nó cũng là "cờ đầu" hóa giải ý chí ấy thành hành động cách mạng. Nó còn cung cấp phương thức vận hành, lý thuyết trừu tượng và nhân tài lãnh đạo "lấy nước Mỹ làm khuôn mẫu". — Trong thời gian Cách mạng Tân Hỏa, ngoài "Đồng minh hội" ra, các đoàn thể cách mạng nhỏ khác đều chỉ là một lũ "đội nhi đồng", "hồng vệ binh". Bọn chúng nổi phản thì thừa; chứ còn việc lập ra dân quốc thì không phải là thứ việc mà chúng có thể gánh vác nổi. Cho nên, nghiên cứu lịch sử Cách mạng Tân Hỏa mà bỏ qua tầm quan trọng lãnh đạo của "Đồng minh hội" cũng giống như nghiên cứu lịch sử giải phóng nô lệ da đen mà hạ thấp Lincoln vậy, đều là kết quả của sự khởi đầu của sử học vụn vặt nước Mỹ sau Thế chiến thứ hai, không đáng để noi theo.
Thế nhưng, tám chữ thần chú ấy của Đồng minh hội khi tuyên truyền tuy có sức mạnh phá như bẻ cành khô, nhưng đến lúc thực thi thì lại có sự phân biệt dễ khó. "Đuổi giặc thù" khi đó là khẩu hiệu có hiệu suất cao nhất. Nó đã mở rộng phạm vi mặt trận thống nhất; thu hẹp mục tiêu đả kích. Đem tất cả mọi tội ác của đế quốc Đại Thanh, mọi bất công của xã hội thối nát, mọi sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, những cái nồi đen đúa lớn này, đều để cho đại ca "giặc thù" gánh vác trọn vẹn lên một vai. Đem "giặc thù" một phát "đẩy" sạch đi, là một thượng quốc Trung Hoa rực rỡ huy hoàng lập tức có thể được "khôi phục" ngay. — Nào há chẳng thống khoái lắm thay?!
Đuổi giặc thù há phải là chuyện khó khăn gì ư? Không phải thế! Vị giáo sư Hoàng Khang bằng hữu của tôi, người hiện đang cầm roi lớn tại thành phố New York, thuở thiếu thời vốn là quý tộc thuộc "Chính Hoàng kỳ", thường hay chỉ vào cái mũi của chính mình mà nói với tôi rằng: "Các anh (người Hán) lúc bấy giờ muốn đuổi giặc thù, chính là đuổi tôi đấy!". "Chúng ta (người Hán)" lúc bấy giờ vì sao lại muốn "đuổi" một tiểu giặc thù vừa tài giỏi lại vừa đáng yêu như Hoàng Khang này cơ chứ? Tôi vỗ vỗ vai Hoàng giáo sư và nói: "Chúng tôi chẳng những không đuổi anh, mà còn đem con gái nhà họ Hán gả cho anh nữa cơ mà!"
Cho nên Tôn Trung Sơn lúc bấy giờ muốn "đuổi giặc thù", chẳng qua chỉ là đuổi mấy góa phụ và cô nhi người Mãn Châu vừa đáng thương lại vừa đáng ghét, cùng với mười mấy lão già người Mãn Châu lú lẫn hồ đồ, đến nửa câu "tiếng Mãn" cũng nói không thạo mà thôi. Sau đó Viên Thế Khải bĩu môi một cái, há chẳng phải đã "đuổi" sạch bọn họ đi rồi đó sao? — Sạch sẽ gọn gàng.
Thế nhưng bốn chữ dưới của tấm bùa chú tám chữ ấy là "lập dân quốc", lại không đơn giản như thế. Tôn Trung Sơn và các vị trong Đồng minh hội, trước hết đã lấy ngay tổ chức Đồng minh hội mới thành lập của chính họ làm gương mẫu, để thí nghiệm mô hình cộng hòa kiểu Mỹ (republican mode) gồm "tam quyền phân lập", "quyền lực chế ước" và "tư pháp độc lập".
Khi "Đồng minh hội" được thành lập tại Tokyo vào ngày 20 tháng 8 năm 1905, hình thức tổ chức của nó đã chia làm ba bộ phận: "Chấp hành", "Bình nghị" (lập pháp), "Tư pháp". Tôn Trung Sơn được toàn thể đồng lòng bầu giữ chức "Tổng lý bộ chấp hành", Hoàng Khắc Cường trúng cử chức "Thứ vụ bộ chấp hành", tương đương với phó tổng lý. Uông Tinh Vệ thì trúng cử chức "Ủy viên trưởng bộ bình nghị"; Khưu Gia Ngạn giữ chức "Phán sự trưởng bộ tư pháp". Mỗi bộ đều có phân công trách nhiệm riêng. Cán bộ toàn hội có hơn ba mươi người, tam quyền phân lập, làm ra vẻ rất ra trò. Thế nhưng theo hồi ức của Điền Đồng - người từng giữ chức bí thư bộ chấp hành - thì: "Lúc bấy giờ vì là hội kín, điều tối kỵ là thủ tục rườm rà. Xét lại thời gian, hai bộ tư pháp và bình nghị càng khó mà thực thi. Các đồng chí đề nghị mở hội nghị liên tịch ba bộ. Hễ gặp việc quan trọng, thì đem nhân lực ba bộ kết hợp lại, một lần biểu quyết rồi thi hành. Từ khi chế độ này được thực hiện, hai bộ tư pháp và bình nghị chưa từng độc lập thực thi chức quyền lần nào nữa." (Xem Điền Đồng, in trong《Cách mạng văn hiến》tập hai). Thực ra, vào ngày 4 tháng 3 năm 1907 khi Tôn Tổng lý nhận tiền quyên góp của người Nhật rồi rời Nhật Bản, đối với một sự kiện trọng đại như thế, rõ ràng là họ đến một buổi họp cũng chưa từng mở. Từ sự tranh chấp này, chúng ta có thể thấy được quy trình thao tác công việc vụ thường ngày trong bộ tư lệnh cách mạng này rồi. Sau đó, từ "Đồng minh hội" tiến lên cải tổ thành "Quốc dân đảng", rồi "Trung Hoa Cách mạng đảng", rồi "Trung Quốc Quốc dân đảng". Ngay cả hai danh xưng "Tổng lý", "Tổng tài" cũng đều biến thành danh hiệu độc quyền "thụy pháp" của hai ông Tôn, Tưởng, chứ chẳng còn vị "Tổng lý" thứ hai, vị "Tổng tài" thứ hai nào nữa. Tam quyền phân lập đâu rồi nhỉ? Có người có lẽ sẽ hỏi: Đã như vậy, chẳng phải cách mạng không triệt để hay sao? Này bạn, cách mạng vốn dĩ không thể "hoàn thành công trạng trong một trận chiến". Nó tiến lên theo từng giai đoạn. Mỗi giai đoạn đều có sự tiến bước nào đó, cứ làm qua bảy, tám đến mười giai đoạn, thì "cách mạng" ắt sẽ "thành công". Không cần phải làm kẻ nóng vội làm gì. Cho nên, thuở ấy với một chính đảng thần thánh, một vị Quốc phụ vẹn toàn từng xướng xuất tam quyền phân lập và tư pháp độc lập, mà lấy thân làm gương còn như thế, huống hồ lại muốn phó thác nó cho đám quân phiệt và "tám trăm vị la hán" (tên giễu cợt tập thể dành cho các nghị sĩ quốc hội đầu thời Dân quốc), mà mong mỏi nó thành công, há chẳng phải là "ôm cây đợi thỏ", tìm cá trên cây hay sao? Cách mạng Tân Hỏa đã qua đi tám mươi năm. Chúng ta làm chuyện "lập dân quốc", cho đến nay đã đổi qua mấy triều đại, mà cái "dân quốc" của chúng ta cho đến nay vẫn chỉ là một thứ nửa vời, "đầu dê thịt chó", thực chất chẳng có gì là lạ lùng cả. ―― Thế nhưng một cái "dân quốc" chân chính, cuối cùng rồi nhất định sẽ xuất hiện. Không tin thì cứ đợi đấy mà xem!
8.1 Tam quyền đã đủ, ngũ quyền không đủ
Các chuyên gia tinh thông "Tư tưởng Quốc phụ", "Chủ nghĩa Tôn Văn" có lẽ sẽ cho rằng tấm bùa chú "tám chữ" mà người viết vừa nêu quá là đơn giản hóa. Quốc phụ vẫn còn hiến pháp "Ngũ quyền" cơ mà! Các anh chỉ nhắc đến tam quyền; Quốc phụ vẫn còn "Tam dân chủ nghĩa" cơ mà! Các anh chỉ chạm đến hai dân. Chủ nghĩa dân sinh, bình quân địa quyền, các anh không thèm bàn đến nữa sao?
Bị giới hạn bởi dung lượng, thiết tưởng phải có một bài chuyên đề khác mới có thể trả lời chi tiết được. Nói một cách đơn giản, chúng ta phải biết rằng, Quốc phụ cũng là một vị di lão triều Thanh cuối, cách thời đại cổ xưa chưa xa. Ngài đã chấm trúng hai chế độ đáng giá nhất trong những di giáo của tổ tông: "Chế độ khoa cử" và "Chế độ ngự sử". Ngài muốn kéo dài chúng ra. Ngoài tam quyền ra, ngài thiết lập thêm "Quyền khảo thí" và "Quyền giám sát". Nào ngờ đôi huynh đệ khó nhọc này, đều chỉ là những phát minh thiên tài dưới tiền đề của "xã hội nông nghiệp" và "chính quyền tập trung trung ương". Thế nhưng trong một xã hội công thương nghiệp phát triển, hiện đại hóa và "nhiều trung tâm" (multi-centered society) thì hai anh em họ đành chịu thua vô lực. Bởi vì trong một xã hội hiện đại có nhiều trung tâm, những thứ cần phải "thi" thực sự là quá nhiều. Lấy tình hình nước Mỹ siêu công nghiệp hóa này mà xem nhé. Phàm là những nghề nghiệp có dính dáng đến việc phải nhận giấy phép, hầu như không nghề nào là không phải thi (mặc dù con quái vật "khoa cử" này vốn dĩ là do người Trung Quốc phát minh ra). Hãy nhìn luật sư, bác sĩ, kiến trúc sư, kế toán sư, nhân viên phục vụ xã hội (social worker), cảnh sát, nhân viên bưu điện, phi công, hoa tiêu, thậm chí đến người nếm rượu (wine taster), thợ sửa ống nước, môi giới bất động sản, tài xế xe tải, tài xế taxi, thợ điện, nhân viên điều khiển thang máy, tài xế xe hơi riêng... tính ra không dưới hàng trăm hàng chục loại, cộng thêm các nghiệp đoàn công ty lớn, cũng đều có các kỳ thi chuyên môn của riêng mình, kéo dài xuống tận phu hót rác v.v... thảy đều có các kỳ thi của chúng. Một cái "Viện Khảo thí" sao mà thi nổi nhiều thứ đến thế? Cho nên điều mà Tôn Văn nhấn mạnh đặc biệt, chỉ là "thi quan văn" (thi tuyển công chức cao cấp), là kỳ thi chuyên dành cho việc vào triều làm quan mà thôi. Thử hỏi giới trẻ có chí hướng ở Đài Loan, Hồng Kông ngày nay, có mấy ai muốn làm quan? Họ muốn làm đại lão bản trong giới công thương nghiệp đấy chứ! "Viện Khảo thí" thì dùng được tích sự gì nào?
Còn về "Quyền giám sát" thì lại càng không đáng nhắc tới. "Ngự sử" trong truyền thống nước ta này, "quan ngôn" này, "tâu hạch" này, đều chẳng qua chỉ là con chó giữ nhà (watchdog) trong thể chế chuyên chế mà thôi. Gần đây, tướng Tôn Vĩ Quốc ở Đài Loan vì "tàng trữ riêng" mấy chục cây "súng tập bắn" mà bị phát giác, thế là đã làm cho tay chân luống cuống cả lên. Vào thời đại bố và anh trai hắn nắm quyền, Vĩ Quốc có lén giấu vài quả bom nguyên tử đi chăng nữa, thì viện trưởng Vu Hữu Nhậm dám liếc mắt nhìn hắn lấy một cái không? — Ở bên trong một chính phủ hiện đại hóa, thứ phát huy tác dụng giám sát, không phải là ngự sử đại phu, mà là đảng đối lập! Cho nên bên trong một chính thể đã hiện đại hóa, để phòng chống tham nhũng hủ bại, tam quyền là đã đủ rồi. Chính trị không thể dân chủ hóa nổi, thì có giở ra ngũ quyền hay thập quyền cũng chẳng cứu vãn được gì. Dựng lên một cái "Viện giám sát" chuyên đi đập ruồi thì có tích sự gì quái đâu?
8.2 Lại nhìn chuyện tăng giá không do lao động, tăng giá thuộc về công cộng
Hãy lại nhìn vào cao kiến "bình quân địa quyền" của Quốc phụ xem nào! Tôn Văn lúc bấy giờ bàn về bình quân địa quyền, không phải là làm cái kiểu "cải cách ruộng đất" theo lối Mao Trạch Đông. Trọng điểm của ông là cái mớ lý thuyết "phương pháp thuế đơn" của Henry George về "tăng giá không do lao động, tăng giá thuộc về công cộng" — nói một cách nông cạn dễ hiểu, là tiên sinh Tôn Văn phản đối chuyện "đầu cơ đất đai" của chủ nghĩa tư bản trong quá trình hiện đại hóa. Giá đất ở Luân Đôn trong thế kỷ 19 đã tăng gấp ba nghìn lần. Chẳng biết đã sản sinh ra biết bao nhiêu kẻ đầu cơ đất đai, đại phú ông. Sau đó nước Mỹ và nước Úc cũng đuổi theo gấp rút (bạn đọc cũng có thể nhìn vào Hồng Kông, Đài Loan và thậm chí là Hạ Môn ngày nay). Bằng hữu Henry George đã điểm trúng điểm này tại New York. Năm 1896 Tôn Văn ở lại Luân Đôn tám tháng, cũng đã chứng thực được điều này. Tôn Trung Sơn là một người ham học suy ngẫm, cả đời vẫn luôn dò dẫm học lý ở trong các điển tịch Trung Tây (đặc biệt là sách Tây — Mao Trạch Đông không bằng Tôn Trung Sơn, chính là vì ông ta không đọc sách Tây). Sau khi đọc cuốn 《Tiến bộ và nghèo đói》 của George, ngài liền vỡ lẽ đại ngộ, cho rằng không thể không phản đối chuyện đầu cơ đất đai.
Bộ ba Tôn Văn và George này đều vô cùng uyên thâm sâu sắc. Nó không phải là thứ mà những thanh niên lưu học sinh như Tiết Tiên Châu, những chuyên gia văn bát cổ như Hồ Triển Đường hay Lương Khải Siêu - người "chỉ mất một đêm là học xong tiếng Nhật" - có thể dễ dàng hiểu thấu. Cho nên bọn họ đều từng "tranh biện kịch liệt" với Tôn Văn, thậm chí còn phản đối đến cùng. Bộ lý thuyết này đối với đám hồng vệ binh bên trong "Đồng minh hội", "Cộng tiến hội" mà nói, lại càng là một đám sương mù mịt mờ không rõ phương hướng. Cho nên "Hội chương" mà Cộng tiến hội ban hành sau đó, mọi thứ đều lấy hội chương của Đồng minh hội làm bản lơn, chỉ có điều là sửa điều khoản "bình quân địa quyền" thành "bình quân nhân quyền". Hồ Hán Dân bàn về "Sáu đại chủ nghĩa" trên tờ 《Dân báo》, trong đó một điều lại mang tên là "Đất đai thuộc sở hữu nhà nước". "Đất đai thuộc sở hữu nhà nước" là của Vương Mãng và Mao Trạch Đông, chứ không phải của Tôn Trung Sơn.
Thứ mà Tôn Văn làm lúc bấy giờ nếu chỉ đơn giản là "chia ruộng", "cải cách ruộng đất", thì cái câu nói "cày có ruộng" mà mãi đến tuổi già ông mới nghĩ ra, chỉ cần một câu là đủ rồi. Đề xướng "cày có ruộng", thì Lương Khải Siêu - kẻ "mười đời làm nông", và Hồ Hán Dân - người thuở trẻ nghèo đến mức không có nổi một tấc đất cắm rũi, sẽ đều không phản đối đâu. Nào ngờ thuở trẻ Tôn Văn làm lại là cái mớ đồ tây phương theo bộ của Henry George, đối với một số nhà quê bảo thủ như Hồ, Lương mà nói thì có cảm giác như đàn gảy tai trâu vậy.
Thực ra Henry George (1839–1897) cũng giống như Karl Marx (1818–1883), đều là các nhà lý luận của thế kỷ 19. Cuốn sách bàn về "chính sách đất đai" đầu tiên của George được xuất bản vào năm 1871, lúc bấy giờ các vị "đại vương" của chủ nghĩa tư bản vẫn còn đang ẩn mình trong ruộng đồng, tích lũy thế lực chưa phát bùng; chỉ có chuyện đầu cơ đất đai là xông pha đi đầu. Cho nên tiên sinh George cứ tưởng rằng dùng "phương pháp thuế đơn" để giải quyết vấn đề đất đai, thì tất cả mọi vấn đề kinh tế xã hội khác cũng đều có thể được giải quyết một cách dễ dàng. Đây là suy nghĩ một chiều theo ý nguyện chủ quan của vị tiên sinh này. Thực ra kinh tế đã "cất cánh" rồi, thì có loại lợi nhuận nào lại không phải là unearned increment (sự gia tăng giá trị không do lao động) chứ? Muốn "tăng giá thuộc về công cộng", tại sao lại cứ nhằm vào đám đầu cơ đất đai mà làm khó dễ? Đây chính là nguyên nhân vì sao biện pháp tăng giá thuộc về công cộng của "Chủ nghĩa dân sinh", cho đến tận Đài Loan ngày nay cũng vẫn không thể thực thi nổi. Bây giờ chúng ta ở "Tiểu Đài Loan" Flushing tại New York, từng có lúc xuất hiện ba trăm nhà "môi giới bất động sản" gốc Hoa, hai năm nay giá đất sụt giảm, nghe nói đều lần lượt đổi nghề cả rồi — cái đó gọi là "kinh tế thị trường", là "tự động điều tiết" đấy thôi! Sự lo lắng thuở trẻ của Tôn Văn là điều đáng được thấu hiểu. Nhưng đó chẳng qua chỉ là sự lo vẩn vơ không cần thiết mà thôi.
8.3 "Hoàng Hoa Cương" - nơi khai quật lương tâm dân tộc
Tôn Trung Sơn tiên sinh quả thực vô cùng vĩ đại. Không những trong thời đại Cách mạng Tân Hỏa ông là một nhà tư tưởng tiên tiến nhất. Những người làm lịch sử nhìn lại sau một trăm năm, Tôn công vẫn là một trong số rất ít, thậm chí là vị "người hiện đại" duy nhất trong số các nhà lãnh đạo cấp cao nhất của dân tộc ta trong gần một thế kỷ nay. Mao Trạch Đông tuy có tài năng hùng vĩ mưu lược lớn, nhưng lại "quá nhà quê". Ba chữ này không phải là do chúng ta những người viết sử áp đặt cho ông ta. Đó là lời đánh giá của người nằm chung gối với ông ta là phu nhân Giang Thanh. Quý vị há chẳng thấy trong thư phòng vĩ đại của Mao chủ tịch ở Cố Cung, đến một cuốn sách Tây cũng chẳng tìm ra sao? Quý vị há chẳng nghe nói, Mao chủ tịch từng tự khoe mình đã đọc 《Tư trị thông giám》 đến sáu lần. Mao chủ tịch cả đời chỉ biết làm những bài thơ từ cổ ảm đạm chua xót, mà đến một câu thơ "mới" cũng viết không nổi; Mao công cả đời cũng chưa từng mặc âu phục, nghe nói cũng chưa từng đánh răng. Một lão nhà quê như ông ta vậy mà cũng kiếm được một người vợ làm minh tinh, quả thực là điều rất đáng quý.
Tôn Trung Sơn tiên sinh là một người hiện đại. Tư tưởng của ông trong Cách mạng Tân Hỏa, "mới" đến mức hơi quá đà, cũng có thể nói là "vượt cấp" chăng? Thực ra cái chân ngôn "tám chữ" của ông, vốn đã đủ để lãnh đạo một cuộc "Cách mạng Tân Hỏa" rồi. Những thứ khác đều là thừa thãi.
Vì để "đuổi giặc thù", ngay khi Đồng minh hội vừa thành lập, họ đã nghĩ đến chuyện liên kết với các hội đảng, làm bạo động vũ trang. Trước thời điểm Tân Hỏa, cái gọi là "mười cuộc khởi nghĩa lớn" do tự tay Tôn Trung Sơn lãnh đạo, có tới tám cuộc là do Đồng minh hội phát động trong vòng sáu năm đoản mệnh của nó (1906–1911). Chỉ riêng trong năm 1907 đã "khởi nghĩa" tới bốn lần, tính ra có "Khởi nghĩa Triều Châu" (tháng 5), "Khởi nghĩa Huệ Châu" (tháng 6), "Khởi nghĩa Khâm Châu" (tháng 9) và "Khởi nghĩa Trấn Nam Quan" (tháng 12); cộng thêm "Khởi nghĩa An Khánh" của Từ Tích Lân thuộc Quang phục hội vào tháng 7 cùng năm. Năm 1908 thì có "Khởi nghĩa Khâm, Liêm" (tháng 3), "Khởi nghĩa Hà Khẩu" ở Vân Nam (tháng 4); năm 1910 thì có "Khởi nghĩa Quảng Châu" (tháng 2); trước "Khởi nghĩa Vũ Hán" năm 1911 thì có cuộc khởi nghĩa bi tráng nhất là "Khởi nghĩa Quảng Châu" của bảy mươi hai liệt sĩ Hoàng Hoa Cương (còn viết là "Hoàng Hoa Cương", ngày 27 tháng 4, tức 29 tháng 3 âm lịch).
Các vị trong Đồng minh hội vì sao lại cứ liên tục làm những cuộc khởi nghĩa nhỏ chuẩn bị chưa đầy đủ này? Và những cuộc khởi nghĩa nhỏ này tại sao không một cuộc nào có thể duy trì được một khoảng thời gian nhất định, đó chính là vì các ông Tôn, Hoàng đều kiên quyết tin rằng chính quyền người Mãn đã đi đến ngày tận thế cùng đường mạt lộ. Tường đổ mọi người đẩy, chỉ cần bọn họ dùng lực lượng hữu hạn chiếm lấy một hai thành thị ở vùng duyên hải phía nam Trung Quốc, thì khắp nơi toàn quốc sẽ đồng lòng hưởng ứng; rồi sau đó chung sức đồng lòng, sẽ lôi được hoàng đế nhà Đại Thanh xuống ngựa. — Cấu tứ này của họ, vốn không hề sai. Sau cuộc khởi nghĩa Vũ Hán thời Tân Hỏa, sự nhiệt liệt hưởng ứng của các tỉnh há chẳng phải là như thế đó sao? Chỉ tiếc là những đảng nhân cách mạng thời cuối Thanh làm hơn mười cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, vậy mà không có nổi một cuộc nào có thể chiếm lĩnh được một thành trì kéo dài quá một đến hai tuần lễ, cho nên hiệu ứng dây chuyền không có cách nào phát sinh được.
Hơn nữa, hai ông Tôn, Hoàng đều xuất thân từ việc vận động hội đảng bí mật mà khởi nghiệp, họ đã đánh giá quá cao năng lực chiến đấu của các hội đảng. Thực ra các hội đảng chỉ là một lũ ô hợp, mà các lãnh tụ đảng cách mạng như Tôn, Hoàng lại quyên góp được một ít "quân lương" vô cùng hạn chế, mua một ít súng pháo cũ kỹ, rồi thúc đẩy đám ô hợp này xông lên tiền tuyến, chiến đấu bán mạng. Mà hai người Tôn, Hoàng lại đều là văn nhân. Tôn Dật Tiên là một ông tiến sĩ Tây học thông kim bác cổ; Hoàng Khắc Cường thì là một vị tú tài danh tiếng với "văn phong như Tô Đông Pha, chữ nét đậm Bắc Ngụy". Cả hai người cơ bản đều không biết về binh pháp, ít ra là không có kinh nghiệm lâm trận. Những thành viên hội đảng ngỗ ngược khó thuần phục đó, chưa chắc đã nghe theo sự chỉ huy của họ. Lãnh đạo họ đi "khởi nghĩa", cũng giống như cổ nhân từng nói: "Đem người chợ ra chiến trận". Quân Thanh đối phương dẫu không thể coi là tinh nhuệ gì, nhưng ít ra cũng là quân chính quy chuyên nghiệp. Hai bên chém giết lẫn nhau, thì số phận thắng bại, không cần bói toán cũng biết rõ. Cho nên các bậc tuấn kiệt của Đồng minh hội, trong tâm trạng chán nản cùng cực khi đã moi móc hết cách, vận động hội đảng, phát động bảy cuộc khởi nghĩa đều không thu hoạch được gì, cuối cùng bất chấp tất cả, dứt khoát vứt bỏ hội đảng, tự mình xắn tay áo xung trận luôn.
Cán bộ cao cấp đầu tiên vứt bỏ ngòi bút, cầm lấy súng lục lựu đạn để liều mạng với các vương công quý tộc Mãn tộc, chính là tài tử Uông Tinh Vệ mang tiếng là mỹ nam tử. Uông Tinh Vệ khi ấy vừa tròn hai mươi bảy tuổi, nhờ tờ 《Dân báo》 lan tỏa sâu rộng vào triều đình lẫn dã sử, tên tuổi tài hoa đã vang dội khắp thiên hạ, ngay cả những hậu phi kế nhiệm Từ Hi, Quang Tự (mất năm 1908) nắm quyền trong chốn thâm cung đại nội ở Bắc Kinh, cũng không ai là không biết, không ai là không rõ.
Uông vốn ở vùng Nam Dương theo hầu hai ông Tôn, Hoàng làm mấy việc tạp vụ, nhưng tự cảm thấy Đồng minh hội đã đến bước đường cùng, ngoài việc chính mình hy sinh làm liệt sĩ thì không còn cách nào khác, bèn để lại huyết thư rồi từ biệt không lời từ giã, được người bạn gái ngưỡng mộ anh là Trần Bích Quân ép buộc thân mẫu đưa cho tám nghìn đồng (đây là do Trần Bích Quân tự khai báo, con số thực tế hãy còn chờ khảo chứng), bèn cùng Bích Quân và các đồng chí Dụ Bồi Luân, Hoàng Phục Sinh v.v... vài người quanh co trốn vào Bắc Kinh, giả mở "Tiệm chụp ảnh Thủ Trinh", mưu sát Nhiếp chính vương Tải Phong. Tiểu tài tử sao có thể làm thích khách chuyên nghiệp được chứ? Cơ sự không kín đáo, hai người Uông, Hoàng đã bị phát hiện và bắt giữ.
Thích khách đảng cách mạng bị bắt ở Bắc Kinh, lại chính là Uông Tinh Vệ nổi danh thiên hạ về văn chương. Tin tức truyền ra, cả thành kinh ngạc. Đại án Uông Hoàng do Túc thân vương Thiện Kỳ tự mình chủ thẩm, mà Thiện Kỳ lại là một kẻ tiếc người tài, ông ta trước tiên đã bị khuất phục bởi văn danh, tướng mạo, lời khai và phong thái của họ Uông. Khi ông ta đem hai phạm nhân Uông, Hoàng ra "thẩm vấn cách ly", cả hai người đều khăng khăng nhận đây là "mưu phản cá nhân, liên lụy đến bạn bè vô tội", dập đầu xin tòa hãy lăng trì xử tử phạm nhân này và thả người vô tội ra. Nghe nói Thiện Kỳ nghe lời khai vô cùng cảm động, bèn đặt bút chu phê xuống, thở dài ba tiếng, miệng không ngớt gọi "Nghĩa sĩ, nghĩa sĩ". Cứ như vậy ông ta mới thuyết phục được Nhiếp chính vương Tải Phong, giảm nhẹ hình phạt cho hai "tên đại nghịch" đáng lẽ tội đáng lăng trì xử tru di tam tộc này thành "giam giữ vĩnh viễn".
Người viết viết đến đây, chợt cảm thấy những quý tộc "giặc thù" như Tải Phong, Thiện Kỳ kia, hồ đồ lầm nước, quả thật tội không thể dung tha, thế nhưng so với sự hung ác độc ác của hai đảng Quốc, Cộng sau này trong việc tàn sát kẻ dị ý, hại chết người vô tội, thì quả thực vẫn có điểm đáng khen ngợi hơn. Người làm sử ghi chép thiện ác, há có thể không cẩn trọng cho được sao?!
Uông Tinh Vệ lúc đó còn trẻ tuổi bồng bột, kích động vì nghĩa phẫn, không tiếc một cái chết, từng gây ra sự đồng cảm toàn quốc, đưa cuộc cách mạng bài Mãn tiến lên một cao trào khác. Thực ra họ Uông chẳng qua chỉ vì dung mạo đa tình phong phú của mình mà nổi danh chớp nhoáng. Đảng nhân cách mạng thời bấy giờ, căm hận triều đình nhà Thanh làm lỡ cơ sự quốc gia, sau cơn chán nản, ai nấy đều có tâm chí quyết tâm chịu chết. Trong số đó có những liệt sĩ vô danh, cái chết của họ bi tráng dường nào, càng đủ để khắc sâu vào tâm can con người. Lấy liệt sĩ Dụ Bồi Luân mà nói, Dụ quân vốn là một trong ba thích khách lọt lưới thoát thân, vốn dĩ có thể không phải chết, nhưng cuối cùng vẫn tự tìm cái chết, làm liệt sĩ trên gò Hoàng Hoa Cương. Người đời ngày nay chỉ biết Uông Tinh Vệ với câu "Vung dao thành một đợt sảng khoái, không phụ cái đầu tuổi trẻ", chứ mấy ai còn biết đến vị liệt sĩ Dụ Bồi Luân - người tiểu Tứ Xuyên thực sự vung dao thành một đợt sảng khoái ấy nữa cơ chứ?!
Cuộc "Khởi nghĩa Quảng Châu ngày 29 tháng 3" thời Tân Hỏa, những "bảy mươi hai liệt sĩ" (thực số là tám mươi sáu người) được chôn chung một gò ở Hoàng Hoa Cương cuối cùng, khi ấy ai nấy đều là tự tìm cái chết. Đám liệt sĩ này đều là những thanh niên máu nóng sôi sục trong dân tộc Trung Hoa lúc bấy giờ, họ tận mắt nhìn thấy nguy cơ vong quốc chỉ trong gang tấc, mà nhân dân thì ngu muội, quan lại nhà Thanh thì hồ đồ. Họ vốn định mượn tiền của Hoa kiều, dựa vào dũng khí của hội đảng, để lật đổ ác chính mãn Thanh. Thế nhưng sau khi khởi nghĩa hơn chục lần, mới biết mượn tiền Hoa kiều thì không dễ, dựa vào dũng khí hội đảng lại càng khó. Trong cơn tuyệt vọng, bèn hạ quyết tâm dùng chính thân thể bằng xương bằng thịt của mình để đánh một canh bạc liều lĩnh. Đây chính là tâm trạng phẫn uất cô độc của bảy mươi hai liệt sĩ trước lúc hy sinh.
Họ hy sinh quá đỗi bi tráng. Hơn tám mươi con người vốn là cột trụ xương sống của "Đồng minh hội", hầu như mỗi người bọn họ đều là tài năng tướng soái, vậy mà lại bị hy sinh như những tốt thí xông pha trận mạc. Một khi đã hy sinh tập thể, thì tinh anh của Đồng minh hội bị tàn sát không còn mảy may; thế nhưng cái chết của họ, cũng đã khai quật lên lương tâm của dân tộc chúng ta. — Bạo động toàn quốc đã như củi lửa chực chờ bùng cháy, ác chính của triều đình nhà Thanh cũng bị đẩy đến bờ vực sụp đổ.
“Cộng tiến hội”, “Văn học xã” là những đoàn thể thế nào?
Quả nhiên chưa đầy nửa năm kể từ cái chết của bảy mươi hai liệt sĩ. Thì cuộc "Khởi nghĩa Vũ Hán" ngày 10 tháng 10 (tức ngày 19 tháng 8 âm lịch) đã nổ ra, đứng từ góc độ hẹp mà luận giải, đây chính là "Cách mạng Tân Hỏa". Cho nên cái gọi là "Cách mạng Tân Hỏa", chính là cuộc "khởi nghĩa" cuối cùng của phong trào cách mạng được phát động nhằm "đuổi giặc thù, lập dân quốc" trong cận đại Trung Quốc.
Thông qua cuộc khởi nghĩa lần này, thì hai đại mục tiêu "đuổi giặc thù, lập dân quốc" đã hoàn toàn đạt được. — Cho nên nếu chúng ta cho rằng "phong trào hiện đại hóa Trung Quốc" có "tính giai đoạn" của nó, thì "Cách mạng Tân Hỏa" nên là giai đoạn thứ nhất, hơn nữa lại là giai đoạn thứ nhất hoàn toàn thành công. Chỉ là sau đó vẫn còn ba, năm cho đến bảy, tám "giai đoạn" nữa, đang chờ được phá vỡ mà thôi.
Thế nhưng nếu chúng ta là "những người theo thuyết nhất nguyên cách mạng", cho rằng đại kế trăm năm trị an lâu dài có thể "hoàn thành công trạng trong một trận chiến" — các nhà lý luận của cả hai đảng Quốc Cộng đều là những người theo thuyết nhất nguyên cách mạng, thì bảo sao Tôn Trung Sơn tiên sinh lại phải cảm thán rằng "cách mạng chưa thành công" chứ. Các nhà lý luận cộng sản thì cho rằng đó chỉ là một cuộc "cách mạng dân chủ của giai cấp tư sản"; nó không phải là cuộc "cách mạng" được những người cộng sản thừa nhận. Đúng chăng? Sai chăng, hãy để tôi xem lại cuộc "Khởi nghĩa Vũ Hán" này được làm ra như thế nào nhé.
Nói ngắn gọn lại. Thúc đẩy trực tiếp "Khởi nghĩa Vũ Hán", có hai đoàn thể cách mạng quan trọng: "Cộng tiến hội" và "Văn học xã". Một đoàn thể khác là "Nhật tri hội" thì tác dụng không lớn. Nó chỉ là tên của một phòng đọc sách Anh giáo được những người cách mạng dùng làm lá chắn. Hơn nữa nó cũng đã giải tán từ trước thời Tân Hỏa.
“Cộng tiến hội” được thành lập tại Tokyo vào năm 1907. Người đề xướng ban đầu là Lưu Quý Nhất - vị "thứ vụ" cuối cùng sau Hoàng Khắc Cường ở trong Đồng minh hội. Quý Nhất vì sao lại ngoài Đồng minh hội ra, còn tổ chức thêm một cái Cộng tiến hội nữa? Nguyên nhân là vì Đồng minh hội xảy ra chia rẽ. Quang phục hội rút khỏi hội; Tôn Trung Sơn cùng Uông, Hồ v.n... ở Nam Dương lập ra "trụ sở" Đồng minh hội khác, cho nên các thành viên cội nguồn của Đồng minh hội du học sinh ở Nhật, không muốn tiếp tục lệ thuộc vào Đồng minh hội cũ nữa. Lưu Quý Nhất là người nghiêng về phía Tôn Văn, cho nên ông ta muốn lập ra một đoàn thể có tính chất giống như Đồng minh hội để hàn gắn lại.
Theo tuyên ngôn thành lập của Cộng tiến hội: Cộng có nghĩa là cùng nhau; "tiến" có nghĩa là "có tiến không lùi". Cho nên nó cũng là tổ chức "chung" của rất nhiều đoàn thể cách mạng nhỏ. Tôn chỉ hoàn toàn nhất trí với Đồng minh hội. Chỉ là sửa bình quân địa quyền thành bình quân nhân quyền. Còn về cờ hội, họ không dùng lá cờ "thanh thiên bạch nhật" do Tôn Trung Sơn kiên quyết giữ; mà đổi thành lá cờ mười tám ngôi sao với các mũi nhọn giao nhau. Trung Quốc lúc bấy giờ có "mười tám tỉnh", mỗi tỉnh một ngôi sao, rõ ràng cũng là lấy "cờ sao vạch" của nước Mỹ làm khuôn mẫu vậy. Hội mới vừa lập, một thời gian rất được lòng người. Các anh hùng các tỉnh lần lượt gia nhập, như người Tứ Xuyên Trương Bách Tường (Bách Tường có duyên gốc với Ca lão hội nên được bầu làm tổng lý đầu tiên), Hùng Khắc Vũ, Dụ Bồi Luân, người Hồ Bắc Cư Chính, Tôn Vũ, người Hồ Nam Tiêu Đạt Phong, Đàm Trấn, người Chiết Giang Phó Lạc Tăng, Đào Thành Chương... v.v... đều là những nhân tài kiệt xuất một thời. Hội ở Tokyo vừa lập, chẳng bao lâu liền dời tổng hành dinh về Vũ Hán, ra vẻ như là trọng tâm cách mạng ở khu vực trung thượng lưu sông Trường Giang. Dẫu rằng giữa Cộng tiến hội và Đồng minh hội không có quan hệ trực tiếp, nhưng lại "Cộng tiến hội cũng tôn tổng lý của Đồng minh hội làm tổng lý, để tỏ rõ không tách biệt môn hộ với Đồng minh hội, tự thành một hệ thống." (Xem sách do Thái Tế Dân, Ngô Tỉnh Á đồng tác giả《Thực lục thủ nghĩa Vũ Hán Tân Hỏa》). Nếu lời này có thể tin được, thì lời của sử gia người Mỹ Mary Wright được trích dẫn ở phần đầu bài viết này sẽ tự khắc phá sản.
Khi cuộc khởi nghĩa đầu tiên ở Vũ Hán nổ ra, đoàn thể chính thứ hai "Văn học xã", lại là một tổ chức của các quân nhân trẻ tuổi. Tên ban đầu là "Chấn vũ học xã". Ấy là vì nhà Thanh cuối triều làm tân chính, luyện "tân quân", ngoài "sáu trấn Bắc Dương" của Viên Thế Khải ra, thì "Hạc quân" do Trương Chi Động ở Hồ Bắc luyện tập là có thành tích nhất. Viên Thế Khải vừa gian xảo lại vừa chuyên quyền, bên trong sáu trấn của hắn không dùng các lưu học sinh có khuynh hướng cách mạng. Trương Chi Động thì hào phóng cởi mở hơn, ông ta không chỉ đại lượng bảo cử thanh niên ưu tú đi du học Nhật Bản, mà còn trọng dụng lưu học sinh về nước để mở rộng tân chính, tân quân. Không may là, ở bên trong bất cứ một chính quyền độc cải thối nát nào mà tiến hành cải cách mở cửa, thì cũng đều là tự đào mồ chôn mình (hãy nhìn Liên Xô ngày nay). Bởi vì có sự kìm chế của chính quyền cũ, cải cách mở cửa không có khả năng triển khai thuận lợi. Một khi cải cách không được như ý muốn, thì đại mảng những con người "mới" ở trong phong trào cải cách, ắt sẽ đi đến con đường phản nghịch. — Đây chính là đạo lý vì sao trong năm Tân Hỏa, ở bên trong Hạc quân mới xây dựng, lại có hàng trăm hàng ngàn đảng nhân cách mạng, mà Văn học xã chính là tổ chức bí mật của họ. Văn học xã được thành lập vào đầu thời Tân Hỏa, hội viên rải khắp các tiêu (tức "đoàn" ngày nay) của Hạc quân và các đơn vị doanh công binh, doanh tư trọng (vận tải), đội pháo binh v.v... Cho nên một khi bọn họ làm chuyện "khởi nghĩa", thì không giống với những gì Tôn, Hoàng mưu định ở Hoa Nam. Ở phương Nam bọn họ phần lớn dùng "đám ô hợp" đối kháng với "quân chính quy"; còn ở Hồ Bắc bọn họ muốn "khởi nghĩa", thì đó chính là "quân chính quy làm phản". Hiệu suất làm chuyện binh biến trong quân đội, so với việc làm bạo động hội đảng, tự nhiên là được một vốn bốn lời.
Thế nhưng những nhà cách mạng nhỏ bên trong "Văn học xã", lại có một điểm đẹp mà chưa vẹn toàn — giữa bọn họ có binh mà không có tướng (điều này hoàn toàn trái ngược với tình huống có tướng mà không có binh bên trong Đồng minh hội). Xã trưởng đầu tiên của "Văn học xã" là Tưởng Dực Vũ (người Lễ Huyện, Hồ Nam) cũng chỉ là một tiểu binh trong doanh số 3 thuộc tiêu 43 hiệp hỗn thành Hạc quân. Sau thăng lên chính phó mục (chính phó tiểu đội trưởng). Những công thần Tân Hỏa khác được ghi tên sử sách như Hùng Bính Khôn v.v... cũng đều là những tiểu binh. Cho nên một khi bọn họ nổi dậy, cục diện làm lớn ra, lại mang cái nỗi khổ có binh mà không có tướng — sau đó tình thế cấp bách sinh trí khôn, rốt cuộc lại ép buộc một lữ trưởng phản cách mạng (hợp thống của hiệp hỗn thành) là Lê Nguyên Hồng ra lãnh đạo cách mạng. Mùa hè năm Tân Hỏa, "vụ án đường sắt" Tứ Xuyên bỗng chốc bùng nổ, triều đình nhà Thanh muốn điều Hạc quân vào Tứ Xuyên trấn áp, mà đám binh đinh thì không muốn rời Hồ Bắc. "Văn học xã" và "Cộng tiến hội" bèn ngầm thông tin cho nhau, cuối cùng liên hợp nổi dậy. Ngày 10 tháng 10, một tiếng đại bác vang lên trong thành Vũ Hán. Đế quốc Đại Thanh hai trăm sáu mươi tám năm tuổi đã lâm vào cảnh chao đảo sắp đổ.
8.4 Kinh vĩ của "Khởi nghĩa Vũ Hán"
Cách mạng Tân Hỏa, đặc biệt là câu chuyện "Khởi nghĩa Vũ Hán", những gì sử gia ghi chép lại có lẽ không dưới hàng ngàn hàng vạn từ. Bản thân người viết dưới sự giúp đỡ hết mình của các vị giáo sư như Chương Khai Ruyên, Tạ Văn Tôn tại các "Viện nghiên cứu lịch sử cận đại" ở hai bờ eo biển, thì số lượng thư mục sách Trung, Tây, Nhật thu thập được đã có tới mấy ngàn loại. Quả thực là nhiều nhất trong các chuyên đề của "Lịch sử Dân quốc". Lật xem theo đề mục, há là điều mà một đời người có thể xem hết được ư?
Thế nhưng tình hình thực tế của Khởi nghĩa Vũ Hán, cũng không ngại dùng vài trăm từ để tóm tắt gọn lại: "Khởi nghĩa Vũ Hán" là cuộc bạo động vũ trang cuối cùng đồng thời cũng là duy nhất do đảng nhân cách mạng thời cuối Thanh phát động, mà lại có thể chiếm lĩnh thành trì kéo dài trên một tuần lễ. Nó cũng đúng như dự liệu của các ông Tôn, Hoàng, hễ đứng vững được gốc rễ thì khắp nơi toàn quốc sẽ làm cuộc hưởng ứng dây chuyền (chain reaction). Bắt đầu từ Hồ Nam, Thiểm Tây, Giang Tây (ngày 22, 23 tháng 10), chưa qua một tháng, toàn quốc đã có mười ba tỉnh tuyên bố độc lập, mà nhân vật chính yếu mưu toan độc lập thường không phải là đảng cách mạng, mà là cơ quan dân ý do phái lập hiến (bảo hoàng) nắm giữ ở các tỉnh ấy — "Tư nghị cục". Thế này thì những vị vương công quý tộc Mãn tộc vô dụng không sao đối phó nổi, triều đình nhà Thanh bèn triệu hồi Viên Thế Khải - kẻ từng bị hắt hủi - về để chèo chống cục diện nguy khốn, mà ông Viên thì nuôi giặc tự trọng — một mặt "tiến đánh", mặt khác lại ngầm thông đồng mưu tính với đảng cách mạng. Hắn phản công ba trấn Vũ Hán, cũng chỉ chiếm lấy hai thành, chừa lại một thành Vũ Hán để cho chiếc xe ngựa hai đầu kéo Lê Nguyên Hồng, Hoàng Hưng cứ từ từ mà kéo lê thê thê.
Hóa ra khi Lê Nguyên Hồng bị lôi ra làm "đô đốc" của quân cách mạng chưa bao lâu, Hoàng Hưng cũng vội vã chạy đến Vũ Hán (ngày 28 tháng 10), và được tôn cử làm tổng tư lệnh chiến thời của quân cách mạng. Lệnh phát ra từ hai phủ như thế, đã ngấm ngầm gây nên sự chia rẽ giữa hai phái Hoàng Lê, Tương Ngạc. Hoàng Hưng khổ chiến ròng rã suốt một tháng trời, cuối cùng dẫn đến việc mất cả hai Hán, Vũ Hán nguy ngập, Hoàng cuối cùng bị phái Ngạc như Tôn Vũ (dân gian nhầm tưởng là em trai của Tôn Văn) v.v... bài xích, lặng lẽ từ chức trốn về Thượng Hải (ngày 27 tháng 11). Thế nhưng dẫu Khắc Cường đã đi, cục diện cách mạng toàn quốc đã lan tràn như lửa cháy đồng cỏ. Ngày hôm sau Nam Kinh quang phục (ngày 2 tháng 12), các đại biểu các tỉnh phái đi Thượng Hải lại tôn cử Hoàng Hưng làm đại nguyên soái quân cách mạng, lấy Lê Nguyên Hồng làm phó, dự định lập chính phủ lâm thời đóng đô ở Nam Kinh, mà phía phái Ngạc ủng hộ Lê thì khăng khăng chủ trương Lê chính Hoàng phó. Giằng co không chịu nhường nhau, rành rành trở thành khúc dạo đầu cho cuộc "phân lập Ninh Hãn" hơn chục năm sau. Mà cờ hiệu của quân cách mạng lúc bấy giờ, bên phía phái Ngạc dùng cờ "mười tám sao mũi nhọn" của Cộng tiến hội; bên phía phái Ninh dùng thì là "cờ ngũ sắc" tự chế tượng trưng cho ngũ tộc cộng hòa. Còn cờ được dùng khi Quảng Châu quang phục (ngày 9 tháng 11) lại là "cờ thanh thiên bạch nhật". Một quân ba cờ, cũng đủ thấy quan hệ tổ chức phức tạp đan xen của đảng nhân cách mạng. Thế nhưng lúc bấy giờ dân quốc chưa lập, giặc thù hãy còn tồn tại; hai bên Lê Hoàng vì muốn tự giải thoát cho mình, rốt cuộc đã cùng điện tín cho Viên Thế Khải. Nếu Viên phản giáo đầu chống Thanh, sẽ đồng lòng tôn cử làm đại tổng thống dân quốc. Lúc bấy giờ Tôn Trung Sơn đang trên đường về nước cũng có biểu thị tương tự — tuân theo cục diện định đoạt cuối Thanh đầu Dân, ổn định Trung Quốc "không có Viên thì không xong" (bốn chữ "không có Viên thì không xong" là do Uông Tinh Vệ mới ra tù phát minh ra).
Thế nhưng trước khi ông Viên tuân ước phản giáo đầu, rốt cuộc cũng phải có một trận hòa đàm, để chấm dứt cục diện đối đầu Nam Bắc này. Cứ thế này thì cái chiến trường hỗn loạn chia năm xẻ bảy, một quân ba cờ ở phương Nam cũng phải có một sự quy hoạch tổng thể, và một người chịu trách nhiệm chung. Hai vị Lê Hoàng đã giằng co không nhường nhau, thì uy vọng vốn dĩ cao hơn cả hai vị là Tôn Văn, liền trở nên cấp thiết nổi bật. Cục diện phát triển đến bước này, ông Viên cũng cảm thấy thời cơ đã chín muồi, bởi một bức điện tín liên danh của bốn mươi hai vị tướng lĩnh tiền tuyến như Đoàn Kỳ Thụy v.v... (ngày 25 tháng 1 năm Nguyên niên Dân quốc), vị hoàng đế Tuyên Tông sáu tuổi liền tuân lệnh thoái vị.
8.5 Vài góc nhìn về ngoại giao cách mạng của Tôn Văn
Khi phong trào cách mạng trong nước đang diễn ra sôi nổi như lửa đốt, Tôn Trung Sơn tiên sinh đang làm gì thế? Lúc bấy giờ Hồng Kông không cho phép ông nhập cảnh; Nhật Bản cũng làm động tác từ chối lịch sự. Khu vực hoạt động của Tôn Văn, chỉ giới hạn ở Nam Dương. Về sau các xứ thuộc địa của Hà Lan, Pháp, Anh ở Nam Dương, vì muốn ngả giá với triều đình nhà Thanh, cũng không tỏ ra hoan nghênh ông, khiến cho Tôn Văn không có nơi dung thân. Dẫn đến việc vào khoảng hai, ba năm trước thời Dân quốc (1909–1912) ông liên tục vòng quanh trái đất hai vòng. Toàn bộ thời gian đều dùng hết vào những chuyến hành trình.
Mục đích những chuyến du hành của Tôn Văn là gì ở đâu? Ông đang tìm kiếm những nhân vật Âu Mỹ có tiền có thế, đồng thời cũng muốn củng cố tổ chức cơ sở của Đồng minh hội ở vùng Mỹ - Ca, để quy quân lương cho "khởi nghĩa" trong kế hoạch.
Nơi mà Tôn Văn gửi gắm hy vọng lớn nhất đối với nhà cầm quyền Âu Mỹ vốn dĩ là nước Pháp. Vào mùa hè năm 1905, khi ông theo lời mời của các lưu học sinh Trung Quốc ở châu Âu đi ngang qua Paris, trong số tài liệu bị Thang Hương Minh v.v... đánh cắp, có cả một bức thư nhà cầm quyền Pháp giới thiệu ông cho tổng đốc An Nam. Các quan chức thực dân Pháp đóng ở An Nam, lúc bấy giờ đang nhòm ngó Trung Quốc còn chưa xong, hà cớ gì lại hậu đãi Tôn Văn? Rõ ràng là những kẻ đế quốc chủ nghĩa này muốn lợi dụng Tôn Văn: mà Tôn Văn đói lòng bất chấp cũng muốn lợi dụng bọn chúng.
Sau đó Đồng minh hội được thành lập, Tôn Văn ghế chưa nóng chỗ, liền từ Nhật Bản chuyên trình đi qua Sài Gòn, vội vã đến Marseille, Paris. Thuyền qua cửa khẩu Ngô Tống, còn có cuộc qua lại cơ mật nhất với tham mưu trưởng quân đội trú phồn Trung Quốc của Pháp do người này đặc biệt đến thăm (hoàn toàn là một phương thức "khớp phù hợp để điều binh tướng"). Sau đó Tôn Văn còn phái những người tinh thông tiếng Anh, cùng với sĩ quan Pháp, trước sau tổng cộng ba người, đi đến ba tỉnh Quảng Tây, Quý Châu, Tứ Xuyên giáp ranh với xứ thuộc địa An Nam của Pháp, để điều tra thực địa. Ý đồ của người Pháp trong việc này là gì, thật là khiến người ta phải suy ngẫm sâu xa. Sau đó tài liệu cơ mật bị rò rỉ, triều đình nhà Thanh dựa vào đó để kháng nghị. Công sứ Pháp tại Trung Quốc cũng vì thế mà giật mình, bèn làm văn thư hỏi Paris. Chính phủ Pháp vậy mà lại bảo công sứ của họ tại Trung Quốc không cần quản chuyện bao đồng. Chính phủ Trung Quốc cũng đành chịu chết không làm gì được (tư liệu Trung Quốc liên quan đến sự kiện này rải rác trong hồ sơ chính phủ và các tạp trước tư nhân, bao gồm cả《Niên biểu Quốc phụ》; sử liệu nguyên bản tiếng Pháp cũng không khó để tra chứng).
Vào tháng 5 năm 1909, khi Tôn Văn thực hiện "chuyến vòng quanh thế giới lần thứ tư", cũng từ Singapore đi thẳng đến Marseille chuyển sang Paris, ở Paris hơn một tháng. Mục đích ông đến Paris, nghe nói là "hết sức vận động một nhà tư bản Pháp, vay mượn hàng vạn". Người đứng ra làm mối chính là nguyên tổng đốc An Nam của Pháp. Nghe nói là "sẽ có thành nghị, ngờ đâu phong trào chính trị Pháp bất ngờ nổi lên, nội các Pháp thình lình cải tổ... người này (nhà tư bản) do dự. Bởi vì nếu không có được sự cho phép của chính phủ, thì tuyệt đối không chịu đầu tư số vốn lớn ở nước ngoài, sự việc rốt cuộc không thành." (《Niên biểu Quốc phụ》quyển thượng, trang 265; cũng xem thư Tôn Văn gửi từ Luân Đôn ngày 29 tháng 10 năm 1909, in trong《Toàn thư Quốc phụ》trang 419).
Theo khảo chứng của các vị bằng hữu Ngô Tương Tương, Tưởng Vĩnh Kính, số tiền quyên góp được của Tôn Văn ở khắp nơi trên thế giới trước thời Tân Hỏa, tổng số vẫn chưa đến năm mươi vạn. Lấy đâu ra nhà triệu phú Pháp hàng vạn này? Cho nên vị "nhà tư bản" này rất có khả năng chính là bản thân chính phủ Pháp; mà chính phủ Pháp đầu tư "số vốn lớn" này, ý đồ là gì? Mà Tôn Văn muốn thu hút Pháp đầu tư số vốn lớn này, "điều kiện" lại là gì? Sử sách đều không ghi chép rõ ràng. Bởi vì "ngoại giao" bí mật mà Đồng minh hội tiến hành với các nước đế quốc chủ nghĩa phương Tây thời ấy, đều do một mình Tôn Văn đảm nhận. Hoàng Hưng, Uông Hồ v.v... vì không thông thạo tiếng Tây, cũng không am hiểu tình hình phương Tây, nên đều không biết rõ chi tiết.
8.6 Từ "bồi bàn" đến "tổng thống"
Tôn Trung Sơn tiên sinh dẫu lúc này có bệnh vái tứ phương, đi khắp nơi quyên góp tiền bạc, nhưng thu hoạch được thì cực kỳ hạn chế. Đế quốc chủ nghĩa Đông Tây đều muốn lợi dụng ông, nhưng lại không tin tưởng ông. Chỗ dựa lớn nhất của Tôn Văn trong giới Hoa kiều châu Mỹ lúc bấy giờ chính là "Hồng Môn Trí Công Đường", mà Trí Công Đường cũng là mưa to gió nhỏ, nói suông mà không làm thật. Theo Tôn Trung Sơn tiên sinh vào năm 1910 (ngày 20 tháng giêng năm Canh Tuất Tuyên Thông — ngày 1 tháng 3 dương lịch), thất bại trong cuộc khởi nghĩa lần thứ chín của ông thực ra là do thiếu năm nghìn tiền vốn, mà "Phòng Trí Công Boston đảm nhận năm nghìn, gửi đến chưa quá một ngàn chín trăm đồng. Phòng Trí Công New York hứa đảm nhận, một văn không gửi..."
Cho nên sách lịch sử cận đại như 《Sự tích hai mươi năm Trung Quốc Quốc dân đảng》 do Đặng Trạch Như trước tác liệt kê con số mười vạn tám vạn, đều là con số "nhận quyên góp", hoặc là lời khoác lác sau sự việc, không phải là thu nhập thực tế. Điều này thực ra không phải là do các vị ở "Phòng Trí Công" keo kiệt, mà là cuộc cách mạng của Tôn Văn vốn là một cái đáy không đáy, tiền giấy không cách nào lấp đầy nổi. Cộng thêm cộng đồng Hoa kiều năm ấy, trong đó vừa không có "Vương An", lại vừa không có "Bao Ngọc Cương". Mọi người đều là dân làm thuê, dưới sự chèn ép của nước Mỹ, làm chút lao động khổ sai ở tiệm giặt là, quán ăn; thu nhập quanh năm, chật vật qua ngày đói rét. Bản thân lo còn chưa xong, việc ủng hộ cách mạng, đã là tận lực hết sức mình rồi. Quyên góp quá mức, phần lớn lực bất tòng tâm. Cho nên Tôn Trung Sơn tiên sinh sau khi bảy mươi hai liệt sĩ Tân Hỏa hy sinh, thực sự đã moi móc sạch túi, thậm chí đến bản thân ăn mặc cũng khó mà chu toàn.
Tháng 10 cùng năm, "Khởi nghĩa Vũ Hán" bùng nổ, Tôn Văn khi ấy tuổi bốn mươi sáu, đang độ tráng niên. Theo ghi chép của lịch sử đảng, lúc bấy giờ ông đang được "Trí Công Tổng Đường" ở Bắc Mỹ ủng hộ, tổ chức một "Cục quyên lương", đi khắp nơi diễn thuyết tuần hoàn về cách mạng, quyên góp quân lương. Nhưng theo một số ghi chép tư nhân. Cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của Tôn Văn lúc bấy giờ rất khó duy trì. Trong thời gian Khởi nghĩa Vũ Hán, ông đang làm thuê tại một quán ăn Trung Hoa họ Lô ở thành phố Denver, bang Colorado (Denver, còn được dịch là Đản Duy Nhĩ hoặc Đôn Phục), làm "bồi bàn" (tiếng Quảng Đông là trà phòng). Ông vốn dĩ không có phản ứng quá mạnh mẽ đối với tin tức "Bạo động Vũ Hán". Bởi vì những cuộc khởi nghĩa tương tự ông đã lãnh đạo qua mười lần rồi, huống hồ những người phát động lần này vốn không có quan hệ trực tiếp với ông! Thế nhưng có một ngày khi ông đang bưng mâm đồ ăn từ trong bếp bước ra dâng trà cho khách, bỗng nhiên có một đồng nghiệp hét lớn với ông một tiếng rằng: "Lão Tôn, anh có một bức 'điện báo'." Nói đoạn, người đồng nghiệp đó liền ném bức điện tín đó vào cái mâm đồ ăn của "Lão Tôn". Tôn Văn bóc ra xem, không kìm được niềm vui mừng khôn xiết. Hóa ra bức điện tín đó (rõ ràng là do Hoàng Hưng đánh tới) bảo ông hãy mau chóng thu xếp hành lý về nước. Bởi vì tình hình cách mạng phát triển nhanh chóng, "Trung Hoa Dân Quốc" có lẽ sắp được thành lập; một khi đã thành lập rồi, thì vị "Đại tổng thống" đầu tiên, thật không ai khác ngoài ngài. — Quả nhiên, hơn hai tháng sau, bồi bàn lão Tôn đã thực sự làm vị "Đại tổng thống lâm thời" đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc.
8.7 Câu chuyện nhà họ Lô ở bang Colorado
Người viết viết ra giai thoại trên đây về Tôn Trung Sơn tiên sinh, bạn đọc khi mới đọc qua, có lẽ sẽ cho rằng đó là dã sử tiểu thuyết. Kỳ thực tính chân thực của câu chuyện này khá cao. Bởi vì vị "bồi bàn" đã ném bức điện tín đó vào mâm đồ ăn của Tôn Văn, và chủ quán ăn Lô Thụy Liên quân, nghe nói trong thời gian Thế chiến thứ hai, vẫn còn đang khỏe mạnh ở Mỹ. Trưởng nam của Lô quân là Lô Kỳ Tân quân từng giữ chức "Đặc phái viên thường trú tại thủ đô nước Mỹ" của Thông tấn xã Trung ương Quốc dân đảng, từng có thời gian dài làm đồng nghiệp và là bạn thân với bằng hữu của người viết là nhà báo nổi tiếng Cung Tuyển Vũ quân. Thứ nam của Lô là Lô Kỳ Ốc quân, từng giữ chức mục sư của "Hội thanh niên quy chủ", cũng là một nhân vật có mối quan hệ rộng rãi. Gia đình họ Lô bọn họ với Tôn công là bạn thấu triệt thế giao và đồng chí đồng hương, có lẽ vẫn là thân thích ruột thịt. Tôn Trung Sơn tiên sinh năm xưa giúp việc làm bồi bàn trong quán ăn của họ, vốn chẳng phải là chuyện bí mật gì. Chỉ là trong cái xã hội Trung Quốc cuối Thanh đầu Dân mà lao động không phải là điều thiêng liêng, nếu như đồn đại rằng Tổng thống Tôn từng làm trà phòng ở Mỹ, e rằng sẽ gây ra những hiểu lầm không cần thiết cho những kẻ thủ gò trong nước, cho nên Tôn công giấu không nói. Cha con nhà họ Lô vì kiêng dè cho người thân, trừ những người thân bạn bè chí cốt ra, đem ra làm chuyện cười trà dư tửu hậu về giai thoại cách mạng, chứ cũng không nói nhiều với người ngoài.
Người viết vào ngày hôm nay của tám mươi năm sau, viết ra giai thoại nhỏ này về Tôn Trung Sơn tiên sinh, chính là để tuyên dương sự vĩ đại của một bậc thánh hiền đời đời. Kẻ bất tài này trong thời gian du học ở Mỹ cũng từng trải qua nhiều năm đi làm thêm. Học sinh nghèo khó lưu vong Đài Loan, Hồng Kông, Đại lục ở Mỹ ngày nay, có mấy ai là chưa từng đi làm thêm? — Đi làm thêm ở Mỹ, há tổn hại gì đến ánh sáng nhật nguyệt của Quốc phụ họ Tôn? Ngược lại, việc đi làm thêm của Tôn công chính là có thể minh chứng cho sự gian khổ của các bậc tiên hiền khi tạo lập "Dân quốc", đủ để cho con cháu đời sau nhớ nhung hoài niệm vậy.
Tôn Văn vào giữa tháng 10 năm 1911 rời khỏi bang Colorado để về nước, nhân tiện ghé thăm Washington, Luân Đôn, Paris, muốn vay một ít ngoại tệ để vượt qua khó khăn, nhưng kết quả là một xu dính túi cũng không có. Thế nhưng Tôn Văn là vị lãnh tụ cao cấp nhất trong số các đảng nhân cách mạng thời bấy giờ có thể kết giao với các bậc hào kiệt dị quốc, cự phú Hoa kiều. Một khi từ hải ngoại trở về, các báo giới trong ngoài nước đều đồn đại rầm rộ rằng ông mang theo củ khoản kếch xù về nước để chủ trì cách mạng. Khi ông cùng Hồ Hán Dân đến Thượng Hải vào ngày 25 tháng 12 năm 1911, các giới đều kỳ vọng và hỏi thăm bằng khoản tiền khổng lồ. Tôn Văn đáp rằng: "Tôi không có một xu nào cả. Thứ mang về chỉ là tinh thần cách mạng!" — Hậu bối chúng ta những kẻ đi làm thêm vốn dĩ đều biết các bậc tiền bối sinh sống bằng nghề làm thuê của chúng ta, đến một xu cũng chẳng có. Còn về sự sung mãn của "tinh thần cách mạng" thì quả thực cũng giống nhau cả thôi.
8.8 "Sự kết thúc của một sự khởi đầu"
Lần trở về hải ngoại này của Tôn Văn. Có thể nói là "đến rất đúng lúc" (perfect thing). Ông lên bờ ở Thượng Hải vào ngày 25 tháng 12, ngày 29 tháng 12 đại biểu mười bảy tỉnh toàn quốc mở "Hội nghị tuyển cử Đại tổng thống lâm thời Trung Hoa Dân Quốc" tại Nam Kinh (mỗi tỉnh một phiếu). Ông đã đắc cử vị trí "Đại tổng thống lâm thời" nhiệm kỳ đầu tiên của "Trung Hoa Dân Quốc" với số phiếu tuyệt đối là mười sáu phiếu.
Ngày mùng 1 tháng 1 năm 1912, Đại tổng thống lâm thời Trung Hoa Dân Quốc Tôn Văn nhậm chức tại Nam Kinh. Cải nguyên, đổi trang phục, sử dụng dương lịch. Chế độ chuyên chế đế vương ba nghìn năm trong lịch sử Trung Quốc, và sự nhập chủ của người Mãn Châu trong hai trăm sáu mươi tám năm cuối cùng, đồng thời kết thúc. Trung Hoa Dân Quốc cũng theo đó mà chính thức ra đời.
Cách mạng Tân Hỏa tính đến nay đã trọn vẹn tám mươi năm. Nhìn lại từ tám mươi năm về trước, "Cách mạng Tân Hỏa" rốt cuộc là chuyện thế nào?
Đối với đoạn lịch sử này, chính đảng của chúng ta — các nhà sử học đảng của cả hai đảng Quốc Cộng, mỗi bên đều có giải thích chính thức của riêng mình.
Giải thích chính thức của Quốc dân đảng là căn cứ vào "Di giáo của Tổng lý", gọi là "Cách mạng chưa thành công". "Cách mạng" như thế nào mới tính là "thành công"? Đáp rằng: Sự thực hiện toàn diện "Tam dân chủ nghĩa" và "Ngũ quyền hiến pháp", mới được gọi là thành công. Cứ theo như lời này, thì "Cách mạng Tân Hỏa" chỉ là một cuộc cách mạng sảy thai, bởi vì thành quả của nó đã bị các quan chức quân phiệt như Viên Thế Khải cướp đoạt; đã bị những kẻ phản đồ trong đảng vứt bỏ, cho nên Quốc dân đảng phải tiếp tục cách mạng, từ lần thứ hai, thứ ba cho đến vô số lần. Không đạt được mục đích thì không thể bỏ cuộc. Quả nhiên sau khi hoàn thành Bắc phạt, Quốc dân đảng đã giành được chính quyền, thiết lập chính phủ Ngũ viện, đáng lẽ phải là lúc thực hiện "Tam dân chủ nghĩa" rồi. Nào ngờ thành quả cách mạng lần này lại bị Đảng cộng sản giữa đường nẫng tay trên, cho nên Quốc dân đảng vẫn phải tiếp tục cách mạng, phải dùng Tam dân chủ nghĩa để thống nhất Trung Quốc, xây dựng Trung Quốc. Không đạt được mục đích, thì cách mạng mãi mãi không thể bỏ cuộc...
Giải thích của Đảng cộng sản Trung Quốc đối với "Cách mạng Tân Hỏa" lại càng đơn giản minh bạch hơn. Bọn họ cho rằng Cách mạng Tân Hỏa chỉ là một cuộc "cách mạng dân chủ của giai cấp tư sản". Mục đích cách mạng của Đảng cộng sản là đánh đổ giai cấp tư sản phản động, cho nên cách mạng dân chủ của giai cấp tư sản về cơ bản cũng là phản động và giả nhân giả nghĩa. Không tính là một cuộc cách mạng được. Cho nên "Trung Hoa Dân Quốc" do cuộc cách mạng tư sản này tạo ra cũng chỉ là một "triều đại" do giai cấp phản động kiểm soát. Một bộ "Lịch sử Trung Quốc Dân Quốc" cũng chỉ là một bộ "Lịch sử đoạn đại". "Trung Quốc nhân dân" chân chính vẫn là bắt đầu từ "Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" do Đảng cộng sản Trung Quốc thiết lập.
Kỳ thực nếu đứng từ góc độ "lịch sử đảng" để giải thích "lịch sử quốc gia", thì không dễ gì đứng vững được. Bởi vì mỗi một "chính đảng", đặc biệt là "chính đảng cách mạng", đều có ý thức hệ mang tính chủ quan và bài tha vô cùng mạnh mẽ. Trước hết khẳng định một ý thức hệ, rồi sau đó mới bàn đến lịch sử, thì đó không phải là "lấy ngựa kéo xe", mà là "lấy xe kéo ngựa" rồi. Nói một cách trừu tượng, cái đó gọi là "lấy lý luận dẫn dắt lịch sử", thậm chí là "lấy lý luận thay thế lịch sử".
Lịch sử là một dòng sông lớn Trường Giang, mãi mãi chảy về phía trước. Những người làm lịch sử, theo dòng chảy tiến lên, rồi sau đó quay đầu truy tìm nguồn cội xem chỗ nào là nguồn Thanh Hải? Chỗ nào là Kim Sa Giang, Tam Hi? Chỗ nào là "Trường Hà rực rỡ cây Hán Dương, cỏ thơm ngút ngàn bãi Anh Châu"? Rồi sau đó mới có thể bừng tỉnh đại ngộ — hóa ra là thế!
Chúng ta nếu mờ muội trước những sự thật lịch sử phát triển mang tính khách quan cực độ, lại trong trí tưởng tượng nhào nặn ra một con đường lịch sử phát triển theo ý chí của chính mình, thậm chí đối với cả sự phát triển lịch sử chưa xảy ra cũng dựa vào ý chí của bản thân mà chỉ tay vẽ chuyện, điều này gọi là "thực thi chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ"; chủ nghĩa nếu thực thi được, đó là sự "trùng hợp" giữa "khách quan" và "chủ quan". Khách quan và chủ quan nếu không thể trùng hợp, thậm chí xung đột, thì phần lớn sẽ gây ra đại họa — nhẹ thì lầm dân hại nước; nặng thì thây phơi muôn ức, vạn kiếp không thể phục hồi. Người xưa thường nói những câu như "kẻ làm lầm hại muôn dân thiên hạ, tất là kẻ này vậy". Một kẻ độc phu lớn nhỏ nào đó, trong ánh mắt của một bậc trí giả, vốn dĩ không khó để nhận diện.
Hãy quay đầu nhìn lại "Cách mạng Tân Hợi" xem sao!
Hai nhiệm vụ lớn mà Cách mạng Tân Hợi hoàn thành: đánh đuổi rợ Hồ, dựng lên nước cộng hòa. Nhiệm vụ trước thì không có gì để nói. Trọng tâm nằm ở nhiệm vụ sau.
Thế nào gọi là "dựng lên nước cộng hòa"? Nói một cách đơn giản, chính là "đổi vương quyền thành dân quyền". Vương quyền là chế độ của "thời trung cổ"; dân quyền là chế độ của "thời hiện đại". Về mặt chính trị mà đem "chế độ thời trung cổ" đổi thành "chế độ thời hiện đại", dùng một danh từ trừu tượng, thì gọi là "hiện đại hóa chính trị". "Hiện đại hóa chính trị" không phải là thứ độc quyền của riêng quốc gia nào, nó là hiện tượng chung trong lịch sử thế giới. Mà các nước lại vì điều kiện lịch sử và xã hội khác nhau, nên tiến trình hiện đại hóa chính trị của họ, cũng có sự khác biệt về dài ngắn, gấp gáp, sớm muộn, nghịch lưu, thuận lưu...
Cụ thể mà nói, việc đem "vương quyền" đổi thành "dân quyền", lấy nước Mỹ làm sớm nhất! nước Mỹ thoát khỏi quốc vương Anh vào năm 1776, thiết lập "nước cộng hòa" (republic) đầu tiên trong lịch sử loài người. Thế nhưng việc kiến quốc của nước Mỹ không phải một bước là tới trời. "Dân tộc Anh ngữ" bọn họ vốn có "truyền thống chính trị Anh-Mỹ" (The Anglo-American political tradition) đặc thù của mình. Đại khái mà nói, dân tộc Anh ngữ thành công trong việc kiềm chế vương quyền, bắt đầu từ "Cách mạng Vinh quang" (năm 1689). Từ Cách mạng Vinh quang cho đến Cách mạng Mỹ, họ đại khái đã giãy giụa hơn tám mươi năm, mới "dựng lên" được một "nước cộng hòa" nói tiếng Anh.
Dân tộc Phấp, từ vương quyền hoàn toàn đổi thành dân quyền, từ Đại cách mạng Pháp (năm 1789) cho đến khi xác lập nền Đệ tam Cộng hòa (năm 1875), đại khái cũng giãy giụa hơn tám mươi năm.
Tình hình của nước Nga cũng đại khái tương tự như vậy. nước Nga Xô Viết từ cuộc Cách mạng tháng Mười năm 1917 bắt đầu, trải qua gần bốn mươi năm độc tài chuyên chế của Lenin, Stalin — còn vượt xa cả sự độc tài chuyên chế của Sa hoàng, cho đến cuộc đảo chính phá sản gần đây, và việc Gorbachev từ chức Chủ tịch Liên Xô, cũng loay hoay suốt bảy mươi bốn năm. Muốn tiến bộ đến dân chủ cộng hòa thực sự, sợ rằng cũng phải trên tám mươi năm.
Nhật Bản từ cuộc Duy tân Minh Trị năm 1868 bắt đầu, trải qua các thời kỳ quân phiệt luân phiên chuyên chính, cho đến khi bại trận vào năm 1945, cũng giãy giụa hơn tám mươi năm, mới nặn ra được chút hình hài trị vì của dân.
So với các quốc gia trị vì dân chủ tiên tiến trên thế giới, nói thật lòng, người Trung Quốc chúng ta tiến bước hướng tới chính trị dân quyền hiện đại, cũng không tính là quá tệ. Chúng ta từ khi làm Cách mạng Tân Hợi đến nay cũng đã tám mươi năm rồi. Trong tám mươi năm, chúng ta đã sinh ra một Viên hoàng đế chỉ tại vị tám mươi ba ngày. Năm 1917 Tuyên Thống gia cũng quay lại làm vua mấy ngày. Ngoài ra hai ông Tưởng, Mao cũng mỗi người làm vua mấy chục năm, nhưng hai ông rốt cuộc vẫn không dám chơi trò "hoàng bào khoác mình". Gần đây tờ "New York Times" cũng phong Đặng công Tiểu Bình là The Emperor of China. Nói một câu công đạo, "Tiểu Bình chào bác!" rốt cuộc vẫn dân chủ hơn hai ông Tưởng, Mao nhiều, mặc dù ông ta cũng gây ra vết nhơ lớn là "Sự kiện Thiên An Môn". Thế nhưng làn sóng chuyển đổi từ vương quyền sang dân quyền trong lịch sử cận đại nước nhà, cũng giống như trận lũ lụt trăm năm mới có một lần vào mùa hè năm nay (1991)... Bạn tôi ơi, đối phó với trận lũ lụt này, nào thấy quan chức chỉ biết "ném đê", chứ sao có thể "đắp đê" cơ chứ? "Khoa học xã hội" vẫn nên học hỏi thêm nhiều một chút thì mới tốt!
Chúng ta làm trò "ném đê xả lũ" đại khái cũng phải làm tầm tám, chín mươi năm. Giới hạn thời gian này là quy lệ chung mà các quốc gia tiên tiến dân chủ đều tuân thủ mà! —— Cho nên thành tích của chúng ta, không tính là quá tệ!
Vậy thì, "Cách mạng Tân Hợi" trong "thời kỳ chuyển đổi" trăm năm "từ quân chủ đến dân chủ" của chúng ta này, được tính là cái gì?
Đáp rằng: "Cách mạng Tân Hợi" theo nghĩa rộng (1890 ~ 1912), là sự "bắt đầu" của thời kỳ chuyển đổi từ quân chủ sang dân chủ trong lịch sử nước ta.
Còn "Cách mạng Tân Hợi" theo nghĩa hẹp (từ ngày 10 tháng 10 năm 1911 đến ngày 1 tháng 1 năm 1912), lại chính là "sự kết thúc của điểm khởi đầu này" (The End of a Beginning). Chỉ thế mà thôi. Xin chư vị độc giả chỉ giáo.
*Hoàn thành bản thảo vào ngày 1 tháng 9 năm 1991 tại New Jersey, Bắc Mỹ
Đăng nguyên bản tại tạp chí "Tiểu sử Văn học" Đài Bắc, tổng tập số 60, kỳ 2.