Viên Thải Khải trong số các nguyên thủ cận đại Trung Quốc có thể coi là đoản mệnh, ông chỉ sống được năm mươi bảy tuổi. Sinh năm Hàm Phong thứ chín nhà Thanh (1859), mất năm Dân Quốc thứ năm (1916). Nhỏ hơn Khang Hữu Vi một tuổi; lớn hơn Tôn Trung Sơn bảy tuổi.
Tuổi thọ của Viên tuy ngắn, nhưng sức ảnh hưởng lại cực lớn, hơn nữa sự nghiệp trong đời phân định rõ ràng. Trước năm hai tuổi, ông cũng giống như thời niên thiếu của Hồng Tú Toàn, Hồ Truyện (cha của Hồ Thích), Khang Hữu Vi, lận đận trường thi; thi nhiều lần không đỗ, có thể nói là một thiếu niên sa cơ lỡ vận. Nhưng sau khi tòng quân năm hai tuổi, đúng lúc Triều Tiên có nhiều biến cố. Năm sau, ông đi theo "Khánh quân" của Ngô Trường Khánh, vượt biển sang Đông viện trợ Triều Tiên, nhanh chóng nổi bật. Chưa đầy ba mươi tuổi, ông đã trở thành quan chức phụ trách cao nhất do triều đình nhà Thanh phái trúphải sang Triều Tiên. Chiến tranh Giáp Ngọ bùng nổ, họ Viên ngầm quay về Thiên Tân, may mắn thoát khỏi sự truy sát của người lợn lùn Nhật Bản. Sau chiến tranh Giáp Ngọ, Viên vì có tiếng "hiểu biết binh sự" nên được Lý Hồng Chương cử đi Tiểu Trạm luyện binh, thế mà lại luyện ra được một "Tân kiến lục quân" hiện đại nhất Trung Quốc lúc bấy giờ. Đội vũ trang nhỏ bé bảy nghìn người này của ông, trong tranh chấp giữa đế và hậu tại Chính biến Mậu Tuất (1898), đã được phái Duy tân của phe Đế đảng để mắt tới, muốn lợi dụng để trừ khử phe Hậu, nhưng bị Viên ngầm từ chối. Do đó "Biến pháp" thất bại, Quang Tự bị giam cầm, Lục quân tử bị giết, Viên cũng vì bội bạc phái Duy tân mà mang tiếng xấu phá hoại biến pháp.
Loạn Nghĩa Hòa Đoàn năm Canh Tý (1900) bùng phát đột ngột. Cuối năm trước, Viên phụng chiếu đem tân quân Tiểu Trạm tới Tế Nam, kế nhiệm người Mãn là Dục Hiền làm Tuần phủ Sơn Đông. Dục Hiền là kẻ xướng suất tổ chức huấn luyện nghĩa quân để "Phù Thanh diệt Dương". Không được người phương Tây dung dung nạp; nên bị đổi đi Sơn Tây. Viên sau khi nhậm chức liền làm trái lại những gì Dục Hiền đã làm, đàn áp dã man lực lượng Nghĩa Hòa Đoàn. Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn bèn từ Sơn Đông tràn vào Trực Lệ (nay là tỉnh Hà Bắc), cuối cùng lại được Từ Hi Thái hậu và tôn thất hoàng tộc trẻ tuổi tiếp nhận, rốt cuộc gây ra đại họa "Liên quân tám nước". Trong trận tai họa quốc gia này, Viên Thế Khải cũng là nhân vật then chốt có tiếng tăm bị hủy hoại nhiều hơn là khen ngợi. Bị các nhà sử học hiện đại chê trách, cho đến nay vẫn chưa được minh oan.
Sau Liên quân tám nước, Lý Hồng Chương vì lao lực mà bệnh chết, hết sức đề cử Viên Thế Khải kế nhiệm làm "Tổng đốc Trực Lệ, Bắc dương Đại thần", trên thực tế chính là Tể tướng của đại Thanh đế quốc lúc bấy giờ. Lúc này họ Viên bốn mươi hai tuổi, đang độ tráng niên. Mà sau đại loạn, trăm việc phải làm lại từ đầu. Từ Hi Thái hậu với thân phận già nua bệnh tật, đi một con người bớt một dại khôn, cũng tự giác thấy triều chínhchính cần thiết phải cải chế biến pháp. Viên thị dưới sự tín nhiệm của Thái hậu, càng trở thành trọng tâm của Tân chính cuối đời nhà Thanh. — Đáng tiếc là Thế Khải thời Mậu Tuất bị phe mới của Đế đảng đố kỵ quá sâu, thường xuyên bị gây khó dễ. Tháng mười một năm 1908, Quang Tự đế và Từ Hi Thái hậu lần lượt qua đời trong vòng một tuần. Phổ Nghi lên ngôi, em trai Quang Tự là Nhiếp chính vương Tải Lễ giám quốc, tìm mọi cách trả báo thù Viên Thế Khải, muốn đẩy ông vào chỗ chết. Thế Khải tuy may mắn thoát nạn, nhưng chẳng bao lâu sau lại phụng chỉ cách chức về quê, trở thành một "cán bộ cao cấp nghỉ hưu". Thế nhưng trong triều từ đó cũng không có ai kế thừa nữa.
Lúc này họ Viên đã năm mươi tuổi, tinh lực vẫn còn sung mãn, mà nắm giữ đại quyền quân chính đã lâu, cánh đủ lông đủ cánh. Tuy bị ép nghỉ hưu về quê, nhưng trong nước một khi có biến loạn, phe phái của ông tất yếu sẽ cuộn đất quay lại, người thời đó đều có thể dự đoán được. Quả nhiên "nghỉ hưu" chưa đầy ba năm, một tiếng súng vang lên trong thành Vũ Xương, Cách mạng Tân Hô bùng nổ, đám tôn thất người Mãn trên đỉnh Chuyên không thể ứng phó nổi; vị "ông già câu cá sông Hoàn" này thu lại cần câu, nắm lại cán súng, liền tái nắm chính quyền. — Đây chính là sơ lược về học lịch và kinh nghiệm trước "Cách mạng Tân Hợi" của vị Viên Thế Khải sau này trở thành "Đại tổng thống chính thức đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc".
Một nhân vật chính trị có sức ảnh hưởng trọng đại, các nhân tố thành bại trong cả đời ông rất phức tạp. Chúng ta nhìn "Viên Thế Khải trước thời Tân Hợi", ông vốn là một thiếu niên "lận đận trường thi", thế mà chỉ trong vỏn vẹn hai mươi năm đã vọt lên làm Tể tướng của Đại Thanh đế quốc, không thể không nói là thuận buồm xuôi gió. Nguyên nhân dẫn đến điều đó, tuy các nhà sử học và nhà tiểu sử học mỗi người nói một phách, nhưng đại thể họ cũng có điểm chung ngôn ngữ nhất định, đó chính là Viên lão tứ cơ bản không phải là một thứ tốt. Nhân chi sơ, tính bản ác. Các nhà sử học đảng của cả hai đảng Quốc, Cộng cũng từ đó mà miêu tả lão Viên thành một kẻ xấu xa còn xấu hơn cả Tào Tháo. Tác giả do bối cảnh gia đình (nói chi tiết ở mục sau), tiếp xúc với các loại sử liệu về họ Viên, bao gồm cả "lời đồn đường phố", tính đến nay cũng đã sáu, bảy mươi năm rồi. Những năm đầu do ảnh hưởng của các sử liệu khác nhau, cách nhìn về họ Viên cũng thỉnh thoảng trồi sụt. — Đại khái là trước mười tuổi đi! Tôi đã nghe một câu chuyện về việc Viên xem kịch rõ ràng do người ngoài bịa ra. Tin là thật, mà căm ghét "Viên Thế Khải" đến tận xương tủy.
Câu chuyện đó là: Lần nọ Viên xem kịch Kinh tuyến 《Đặc phóng Tào》. Khi Tào Tháo thốt ra câu "Thà ta phụ người, chứ đừng để người phụ ta!", Viên Thế Khải lắc đầu nói, Tào Tháo thật quá vô dụng. Nếu lúc đó ông ta đem ân nhân Trần Cung đã cứu mạng mình hai lần ra giết luôn, thì câu nói ác khẩu này sao có thể lưu truyền muôn thuở chứ, tôi nhớ gã nghiện nha phiến kể câu chuyện đó, còn nói đùa rằng, Viên Thế Khải cũng quá vô dụng. Đã có ý này rồi, lúc xem kịch lại hà tất phải thốt lên cơ chứ? Ông ta không thốt lên, thì lại có ai biết ông ta "còn xấu hơn cả Tào Tháo" chứ? — Câu chuyện này vừa ra, tiếng cười của cả nhà ông già chấn động cả trời. Tôi khi ấy là một đứa trẻ ngồi ở góc nhà, vậy mà cũng nghe hiểu câu chuyện đó, lại còn cười theo, tình huống đó đến nay vẫn không quên. — Sau này tôi lớn lên, mới dần dần hiểu ra, câu chuyện động lòng người này hẳn là do những người nói chuyện cười bịịa ra, thế nhưng đối với những "việc ác" có thật khác của Viên Thế Khải, như thuở nhỏ là một công tử bột, không chịu đọc sách; trung niên là quan lại phong kiến, bán rẻ "biến pháp", "đàn áp khởi nghĩa nông dân"; tuổi già lại càng xấu đến cùng cực, "phản bội Dân Quốc, mưu đồ đế chế" v.v., tôi cũng cho rằng đều là những vết nhơ ác ôn rành rành, "tội không thể dung tha".
Niềm tin này của tôi, mãi đến thời kỳ kháng chiến đọc lịch sử trên Sa Bình Bá mới lần đầu tiên dao động. Thầy Quách Đình Dĩ nói trong lớp rằng, Viên Thế Khải ở Triều Tiên mười hai năm là hành vi của một chí sĩ yêu nước. "Viên Thế Khải hóa ra cũng từng làm 'chí sĩ yêu nước' ư?" Điều này đối với tôi là một sự khai sáng nho nhỏ. Sau này bái ơn môn hạ của thầy Hồ Thích, thầy luôn miệng bảo tôi phải "hoài nghi ở chỗ không hoài nghi". "Hoài nghi ở chỗ không hoài nghi", đó chính là một sự chấn động về mặt kinh nghiệm trí tuệ. Đến tuổi già, tiếp xúc với nhiều người hơn, sự phát triển của lịch sử Trung Quốc cận hiện đại cũng dần có vết tích để lần theo. Bàn về lịch sử bàn về chính trị, vốn không dám tự khoe là vô cùng khách quan. Thế nhưng không ham muốn thì sẽ cứng cỏi: tâm bình khí hòa, thì thường tự răn mình như vậy. Hôm nay khai quật lại sử truyện về họ Viên, chỉ dám dùng những lời lẽ tâm bình khí hòa, để thỉnh giáo những độc giả tâm bình khí hòa mà thôi. — Xin hãy bắt đầu từ gia thế và thuở nhỏ của Viên Thế Khải trước đã. Nhưng do giới hạn về độ dài, chỉ bàn những điểm đáng bàn đáng nghị, không nói đến các chi tiết khác. Độc giả hiền minh, dù là chê trách hay thông cảm cho tôi, đều mong lúc nào cũng chỉ giáo.
2.1 Trò chuyện về chế độ gia tộc truyền thống của chúng ta
Trong Trung Quốc truyền thống, bối cảnh gia tộc có sức ảnh hưởng quyết định đến hành vi chính trị của một quan lại. Nhưng gia tộc rốt cuộc là cái quái gì? Định bụng đứng từ góc độ sử học vĩ mô, không dám tự lượng sức mình, lược giải một chút.
Giáo sư Hứa Lãng Quang, nhà dân tộc học người Mỹ gốc Hoa, từng dùng ba danh từ tiếng Anh bắt đầu bằng chữ C: clan (gia tộc), club (câu lạc bộ xã hội) và caste (chế độ giai cấp Ấn Độ), để khái quát ba cấu trúc xã hội hoàn toàn khác biệt của Trung Quốc, Mỹ và Ấn Độ. Tác giả sống lâu năm ở New York - nơi đặt trụ sở Liên Hợp Quốc, cũng từng tham gia công việc ở Ấn Độ, rồi quay lại nhìn ngắm tổ quốc. Đọc lướt qua sách của họ Hứa, quả thực là tâm đắc vô cùng.
Tổ quốc của chúng ta, thực chất là một "thể thống văn hóa" (culture entity) độc đáo giữa muôn dân tộc trên thế giới. Bàn về hình thức tổ chức xã hội chính trị truyền thống của nó, thì là quốc gia mạnh hơn xã hội; là một đại đế quốc nông nghiệp với các tầng lớp quan chức nghề nghiệp kiềm chế lẫn nhau, bàn về giai cấp xã hội thì lấy sĩ nông công thương làm thứ tự; mà xuyên suốt ở giữa, thì chính là gia tộc - cấu trúc cơ bản của nó.
Sự nghiêm ngặt của tổ chức gia tộc trong Trung Quốc truyền thống, trách nhiệm xã hội mà nó gánh vác lớn lao đến nhường nào, thực sự vượt xa câu lạc bộ xã hội (bao gồm cả nhà thờ) của Mỹ, không thể nào so sánh được. Mà giai cấp xã hội sĩ nông công thương của Trung Quốc thì có thể chuyển dịch lẫn nhau (transferable), không giống như sự kiên cố nghiêm ngặt của giai cấp Ấn Độ, tuyệt đối không cho phép vượt qua nhau.
Trung Quốc truyền thống đã là "quốc gia" (state) độc tôn, thì việc gia nhập tầng lớp quản lý của quốc gia, nói cách khác, cũng chính là "vào triều làm quan", liền trở thành nghề nghiệp tôn quý nhất mà toàn thể nhân dân cùng hướng tới. Một khi đã làm quan, thì danh lợi, quyền thế, vinh quang, trí tuệ, vàng bạc, mỹ nhân..., phàm là những gì con người theo đuổi trong thất tình lục dục, bỗng chốc kéo đến. Quan càng lớn, quyền càng nặng, thì bổng lộc càng nhiều. — Cho nên kẻ tiểu nhân làm quan, thì không cần phải giết người cướp của, bắt cóc tống tiền, cướp ngân hàng. Kẻ trộm cần gì, quan đều có thứ đó. Tục ngữ có câu "Trộm đến như lược, quan đến như dao cạo". Quân tử làm quan, thì chí hướng thánh hiền, cứu thế cứu dân; tấm lòng bồ tát, thành Phật làm tổ, đều có thể cầu lấy ngay trong quan phủ. Không cần phải xả thân khổ luyện, ăn chay ngồi thiền vậy.
Thế nhưng đạo lý làm quan, chỉ có kẻ sĩ mới làm được. Nông công thương không tham gia vào đó. Tục ngữ nói "Ngành nghề nào cũng có trạng nguyên", đó là lời tự an ủi của gã A Q đất "Trung Nguyên cũ" mà thôi. — Ngành nghề nào cũng có thể kiếm cơm ăn, vốn dĩ là sự thật. — Còn "ra trạng nguyên" thì chỉ có ngành này thôi, ngành ngoài thì không có. — Phàm những điều này đều đủ khiến cho các nhà quan sát đến từ nền văn hóa khác phải trợn tròn mắt kinh ngạc, cho rằng đất nước Trung Hoa cổ quái là một "xã hội một lối thoát" (a single-career society). Anh hùng ức vạn, lối thoát chỉ có một, thì sự kẹt xe dữ dội trên con đường này, có thể tưởng tượng được rồi.
Cho nên con đường làm quan tuy hẹp, nhưng chiếu theo luật trừ một số ít xướng ca tiện dân, và những người mà cận đại gọi là "người bị hạn chế năng lực hành vi", thì ai ai cũng có thể bước vào. Đó chính là khoa cử nghìn năm không bỏ kể từ sau Đường Thái Tông (sinh năm 599 công nguyên, tại vị từ 626 đến 649). Thế nhưng đi thi khoa cử thì chẳng khác nào mua "vé số" vậy. Người mua hàng vạn, người trúng chỉ một. Chúng ta đọc sử ngìn năm, những thứ tam công cửu khanh, châu mục thứ sử, phong đại đại thần, trung hưng danh thần... được tiếp cận trong sách vở, cái gọi là "xuất thân chính đồ khoa giáp", cũng đều là những "chủ nhân trúng vé số" cả thôi. Chỉ là đọc truyện nhiều rồi, thì thấy quái lạ cũng thành quen mà thôi. Còn như hoàn cảnh thảm thương của những "kẻ mất vé số" thì rất ít người chú ý tới.
Nhớ lại nhiều năm trước đọc bản tiếng Trung của tạp chí 《Đọc giả văn trích》, có bài viết rằng: "Này huynh đài, anh là một kỳ tích". Kỳ tích gì thế? Hóa ra con người khi kết thai trong cơ thể mẹ, trứng chỉ có một, mà lao vào tranh giành, tranh thủ giao phối với nó, thì tinh trùng có tới mười vạn. Hồ Thích có thơ rằng: "Tuy một người được giải, nhưng ai nấy đều tranh trước." Mười vạn lấy một, mới biến ra ông anh: vậy ông anh há chẳng phải là kỳ tích sao? Cho nên những đại quan quý nhân, danh công cự khanh xuất thân chính đồ khoa giáp kể trên, cũng đều là "kiểu ông anh", là "kỳ tích" dưới chế độ khoa cử.
Hơn nữa, trong đất nước cổ xưa của chúng ta chẳng có cái gọi là "nhân quyền" đâu. Cho nên những "đại sư quốc học" học phú ngũ xa của chúng ta, và vĩ đại chèo lái, vĩ đại lãnh đạo Chủ tịch Mao - kẻ đọc nát 《Tư trị thông giám》, 《Hồng lâu mộng》 và 《Kim bình mai》, cũng chẳng biết nhân quyền là gì (xem phần trên). Tại sao vậy? Bởi vì nền tảng của "nhân quyền" là "chủ nghĩa cá nhân" (individualism) của phương Tây; mà chủ nghĩa cá nhân lại là nền tảng của "chính trị dân chủ" phương Tây. Thế nhưng chủ nghĩa cá nhân lo cho bản thân lại là phẩm đức mà người phương Đông chúng ta (nhất là người Trung Quốc) coi thường nhất. — Đơn vị cơ sở xã hội của Trung Quốc truyền thống không phải là cá nhân, mà là gia tộc do vị giáo sư họ Hứa nhắc đến ở trên.
Gia tộc của Trung Quốc vốn giống như một bầy ong, trên có ong chúa (Chủ tịch Mao, Tổng thống Tưởng, Thái thượng hoàng Đặng), dưới có bầy ong (ong thợ, ong đực). Mọi người cùng ăn chung nồi cơm lớn, phân công hợp tác, cùng tồn tại cùng vinh quang. Một gia tộc truyền thống thường là một thế giới Đại Đồng theo chủ nghĩa cộng sản thu nhỏ "năm đời cùng ở" dưới chủ nghĩa Khổng Mạnh. "Cộng sản" chơi lâu rồi, các anh em trong các phòng cãi nhau, muốn "chia nhà", muốn "chia tài sản". Các "phòng nhỏ" được tách ra, vẫn là một "chủ nghĩa cộng sản thu nhỏ" ăn chung nồi cơm lớn!
Hiện tượng kỳ quái này, không chỉ những độc giả tiểu thuyết đọc thành thạo 《Hồng lâu mộng》, 《Kim bình mai》, 《Kim phấn thế gia》 biết rõ chi tiết. Thậm chí là rất nhiều "người Trung Quốc" già dặn như tác giả, đều là những người từng tự mình trải qua. — Tôi nghĩ hiện tượng này, trong gia tộc của "người Đài Loan" ngày nay có lẽ cũng vẫn còn. Mười mấy năm trước, một hộ gia đình họ Trương mà tác giả từng phỏng vấn ở huyện Đào Viên, chính là như vậy. Đại lục chắc chắn cũng vẫn còn. Ít nhất là gia đình thứ nhất, hộ đầu bảng là gia đình họ Đặng, nghe nói chính là như vậy. Người ăn chung nồi cơm lớn của gia đình ông Đặng Tiểu Bình, ngoài người hầu ra, chủ nhân lớn nhỏ cũng có hơn chục người rồi. Còn như họ đã chia nhà, chia tài sản hay chưa, thì phải đi hỏi người đồng nghiệp trong ngành sử học của tôi là Mao Mao. — Bất kể Mao Mao nói thế nào, phủ họ Đặng ở Bắc Kinh ngày nay, chính là hiện tượng quá độ sống động trong "lịch sử chuyển hình gia tộc" của Trung Quốc cận đại. Ông tổ nội thương con thương cháu, vẫn còn vương vấn cái "phúc" "năm đời cùng ở" đó. (Tiên tổng thống Tưởng cũng như vậy thôi. Cho nên ông ấy chiều hư đứa cháu đích tôn này đến đứa cháu đích tôn khác; cháu thứ không được gặp ông nội, thì ngược lại lại biến thành đứa con trai cháu ngoan ngoãn.) — Tôi đảm bảo, ông tổ họ Đặng chết rồi, trừ những bữa tiệc gia đình ra, nhà họ Đặng bọn họ sẽ không bao giờ có chuyện hơn chục người cùng ăn chung một nồi cơm lớn nữa. Nước của Tam Hiệp lịch sử, không thể chảy ngược được đâu. Thế nhưng nhân luân truyền thống phương Đông tôn sư trọng đạo, anh em nhường nhịn nhau này, là sẽ không bị mai một. Nó sẽ là một trong những mặt hàng chủ lực của Trung Quốc "thời kỳ hậu phương Tây" chế tạo sản phẩm, xuất khẩu rồi bán trở lại nội địa.
2.2 Gia đình quan lại của Trung Nguyên cũ
Trước khi thử viết hai nghìn từ phát triển ý cho mục trước, tại hạ từng cắn bút ngẩn ngơ rất lâu, vốn định xóa bỏ cả mục nhưng cuối cùng vẫn không thực hiện, ấy là vì chế độ gia tộc truyền thống của Trung Quốc nay đã nhanh chóng chuyển hình. Đối với "người Trung Quốc", "người ngoại tỉnh" hoặc "cựu chiến binh vinh mân" thế hệ trước, nó vốn dĩ là chuyện cũ nhắc lại nhiều lần. Còn đối với "người Đài Loan", "người bản địa", "con em thôn Gia quyến" và "hoa kiều hải ngoại" từ bốn mươi, năm mươi tuổi trở xuống, thậm chí là đồng bào đại lục sau cách mạng văn hóa, thì nó cũng giống như "bím tóc", "chân giò" vậy, đều là đồ cổ. — Không làm rõ những món đồ cổ này, thì chúng ta đối với món đồ cổ mang tên "Viên Thế Khải" này, cũng không dễ dàng gì giảng giải cho rõ ràng được.
Viên Thế Khải chính là sinh ra ở huyện Hạng Thành, phía đông nam tỉnh Hà Nam, trong một gia tộc lớn nhiều đời làm nghề nông, quần tụ sinh sống theo tộc. Trong loại gia tộc này, việc bồi dưỡng con cháu thông minh, đọc sách tiến thủ, tham gia khoa cử, hầu như là sự nghiệp của cả họ. Thỉnh thoảng có đứa con cháu giỏi giang, "liên khoa cập đệ", "làm quan làm phủ" (lời ca trống Phượng Dương), hắn không những có thể rạng rỡ tổ tông; mà cả họ lớn nhỏ, đều có thể chó gà lên trời. — Chỉ là cái "giải vé số" này không dễ gì có được. Thi hoài không đỗ, vốn là chuyện thường tình của kẻ sĩ; có tên trên bảng, đó mới là chuyện bất ngờ.
Gia đình họ Đường ở Đài Loan nơi tác giả sinh ra, ngày nay đã có đường cao tốc đi qua, cách Hạng Thành chỉ nửa ngày lái xe. Cho nên vào thời nhà Thanh, các điều kiện khách quan về kinh tế và văn hóa ở Hoài Bắc và Dự Đông hầu như là hoàn toàn giống nhau. Chỉ là những người nông dân già họ Đường đáng thương của chúng ta. Trải qua hai trăm sáu mươi tám năm đại Thanh, chỉ thi đậu nổi một tú tài. — Tục ngữ có câu: "Tú tài nghèo, cử nhân giàu." Thi đỗ tú tài, thì tích sự gì? Sự thảm hại của nó có thể tưởng tượng được. Không phục rồi đi làm phản, trong lịch sử Trung Quốc, cũng chỉ có vài người hiếm hoi như Trương Hiến Trung, Hồng Tú Toàn mà thôi. Hàng triệu người "thi mãi không đỗ" khác, bao gồm cả tổ tông của tôi và cha của Tác Quốc Phi là Tăng Lân Thư (lão nhân gia ông ta cũng thi suốt hai mươi lăm năm không đỗ), đành phải "chấp nhận số phận" vậy.
Gia tộc họ Viên ở Hạng Thành, hiển nhiên ban đầu cũng là thi mãi không đỗ, cho nên suốt mấy trăm năm vô danh tiểu tốt. — Không ngờ đến thời nhà Thanh mạt đời Đạo Quang (1821~1850), phủ họ Viên của họ bỗng nhiên như một tiếng sấm mùa xuân, đại "phát" lên. Cha con tiến sĩ, anh em cử nhân, đồng thời kéo đến. Chỉ chưa đầy mấy năm, họ Viên Hạng Thành thoắt cái từ dân thường ruộng vườn, biến thành thế gia quan lại.
Nay xin sao chép lại bảng thế hệ của gia đình họ Viên thời kỳ đầu do Giáo sư Hầu Nghi Kiệt làm như sau. Lại phân tích nó bằng thuyết của các nhà.
Trong bảng này, chúng ta có thể thấy Viên Diệu Đông (có lẽ là một ông đồ già thi mãi không đỗ, thầy đồ làng ba nhà, cái gọi là "đời đời làm nghề nho" vậy. Xem 《Dung Am đệ tử ký》), ông có bốn con trai: Thụ Tam (1801~?), Giáp Tam (1806~1863), Phượng Tam, Trọng Tam. Ba người con trai trưởng đều là tú tài thi đỗ hoặc quyên (bỏ tiền mua). Thế nhưng con trai thứ là Giáp Tam lại "liên khoa cập đệ". Sau khi đậu cử nhân, lại đỗ tiến sĩ ở Bắc Kinh vào năm Đạo Quang thứ mười lăm (1835, bốn năm trước chiến tranh Nha phiến). — Cử nhân và tiến sĩ thì không thể dùng tiền để "quyên" được.
Giáp Tam cùng thời với Tăng Quốc Phàn (1811~1872; tiến sĩ năm 1838); lớn hơn Lý Hồng Chương (1823~1901; tiến sĩ năm 1847) một chút. Trong khoảng thời gian ông học thành tài rồi làm quan, đúng lúc nội ưu ngoại hoạn cuối đời nhà Thanh nghiêm trọng nhất; cũng là thời kỳ văn thần người Hán bắt đầu mang binh học võ. Cho nên Giáp Tam cũng giống như Tăng, Lý, trong các chiến dịch tiêu quân Thái Bình và quân Niệm, đều là đại thần văn chức có công lao chiến trận. Giáp Tam bất hạnh chỉ sống được năm mươi bảy tuổi. Khi vận quan đang rực rỡ, thì lăn ra chết.
Con trai trưởng của Giáp Tam là Bảo Hằng (1826~1878) cũng là tiến sĩ năm Đạo Quang thứ ba mươi (1850). Muộn hơn tiến sĩ của cha mình mười lăm năm: muộn hơn tiến sĩ của Lý Hồng Chương ba năm. Ông cùng thời với Lý; vẫn luôn là trợ thủ đắc lực của Lý Hồng Chương. Văn sự võ công cũng lừng lẫy một thời. Đáng tiếc là Viên Bảo Hằng cũng chỉ sống được năm mươi hai tuổi là chết. Bởi vì ông từng làm Biên tu Hàn lâm viện, cho nên sau khi chết được ban thụy hiệu "Văn Thành". Trong quán lệ ban tặng thụy pháp của nhà Thanh, chỉ có sinh thời từng vào Hàn viện, sau khi chết mới được ban chữ "Văn", như Tăng Văn Chính, Lý Văn Trung, Trương Văn Tương... vân vân. Bảo Hằng được thụy là "Văn Thành", cha của ông chỉ thụy là "Đoan Mẫn", đúng là con hơn cha vậy.
Ngoài hai cha con tiến sĩ của họ ra, con trai út của Thụ Tam là Bảo Khánh [1829~1873; chỗ này Phòng Triệu Hưng trong 《Thanh đại nhân vật truyện lược》 (Eminent Chinese of the Ching Period, 1844~1912. Edited by Arthur W. Hummel. Washington: Government Printing Office, 1943~44. 2 vol. Reprinted by SMC Publishing Inc. Taipei, 1991.) nhầm thành 1893, nay nhân tiện đính chính lại], và con trai thứ của Giáp Tam là Bảo Linh (1841~1889) cũng đồng thời là cử nhân. Điều này khiến tôi nhớ đến những tổ tông nhà họ Đường của tôi, thi suốt hai trăm năm, chỉ thi ra được tú tài; hai bên so với nhau, thật sự không thể dùng dặm đường mà tính được. Thế nhưng nghe nói các tổ tông nhà họ Đường của tôi vào đầu nhà Thanh cũng có lý do thoái thác, nói họ là người tị nạn, "nghĩa không ăn lúa nhà Chu". Di dân nhà Minh, khinh không thèm màng đến "công danh" của quân giặc Mãn. — Không có truyền thống thi cử đỗ đạt, đợi đến khi con cháu muốn mưu cầu chút công danh, thì thi không đỗ nữa.
Thế nhưng ngoài chút tâm lý "nho xanh" này ra, tôi vẫn phải nhắc nhở độc giả, thời kỳ chế độ đế vương thi khoa cử, vốn dĩ là mười thi chín không đỗ đấy! — Thi mãi không đỗ, mới là hiện tượng bình thường; đỗ rồi mới là phản thường và bất ngờ. Không phải sách đọc giỏi, thì nhất định có thể đỗ cao. Người thời đó gọi là: "Nhất mệnh nhị vận tam phong thủy, tứ tích âm công ngũ độc thư." — Đọc sách chỉ là mục cuối cùng trong năm yếu tố của khoa cử.
Bọn họ hàng "Tam" và hàng "Bảo" của nhà họ Viên, vào thời Đạo Quang, bỗng nhiên xuất hiện "cha con tiến sĩ, anh em cử nhân", rực rỡ một dạo. Đến hàng "Thế", hàng "Khắc", thì lại một lần nữa tụt dốc, lại thi mãi không đỗ.
Hơn nữa, hai thế hệ tổ tông đắc ý nhất của phủ họ Viên là hai anh em Giáp Tam và Bảo Hằng, tuổi thọ đều rất ngắn; Giáp Tam coi như thọ nhất, chỉ sống được năm mươi bảy tuổi. Sau đó Bảo Hằng năm mươi hai; Bảo Linh bốn mươi tám; còn Bảo Khánh chỉ sống được bốn mươi bốn tuổi. Có thể nói đều chết ở tuổi tráng niên. Nghe nói những anh em hàng "Bảo" khác của phủ họ Viên, tuổi thọ cũng đều không dài.
Truyền thống đoản mệnh này của nhà họ Viên, đối với Viên Thế Khải sau này làm tổng thống, cũng là một áp lực rất lớn trong cuộc đời ông — vào năm ông năm mươi lăm, năm mươi sáu tuổi (thời điểm đấu tranh kịch liệt nhất với Quốc dân đảng và Nhật Bản), ông sợ rằng ngày tháng còn lại của bản thân cũng không còn nhiều nữa.
Ông đã có nỗi sợ hãi mê tín này, "đại thái tử" Viên Khắc Đinh, lấy mê tín trị mê tín bèn thừa cơ lọt vào. Khắc Đinh cho rằng chỉ có làm hoàng đế, làm "chân mệnh thiên tử", mới có thể vượt qua cửa ải sinh tử trong truyền thống gia tộc nhà họ Viên bọn họ — Hạng Thành rõ ràng là nghe theo lời của thái tử; sa vào "mưu kế của thái tử lừa cha lỡ nước", mới quyết tâm xưng đế. — Đây cũng là một trong những ví dụ thực tế về việc "mê tín ảnh hưởng chính trị" trong lịch sử Dân Quốc vậy!
Bạn tôi ơi, bạn cho rằng trong các lãnh tụ Dân Quốc, chỉ có mỗi một mình Viên Thế Khải giở trò đế vương phongنائe mới mê tín thôi sao, không phải đâu. Vị đại tổng thống Cơ đốc giáo Tưởng Trung Chính, vị đại đạo sư vô thần Mao Trạch Đông, mức độ mê tín của họ đều không kém gì Viên hoàng đế; không dính dáng đến chủ đề chính, nên không cần nói nhiều nữa.
Dưới đây xin nói tiếp về con người Viên Thế Khải.
2.3 Viên Thế Khải và các anh em của ông
Viên Thế Khải là cháu nội của Thụ Tam - anh cả của Viên Giáp Tam; là con trai thứ tư của Viên Bảo Trung - con trai trưởng của Thụ Tam (xem bảng trên), ông sinh ra đúng lúc gia tộc họ Viên đánh thắng một trận tiểu thắng trong nội chiến, cho nên đặt tên là Thế Khải. Bảo Trung cũng là một tú tài, sinh được sáu người con. Thế Khải xếp thứ tư, tục gọi là "Viên lão tứ". Trong sáu anh em này, chỉ có một mình Thế Đôn là do nguyên phối của Bảo Trung sinh ra. Số còn lại đều là con của trắc thất (vợ lẽ), trong xã hội tông pháp truyền thống gọi là "thứ xuất". — Viên Thế Khải lúc về già muốn chôn cất mẹ ruột là Lưu thị (đã được phong làm vợ chính) vào "huyệt chính" ở phần mộ tổ tiên Hạng Thành, nhưng bị Thế Đôn kiên quyết từ chối. Các nhà sử học thông thường bao gồm vợ chồng Phòng Triệu Hưng cùng với Trần Chí Nhượng, Hầu Nghi Kiệt, đều cho rằng đó là "tranh chấp đích thứ" trong lễ giáo tông pháp, thực ra không phải vậy. Việc anh em họ bất hòa, vốn dĩ bắt nguồn từ thời kỳ loạn nghĩa hòa đoàn. Trước năm Canh Tý, Thế Đôn vốn nhậm chức "Doanh quan" ở Sơn Đông, bổ dụng làm Tri phủ, tiền đồ rộng mở. Đợi đến khi Thế Khải ra làm Tuần phủ Sơn Đông, hậu thuẫn vững chắc. Chính địch căm hận nhưng không thể làm gì được ông, bèn giết gà dọa khỉ, lấy người anh cả ra làm vật tế thần, nói rằng Thế Đôn dung túng quân lính quấy nhiễu dân chúng, bèn giáng chức cách chức, và trục xuất về quê. Con đường làm quan rộng mở của Thế Đôn bỗng chốc bị vùi dập. Việc này rõ ràng là Thế Đôn chịu tội thay em, mà Thế Khải không những không ra tay che chở, hoặc không loại trừ nghi ngờ bỏ anh để tự bảo toàn. Khiến cho Thế Đôn ôm hận trong lòng. Đợi đến khi Thế Khải về quê chôn cất mẹ, bèn lấy cớ mẹ lẽ không nên vào huyệt chính, mà gây khó dễ để trút giận tư thù. Tức giận đến mức Viên Thế Khải cũng vĩnh viễn không bao giờ quay về quê cũ Hạng Thành nữa, mà ngụ cư ở Chương Đức (nay là thành phố An Dương) — đây là chuyện về sau. Do các nhà có nhiều ý kiến khác nhau, cho nên nay nhân tiện bổ sung một bút mực vào đây thôi.
Cha đẻ của Thế Khải là Viên Bảo Trung có lẽ chỉ là một "tú tài do quyên tiền". Thế nhưng sinh được sáu người con; mà em ruột của ông ta là "Cử nhân đại lão gia" Viên Bảo Khánh, thì tuổi đã tiệm cận bất hoặc (bốn mươi), bên gối vẫn trống không. Trải qua cuộc họp gia đình, bèn đem cậu bé bảy tuổi Viên Thế Khải cho người chú ruột Bảo Khánh làm con thừa tự. [Xem bài viết của họ Phòng dẫn trên và do Đại học Columbia biên soạn 《Dân quốc nhân vật truyện》, quyển 4, trang 79 (Biographical Dictionary of Republican China. Edited by Howard L. Boorman & Richard G. Howard, in 4 vols. New York & London, Columbia University Press, 1971. vol. 4 p. 79.)] Từ đó ông đi theo cuộc sống của cha nuôi và mẹ nuôi họ Ngưu. Hoạn đồ của Bảo Khánh không tồi, cuối cùng làm quan đến chức "Diêm pháp đạo" Giang Tô nhậm chức ở Nam Kinh. Đạo viên là quan chức địa phương cao cấp trên cả phủ và huyện lúc bấy giờ. Cậu bé Thế Khải nhỏ tuổi theo cha trên nhiệm sở, đương nhiên cũng là một vị "cậu ấm" nhỏ tôn quý. Bất hạnh thay Viên Đạo đài chẳng bao lâu sau thì mất tại nhiệm sở, Thế Khải mới tròn mười bốn tuổi đành phải phụng dưỡng mẹ quay về quê cũ. Năm sau, cha đẻ của Thế Khải là Viên Bảo Trung lại bệnh chết tại dinh cơ cũ ở Hạng Thành. Hai năm liên tiếp có tang, hai mẹ con Thế Khải chính là cảnh quả phụ cô nhi chính hiệu. — Hai đời hiển quan của họ Viên, tuy không phải lo áo cơm, nhưng bọn họ suy cho cùng vẫn là những đứa trẻ mồ côi góa phụ. Các nhà văn phản Viên, luôn thích nói Thế Khải thuở nhỏ ở Nam Kinh chè chén say sưa. Thật ra đứa trẻ mười ba, mười bốn tuổi, thì có thể chè chén say sưa ở đâu được chứ?
Viên Thế Khải sau tuổi mười lăm, thì được người chú họ là Hàn lâm Viên Bảo Hằng đón lên Bắc Kinh, tiếp tục "học thuật thiếp quát" (luyện viết văn bát cổ) trong giáo dục khoa cử. Sau khi mãn tang "phục khuyết" (ba năm), dưới sự quản giáo nghiêm khắc của người chú họ, ông hiển nhiên mang thân phận "giám sinh" (tú tài mua được) quay về Khai Phong tham gia "hương thí" nhưng trượt. Ba năm sau thi lại, vẫn trượt. — Bản thân Bảo Hằng xuất thân khoa giáp, bèn khuyên bảo cháu trai tiếp tục cố gắng, thế nhưng Thế Khải tự biết cứ lận đận mãi ở trường thi là không ổn, trong khoảng thời gian này, ông đã kết hôn với phu nhân họ Vu, liền vĩnh biệt trường thi, tìm con đường khác.
Người đời sau bàn về họ Viên, mỗi khi nói ông là công tử bột, không chịu học hành, cho nên thi hai lần đều trượt. Tại hạ lại không cho là như vậy. Phàm là khoa cử năm xưa, ai có thể chắc chắn là mình đỗ? Hãy nhìn Khang Hữu Vi lớn hơn Viên một tuổi — danh sĩ Lĩnh Nam, đại nho một đời, văn chương là thầy học của Lương Khải Siêu, không thể nói là đọc sách không chăm chỉ nhỉ! Thế nhưng Khang mưu thi cử nhân, năm lần thi không đỗ, kẹt lại ở trường thi mười rưỡi năm. Có thể coi là vô cùng thảm liệt vậy. Cho nên cuối cùng Thế Khải tòng quân gác bút, chưa hẳn không phải là một quyết định minh mẫn.
2.4 Khâm sai nhỏ, giám quốc lớn, kháng Nhật phản đế
Mục trước đã nói rồi, thời kỳ khoa cử năm xưa, sĩ tử trượt thi là chuyện đau đớn không nói nên lời. Tiền đồ của bản thân mờ mịt chưa nói tới, sự thất vọng của cả nhà thậm chí là cả họ, mới khiến cho người ta đau khổ muốn chết!
2.5 Cởi trần, cầm đại đao, trèo tường
2.6 Truyền thống: Trung thần cuối cùng của "quan hệ tông phiên"
2.7 "Vui vì lợi" hóa ra lại thành đạo đức quốc tế
Kỳ thực triết học chính trị cổ đại phương Tây cũng không phải như vậy. Thứ triết học đồi bại này thực chất bắt đầu từ Niccolò Machiavelli (1496–1527), kẻ đại diện sau khi chủ nghĩa đế quốc da trắng trỗi dậy. Khi "chủ nghĩa Machiavelli" ra đời, các chính trị gia phương Tây có năng lực đều biến thành Tào Mạnh Đức theo kiểu "Thà ta phụ người, chứ không để người phụ ta" (Tiến sĩ Wilson có lẽ là một vài ngoại lệ ít ỏi).
—— Mao Trạch Đông rất ngưỡng mộ Nixon, chính là vì Nixon luôn miệng nói "lợi ích nước Mỹ", ngược lại lại là một kẻ tiểu nhân chân thành, quang minh chính đại.
—— Kỳ thực Mao công có điều không biết, từ khi triết học của Machiavelli (bao gồm cả Machiavelli và Marx) thịnh hành, sự phân biệt giữa nghĩa và lợi trong đạo đức học đã thay đổi vị trí. Chữ "lợi" mà Mạnh phu tử của chúng ta chán ghét, trong triết học phương Tây hiện đại, đặc biệt là trong chính trị học, từ lâu đã biến thành một "thật ngữ đạo đức" (moral term). Do đó, "bảo vệ lợi ích của chính ngươi" (Protect your own interest), thậm chí bảo vệ lợi ích quốc gia của ngươi, ngược lại đã trở thành tín điều đạo đức cao nhất trong triết học đạo đức.
—— Hôm nay nếu Kant sống lại dưới suối vàng, "thuyết mệnh lệnh tuyệt đối" (categorical imperative) của ông chắc cũng phải có nội dung mới rồi.
2.8 Bốn phương dòm ngó, lá bài tẩy của Triều Tiên
Thứ triết học thực dân và hành vi xâm lược này đã giáng những đòn tàn khốc vào Triều Tiên — một đất nước buổi đầu thời cận đại cũng đang trong giai đoạn chuyển mình chớp nhoáng.
Trước tiên, nó phân hóa triều đình và dân gian Hàn Quốc, khiến họ chia rẽ thành phái bảo thủ, phái duy tân và phái cấp tiến. Các phái lần lượt theo đuổi thân Thanh, thân Nhật, thân Nga, thân Anh-Mỹ-Pháp... ai cũng cho mình là đúng, náo loạn không ngừng — nhưng lại sống gửi ăn nhờ, rất ít khi giành được thế chủ động.
Trong số các thế lực đế quốc đang hổ rình mồi, kẻ có dã tâm lớn nhất và hành động tích cực nhất chính là Nhật Bản. Nhật Bản theo đuổi "chủ nghĩa thực dân" phương Tây đương đại một trăm phần trăm, mục đích và thủ đoạn đại khái là: Trước tiên di cư ồ ạt và mở rộng thương nghiệp, làm từ gốc rễ — khi đó số kiều dân Nhật Bản ở Triều Tiên gấp mười hai lần người gốc Hoa, thương nghiệp đại khái gấp bốn lần thương gia Hoa kiều. Tiếp theo là ồ ạt hậu thuẫn các phái thân Nhật như Kim Ngọc Quân, chớp thời cơ phát động chính quyền biến, tổ chức chính phủ thân Nhật, cắt đứt quan hệ tông chủ giữa Trung Quốc và Triều Tiên. Cuối cùng cấu kết với Pháp, mỗi bên lấy thứ mình cần — Pháp chiếm An Nam, Nhật Bản chiếm Triều Tiên. — Nhưng lúc đó thực lực Nhật Bản chưa đủ. Hai lần nước này phát động chính binh biến đều bị Ngô Trường Khánh kiềm chế nên không thành. Việc Nhật Bản cấu kết với Pháp cũng bị Lý Hồng Chương ngăn chặn. Mặc dù trong "Chiến tranh Trung-Pháp" (1883–1885), Lý đã đánh mất An Nam, nhưng ông lại có thể dùng rợ trị rợ, tận dụng nước Anh để kiềm chế Nhật Bản. Ông nhượng bộ về mặt chủ quyền đối với Thủ tướng Nhật Bản Itō Hirobumi đang thăm Trung Quốc, hứa dành cho Nhật Bản địa vị bình đẳng; nhưng tại chiến trường Triều Tiên, ông lại dốc sức ủng hộ Ngô Ưu, đuổi thế lực Nhật Bản ra khỏi nước phiên thuộc, duy trì quan hệ tông chủ giữa Trung Quốc và Triều Tiên cho đến khi thất bại trong chiến tranh Giáp Ngọ.
Kẻ thứ hai nhòm ngó Triều Tiên chính là nước Nga. Nhưng cũng giống như Nhật Bản, nước này phải đào chân tường Trung Quốc trước, hậu thuẫn thế lực thân Nga thì mới có thể tiến sâu vào trong. Âm mưu này cũng bị "tiểu khâm sứ" của chúng ta phá sản giữa chừng. Chi tiết có thể tham khảo các trước tác vĩ đại của hai vị họ Trần, họ Hô.
Nước Anh lúc này có dã tâm ở Tây Tạng, Cửu Long, các cảng khẩu dọc sông Dương Tử và duyên hải Sơn Đông. Đối với Triều Tiên thì không muốn phá vỡ hiện trạng "quan hệ tông chủ" Trung-Triều. Bởi vì "Triều Tiên là nước thuộc địa của Đại Thanh", xét cho cùng vẫn có lợi cho nước Anh hơn là việc Triều Tiên sa lầy thành thuộc địa của Nhật Bản hay nước Nga. Do đó, dù Công sứ Anh tại Triều Tiên W.G. Aston cho rằng Ngô Ưu quá hống hách nên chủ trương Triều Tiên "độc lập"; nhưng Công sứ Anh tại Trung Quốc Harry S. Parkes — cái tên đế quốc chủ nghĩa lão luyện từng đốt Viên Minh Viên này — lại ngầm hỗ trợ Lý Hồng Chương nhằm ngăn chặn sự cấu kết giữa Pháp và Nhật Bản. Không những thế, ông ta còn khuyến khích Tổng thuế quan Hải quan Trung Quốc người Anh Robert Hart cử một lão già đế quốc chủ nghĩa gốc Đức là P.G. Mollendorff sang Triều Tiên hỗ trợ Ngô Ưu chỉnh đốn thuế vụ Triều Tiên, tăng cường giám sát hải quan. Mang trong mình bối cảnh của hai cường quốc Anh và Đức, lão người German họ Mồ này đã thể hiện ở Triều Tiên sự hống hách và hiệu quả còn lớn hơn cả Ngô Ưu. Do đó triều đình Hàn Quốc thu thuế tăng mạnh, năm nghìn thân binh do Ngô Ưu huấn luyện cũng có quân dung chấn động lớn, đủ khiến sứ thần Nhật và Nga phải nhìn bằng con mắt khác.
Cuối cùng chính là nước Mỹ. Lão Tổng thống Tưởng của chúng ta nói rất hay: "Mỹ cũng là chủ nghĩa đế quốc." Kẻ đế quốc chủ nghĩa trẻ tuổi này, trước tiên muốn thống nhất Bắc Mỹ, coi đó là "thiên mệnh ban ơn" (manifest destiny); kế đó muốn độc chiếm Nam Mỹ, gọi tên là "Chủ nghĩa Monroe" (Monroe Doctrine). Sau nội chiến, tầm mắt dần vươn tới Viễn Đông, cuối cùng đã chiếm đóng Philippines. Trong chuỗi hành vi bành trướng này, cũng xuất hiện không ít kẻ đế quốc chủ nghĩa nhỏ nhặt. Công sứ Mỹ thời Liên quân Anh-Pháp Peter Parker, và Công sứ Mỹ thời Liên quân tám nước Edwin H. Conger, đều là những tên đế quốc chủ nghĩa lão luyện chủ trương chiếm đóng Đài Loan. Sau đó Đài Loan rơi vào tay Nhật Bản chiếm đóng, người Mỹ vô cùng hối hận. — Lúc này nhân vật bị năm đế quốc dòm ngó Triều Tiên cùng chung ghét bỏ chính là Ngô Ưu. Công sứ Mỹ tại Triều Tiên Lucius H. Foote trước nay chưa từng thừa nhận giữa Trung Quốc và Triều Tiên có "quan hệ tông chủ" nào. Do đó, hễ có cơ hội là hắn ta lại chất vấn: "Ngô Ưu là cái thá gì?" Lúc này thái độ của Foote tuyệt đối thân Nhật. Hắn không phải muốn dâng Triều Tiên cho người Nhật làm thuộc địa, mà chủ yếu là chán ghét "người Trung Quốc" tự coi mình là chủ nhân ở Triều Tiên. "Người Trung Quốc ở Triều Tiên là cái thá gì?" Đây mới là yếu tố cơ bản quyết định quan điểm của người Mỹ đối với quan hệ Trung-Triều — tình hình ấy giống hệt như ngày nay, quả thực là "lịch sử thú vị hơn tiểu thuyết". — Trên đây chính là lá bài tẩy khi năm đại đế quốc Nhật, Nga, Anh, Mỹ, Pháp đùa giỡn chính trị quốc tế đế quốc chủ nghĩa trên bán đảo Triều Tiên, mà mục tiêu chung của bọn chúng chỉ có một, chính là đuổi tiểu khâm sứ Ngô Ưu của chúng ta khỏi Triều Tiên.
Cuối cùng xin nói về bản thân quan hệ giữa hai nước Trung-Triều, và ý nghĩa lịch sử của những việc Ngô Ưu đã làm ở Triều Tiên.
2.9 Sự mất mát của một "Ban Định Viễn" thời hiện đại
Đoạn trước đã nói, Ngô Ưu lúc mới đến Triều Tiên chỉ mới hai mươi ba tuổi. Thế nhưng biểu hiện trong hai năm sau đó lại khiến cục diện Triều Tiên rơi vào tình thế "không thể không có Ngô Ưu". — Độc giả đều biết, cục diện chính trị sau khởi nghĩa Vũ Xương cũng có một giai đoạn "không thể không có Ngô Ưu" (xem chi tiết ở phần sau). Đó là lần thứ hai. Ở giai đoạn "không thể không có Ngô Ưu" đầu tiên này, Ngô Ưu hai mươi sáu tuổi vốn không vương vấn quyền vị; đường thúc của ông là Viên Bảo Linh cũng khuyên ông đừng làm. Khi ông sang Triều Tiên lần thứ hai vào năm 1885, là do Lý Hồng Chương ép buộc ông đi. Tại sao Lý Hồng Chương lại làm khó người khác như vậy? Đó là vì một đất nước Trung Quốc rộng lớn thế này lại không tìm nổi người thứ hai có thể gánh vác cục diện Triều Tiên — Trương Tài (1853–1926) là trạng nguyên được đào tạo theo lối truyền thống, đỗ đầu thiên hạ; Kiến Trung (1845–1900) là bậc thầy ngữ pháp du học châu Âu trở về, tinh thông mấy thứ tiếng phương Tây... bọn họ đều là những yếu nhân dưới quyền Ngô Trường Khánh, có kinh nghiệm làm việc ở Triều Tiên, thế nhưng bọn họ lại không làm nổi công việc này!
Lý Hồng Chương rất tinh anh, biết người biết việc. Ông cho rằng để ứng phó với cục diện phức tạp ở Triều Tiên, cần dùng người đúng tài năng, ngoài Ngô Ưu ra thì không còn ai khác. Đây chắc không phải là chuyện Lý Hồng Chương bổ nhiệm người nhà nhỉ! Về sau, vì những kẻ ghen ghét Ngô Ưu quá đông (gồm cả Trương, Mã), triều đình đã cử Ngô Đại Trưng (cấp trên của Hồ Truyện, đóng quân lâu năm ở Ninh Cổ Tháp) đến để tra xét. Báo cáo của Ngô Đại Trưng là tích cực. Ông cho rằng Ngô Ưu là kỳ tài hiếm có.
Đáng lẽ ra người được triều đình phái đi Triều Tiên chủ trì đại sự phải là một đại thần do hoàng đế chỉ định (khâm sứ). Thế nhưng Ngô tứ gia mới hai mươi sáu tuổi, lại chưa có "công danh". Vì người đặt ra chức quan, ông chỉ có thể đeo chiếc "trước đỉnh tam phẩm"; phẩm trật quan chức chỉ có thể làm "ủy viên thương vụ", coi như một cơ quan trực thuộc dưới quyền Đại thần Bắc Kinh, Tổng đốc Trực Lệ, không thể đại diện cho hoàng đế Đại Thanh.
Thế nhưng quyền trách của vị quan nhỏ tuổi này, thực sự khiến người ta hoảng sợ.
Thứ nhất, trong tay ông nắm trọng binh. Nắm giữ năm nghìn năm trăm thân binh Triều Tiên do một tay ông huấn luyện, sử dụng phương thức thao luyện kiểu Đức, trang bị theo kiểu Âu-Mỹ — thứ vũ trang hiện đại này, trước thời Tiểu Trạm, Trung Quốc còn chưa có! Triều vương Lý Hy sau khi duyệt binh đã hết lời khen ngợi. Vua muốn phong Ngô Ưu làm Đại thống lĩnh toàn quốc lục quân (Đại nguyên soái, Tổng tư lệnh). Ngô Ưu vốn đã nhún nhường từ chối, thế nhưng lực cản lại xuất phát từ trong nước. Lý Hồng Chương sợ ông quá phô trương, sẽ gây ra ác cảm quốc tế. Ngô Ưu chỉ lo chấn chỉnh Triều Tiên; còn Lý thì khốnốn vì chiến tranh Trung-Pháp, đang bận chơi trò dùng rợ trị rợ.
Thứ hai, Ngô Ưu thay triều đình Hàn Quốc chỉnh đốn tài chính, cũng đạt được thành tích lớn. Lý Hy ngoài việc khen ngợi dịch vụ trung thành của Ngô Ưu ra, còn dựa theo truyền thống lâu đời của Trung-Triều chúng ta, ban tặng cho Ngô Ưu bốn mỹ nhân "cung cơ" để biểu thị tình cảm thông gia. Trong bốn người có một cơ là quý tộc Hàn Quốc, là người thân thích của Lý Hy. Một người mất sớm, ba người còn lại ở lại trở thành các phu nhân phòng nhị, tam, tứ của Ngô Ưu. Về sau sinh tổng cộng mười lăm người con (bảy trai, tám gái). Con trai thứ hai của Ngô Ưu là Khắc Văn do tam di thái họ Kim sinh ra. Con trai thứ ba của Khắc Văn, chính là nhà vật lý học nổi tiếng, viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Trung ương — giáo sư Viên Gia Lưu ngày nay, còn phu nhân chính là giáo sư vật lý nguyên tử nổi tiếng khắp trong và ngoài nước — Ngô Kiện Hùng.
Gia Lưu thuở nhỏ rất được bà nội cưng chiều. Tôi từng đùa hỏi anh Gia Lưu rằng: "Bà nội cũng nói tiếng Trung chứ?"
"Ạ, nói rất giỏi ạ!"
Tôi lại đùa hỏi: "Chân to hay chân nhỏ thế?"
Giáo sư Viên nói bà nội lúc tuổi già thường hay nằm liệt giường, lúc nào cũng đắp chăn kín mít, nên chân to hay chân nhỏ thì không biết được.
Lúc ấy ở trong cung đình Hàn Quốc, giữa Đại viện quân và quốc vương Lý Hy — hai cha con, cũng như giữa Đại viện quân và Minh Phi — mẹ chồng nàng dâu, thường xuyên xảy ra tranh chấp. Các quan viên lục bộ trong triều đình nhỏ bé "chim sẻ dẫu nhỏ nhưng có đủ ngũ tạng" của Hàn Quốc cũng không được hòa hợp cho lắm. Sĩ, nông, công, thương trong xã hội cũng vô cùng phức tạp. Thế nhưng Ngô quân điều khiển ở giữa, tự coi mình là giám quốc của quốc gia tông chủ, trên dưới nhìn chung vẫn tâm phục khẩu phục.
Chỉ là đáng tiếc gặp phải thời đại "chuyển mình" này, chế độ tông chủ vốn ngàn năm không đổi, đến đây cũng buộc phải chuyển mình. Nước ngược chèo thuyền, không tiến ắt lùi. — Hiện trạng vốn đã khó duy trì, triều đình Thanh lúc bấy giờ cũng từng có hai sách lược tiến và lùi. Tiến thì theo gương Tần Thủy hoàng, phế bỏ phong kiến, thiết lập quận huyện, cải thổ quy lưu. Dời quốc vương Hàn Quốc về trong nước, khiến bán đảo hóa thành quận huyện. Thế nhưng Đại Thanh suy yếu lâu ngày, thân mình còn lo chưa xong, sách lược này tuyệt đối không thể thực hiện. Lùi thì rút lui toàn bộ, tông chủ tự rút khỏi toàn bộ nước phiên thuộc, mặc cho Triều Tiên tự chủ độc lập. Khổ nỗi sách lược này cũng không khả thi. Do Triều Tiên lúc ấy không có điều kiện độc lập, mà năm nước lớn lại hổ rình mồi. Tông chủ mà rút lui đột ngột, thì Triều Tiên ắt sẽ sa lầy thành thuộc địa của các cường quốc.
Tiến thoái lưỡng nan như vậy, thì chỉ đành để cho Ngô Ưu — kẻ có địa vị thấp kém nhưng quyền lực nặng nề ấy — làm một Bàn Siêu nhỏ bé, làm sư sẩy chuông ngày nào hay ngày đó giữa năm cường quốc mà thôi. Lúc bấy giờ các sứ thần tại Triều Tiên của năm nước lớn đều tự xưng là "khâm sứ". Ngay cả công sứ của Hợp chủng quốc Bắc Mỹ, khi viết bằng văn bản tiếng Trung cũng tự xưng là khâm sứ. — Quanh co xoay xở giữa các vị khâm sứ của năm đại đế quốc chủ nghĩa, vị Bàn Siêu nhỏ bé chỉ mang trước đỉnh tam phẩm của chúng ta quả thực cũng rất khó xử cho cậu ta. — Cuối cùng bôn tẩu tha hương, đó là xu thế tất yếu của tình thế, không phải tội của việc chiến đấu. Ném bút lên án thư, ta biết nói gì đây?
*Hoàn thành bản thảo vào ngày 6 tháng 4 năm 1996 tại Bắc Mỹ
Đăng nguyên văn trên "Truyện ký văn học" tại Đài Bắc, tập 68, số kỳ 5.